Tuesday, October 30, 2012

Đắc Cử Bên Bờ Vực



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt ngày 121029
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Nhìn Vào Hố Sâu Tài Chánh Sau Khi Thắng Cử    

* Bước ngoặt vĩ đại *



Ngày Thứ Năm đầu tiên sau ngày Thứ Hai đầu tiên của Tháng 11 tới, có một số người sẽ rất bận.

Ngày đó, ban tham mưu của liên danh đắc cử Tổng thống hôm Thứ Ba mùng sáu Tháng 11 chuẩn bị tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20 Tháng Giêng năm 2013. Họ phải hoàn tất danh sách nội các, và cấp bách không kém là thảo luận với Quốc hội "vịt què" - của khóa 112 sẽ mãn nhiệm ngày mùng ba Tháng Giêng - và Quốc hội khóa 113 vừa được bầu lên hôm mùng sáu.

Đề mục cấp bách trong các cuộc thảo luận ấy là làm sao tránh được "vực thẳm ngân sách" sẽ mở ra toang hoác vào năm 2013. Bài viết này trình bày riêng về vụ đó, một đề tài tiêu biểu của "kinh tế cũng là chính trị".


***


Xin hãy tóm lược về bối cảnh:

Tháng Tám năm 2011, Quốc hội phải cho Hành pháp nâng mức đi vay, nếu không thì công khố kẹt tiền, công chức khỏi lãnh lương. Nhân dịp này, đảng Cộng Hoà vừa chiếm lại đa số tại Hạ viện từ cuộc bầu cử năm 2010 đã đòi thu hẹp bội chi ngân sách và duy trì kế hoạch giảm thuế để kích thích kinh tế. Chính quyền Barack Obama và Thượng viện trong tay đảng Dân Chủ thì kèo nèo việc tăng chi để kích thích kinh tế và chỉ giảm thuế cho thành phần gọi là "trung lưu".

Đó là về đại thể.

Sau nhiều tháng tranh cãi đến nghẹt thở khiến trái phiếu Hoa Kỳ bị công ty S&P giáng cấp tín nhiệm - chuyện hy hữu và nhục nhã - đôi bên đồng ý tăng mức đi vay. Nhưng vì nhiều dị biệt khó dung hoà, họ cài nút bật tự động bên trong Đạo luật Kiểm soát Ngân sách 2011 do Tổng thống Obama miễn cưỡng ban hành hôm mùng hai Tháng Tám.

Nút bật trong đạo luật "Budget Control Act" này là điều khoản mặc nhiên bãi bỏ việc giảm thuế (là sẽ tăng thuế) và mặc nhiên giảm chi kể từ đầu năm 2013.

Lý do cài đặt ác ôn đó là để Quốc hội và Hành pháp cùng thoả hiệp trước khi kinh tế lao xuống vực từ mùng hai Tháng Giêng năm 2013. Nhưng sự thoả hiệp không thành sau nhiều đề nghị từ Hạ viện Cộng Hòa và cưỡng chống từ Thượng viện Dân Chủ. Nói cách khác, kinh tế Hoa Kỳ bị đe dọa suy trầm vì bế tắc về chính trị.

Bây giờ, bầu cử đã xong, người đắc cử Tổng thống có thể làm gì để đẩy lui nguy cơ đó nhờ một số biện pháp dung hòa?


***


Kinh tế Hoa Kỳ chưa hồi phục mạnh sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009, nay chỉ đạt mức tăng trưởng èo uột cỡ 2% và thất nghiệp vẫn mấp mé 8%. Trong khi ấy, nước Mỹ mắc nợ đến kỷ lục, xấp xỉ Tổng sản lượng, vì nạn bội chi ngân sách, nhất là trong bốn năm vừa qua vì lý do "kích thích kinh tế".

Nhìn trong trường kỳ, Hoa Kỳ không thể là siêu cường Chúa Chổm và gánh nợ là quả bom nổ chậm. Nhưng ngay trước mắt mà lại tăng thuế và giảm chi thì kinh tế có thể bị suy trầm.

Vì vậy, cả nước phải vượt qua vực tài chánh (fiscal cliff) hay tận thế thuế vụ (Taxmageddon) thì mới khá. Mà vực sâu đó gồm có những gì cho năm tới?

Thứ nhất về thuế khóa, hai đạo luật giảm thuế thời Bush mà mãn hạn thì thuế sẽ tăng 265 tỷ Mỹ kim, gồm có 55 tỷ của bọn "nhà giàu" và 210 tỷ của những người được gọi với mỹ từ là "trung lưu". Chuyện đấu phép và mặc cả giữa hai đảng liên quan đến 55 tỷ này – so với hơn ngàn tỷ bội chi trong một năm thì chẳng là vấn đề bên Cộng Hoà, hay giải pháp bên Dân Chủ. Lý luận đấu tranh giai cấp, gọt tóc nhà giàu để cứu dân nghèo chỉ là thủ thuật chính trị cho cử tri nguy ngơ.

Thứ hai, về ngân sách thì mức giảm chi là cỡ 160 tỷ, trong đó có 110 tỷ bị ốp (sequestration) và sẽ bị cắt, đa số liên quan đến quốc phòng. Đôi bên đều ngại chuyện cắt đốt cột này nên cãi cọ mãi thì cũng sẽ... cắt khoản cắt ấy, nghĩa là vẫn chưa thật sự giảm chi.

Thứ ba, một phần của kế hoạch tăng chi để kích thích kinh tế của Obama năm 2009 cũng triệt tiêu, đó là 2% của tiền An sinh và việc triển hạn trợ cấp thất nghiệp. Hóa đơn trị giá 140 tỷ. Sau khi tăng chi để kích thích, nếu giảm chi thì ta gặp hiện tượng... "phản kích thích" một nền kinh tế có thể bị suy trầm nữa.

Thứ tư, có biện pháp tăng thuế các hộ gia đình khá giả từ đạo luật cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế (Obamacare), trị giá chừng 24 tỷ. Trong khung cảnh hiện nay, giàu là cái tội, nên coi như những kẻ có tóc sẽ bị gọt thêm 24 tỷ!

Sau cùng, còn ngân khoản cứ được thò ra kéo vào hàng năm, gồm có số dự chi được điều chỉnh ("doc fix") và Thuế Tối thiểu Điền thế (xin lỗi, Alternative Minimum Tax), trị giá khoảng 105 tỷ. Đây là đòn chính trị rất Mỹ, năm nào cũng đáo hạn rồi lại được triển hạn, để nhắc nhở là nhà nước lo cho dân nghèo.

Cộng năm khoản đó thì ta thấy vực thẳm tài chánh có thể sâu tới 694 tỷ Mỹ kim cho một nền kinh tế có sản lượng gần 15 ngàn tỷ. Tương đương với chuyện kiêng khem chừng 4,6% của một thực đơn đã khá đạm bạc. Nhưng xét cho kỹ thì phải trừ bớt hai khoản dọa dẫm là thuế trung lưu (210 tỷ) và mục chi thứ năm nói trên (là 105 tỷ), tức là 315 tỷ; vị chi, kinh tế có thể bị hụt 380 tỷ. Đã vậy, trong hoàn cảnh thật ra vẫn bất ổn về an ninh, từ Trung Đông tới Trung Quốc, ít ai dám cắt mạnh về quốc phòng nên cò kè rồi cũng đành giảm mức giảm chi.

Như vậy, liên danh vừa đắc cử sẽ lãnh một cái hố có mức co giãn từ 694 tỷ đến 380 hay 300 tỷ hoặc 80 tỷ Mỹ kim. Sâu hay nông là tùy khả năng dọa, dụ và trả giá. Khi đó, với sự lạc quan của người đắc cử, Tổng thống tân cử có thể hỏi ban tham mưu kinh tế là hậu quả sẽ ra sao?


***


Đấy là lúc các kinh tế gia được phép làm thầy bàn. Họ nói về "cấp số nhân" hay multiplier.

Nếu mức công chi mà bị giảm, giả dụ như 1% Tổng sản lượng, thì đà tăng trưởng sản xuất có thể bị mất chừng bao nhiêu? Trước khi có vụ Tổng suy trầm, đa số giới kinh tế cho rằng cấp số nhân là 0,5%. Giáo sư kinh tế Larry Summers, từng là Tổng trưởng Ngân khố thời Bill Clinton và cố vấn cho Obama thì nói đến ít nhất là 1%. Gấp đôi. Hai vợ chồng kinh tế gia nổi tiếng là Christina và Paul Romer thì ước tính cấp số đó cho nước Mỹ là gấp ba 3: giảm chi 1% thì làm kinh tế sụt mất 3%. Bà Christina từng là Cố vấn trưởng về kinh tế của Chính quyền Obama.

Hai tuần trước, Quỹ Tiền tệ Quốc tế vừa công bố phúc trình cập nhật về Viễn ảnh Kinh tế Toàn cầu, với nội dung báo động về nguy cơ tổng suy trầm lần nữa. Bên trong tài liệu 250 trang này có chi tiết chuyên môn đáng chú ý: cấp số nhân khó là 0,5% mà có thể là 0,9%, thậm chí 1,7%.

Nghĩa là làm sao? Kinh tế học không là khoa học chính xác, mọi dự báo chỉ là dự đoán và còn phải điều chỉnh. Cho nên, hiệu ứng của hố sâu có thể là 0,5 hay 1% hay 2-3% khi đà tăng trưởng chỉ có 2%.... Tai hại hay nhẹ nhàng là còn tùy cách chọn. Tùy khả năng thuyết phục thị trường của chính trường về cái giá phải trả trong ngắn hạn – ít ra là bốn năm quý, cả năm – để về dài thì đạt một lợi ích bền vững hơn.

Nhưng, như một kinh tế gia lừng danh đã nói, "về dài thì ai cũng chết!" Các chính khách rất ngại đưa ra chén thuốc đắng cho năm 2013 mà đến 2014 mới công hiệu vì năm đó lại có bầu cử Quốc hội! Cho nên, sự thể không tùy ở Tổng thống mà ở Quốc hội. Và tùy lá phiếu cử tri năm nay, cho Quốc hội khóa 113.

Vấn đề không chỉ là chọn Obama hay Romney mà còn là chọn các dân biểu và nghị sĩ trong từng tiểu bang, ở từng địa phương. 

Cử tri cứ mất tiền cho họ mua bánh vẽ thì đừng có than!


Monday, October 29, 2012

Bầu cử và Triệt thoái

Núi Rushmore - Khu Tưởng niệm Quốc gia
*Núi Rushmore thể hiện bốn gương mặt Tổng thống Hoa Kỳ George Washington, 
Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln *


Các bậc "quốc phụ" của Hoa Kỳ là những người tai ngược.

Từ thời lập quốc, họ đã thiết lập một chế độ có nội dung giới hạn vai trò của Tổng thống để bảo vệ quyền tự do của công dân và các tiểu bang. Hệ thống chính trị độc đáo mà phức tạp ấy khiến Hành pháp không toàn quyền quyết định về nội chính vì rào cản của Quốc hội, Tối cao Pháp viện và cả sự cưỡng chống của các tiểu bang.
Sau này, qua thế kỷ 20, nếu như có một chính sách kinh tế xã hội để thi thố, Tổng thống còn phải nương theo quyết định của hai định chế độc lập là Ngân hàng Trung ương và thị trường. Rồi sự vận hành của một thế giới có phản ứng lập tức, 24 giờ một ngày, với phương tiện thông tin hiện đại là những ràng buộc khác. 

Do hiến pháp, bị bó về nội trị, Tổng thống Mỹ chỉ hy vọng tìm ra nhiều quyền hạn hơn về ngoại giao. Mà đây cũng là ảo tưởng. Ngoại trừ thời chiến, cử tri chọn người giải quyết loại vấn đề thiết thực trước mắt, hơn là về đối ngoại.

Nhờ địa dư hình thể thuận lợi không cường quốc nào có trong lịch sử - một "hải đảo" phì nhiêu giữa hai đại dương bát ngát và hai láng giềng yếu kém – và nhờ truyền thống tự do cởi mở đã có từ thời lập quốc, Hoa Kỳ sớm thành siêu cường toàn cầu. Nhưng là siêu cường dân chủ, nơi mà quyền dân vẫn là mệnh lệnh. Đấy là một nghịch lý mà chưa chắc là các ứng cử viên đã hiểu ra khi ôm tham vọng làm thay đổi bộ mặt của thế giới và nước Mỹ.

Vì ảo vọng "lãnh đạo thế giới" – như cả thế giới lẫn dân Mỹ thường nói – các ứng cử viên còn ít nhìn ra vài sự thật bẽ bàng trước khi ngồi vào Tòa Bạch Ốc:

Thứ nhất, bạn hay thù, chẳng xứ nào ưa Hoa Kỳ là siêu cường độc bá. Đồng minh thì có thể cần Mỹ vì an ninh hay kinh tế mà vẫn muốn - và cố - bảo vệ quyền lợi riêng. Đối thủ thì chỉ mong - và đã làm – Hoa Kỳ bị loãng sức tản lực. Họ sẵn sàng thổi lên nhiều đám cháy để Mỹ làm "cứu hỏa toàn cầu" và lãnh tội "sen đầm quốc tế".

Thứ hai, cũng xuất phát từ sự thật phũ phàng đó, bất cứ ai ngồi vào vị trí Tổng thống đều sẽ đối diện với nhiều đòi hỏi của thực tế, chẳng thấy ghi trong hiến pháp, cũng chưa hề có trong một đảng cương nào. Đó là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, kiểm soát quyền tự do giao lưu trên địa cầu và làm sao để không thế lực bạn thù nào có thể hạn chế hay thách thức quyền lợi của nước Mỹ.

Mà phải thực hiện loại thủ đoạn nhuốm mùi đế quốc ấy với ngôn ngữ và đạo lý dân chủ.

Thứ ba, Tổng thống còn gặp chuyện bất ngờ là phản ứng của các nước, hoặc hậu quả bất lường từ quyết định của các chính quyền tiền nhiệm. Khi ấy, mọi chủ trương hay khẩu hiệu khi tranh cử đều thành vô nghĩa: Tổng thống Mỹ phải xoay cách khác, thành hay bại thì vài chục năm sau lịch sử mới có thể phán xét. Và Hoa Kỳ mang tiếng bất nhất!

Kể ra không hết những chuỗi bất ngờ ấy, sau đây chỉ là vài thí dụ.

Nghịch lý



Hoa Kỳ đã đi vay quá mức trong mấy chục năm liền và đến ngày trả nợ


Jimmy Carter yểm trợ phong trào Thánh Chiến tại A Phú Hãn để giảm thiểu thế lực của Liên bang Xô viết nên Ronald Reagan dễ mở cuộc đua khiến Liên Xô hụt hơi mà tiêu vong vì nhược điểm nội tại của chế độ. Khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc, Bill Clinton hưởng cổ tức hoà bình, giảm chi về quốc phòng và đòi làm cách mạng. Nhờ vậy mà lần đầu tiên từ 40 năm, đảng Cộng Hoà chiếm đa số lại lưỡng viện Quốc hội, Clinton bèn thoả hiệp và tái đắc cử năm 1996, lần đầu tiên cho một tổng thống Dân Chủ kể từ Thế chiến II.

Nhưng phong trào Thánh Chiến lại thừa thắng chuyển qua chủ đích hình thành một Đế quốc Hồi giáo toàn cầu. Lực lượng khủng bố al-Qaeda đã tung hoành dưới thời Clinton để đòi lãnh đạo khối Hồi giáo chống Tây phương. Họ biểu dương khả năng qua vụ khủng bố 9-11 khiến George W. Bush vừa nhậm chức bèn buông hết ưu tiên về nội chính cùng chủ trương khiêm cung và bất can thiệp được đề ra trong cuộc tranh cử năm 2000.

Hậu quả bất lường là Hoa Kỳ lâm chiến toàn cầu, gây khó chịu cho nhiều đồng minh Âu Châu, làm các đối thủ hài lòng. Và di sản Iraq và A Phú Hãn trở thành gánh nặng cho các chính quyền về sau.... Cũng vì vậy mà Mỹ đã để trống Đông Á đang được Hải quân Trung Quốc bơi vào khai thác khiến các ứng viên ngày nay cãi cọ về số chiến hạm cần thiết cho an ninh Hoa Kỳ.

Trong khi ấy, Hoa Kỳ đã đi vay quá mức trong mấy chục năm liền và đến ngày trả nợ.

"Cậu Bé Quàng Khăn Đỏ" Barack Obama đắc cử từ vụ khủng hoảng tài chính 2008 giữa cơn suy trầm lại đòi tăng chi để cải tạo xã hội theo hướng cực tả thay vì giải quyết việc kinh tế. Các đồng minh lẫn đối thủ đều nức lòng cổ võ chiều hướng ấy: Hoa Kỳ chất thêm núi nợ, làm chủ chi về quân sự ở mọi nơi, lãnh búa rìu của toàn cầu về mọi tội, trước sự phân cực của cử tri ở nhà.

Đấy là bối cảnh khác thường và đầy nghịch lý của chuyện bầu cử rồi lãnh đạo tại Hoa Kỳ....

Triết lý chính trị


Barack Obama hay Mitt Romney sẽ chiến thắng?  


Nếu kể từ vòng sơ bộ bên đảng Cộng Hòa đối lập, Hoa Kỳ mất gần hai năm - và chi ra hơn hai tỷ đôla - cho cuộc tranh cử.

Cử tri chờ đợi hai liên danh đưa ra triết lý chính trị và chính sách ứng phó với các vấn đề ngổn ngang trước mặt. Thật ra mọi lý luận hay kế sách đều có thể vô hiệu sau này dù vẫn cần thiết cho việc tuyên truyền để xin phiếu. Thực tế phũ phàng vẫn là thế giới không muốn một Hoa Kỳ quá mạnh, đối lập chỉ muốn Tổng thống thất cử và Obama tìm mọi cách bám ghế.

Chuyện tranh cử là cuộc đua việt dã băng đồng, những gì tiêu cực nhất được gán cho đối thủ và giành phần tích cực nhất cho mình. Thủ đoạn xuyên tạc được áp dụng thoải mái và các ứng cử viên tay non da mỏng đều hụt hơi giữa đường.

Ta có thể phê phán sự nông cạn và nhiều trò thô bỉ trong cuộc bầu cử năm nay. Mà vẫn sai: nạn trét bùn vào mặt đối phương là quy luật - từ thời lập quốc.

Ban tranh cử của Thomas Jefferson gọi Tổng thống John Adams là (xin lỗi) "có cá tánh của một thằng lại cái xấu xí, thiếu sự dũng mãnh quả quyết của đàn ông lẫn nét tử tế dịu dàng của đàn bà". Và Jefferson được trả lễ là "kẻ bần tiện, hạ cấp, con hoang của một mụ da đỏ với một gã lai đen tại Virginia". Trong lịch sử, cả hai đều là quốc phụ, Tổng thống thứ nhì và thứ ba của nước Mỹ sau George Washington và ngoài đời họ là bạn thân!

Thí dụ như vậy thì vô kể.

Kết quả tuyệt diệu của trò thô tục ấy là giải trừ được nạn sùng bái lãnh tụ. Một ưu điểm khác của lối tranh cử quái ác này là có hy vọng phơi bày căn tánh thật của ứng cử viên, tiêu chuẩn quan trọng còn hơn các chương trình hành động bề nào cũng có thể bị thực tế vứt vào sọt rác.


Ai đắc cử?

"Kết quả tuyệt diệu của trò thô tục ấy là giải trừ được nạn sùng bái lãnh tụ. Một ưu điểm khác của lối tranh cử quái ác này là có hy vọng phơi bày căn tánh thật của ứng cử viên, tiêu chuẩn quan trọng còn hơn các chương trình hành động bề nào cũng có thể bị thực tế vứt vào sọt rác."

Sau ngàn cuộc thăm dò gần như mỗi ngày và bốn lần tranh luận giữa hai liên danh, câu hỏi hấp dẫn nhất là "Ai sẽ đắc cử lần này?"

Mọi người đều biết sự phân đôi của xã hội Mỹ. Quãng 46-47% cử tri đã quyết định bỏ phiếu cho gà nhà, bất kể mọi tiêu chuẩn hay dở. Còn lại là thành phần trung dung độc lập. Họ giữ vị trí bản lề và tính toán theo quyền lợi cụ thể trước mắt, trong tiểu bang của mình.

Hai giáo sư chính trị học Ken Bickers và Michael Berry tại Boulder và Denver của Colorado đã dùng nhiều dữ kiện kinh tế của từng tiểu bang để dự đoán kết quả bầu cử từ 1980 đến nay, với độ chuẩn xác rất cao. Mùng bốn Tháng 10 vừa qua, họ dự báo Romney thắng lớn với 330 số phiếu cử tri đoàn trước 208 phiếu cho Obama. Dự đoán này đáng chú ý vì được khảo sát trước cuộc tranh luận hôm mùng ba tại Denver, khi cá tánh của hai ứng viên được bộc lộ rõ ràng nhất.

Người viết thì mạo muội dự đoán là dù bất cứ ai nhậm chức vào ngày 20 Tháng Giêng năm tới, Hoa Kỳ vẫn phải ưu tiên lo chuyện nợ nần và quốc kế dân sinh bên trong, ít ra mất năm bảy năm, trước khi tìm lại vai trò quốc tế của mình. Trong khi đồng minh chẳng tin và kẻ thù không sợ.

Một khoảng trống đầy bất trắc trên thế giới.

(Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong riêng của tác giả, chuyên gia kinh tế tại Hoa Kỳ. )



Saturday, October 27, 2012

Tranh Cử và Lãnh Đạo



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 121027

Phải Tranh Luận Cho Vui – Chứ Lãnh Đạo Là Chuyện Khác

* Barack Obama và Mitt Romney - Hai người cùng nhìn về một hướng * 



Sau bốn cuộc tranh luận giữa hai liên danh tranh cử tổng thống, dư luận mau mắn thăm dò xem ai được ai thua. Chuyện phù du nhuốm mùi phù phiếm.

Về lý thuyết, trong một cuộc tranh cử chức vụ lãnh đạo Hoa Kỳ, cử tri chờ đợi hai liên danh đề nghị hai chương trình hành động cụ thể, dựa trên 1) triết lý chính trị và 2) chính sách sẽ áp dụng nếu đắc cử. Triết lý chính trị đó có thể là thiên tả hay hữu khuynh, hướng về công bằng hay phát triển, can thiệp hay tự do. Chính sách ấy có thể là tăng chi hay giảm thuế, khoảng bao nhiêu thì vừa, hoặc hòa hoãn hay cứng rắn về đối ngoại. Lồng trong hai chủ trương khác biệt là nghệ thuật thuyết phục hay tuyên truyền về giá trị của các giải pháp đề nghị so sánh với phương án của đối thủ.

Nói cho gọn và lịch sự, thì đôi bên đều trình bày phần xây dựng tích cực của mình và những giới hạn tiêu cực của đối phương để cử tri chọn lựa. Sự thật lại không được lý tưởng như vậy vì nhiều lý do thực tế.

Xin hãy nói về các lý do đó.



***


Trước hết, từ chủ đích quái ác của các bậc quốc phụ thời lập quốc, Tổng thống Hoa Kỳ không có toàn quyền lãnh đạo. Họ không muốn có một Hành pháp quá mạnh để thu hẹp tự do của công dân và các tiểu bang.

Về nội chính và loại vấn đề áo cơm của người dân, lãnh đạo Hành pháp phải bó tay trước các định chế có ảnh hưởng hơn: lưỡng viện Quốc hội, Tối cao Pháp viện và cả quyền hành của tiểu bang do các thống đốc đảm nhiệm và cũng được dân bầu lên. Trong thế kỷ 20, khi Hoa Kỳ phát triển mạnh nhờ chủ nghĩa tư bản và kinh tế tự do, có hai định chế khác đã có thẩm quyền quyết định với hậu quả là thu hẹp khả năng hành động hay ứng phó của Hành pháp. Đó là Ngân hàng Trung ương, một định chế độc lập, và là thị trường. Thị trường tổng hợp hàng triệu tác nhân kinh tế trong và ngoài Hoa Kỳ, hàng ngày hàng giờ làm thay đổi nền tảng tính toán kinh doanh và kinh tế, cụ thể như lãi suất, phân lời của trái phiếu (yield) hay mức thất nghiệp.

Về đối ngoại và các vấn đề như ngoại giao hay an ninh, lãnh đạo Hoa Kỳ phải ứng xử - đối phó – với những thách đố của thực tế mà họ có thể chưa thấy hết khi còn là ứng cử viên.

Những thách đố ấy có thể là quyền lợi trường cửu của nước Mỹ và đối sách của nước khác, trong đó phải kể đến những cường quốc đối thủ hay đồng mình có điều kiện. Bộ máy an ninh và đối ngoại hàng ngày thu thập dữ kiện và vận hành trong môi trường thường xuyên thay đổi như vậy đã có những thông tin và cả trăm giải pháp đối phó mà ứng cử viên chỉ biết được khi đã đắc cử. Và phải chọn lựa, phải quyết định.

Đã vậy, ngồi vào ghế Tổng thống, lãnh đạo Hoa Kỳ còn lãnh di sản bất ngờ hoặc hậu quả bất lường từ đối sách trước đó của các chính quyền tiền nhiệm. Mà loại di sản ấy tác động theo thế tương hằng hay biện chứng: vì năm mười năm trước, nước Mỹ đã quyết định thế này, cho nên các nước đã phản ứng thế nọ, đâm ra ngày nay Hoa Kỳ mới gặp loại vấn đề mới.

Vài thí dụ ư?

Hoa Kỳ thời Jimmy Carter yểm trợ phong trào Thánh Chiến tại A Phú Hãn để giảm thiểu thế lực của Liên bang Xô viết nên Chính quyền thời Ronald Reagan dễ mở cuộc đua khiến Liên Xô hụt hơi mà tiêu vong. Chiến Tranh Lạnh kết thúc nên Chính quyền Bill Clinton được hưởng cổ tức hoà bình, giảm chi về quốc phòng và phát triển kinh tế. Nhưng cũng từ đó, phong trào Thánh Chiến thừa thắng mà chuyển hướng, từ chống Liên Xô qua chủ trương hình thành một Đế quốc Hồi giáo toàn cầu, và lực lượng khủng bố al-Qaeda đã tung hoành dưới thời Bill Clinton để đòi lãnh đạo thế giới Hồi giáo chống lại Tây phương.

Họ cần biểu dương khả năng và ngoạn mục hoàn thành vụ khủng bố 9-11 khiến Chính quyền George W. Bush vừa nhậm chức tám tháng trước bèn buông hết ưu tiên về nội chính cùng chủ trương khiêm cung và bất can thiệp do ông Bush đề ra trong cuộc tranh cử năm 2000. Hậu quả bất lường là Hoa Kỳ lâm chiến toàn cầu và di sản Iraq và A Phú Hãn trở thành gánh nặng cho các chính quyền về sau.... Hậu quả là Mỹ đã để khoảng trống tại Đông Á đang được Hải quân Trung Quốc bơi vào khai thác khiến các ứng cử viên ngày nay lại cãi cọ lung tung về số chiến hạm cần thiết cho an ninh Hoa Kỳ.


Ngoài các thí dụ ấy, một sự thể khách quan khác cũng chi phối đối sách của Tổng thống Mỹ mà dân Mỹ ít nhìn ra: không quốc gia nào trên thế giới lại muốn Hoa Kỳ duy trì thế siêu cường độc bá. Đồng minh Âu Nhật đòi thu hẹp ảnh hưởng đó, hoặc ít ra thương thuyết lại việc chia chác quyền lợi. Đối thủ thì châm lửa cho nhiều đám cháy để nước Mỹ đội mũ cứu hoả toàn cầu.

Và lãnh tội "Sen đầm Quốc tế". Hết Ai Cập lại tới Libya, hay Syria, Iran, v.v.... lỗi tại Mỹ cả! Bảo rằng đó là lỗi tại Bush thì chỉ là thủ thuật Obama.

Vì vậy, mọi chương trình tranh cử chỉ là "kịch bản lý thuyết" của một tác phẩm điện ảnh do "chuẩn đạo diễn" – ứng cử viên – rao bán cho các nhà sản xuất là cử tri. Chứ khi thực hiện thì lãnh tụ đạo diễn – hay lãnh đạo – lại làm chuyện khác. Coi vậy mà không phải vậy là một kết luận. Treo đầu dê bán thịt chó là một kết luận khác.


Mà đều là kết luận... sai!



***


Huống hồ, ta trở về chuyện tranh cử trên màn ảnh, các cuộc tranh luận đều là hài kịch về diễn xuất.

Từ 50 năm nay, chính thức từ cuộc tranh luận 1960 giữa hai ứng cử viên John Kennedy và Richard Nixon, hình thái đấu tranh dân chủ tại Mỹ đã có khẩu vị của một tô mì ăn liền. Sự xuất hiện của truyền hình rồi phương tiện truyền thông ngày càng hiện đại hơn khiến cử tri có cơ hội trực tiếp nhìn và nghe thấy ứng cử viên trong vài ba phút đốp chát – sound bites – và quyết định bỏ phiếu theo những tiêu chuẩn trước đây không hề có.

Ứng cử viên có đẹp trai và ăn nói lưu loát không trở thành tiêu chuẩn lấn át nội dung của "kịch bản lý thuyết". Chuẩn đạo diễn phải thủ vai tài tử điện ảnh và nên có tài tử thật làm vật trang trí ở chung quanh. Nếu chỉ nghe và đọc lại nội dung tranh luận Kennedy-Nixon thì Nixon thắng lớn. Nhưng ông thua chừng vạn phiếu vì xí giai và ít ăn ảnh hơn Cậu ấm Kennedy với hình ảnh của dàn tài tử Hollywood lấp lánh chung quanh một lãnh tụ trí thức, có hậu thuẫn của nghệ sĩ....

Các tay trí thức khoa bảng có lý luận mạch lạc và tư tưởng lương thiện như hai tiến sĩ Woodrow Wilson hay George McGovern đều có thể rớt đài vì cần nửa tiếng giải thích ngọn nguồn của hồ sơ và lẽ hơn thiệt của từng giải pháp đề nghị. Truyền hình và người điều hợp lẫn khán giả không thể kiên nhẫn nên sẽ ngắt lời hoặc tắt máy đổi đài và ứng cử viên tử tế kia thất cử vì ăn nói dài dòng vớ vẩn! Jimmy Carter còn thua đậm vì vẻ mặt thiểu não và nụ cười ngớ ngẩn....

Vì vậy, mục tiêu tranh luận không thể là sự đối chiếu giữa hai chương trình hành động như hai võ sĩ lần lượt múa quyền hay đi bài thiệu trên sân khấu.

Đó là một vụ cận chiến với mọi loại ám khí ém trong tụ áo và các đòn lên gối hay giật cùi chỏ hoàn toàn không có tinh thần mã thượng. Luật chơi là như vậy vì mục đích yêu cầu là cho thấy sự bình tĩnh và bản lãnh của ứng cử viên. Khi bất ngờ bị móc lò thì biết đá giò lái.

Sau đấy mới là lúc truyền thông kiểm lại sự đúng sai thật giả của từng lập luận được đưa ra trong 90 phút trên màn ảnh. Nhưng cử tri đã nhìn qua chuyện khác và đa số thì tin vào kết luận về sự thắng bại của truyền thông, một định chế có mức độ khả tín rất thấp trong xã hội Mỹ, chỉ hơn Quốc hội và người bán xe cũ! Thực chất của vấn đề vì vậy không nằm trong nội dung các cuộc tranh luận mà nằm trong ấn tượng tiên thiên, có sẵn, của cử tri.

Ấn tượng đó mới là đối tượng vận động của ban tranh cử, phản ảnh nhận thức nông cạn và phiến diện của cử tri Hoa Kỳ.

Gần phân nửa nước Mỹ tin rằng Thống đốc Mitt Romney là tài phiệt gian ác chỉ muốn bóc lột người già, con trẻ, dân nghèo và người thiểu số để làm giàu cho các tỷ phú giấu mặt ở đằng sau. Ở bên kia "chiến tuyến", gần phân nửa dân Mỹ tin rằng Tổng thống Barack Obama là con cờ của các thế lực nghiệp đoàn lẫn tài phiệt ngân hàng và muốn thu hẹp khả năng lãnh đạo của nước Mỹ trên thế giới. Lối kết luận đơn giản đó được cả hai phe dồn dập tung ra qua những mẩu quảng cáo trên màn ảnh truyền hình, được các thầy bàn pundits xào nấu nêm nếm lại.

Các tô mì ăn liền này trở thành thực đơn hàng ngày trong mùa tranh cử.

Chẳng những vậy, cử tri còn khó nhìn ra phần tích cực của chương trình hành động mà chỉ được thấy phần tiêu cực được bên này gán cho phía bên kia. Gán cho với nội dung xuyên tạc. Và vì đa số truyền thông đều thiên tả, là loại "trí thức" có thiện cảm tiên thiên với đảng Dân Chủ và liên danh Obama-Biden, xác suất xuyên tạc thường cao hơn ở cánh tả. Nhưng chẳng phải là không có từ cánh hữu.


***


Như vậy, chẳng hóa ra nền dân chủ Hoa Kỳ chỉ kết tinh sự nông cạn hời hợt của cử tri bị một thiểu số có tiền hoặc có hiểu biết ngào như bột nổi hay sao? Không hẳn như vậy.

Nền dân chủ này có ưu điểm là tầm thường hóa chứ không sùng bái lãnh tụ. Nó còn cho người dân khả năng đổi ý, trả lại đồ giả, khi thiểu số trung dung ở giữa đo đếm kết quả thực tế trong cuộc sống của họ. Nhất là cho phép cử tri chọn được người trí chí kiên định để vượt qua chặng đường khổ ải, nhục hơn vinh, của tiến trình tranh cử.

Lối tuyển chọn ấy đam lại hy vọng thắng cử cho người có đởm lược và sự quả quyết. Các cuộc tranh luận phù du chính là cơ hội bày tỏ cá tánh khi bị tấn công với lập luận giả hiệu và phản đòn rất nhanh cũng với lý luận giả hiệu. Trong ý nghĩa đó, cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai ông Obama và Romney tại Denver hôm mùng ba Tháng 10 có tầm quan trọng nhất. Không do nội dung cãi vã mà từ phong cách của hai người. Nó phần nào cho thấy cá tánh thật của hai ứng cử viên.

Kết cuộc thì đấy mới là tiêu chuẩn quan trọng để tìm ra người có khả năng ứng phó với loại vấn đề bất ngờ trong một vụ khủng hoảng trời giáng. Như khi chuông điện thoại reo vang vào lúc ba giờ sáng – lối ví von của Nghị sĩ Hillary Clinton khi tranh cử với Nghị sĩ Obama ở vòng loại vào năm 2008.

Một vụ khủng bố tại Benghazi của Libya, một vụ khủng hoảng tài chánh tại Âu Châu, hay khủng hoảng chính trị tại Bắc Hàn với phản ứng dội ngược vào Bắc Kinh, v.v... là loại biến cố bất ngờ mà các ứng cử viên không thể tính trước trong  chương trình tranh cử.

Nhưng đó lại là thực tế đang chờ đợi người sẽ lãnh đạo nước Mỹ.

Wednesday, October 24, 2012

Bóng Bể, Ngân Hàng Kẹt Vốn Vì Nợ Xấu

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 121024
"Diễn Đàn Kinh Tế"

Một năm tái cấu trúc ngân hàng và tìm tiền đắp nợ....

* AFP photo - Ngân hàng Tiên Phong, một ngân hàng thương mại cổ phần. Ảnh minh họa.*


Trong phiên họp Quốc hội vào sáng Thứ Hai 22, giới lãnh đạo kinh tế Việt Nam xác nhận những khó khăn và nguy cơ trì trệ kinh tế kéo dài của xứ này.Xuyên qua đó, người ta còn chú ý đến sự nguy ngập của các ngân hàng dưới một núi nợ xấu. Một trong nhiều nguyên do của tình trạng trên chính là nạn bể bóng địa ốc. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về nạn bể bóng qua phần trao đổi cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện.

 

Tăng trưởng chậm

 

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, qua lời phát biểu của giới chức lãnh đạo kinh tế trước Quốc hội, người ta được biết rằng Việt Nam khó đạt chỉ tiêu tăng trưởng là 5,2% cho toàn năm nay. Như vậy, kinh tế xứ này sẽ có đà tăng trưởng thấp nhất kể từ 13 năm qua mà một trong nhiều nguyên do của nạn trì trệ này chính là khối nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Sở dĩ nợ xấu gia tăng một phần cũng vì nạn vỡ bóng địa ốc như đã thấy xảy ra tại nhiều quốc gia khác. Vì vậy, chúng tôi xin đề nghị là kỳ này ta sẽ đề cập đến vụ bong bóng đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Kinh tế Việt Nam bị nguy cơ suy trầm, là có đà tăng trưởng thấp hơn, và năm nay là năm thứ năm mà Việt Nam đạt mức tăng trưởng dưới 7%. Tình trạng trì trệ kéo dài này chưa từng xảy ra từ 25 năm nay nên mới đáng lo trong viễn ảnh suy trầm toàn cầu mà chúng ta đề cập vào tuần trước. Đã vậy, giới kinh tế quốc tế còn dự đoán là từ nay cho đến năm 2015, kinh tế Việt Nam có thể chỉ tăng trưởng khoảng 5% mà thôi. Đó là bối cảnh.

- Như cả chục quốc gia khác đã bị từ ba bốn năm nay, Việt Nam đang lãnh hậu quả của nạn bong bóng đầu cơ bất động sản khi trái bóng bị bể. Về nguyên nhân sa sút thì ai cũng thấy sự co cụm của thị trường xuất khẩu Âu Mỹ. Còn lý do nội tại của Việt Nam là sức tiêu thụ kém của thị trường nội địa đi cùng sự sút giảm của đầu tư, nhưng nguyên do quan trọng nhất chính là sự èo uột của hệ thống ngân hàng dưới một núi nợ không sinh lời, khó đòi và sẽ mất. Khi ngân hàng bị kẹt vốn và nay phải lặng lẽ nâng lãi suất huy động thì chẳng những doanh nghiệp khó vay tiền mà nhiều ngân hàng sẽ vỡ nợ vì mất vốn. Do đó, việc cải tổ hệ thống ngân hàng, thực tế là tìm cách đắp vốn và xoá nợ, sẽ là yêu cầu khách quan trong năm tới. Nếu không hoàn tất nổi thì kinh tế còn bị khủng hoảng nguy ngập hơn nữa.

Vũ Hoàng: Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về nguyên nhân từ đầu, là vì sao mà Việt Nam cũng bị nạn bong bóng đầu cơ.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, ta có hiện tượng chung của rất nhiều quốc gia là bong bóng đầu tư hay bong bóng kinh tế là khi trị giá một loại hàng hóa hay tài sản nào đó tăng vọt một cách bất thường. Các loại bong bóng phổ biến nhất là cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, là nguyên nhiên vật liệu hay nông sản trên thị trường thương phẩm, và nghiêm trọng nhất, là bong bóng gia cư hay nhà cửa đất đai trên thị trường bất động sản. Nó nghiêm trọng nhất vì liên hệ đến ngành xây dựng và cả khu vực phù trợ cho gia cư và có thể gây ra thất nghiệp.

- Nguyên nhân phổ biến của hiện tượng bong bóng là tâm lý hồ hởi, là sự lạc quan thiếu cơ sở khi người ta nghĩ rằng trị giá sẽ tăng mãi nên đầu cơ theo triển vọng gia tăng đó để kiếm lời mà bất kể đến rủi ro. Một nguyên nhân chìm và cơ bản nhất của sự hồ hởi đó là khi thấy tiền nhiều và rẻ, tức là tín dụng dồi dào với lãi suất thấp. Vì vay tiền quá dễ và tin rằng phân lời đi vay còn thấp hơn kỳ vọng sinh lời nhờ trị giá tài sản gia tăng, người ta đi vay để đầu cơ và khi giá sụt thì hết trả được nợ làm ngân hàng kẹt vốn và có thể sụp đổ.

Lý do nội tại của Việt Nam là sức tiêu thụ kém của thị trường nội địa đi cùng sự sút giảm của đầu tư, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất chính là sự èo uột của hệ thống ngân hàng, dưới một núi nợ không sinh lời... Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thưa ông, tuần trước, khi phân tích hiện tượng mà ông gọi là "gẫy đòn bẩy" tức là phải trả nợ, ông có nói đến ba hình thái đi vay. Thứ nhất, khách nợ có thể vay tiền để kiếm lời trong kinh doanh và phải tìm ra đủ lời để trả nợ, cả vốn lẫn lãi. Thứ hai, có người đi vay để đầu cơ vì nghĩ là nhờ đầu cơ mà tài sản lên giá thật mau và nếu thất bại thì lại vay thêm để đảo nợ. Đó là trường hợp rủi ro và là tai họa khi trái bóng đầu cơ bị vỡ. Sau cùng, còn có loại khách nợ bất lương, đi vay tiền để dựng lên tháp nợ, là lấy tiền của chủ nợ này để chiêu dụ chủ nợ khác và sau cùng thì bỏ trốn và để lại một núi nợ. Chuyện này có xảy ra tại Việt Nam hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cũng có giải thích rằng khi kinh tế thịnh đạt thì người đi vay để đầu cơ nghĩ là mình khôn. Nhưng khi kinh tế suy trầm thì trái bóng dễ bị xì và sẽ bể nếu gặp phản ứng hốt hoảng. Và khi bóng bể thì ảnh hưởng sẽ dội ngược vào kinh tế, có thể từ suy trầm mà sụt vào suy thoái, hoặc khủng hoảng.

- Trở lại chuyện Việt Nam, ta nên nhớ lại sự hồ hởi sảng và lạc quan tếu vào năm 2007 sau khi xứ này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO mà chưa có những cải cách cần thiết về cơ chế và khả năng quản lý. Ngay giữa sự hồ hởi đó, với hậu quả là nạn lạm phát và bong bóng cổ phiếu, thì thế giới lại bị nạn tổng suy trầm 2008-2009, nhồi trong vụ khủng hoảng tài chính cũng một phần vì nạn bể bóng gia cư và sự ung thối của loại tín dụng thứ cấp trên thị trường gia cư. Khi đó, cũng tương tự như Trung Quốc, Việt Nam quyết định ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế và chính là hiện tượng tiền nhiều và rẻ mới thổi lên bong bóng. Đấy là một nguyên nhân thuộc về chính sách, nhưng không là lý do duy nhất.

 

Do cơ chế

nha-xay-dung-het-von-250.jpg
Một khu nhà tại Hà Nội ngưng xây dựng do hết vốn. RFA photo   

 
Vũ Hoàng: Nói như vậy nghĩa là ông còn thấy ra nguyên nhân khác hay sao?
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng thế. Nguyên nhân thứ hai thuộc về cơ chế. Ta không quên là vụ bể bóng và tai họa nợ xấu đã xảy ra cùng lúc với tình trạng vay mượn dễ dàng đến độ bất cần và vô trách nhiệm của các tập đoàn kinh tế nhà nước như Vinashin hay Vinalines.

- Do cơ chế quản lý lỏng lẻo với quá nhiều kẽ hở cho các đại gia có thể dễ dàng thao túng và do chính sách tín dụng hào phóng cho các doanh nghiệp nhà nước, nhiều người có chức có quyền hoặc thân tộc của họ đã lập công ty có cái vỏ là tư nhân, hoặc tự đánh bóng mức tín nhiệm về tín dụng để vay tiền ngân hàng cho các dự án bất động sản có quy mô lớn. Ở gốc thì họ cướp đất của dân mà không có đền bù thoả đáng, nôm na là chiếm đoạt tài sản. Ở ngọn thì họ dùng đất đai ấy làm vật thế chấp với giá thổi phồng và vay được tiền rồi, họ tiếp tục đầu cơ qua những cơ sở có quyền sở hữu chòng chéo với nhau. Họ kết thành những kén nợ chằng chịt, bên trong, ai nợ ai và bị ung thối cỡ nào thì chẳng ai biết, kể cả các ngân hàng hay công ty tài chính đã cho vay tiền.

Vũ Hoàng: Thưa ông, ngoài hai nguyên do thuộc về chính sách và cơ chế, phải chăng ta còn có loại nguyên nhân thứ ba là khả năng thẩm định và quản ký rủi ro quá kém của các ngân hàng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chuyện ấy hoàn toàn đúng vì khi cho vay, ngân hàng đã định giá tài sản đảm bảo cao hơn thực giá, tới khi cố phiếu hoặc đất đai sụt giá vì trái bóng đầu cơ bị bể thì ngân hàng lâm nạn. Chúng ta có vấn đề chuyên môn về trình độ nghiệp vụ quá kém và thẩm định dự án đầu tư quá sơ sài thô thiển. Nhưng ngoài khía cạnh chuyên môn thật ra dễ hiểu thì còn một vấn đề khác. Nhiều ngân hàng hay công ty tài chính hoặc tín dụng đánh giá sai rủi ro vì tin vào thế lực của khách nợ hoặc của những người giữ vị trí chủ chốt ở bên trong. Giữa đại gia với nhau thì quan hệ về tín dụng hay sở hữu tất nhiên là phải khác. Chính vì vậy mà người ta càng khó giải quyết việc phân định nợ nần, tái cấu trúc ngân hàng và quản lý các khoản nợ.

Do cơ chế quản lý lỏng lẻo với quá nhiều kẽ hở cho các đại gia có thể dễ dàng thao túng và do chính sách tín dụng hào phóng cho các doanh nghiệp nhà nước. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Theo giới nghiên cứu kinh tế tại Việt Nam thì khu vực xây dựng và bất động sản có tỷ lệ vay nợ cao nhất hiện nay. Như vậy, thưa ông khi bong bóng bất động sản bị vỡ thì nợ xấu của ngân hàng tất nhiên lại còn cao hơn hiện nay, có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung, mức vay mượn ngân hàng của các doanh nghiệp đã gia tăng trong thời gian qua và vượt quá bình quân của nhiều quốc gia khác trên thế giới. Cho nên yêu cầu trả nợ và hiện tượng gẫy đòn bẩy là điều dễ xảy ra trong tương lai trước mắt.

- Thứ hai là trong loại doanh nghiệp mắc nợ thì các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cũng thuộc loại đáng kể, với tổng số dư nợ của một số tập đoàn cao gấp bảy tám lần số vốn. Số nợ bình quân của 79 cơ sở quốc doanh là gần hai lần số vốn.

- Thứ ba mới đến loại doanh nghiệp bất động sản và xây dựng ông vừa nhắc tới: họ đi vay hơn gấp đôi số vốn sở hữu. Khi vay nhiều như vậy thì phí tổn tài chính tất nhiên bào mỏng mức lời khiến các doanh nghiệp này càng dễ gặp nguy cơ vỡ nợ. Khi loại doanh nghiệp này mà vỡ nợ thì ngân hàng mất vốn và công nhân mất việc. Đây là viễn ảnh rất đáng ngại.

Vũ Hoàng: Trong mấy năm vừa qua, có nhiều quốc gia trên thế giới đã bị khủng hoảng vì nạn bể bóng gia cư và địa ốc, với hậu quả lan rộng sang lĩnh vực tài chính và ngân hàng và kéo dài hơn nữa tình trạng suy trầm kinh tế. Thưa ông, tại Việt Nam thì tình hình sẽ ra sao cho các ngân hàng với số nợ xấu được ước lượng dù chưa chính xác thì cũng là hơn 8%?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong vụ bể bóng hiện nay, có chừng 15 quốc gia lâm nạn, kể cả Hoa Kỳ và Trung Quốc, lẫn nước Anh, Tây Ban Nha hay Hy Lạp, v.v.... Kinh tế Việt Nam thật ra còn nhỏ yếu và chưa thể sánh nổi với các nước đó. Vậy mà cái núi nợ khó đòi và sẽ mất lại lên tới mức đáng ngại là khoảng 10%, theo cách tính lạc quan nhất. Công ty lượng cấp trái phiếu là Fitch thì ước lượng một con số cao gấp rưỡi là 15%. Tỷ lệ ấy là một mối nguy cho ngân sách nhà nước và kinh tế quốc dân vì tương đương với 20 tỷ đô la.

- Như dự trù, trong năm tới đây, Việt Nam phải tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng để kịp thời cứu các doanh nghiệp hiện không thể vay ngân hàng khi các ngân hàng bị chìm dưới núi nợ xấu. Nhưng trong việc tái cấu trúc này tất nhiên là phải lập ra công ty quản lý nợ, của nhà nước, nôm na tung tiền ra mua lại các khoản nợ xấu và chịu lỗ để ngân hàng có sổ sách kế toán tương đối lành mạnh và quân bình hơn. Trong hoàn cảnh đó, ngân sách của nhà nước sẽ mất bao nhiêu để cáng đáng một phần của gánh nợ? Ít ra thì cũng từ bảy đến 10 tỷ đô la. Ngân khoản đó thật ra là một lỗ hổng quá lớn cho công quỹ.

- Vấn đề còn rắc rối hơn vậy vì việc thành lập ra một cơ quan quản lý nợ như vậy lại không dễ và đòi hỏi nhiều điều kiện về tổ chức, pháp lý và nghiệp vụ. Cụ thể là lấy vốn ở đâu, do ai quản lý và quyết định theo tiêu chuẩn nào để không gây thêm ung nhọt tham nhũng? Kết cuộc thì làm sao sớm hoàn tất những việc này để kịp thời cứu nguy các ngân hàng trước khi tình hình sa sút hơn trong năm tới? Mà nhà nước càng chậm trễ thì doanh nghiệp càng khốn đốn, khiến núi nợ xấu càng tăng, ngân hàng càng dễ sụp đổ và kinh tế càng suy trầm nặng hơn. Nhiều quốc gia Âu Châu có trình độ tổ chức và nghiệp vụ cao hơn Việt Nam đã mất ba năm cải sửa mà chưa xong. Chẳng có lý do gì để tin rằng Việt Nam sẽ giải quyết mau chóng và gọn gàng hơn các nước này. Vì vậy, nếu năm tới mà Việt Nam đạt được mức tăng trưởng 5% thì đấy đã là phép lạ.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa đã trả lời cuộc phỏng vấn hôm nay.

Tuesday, October 23, 2012

Chuông Reo Lúc Ba Giờ Sáng


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 121022
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Mệnh, Đạo Và Thuật Vẫn Thua Cá Tánh Của Lãnh Đạo....

 * Hai ứng cử viên Mitt Romney và Barack Obama trong cuộc tranh luận cuối *



Còn đúng hai tuần và một cuộc tranh luận cuối, cử tri Hoa Kỳ sẽ đi bỏ phiếu. Trong cuộc bầu cử năm nay họ sẽ bầu lên người lãnh đạo nước Mỹ bốn năm tới. Theo những tiêu chuẩn gì?

Trong vòng sơ bộ bên đảng Dân Chủ cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, Nghị sĩ Hillary Clinton tung ra một mẩu quảng cáo truyền hình để tấn công đối thủ là Nghị sĩ Barack Obama. Ba giờ sáng, điện thoại reo vang trong Tòa Bạch Ốc: một vụ khủng hoảng ngoại giao vừa xảy ra. Khi ấy, một người ít kinh nghiệm như ông Obama sẽ làm gì?

Cử tri Dân Chủ không tin vào lời cảnh báo đó. Ông Obama trở thành Tổng thống thứ 44 và bà Clinton là Ngoại trưởng thứ 67 của nước Mỹ. Nhưng nội dung lời nhắn của bà vẫn nguyên vẹn, và thật ra là yếu tố quan trọng nhất để cử tri chọn lựa lãnh đạo.


***


Khi một vụ khủng hoảng bùng nổ, lãnh đạo Mỹ có thể là người biết tin nhanh và nhiều nhất. Nhưng đấy là lúc con người cô đơn này phải lập tức lấy quyết định. Gần như nhắm mắt đi tiền trong một canh bạc sinh tử. Dựa trên những gì? Đức tin tôn giáo, chủ thuyết, chánh sách, kinh nghiệm cá nhân? Hay dựa trên những tính toán hơn thua về chính trị?

Tổng hợp tất cả các yếu tố ấy thì quan trọng nhất chính là cá tánh - hay bản lãnh. Một thí dụ:

Ngay sau Đại hội của hai đảng vào cuối Tháng Tám và đầu Tháng Chín, khi cuộc tranh cử 2008 bước vào khúc quanh chiến lược từ sau Lễ Lao động, khủng hoảng tài chánh bùng nổ ngày 15 Tháng Chín. Khi ấy, ứng viên Cộng Hoà là Nghị sĩ John McCain đã thành con gà mắc đẹn hay mắc đẻ: ngưng tranh cử mấy ngày để tìm cách giải quyết một vấn đề bất ngờ mà nằm ngoài khả năng. Ra cái chiều quan tâm mà lại có cái vẻ cuống cuồng. Vấn đề là cá tánh.

Nghị sĩ Obama nín thinh nên được tiếng là bình tĩnh và lấy lại sự thua sút của liên danh Dân Chủ vào đầu Tháng Chín. Rốt cuộc, hính quyền George W. Bush cùng Quốc hội có biện pháp cấp cứu và Obama choàng trách nhiệm lên cổ đối thủ Cộng Hoà và đạt 52% số phiếu quần chúng. Thí dụ ấy, đa số đã quên rồi.

Khốn nỗi, đối với cử tri, cá tánh của ứng cử viên lại là khái niệm mơ hồ nhất. 


***


Vì vị trí và sức nặng của nước Mỹ, Tổng thống Hoa Kỳ có thể là người có nhiều quyền thế nhất thế giới. Nhưng ông ta không có toàn quyền quyết định. Sau khi mãn nhiệm rất lâu, lịch sử mới xét đoán về tài năng hay ảnh hưởng của một Tổng thống Mỹ. Sự xét đoán ấy thường tương phản với chương trình tranh cử của ông ta – hay bà ta.

Hãy nói về chuyện tranh cử trước đã.

Khi ra tranh cử - từ vòng sơ bộ trong đảng để được là thủ ủy của liên danh đại diện rồi đến cuộc bầu cử toàn quốc - ửng viên phải đề nghị một chương trình hành động. Chương trình ấy được soi sáng bởi ba loại yếu tố: là chủ thuyết của ứng viên; là chánh sách sẽ thi hành nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt; và quan trọng nhất, là thuật lý luận giúp mình lấy phiếu. Không có phần tuyên truyền ấy thì mọi chương trình huê dạng nhất đều chỉ được nhắc tới trong hồi ký của người thất cử. Vì vậy, điều mà cử tri coi là quan trọng nhất, chương trình hành động, thật ra chỉ là nghệ thuật tranh cử và khả năng tổ chức của ban tranh cử.

Thế rồi, khi đắc cử, Tổng thống Mỹ là người đầu tiên phát giác ra sự bất ngờ: "coi vậy mà không phải vậy!" Lãnh đạo Hoa Kỳ không dễ áp dụng những dự kiến hành động khi tranh cử.

Về đối nội, quyền lực Tổng thống bị hạn chế bởi lưỡng viện Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Ngân hàng Trung ương, và phản ứng của thị trường, kể cả "bọn khốn kiếp buôn bán trái phiếu" theo lối phát biểu của Tổng thống Bill Clinton khi gặp bẽ bàng với dự kiến cách mạng của ông.

Tổng thống Mỹ có nhiều thẩm quyền hơn về lãnh vực đối ngoại. Nhưng trong địa hạt này, ông cũng gặp trở lực bất ngờ. Trước hết là loại quyền lợi trường cửu và thiết thực của nước Mỹ mà ứng cử viên chỉ lờ mờ đoán ra khi chưa ngồi vào vị trí lãnh đạo. Thứ hai là phản ứng của các nước khác, cường quốc đồng minh hay đối thủ. Thứ ba là di sản của chính quyền tiền nhiệm, với loại hậu quả bất lường của những quyết định trước đó.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1916, ứng viên Dân Chủ là Woodrow Wilson tranh cử với khẩu hiệu "không để bị lôi vào cuộc chiến" - Thế chiến I đã khởi sự từ 1914. Vậy mà sau cùng, vì một vụ tấn công của Đức, lại chuông reo lúc ba giờ sáng, Hoa Kỳ vẫn tham chiến, tám tháng trước khi cuộc chiến ngã ngũ. Và sự nghiệp của Wilson được lịch sử phán xét từ Thỏa ước Versailles, bị Thượng viện Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn. Sáng kiến về việc thành lập Hội Quốc liên - tiền thân của Liên hiệp quốc - bị coi là một thất bại của ông Wilson. Một chuyện oan uổng.

Rốt cuộc thì sự nghiệp tầm thường hoặc xuất chúng của một tổng thống lại tùy thuộc vào hai yếu tố chính. Trước hết là... số mệnh may rủi của một lãnh tụ.

Là người ngây thở lý tưởng, Tổng thống Jimmy Carter thấy sự nghiệp tan tành vì vụ khủng hoảng Iran. Lão luyện về nội chính và giành nhiều công sức cho chương trình "Xã hội Đại đồng" của mình, Tổng thống Lyndon Johnson thừa hưởng di sản Việt Nam của John Kennedy và thất bại hoàn toàn vì hồ sơ đối ngoại là cuộc chiến này.

Với kinh nghiệm quốc tế thu gọn vào quan hệ cùng xứ Mễ giáp giới tiểu bang Texas, Thống đốc George W. Bush tranh cử với trọng tâm là nội chính và khiêm cung về đối ngoại: không can thiệp và xây dựng quốc gia cho xứ khác – như chính quyền tiền nhiệm tại Kosovo. Ông lãnh di sản bất ngờ là vụ khủng bố 9-11, mở ra hai cuộc chiến nên mang tiếng là "sát quân" và sự nghiệp lấm lem từ vụ khủng hoảng tài chánh 2008 có nguyên nhân từ cả chục năm trước!

Dù là người có nhiều quyền thế, Tổng thống Mỹ vẫn gặp mệnh đỏ đen! Hình như vì vậy mà Napoléon mới tìm tướng tài trong số những kẻ có vận hên.... "Thời lai, đồ điếu thành công dị!"

Sau số mệnh, yếu tố thứ hai có thể quyết định về sự nghiệp của một lãnh tụ là bản lãnh. Dù lãnh một tụ bài rất xấu mà vẫn đảo ngược tình hình, chuyển thắng thành bại. Người như vậy thật ra không nhiều trong lịch sử dù sao vẫn còn quá mỏng của nước Mỹ.

Vì vậy, cử tri cứ chú ý đến dự kiến của các ứng cử viên mà nhiều khi không rõ chủ đích giấu kín bên trong, như Abraham Lincoln giữ kín lập trường chống chế độ nô lệ cho đến khi hữu sự. Chứ thành bại thì còn tùy vào vận may.

Còn một yếu tố hữu ích cho sự xét đoán mà lại ít được cử tri chú ý. Đó là cá tánh của ứng cử viên. Nó có thể phần nào phản ảnh cái bản lãnh khi có chuyện bất ngờ. 



***



Lần này, vụ Benghazi tại Libya có thể giúp ta nhìn lại.

Cùng ba phụ nữ khác - Đại sứ Suzan Rice và hai cố vấn trong Hội đồng An ninh là Samantha Power và Gayle Smith - Ngoại trưởng Clinton đã thuyết phục Chính quyền Obama can thiệp vào cuộc nội chiến Libya vào Tháng Ba 2011 vì lý do nhân đạo. Chế độ độc tài Muammar Ghaddafi tiêu vong và Libya tiến dần đến chế độ dân chủ, nhưng qua hành lang nhiễu loạn ở miền Đông, tại Benghazi. Chiều 11 Tháng Chín, Đại sứ Christopher Stevens cùng ba viên chức Mỹ bị quân khủng bố ám sát trong toà Tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở nơi đây. Lại chuông reo lúc ba giờ sáng.

Khi khủng hoảng bùng nổ, Chính quyền Obama lúng túng mất ba tuần - chứ không phải ba ngày hay ba tiếng - về cách ứng xử và giải thích về nguyên nhân của vụ thảm sát. Cho đến khi Ngoại trưởng Clinton đứng ra nhận trách nhiệm. Bà là nhân vật sáng giá nhất hiện nay của đảng Dân Chủ nên chấp nhận được tổn thất đó cho đảng.

Biết đâu chừng là với tầm nhìn xuyên tới cuộc tranh cử 2016?