Hiển thị các bài đăng có nhãn Đối phó với Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đối phó với Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, tháng 5 06, 2016

Đại Hoa Nam Cộng Vinh Khuyên!



Hùng Tâm  Hồ Sơ Người-Việt Ngày 160505


Những Phương Cách Đối Phó Với Trung Cộng


 * Phồn vinh, với màu sắc Trung Quốc * 



Tại Việt Nam, ngày 30 Tháng Tư mới qua thì mùng một Tháng Năm lại bùng lên làn sóng biểu tình không để chào mừng Lễ Lao Động Quốc Tế mà để phản đối thái độ tác trách của chính quyền cộng sản Hà Nội trong vụ khủng hoảng Vũng Áng đang lan rộng có thể tới Phú Quốc.

Dĩ nhiên, ngoài các cấp chính quyền Hà Nội, tập đoàn Formosa của Đài Loan có trách nhiệm về vụ khủng hoảng môi trường xuất phát từ Khu Công Nghiệp Vũng Áng của tỉnh Hà Tĩnh. Nhưng trong khu vực, doanh nghiệp Đài Loan không là cơ sở duy nhất, qua chu trình cung cấp và đầu tư rất mờ ám, người ta còn thấy bàn tay Trung Cộng được bọc nhung Đài Loan.

Đấy là hậu quả bất ngờ từ chánh sách hữu hảo với Bắc Kinh của Chính quyền Mã Anh Cửu thuộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Chánh sách gọi là “Đồng thuận Đài Loan” đã phá sản vì chỉ là sự quỵ lụy Bắc Kinh nên bị dân Đài Loan phản đối từ Tháng Ba năm ngoái qua vụ biểu tình gọi là “Cách mạng hoa hướng dương”. Đến cuối năm thì Trung Hoa Quốc Dân Đảng thất cử thê thảm, mất cả Hành pháp lẫn Lập pháp. Ngày 20 tháng này, Đài Loan sẽ có lãnh đạo mới là Tổng thống Thái Anh Văn với Quốc hội do đảng Dân Tiến của bà chiếm đa số áp đảo.

Khi nhìn lại Tháng Tư Đen nhồi trong Thủy Triều Đỏ tại Miền Trung, lẫn bao tai họa trên vùng châu thổ Cửu Long, chúng ta đều thấy bàn tay Trung Cộng. Nhưng nếu nhìn xa hơn, và đấy là nội dung của Hồ Sơ Người-Việt kỳ này, ta nên hiểu ra một khía cạnh còn nguy hiểm gấp bội. 



Đại Hoa Nam Cộng Vinh Khuyên


Khái niệm “Trung Quốc Mộng” mà Tập Cận Bình cổ súy từ năm 2014 bao trùm lên khu vực Đông Hải của Việt Nam và nên được gọi là “Đại Hoa Nam Cộng Vinh Khuyên” - vành khuyên phồn vinh thịnh vượng chung trên vùng biển họ gọi là Hoa Nam, South China Sea. Nằm giữa vành khuyên là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã cưỡng đoạt của các nước Đông Nam Á và đang khống chế bằng các phương tiện quân sự hiện đại trên các đảo nhân tạo.

Cách nay 76 năm, Đế quốc Nhật theo chế độ quân phiệt từng ôm giấc mơ gọi là Đại Đông Á Cộng Vinh Khuyên. Greater East Asia Co-Prosperity Sphere nhằm làm chủ khu vực Đông Á với phương tiện quân sự hiện đại. Kết quả là đại chiến và nước Nhật thảm bại năm 1945 nên từ đó họ tìm sự thịnh vượng qua hợp tác kinh tế, chính trị dân chủ và ngoại giao hòa hiếu. Nhờ đó, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế với người dân có mức sống rất cao. Ngày nay, Trung Cộng lại muốn theo con đường phát xít và quân phiệt của Đức và của Nhật nên cũng sẽ gây ra nguy cơ chiến tranh.

Chúng ta có thể tự hỏi là vì đâu nên nỗi. Câu trả lời phải là vì sự phá sản của chiến lược Nixon-Kissinger và 45 năm hữu hảo của Hoa Kỳ với Trung Cộng.


Bảy Đời Tổng Thống Giao Trứng Cho Ác


Người ta cứ tưởng Richard Nixon và Henry Kissinger đã bắt tay với Trung Cộng thời Mao Trạch Đông nhằm cô lập Liên bang Xô viết trong thời Chiến tranh lạnh.

Sự thật được phanh phui về sau mới cho thấy rằng chính Mao đã khai thác nhu cầu tái tranh cử của Tổng thống Nixon vào năm 1972 mà bắn tiếng mời Nixon mở cuộc tiếp xúc ngay từ năm 1969 khi xung đột quân sự đã bùng nổ tại biên giới Nga Hoa. Sáng kiến của Mao được Nixon nhận là của mình và giao cho một người mà chính ông gọi là gian xảo thực hiện. Đấy là thành tích của Kissinger, với hậu quả nhỏ (xin lỗi quý độc giả) là miền Nam tự do bị hy sinh và hậu quả lớn là Trung Cộng phục hưng kinh tế rồi tiến ra Đông Hải của họ và Đông Hải của ta.

Ở ngay tuyến đầu thì mãi mãi dân ta cũng hiểu ra bước tiến của Trung Cộng. Đầu tiên là trận Hải chiến Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa vào đầu năm 1974 trong giai đoạn bị bức tử. Sau đó là trận chiến Hoa-Việt năm 1979, rồi trận Gạc Ma năm 1988 cho tới khi Hà Nội bị hoàn toàn khuất phục từ năm 1991. Hai chục năm liền, từ 1971 đến 1991, Hà Nội trôi vào qũy đạo Trung Cộng và lãnh đạo ngày nay chẳng thấy ra mối họa từ Đại Thắng Mùa Xuân 1975. Họ lấy đó làm vinh và cúi đầu chui vào cõi “cộng vinh” của Trung Cộng.

Tại Hoa Kỳ, sau Nixon thì bảy đời tổng thống (Ford, Carter, Reagan, Bush 41, Clinton, Bush 43, và Obama) đã theo đuổi chiến lược Nixon dựa trên ảo tưởng là Trung Cộng sẽ tự do hóa chế độ chính trị sau khi ngả theo kinh tế thị trường để thành cường quốc thịnh vượng, biết điều, rồi sẽ cùng nước Mỹ và các định chế quốc tế gánh vác thiên hạ sự. Ngày nay, 45 năm sau, người ta mới thấy sự thất bại của chiến lược lạc quan ấy.

Trung Cộng khai thác các định chế quốc tế, lòng tham của doanh nghiệp và nhất là sai lầm của lãnh đạo Hoa Kỳ để thành cường quốc bá quyền tại Đông Á và còn cho biết Hoa Kỳ sẽ phải trả giá rất đắt nếu muốn chặn đà bành trướng của họ. Chính quyền Barack Obama đang cân nhắc về cái giá ấy so với những ưu tiên khác của ông nên chỉ nói chứ không làm. Vả lại, ông còn cầm quyền có bảy tháng nữa thôi và lo trau chuốt di sản của mình cho lịch sử.

Tổng thống thứ 45 cùng Quốc hội khóa 115 sẽ phải cải sửa những sai lầm chồng chất xuất phát từ vị Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Cải sửa như thế nào?


Bát Quái Trận Đồ


Căn cứ trên kinh nghiệm của các lãnh tụ tiền nhiệm từ cả trăm năm trước, khi Trung Quốc còn cúi đầu lầm than, và nhìn trên cục diện chung tại Đông Á lẫm tâm tư của dân Mỹ, lãnh đạo mới của Hoa Kỳ có tám bước cải sửa sau đây.

Thứ nhất, nhìn lại thực tế và giải trình mạch lạc cho toàn dân cùng hiểu sự thật về Trung Cộng, y hệt sự thật về Đức quốc xã hay Liên Xô. Phải nêu đích danh bản chất lưu manh gian ác của cường quốc bá quyền mới. Muốn vậy, Hành pháp phải yêu cầu Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Cố vấn Kinh tế, hai bộ Ngoại giao và Quốc phòng cùng Đại sứ Thương mại có tiếng nói thống nhất về Trung Cộng với chi tiết xác thực về các hồ sơ như chủ quyền biển đảo, môi sinh, kinh doanh, quân sự, an ninh, v.v….  Quốc hội khóa 115 sẽ tuyên thệ nhậm chức ngày ba Tháng Giêng năm 2017 phải rà soát lại hệ thống luật lệ và thẩm định để nâng cao khả năng ứng phó khi kết luận của Hành pháp là Hoa Kỳ sẽ phải ứng phó.

Thứ hai là công khai tuyên bố khu vực Đông Á thuộc về quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ. Không thể để Trung Cộng khẳng định vùng biển Đông Á là “hạch tâm nghĩa lợi” của họ như hai vùng đất mà họ chiếm đóng từ xưa là Tân Cương và Tây Tạng, rồi chỉ vu vơ bày tỏ “mối quan ngại” của nước Mỹ theo lối ngoại giao cố hữu. Sau khi tuyên bố thì tăng cường sự hiện diện quân sự trong khu vực một cách thiết thực, thường trực và đáng tin tại vùng biển Hoa Đông và Hoa Nam của Trung Cộng. Từ năm 2011, Chính quyền Obama đã nói đến việc “chuyển trục” và tới năm 2020 sẽ đưa 60% lực lượng Hải quân vào Châu Á Thái Bình Dương mà chẳng làm gì nên Bắc Kinh không tin và không sợ. Hoa Kỳ sẽ phải cải sửa ấn tượng ấy.

Thứ ba, chấm dứt việc tuyên bố vu vơ về “quyền tự do vận chuyển ngoài biển” (FONOP) và nhất cử nhất động đều báo trước cho Bắc Kinh. Hoa Kỳ phải thể hiện quyền tự do bằng hành động, và hành động đầu tiên là hủy bỏ sai lầm của Obama khi mời Trung Cộng tham dự cuộc Thao dượt quân sự RIMPAC. Được Hoa Kỳ đề nghị từ năm 1971, cuộc thao dượt hai năm một lần quy tụ các quốc gia trên vành cung Á Châu Thái Dương mà không có Trung Cộng. Đã tuyên bố chuyển trục, năm 2014 Obama lại mời Bắc Kinh tham dự và hôm 18 tháng trước Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ còn nhắc lại lời mời khi biển Đông đã nổi sóng. Vì cuộc thao dượt tới là vào Tháng Sáu năm nay, Quốc hội và các ứng cử viên phải quyết liệt yêu cầu Chính quyền Obama hủy bỏ lời mời. Trung Cộng bá quyền phải trả giá cho hành động xâm lược của họ.

Với tinh thần đó, điểm thứ tư là hãy gột bỏ thói quen giao kết chỉ vì mục tiêu giao kết, trong đó có cả việc tiếp xúc, hợp tác và kết ước với Quân đội của Bắc Kinh. Làm như vậy thì chỉ khuyến khích sự gian ác chứ không tác động được vào giới tướng lãnh Trung Cộng.

Thứ năm, cần tăng cường hợp tác với Nhật Bản và Đài Loan là hai đồng minh có khả năng đóng chốt trên vùng biển Hoa Đông của Trung Cộng. Nhật đã đi bước đầu là suy diễn lại Hiến pháp để cho phép ra quân bảo vệ đồng minh, Đài Loan đang có chính quyền mới, có lập trường dứt khoát hơn về quan hệ với Bắc Kinh. Hoa Kỳ đã có hiệp ước với cả hai quốc gia ấy nên cần áp dụng và hội nhập khả năng quân sự giữa ba nước. Hàng năm, Nhật vẫn trả Hoa Kỳ hai tỷ đô la cho việc đồn trú các căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ Nhật, chứ không phải là ỷ lại vào Mỷ như tỷ phú Donald Trump nói sai. Sau Nhật Bản và Đài Loan, hãy tác động vào Hiệp hội ASEAN của 10 quốc gia Đông Nam Á và mở vòng hợp tác với Ấn Độ và Úc. Các quốc gia bán đảo hay quần đảo vây quanh Trung Quốc đã biết sợ nhưng chưa dám tin vào Hoa Kỳ.

Thứ sáu, thiết thực áp dụng mọi biện pháp trừng phạt kinh tế mỗi khi Trung Cộng vi phạm. Xưa nay, nhiều vi phạm về ngoại thương, đầu tư, thậm chí cho tin tặc ăn cắp bí mật kinh doanh hay quân sự vẫn được Mỹ phàn nàn rồi bỏ qua chỉ vì tinh thần giao kết.

Thứ bảy, luật lệ Hoa Kỳ đã có, luật lệ quốc tế cũng thế, lãnh đạo Mỹ phải vận dụng hệ thống luật lệ ấy để công khai thách thức Trung Cộng. Chẳng hạn, ngoài hồ sơ cưỡng đoạt chủ quyền trên biển của xứ khác, Bắc Kinh còn gieo họa về môi sinh cho các lân bang, từ nguồn nước cho đến đánh bắt ngư hải sản trong vùng Đặc quyền kinh tế EZZ của thiên hạ. Hoa Kỳ phải làm gương mà dùng luật để Trung Cộng hết còn khả năng tự tung tự tác.

Sau cùng, phải ráo riết mở chiến dịch tố giác nạn tham nhũng của các đảng viên cán bộ cùng tay chân thân tộc của chế độ. Bắc Kinh có thể kiểm soát thông tin để bịt kín sự thật nhưng thế giới bên ngoài vẫn có thể biết được khi các đại gia, từ gia đình Tập Cận Bình trở xuống, đều tẩu tán tài sản ra ngoài. Họ sẽ mất chính nghĩa với người dân và mất tự do khi xuất ngoại vì nơi đâu cũng có thể bị dân chửi và thế giới coi thường. Chiến dịch ấy còn gây khó cho chính Tập Cận Bình và đào sâu những mâu thuẫn bên trong mạng lưới tham nhũng của Trung Cộng.

----

Kết luận ở đây là gì?

Hoa Kỳ không thể thoái thác trách nhiệm mà thành đồng lõa với tội ác vì không dám can ngăn tội ác. Đấy mới là quyền lợi đích thực và lâu dài của nước Mỹ. 

Việc cải sửa những sai lầm lưu cữu từ 45 năm qua sẽ đòi hỏi thời gian và ý chí, nhưng cần khởi sự càng sớm càng hay. Nếu không, nước Mỹ và dân Mỹ sẽ phải trả giá đắt hơn sau khi đã quên bài học về Đức quốc xã và Phát xít Nhật.

Thứ Hai, tháng 8 17, 2015

Đòn Tiền Tệ Của Trung Quốc:

Trọng Nghĩa - Nguyễn-Xuân Nghĩa RFI Ngày 150817 
Tạp Chí Việt Nam  


Việt Nam làm sao chống đỡ?



Đòn tiền tệ của Trung Quốc: Việt Nam làm sao chống đỡ ?
* Un employé d'une succursale de la Banque agricole de Chine compte des billets de 100 dollars et de 100 yuans, à Qionghai, le 12 novembre 2012.REUTERS/China Daily * 


hare

Liên tiếp trong ba ngày từ 11/08/2015, Trung Quốc đã mặc nhiên phá giá đồng yuan (nhân dân tệ) của họ, cho dù Ngân hàng trung ương Trung Quốc luôn phủ nhận điều đó. Hành động của Trung Quốc đã tác động mạnh đến tiền tệ các nước khác, đặc biệt là các quốc gia bị lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Trung Quốc. Việt Nam nằm trong diện các quốc gia này.

Chỉ một hôm sau khi Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã lập tức tung ra một biện pháp chống đỡ : cho mở rộng biên độ tỷ giá đồng nội tệ Việt Nam so với đồng đô la Mỹ từ 1% lên thành 2%, một biện pháp tạm thời nhằm giảm áp lực đến từ Trung Quốc.

Ngày 14/08, Chính phủ Việt Nam cũng đã họp bàn về tác hại của sự kiện Trung Quốc phá giá đồng tiền của họ và kế sách đối phó.

Trong những ngày qua, giới chuyên gia kinh tế trong nước đã không ngớt phân tích về ảnh hưởng của việc đồng nhân dân tệ Trung Quốc giảm giá đối với kinh tế Việt Nam, và các ý kiến nói chung đều rất bi quan, cho rằng Việt Nam sẽ phải chịu tác hại rất lớn vì đã để cho mình bị lệ thuộc Trung Quốc quá nặng về mặt kinh tế.

Nhập siêu với Trung Quốc lớn thêm, cạnh tranh thêm khốc liệt


Lo ngại đầu tiên là khoảng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc vốn đã rất lớn, nay lại có khả năng tăng thêm, với nguy cơ hàng Trung Quốc, được giá rẻ hơn nâng đỡ, sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam.

Bên cạnh đó, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sẽ mất sức cạnh tranh so với hàng Trung Quốc trên các thị trường quốc tế. Báo chí Việt Nam trong những ngày qua đã trích dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích một cách tượng hình như sau: 

«Nếu ngày xưa Trung Quốc bán cho ta 100 đồng thì nay, giá chỉ còn 95 đồng. Ngược lại, hàng Việt Nam bán vào Trung Quốc ngày xưa là 100 thì giờ giá là 105. Khi đó, đương nhiên hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc sẽ khó hơn, do bất lợi về giá».

Tình trạng tương tự cũng sẽ diễn ra trên các thị trường quốc tế. Một ví dụ cụ thể, được Tiến Sĩ Thành nêu lên là trường hợp tôm hay hàng quần áo đang xuất khẩu vào Mỹ. Nếu trước đây, hàng Việt Nam và Trung Quốc đều như nhau ở mức 100 chẳng hạn, nhưng nay, hàng Trung Quốc sẽ chỉ là 95, còn hàng Việt Nam vẫn là 100.

Điều này sẽ rất bất lợi khi hàng Việt cạnh tranh trực tiếp hàng Trung Quốc giá rẻ hơn trên thị trường quốc tế, nhất là khi hàng Trung Quốc tương đồng với hàng Việt Nam.


Bắc Kinh phá giá đồng yuan: "Cơ hội cho Việt Nam tỉnh giấc"


Ngón đòn tiền tệ của Trung Quốc tai hại đến mức nào đối với Việt Nam, và Việt Nam có thể làm gì để ứng phó? Trả lời phỏng vấn của RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ trước hết đã vạch trần thủ đoạn của Bắc Kinh, đã khởi động một cuộc chiến tranh tiền tệ bằng cách phá giá đồng nhân dân tệ, nhưng luôn lớn tiếng cho rằng họ không hề phá giá, và sở dĩ đồng tiền Trung Quốc hạ giá, đó là do cơ chế thị trường!

Về phản ứng tức thời của Việt Nam trước động thái của Trung Quốc, mở rộng biên độ tỷ giá đồng nội tệ Việt Nam, chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng đó là một biện pháp tích cực, nhưng chưa đủ, cần phải kèm theo một chiến lược lâu dài là dần dần thoát khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc về mặt kinh tế. Một trong những biện pháp là quyết tâm gia nhập khối kinh tế Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP.

Đối với chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa, việc Trung Quốc khơi mào một cuộc chiến tiền tệ, là một cơ hội giúp Việt Nam tỉnh giấc.

Sau đây mời quý vị nghe phân tích của chuyên gia Nguyên Xuân Nghĩa về tác hại của việc đồng nhân dân tệ Trung Quốc bị phá giá đối với Việt Nam:

Phỏng vấn chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa 17/08/2015 nghe


1- Ảo thuật Trung Quốc: Thế nào là phá giá?

Bắc Kinh vẫn duy trì chế độ kiểm soát hối đoái, là dân không được giữ ngoại tệ, có xuất cảng mà thu về ngoại tệ thì phải bán cho nhà nước theo hối suất do nhà nước quy định. Thứ hai, họ neo giá đồng Nguyên (Yuan) - mà họ gọi với cái tên xảo là “Nhân dân tệ” hay Renminbi - vào đồng đô la Mỹ và ấn định hối suất trao đổi. Họ thường ấn định thấp để thu đô la về mà trả ra ít tiền hơn cho nhà sản xuất.

Đấy là một khía cạnh của hiện tượng mà giới kinh tế gọi là “bóc lột tài chánh”, répression financière, vì người dân thắt lưng buộc bụng bán hàng cho rẻ khi thu về ngoại tệ thì nạp nhà nước và được trả với giá bèo. Hậu quả của chánh sách này là hàng rẻ của Trung Quốc tràn ngập khắp nơi và thực tế là cạnh tranh bất chính, nhưng nhà nước có một khối ngoại tệ khổng lồ, lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la.

Bây giờ ta mới đi vào chuyện chuyên môn hơn, là nhìn ra nhiều ngoắt ngoéo khiến Bắc Kinh vẫn cãi là họ đang theo quy luật thị trường chứ không phá giá!

Vì bị thế giới than phiền, từ 2005, Bắc Kinh chậm rãi nâng hối suất qua hai đợt với kết quả là từ tám đồng hai lên sáu đồng hai đã ăn một Mỹ kim. Họ còn vẽ ra một con rắn, cũng là un serpent monétaire, là “biên độ giao dịch” mua vào hay bán ra đô la trong khoảng trên dưới 1% so với hối suất chính thức. Từ Tháng Ba thì họ mở rộng biên độ giao dịch từ 1% lên 2% như Hà Nội vừa làm vào ngày 12 vừa qua (nhưng quyết định ấy của Hà Nội chưa thật sự là phá giá như nhiều người lầm tưởng).

Từ đầu năm nay, thị trường chật hẹp (xê xích 2%) đã có hướng giao dịch với tâm lý là đồng Nguyên mất giá tới mức thấp nhất so với giá chính thức. Hôm Thứ Ba 11, Bắc Kinh đưa ra cách chấm một giá thấp trong biên độ 2% của hôm trước làm giá chính thức được loan báo vào 9:15 sáng hôm sau. Giá hôm 11 đó giảm 1,9% so với giá chính thức hôm trước, tức là họ mặc nhiên phá giá 1,9%.

Hôm sau, Thứ Tư 12 thì họ lại chọn giá thấp hơn 1,6% và tiếp tục như vậy. Tức là mỗi ngày có thể hạ 2%, trong biên độ hay con rắn ngoằn ngoèo của hôm trước. Tính đến Thứ Năm 13, trong ba ngày họ phá giá gần 4% rồi cho nhích lên chút đỉnh.

Không nói về những khó khăn chồng chất dẫn đến quyết định phá giá thì Bắc Kinh vẫn kiểm soát và thực tế can thiệp vào thị trường hối đoái chứ không thả nổi cho đồng bạc lên xuống theo quy luật cung cầu. Nhưng Bắc Kinh khéo lòe ở việc buông tay cho giá rớt vì chọn giá giao dịch ngày hôm trước làm giá hôm sau và nói rằng giá ấy là của thị trường. Họ mới chỉ nới dây neo một chút như vậy thì chưa thể gọi là giải tỏa được.

Chuyện thứ hai mới lòi ra tính chất gian trá. Vài ngày qua, vào 15 phút cuối ngày giao dịch thì các ngân hàng thương mại của nhà nước được lệnh kín đáo nhảy vào bán đô la khiến đồng Nguyên lên giá chút đỉnh. Mục đich là để làm cơ sở cho Ngân hàng Nhà nước của Bắc Kinh chấm giá chính thức vào hôm sau. 

Đấy cũng là nhà nước can thiệp vào thị trường chưa có tự do. Nhìn cách khác thì người dân thấy chiều hôm trước chính quyền Bắc Kinh bật tín hiệu cho thị trường hôm sau, tức là nhà nước vẫn lũng đoạn theo cái hướng đẩy lên hay dìm xuống cho thần dân theo đó mà chơi và tin vào cái lưới đỡ của nhà nước!


2- Việt Nam đỡ đòn

Nói về Việt Nam thì Hà Nội mới chỉ mở rộng biên độ mua bán chứ chưa ấn định một hối suất hay tỷ giá chính thức thấp hơn, nên chưa thể gọi là phá giá. Nhưng quyết định cũng tạo ra hoàn cảnh cho doanh nghiệp lách sâu hơn xuống dưới để phần nào thoát được hiệu ứng phá giá của Bắc Kinh.

Tuy nhiên bi kịch của Việt Nam rộng lớn hơn vậy. Kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc và bị nhập siêu nặng, mua nhiều hơn bán đến 40 tỷ, cả qua ngả chính thức lẫn ngoại ngạch, tiểu ngạch - hay nôm na là buôn lậu - với sự đồng lõa của các chính quyền địa phương trong hệ thống mậu biên. Vì vậy, việc Bắc Kinh phá giá là tai họa trước mắt. Trong việc buôn bán với Tầu, họ xuất cảng rẻ hơn và Việt Nam xuất cảng đắt hơn.

Đã thế, vế bên kia còn thê thảm hơn. Việt Nam cũng mắc nợ quá nhiều và khi Mỹ kim quá rẻ trong các năm Tổng suy trầm thì nhiều người vay bằng đô la với lãi suất hạ để kiếm lời ở nhà. Nay đô la lại lên giá và lãi suất cũng sẽ tăng thì gánh nợ trở thành đắt đỏ và khó trả hơn. Đâm ra, Việt Nam bị đồng Nguyên ghìm xuống đáy và bị đồng Mỹ kim kéo lên trời nên sẽ căng mỏng và rách nát!

Về lâu dài, Hà Nội phải quan niệm lại từ chiến lược đến tổ chức để thoát Tầu và việc gia nhập TPP là một cơ hội. Nhưng người ta không lạc quan về khả năng của lãnh đạo vì họ đã giàng buộc số phận của quốc gia vào các quyết định của Bắc Kinh.


3- Làm sao bây giờ?


Việc Bắc Kinh phá giá và mở ra trận chiến ngoại tệ với các bạn hàng của mình là một cơ hội tỉnh giấc cho Việt Nam. Sau biện pháp chống đỡ mau lẹ là cũng mở rộng biên độ giao dịch, chính quyền Hà Nội nên có những biện pháp và tuyên bố rõ ràng hơn để trấn an dư luận và nghiên cứu kế hoạch “Thoát Tầu” một cách cụ thể, ít ra về mặt kinh tế.

(1) Thứ nhất là nên bít lỗ hổng trong luồng giao dịch với Trung Quốc, như loại tiểu ngạch hay ngoại ngạch mậu biên, thực chất là buôn lậu.

(2) Thứ hai là thiết lập chiến lược kinh doanh hầu Việt Nam ra khỏi tình trạng làm gia công cho Tầu để xuất cảng nguyên nhiên vật liệu của Tầu dưới dạng “hàng chế biến tại Việt Nam”, và như vậy cũng phải tìm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu khác.

(3) Thứ ba, trong chiều hướng đó, cố gắng cải cách để có điều kiện gia nhập hiệp ước TPP trong năm tới. Khi đã gia nhập thì đừng tiếp tục là “con ngựa chiến thành Troie của Trung Quốc”, là mũi nhọn kinh tế để bán hàng của Trung Quốc cho 11 thành viên còn lại là TPP dưới cái nhãn “Made in Vietnam”.

Dù sao, việc Bắc Kinh phá giá và thực tế khai chiến với các bạn hàng Á Châu cũng khiến các nước nhìn lại những hứa hẹn hợp tác và thịnh vượng của Trung Quốc về Con Đường Tơ Lụa, Ngân hàng BRICS, Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu AIIB, v.v….

Nhìn sâu xa hơn thì khi đồng Nguyên mất giá như vậy, các ngoại tệ khác đều bị hiệu ứng nhưng nặng hay nhẹ thì còn tùy vào mối giao dịch thương mại với thị trường Hoa lục. 

Người ta có cách đo mối giao dịch đó ở chỉ số TWI (Trade-Weighted Index), hay là “chỉ số thương mại gia trọng”, tức là tỷ giá thực của nội tệ so với đồng Nguyên trên cơ sở của luồng trao đổi. Theo tiêu chuẩn đó thì Nhật Bản (với 30%) chứ không phải Hoa Kỳ (20%) hay Âu Châu (10%) mới bị ảnh hưởng nhất về vụ phá giá của Bắc Kinh. Mà đồng Yen Nhật thì đã sụt quá mạnh từ năm 2013 do biện pháp kích thích kinh tế của Chính quyền Shinzo Abe. Đâm ra chuyện đối đầu Hoa-Nhật cũng thể hiện trên trận tuyến kinh tế và hối đoái, là điều rất nên theo dõi.

Việt Nam nên nhìn qua các nước khác để thấy Trung Quốc sẽ gặp phản ứng và kinh tế Trung Quốc chẳng là phép lạ hay mẫu mực đáng noi theo.

Thứ Năm, tháng 7 09, 2015

Siêu Cường Văn Hóa Trung Quốc



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt Ngày 150708

Quyền Lực Mềm Oặt – Mà Đắt Đỏ – Của Bắc Kinh


 * Dễ sợ! *



Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc hiện nay đang tập trung những mâu thuẫn vĩ đại.

Đây là nước cộng sản độc tài đã áp dụng một phần – một phần thôi - của quy luật thị trường để đạt mức tăng trưởng rất cao trong 30 năm cải cách kinh tế và vươn lên thành nền kinh tế có sản lượng đứng hàng thứ nhì của thế giới, sau Hoa Kỳ, và trước Nhật Bản, Đức. Từ sự hoang tưởng chết người của Mao Trạch Đông cho tới thành tựu vừa qua, Trung Quốc phải làm thế giới chú ý.

Nhưng, Trung Quốc cũng có cái thói “trọng thương” của Âu Châu vào thế kỷ 19, lý tài và riết róng trục lợi đến độ lưu manh khi làm ăn với các nước khác. Các quốc gia hay doanh nghiệp đã phải thương thuyết với Trung Quốc đều nhớ tới những chặng đường khổ ải này và kín đáo truyền cho nhau kinh nghiệm đối phó với một nhà nước có dự trữ ngoại tệ khổng lồ là gần bốn ngàn tỷ đô la.

Một mâu thuẫn khác là trong khi chiếm đóng vùng biển Đông Nam Á và biểu dương sức mạnh quân sự, Trung Quốc vẫn nói đến việc hợp tác kinh tế với các nước Á châu Thái bình dương để xây dựng một vùng thịnh vượng chung bao trùm lên các lục địa Âu-Á-Phi và Nam Mỹ. Trong năm 2014, hai nhân vật cao cấp nhất là Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường đã thăm viếng hơn 50 quốc gia với rất nhiều hợp đồng hay hiệp định được ký kết trong mỗi chặng công du.

Thí dụ kia là lãnh đạo Trung Quốc ngày nay đưa ra hình tượng Khổng Tử với hàm ý xiển dương tinh thần vương đạo và truyền thống nhân trị của đức Thánh Khổng. Nhưng họ bỏ tù những người bất đồng chính kiến và thẳng tay kiểm soát tư tưởng, báo chí bên trong, Với bên ngoài thì họ còn muốn tạo ra những ấn tượng sai về bản chất gian ác của chế độ. Tức là họ muốn đánh lừa dư luận. Nghệ thuật đánh lừa ấy được gọi là “Quyền Lực Mềm”.

Hồ Sơ Người Việt xin tìm hiểu chuyện này.


Sự Xuất Hiện Của Một Siêu Cường Văn Hóa


Thế giới bên ngoài thường chú ý đến hai khía cạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc để có nhận định tổng hợp về “chính trị của Bắc Kinh”.

Chúng ta không nên quên một vế thứ ba, là văn hóa.

Một năm trước khi lên lãnh đạo Trung Quốc (từ Đại hội 18 vào Tháng 11 năm 2012) thì Phó Chủ tịch Tập Cận Bình thời ấy đã chủ trì một hội nghị của Ban chấp hành Trung ương để chỉ đạo về một mục đích yêu cầu của đảng là “xây dựng xứ sở thành một siêu cường văn hóa”. Hai năm sau khi lên làm Tổng bí thư và Chủ tịch Nhà nước, từ năm ngoái, cũng Tập Cận Bình đã chỉ thị việc khai triển “quyền lực mềm” để có diễn giải tốt hơn về Trung Quốc trong dư luận quốc tế.

Thành thử, cùng hàng loạt sáng kiến có vẻ kinh tế như Con Đường Tơ Lụa, Tân Khai triển Ngân hàng (Ngân hàng Phát triển BRICS), Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu (AIIB), Vùng Tự do Thương mại Á châu Thái bình dương (FTAAP), Tập Cận Bình cũng quảng bá những khái niệm về tư tưởng như Trung Quốc Mộng hay “một quan hệ của các cường quốc lớn với nhau” (khi họp thượng đỉnh với Tổng thống Mỹ tại Camp David).

Nếu lại nhớ đến các chiến dịch đầu tư và viện trợ nhằm tranh thủ nhiều quốc gia Á, Phi, Trung Đông và Nam Mỹ, người ta thấy ra một mặt trận toàn diện để trình bày với thế giới cái chân dung tử tế và có lợi của một siêu cường văn hóa, một siêu cường có văn hóa. Việc thành lập các “Viện Khổng Tử” chỉ là một diện của mặt trận đó mà thôi.


Dàn Quân Chi Viện


Tổng số nợ hiện nay của Trung Quốc được ước lượng là lên tới con số tương đương với 28 ngàn tỷ (trillion) Mỹ kim khiến xứ này thuộc vào loại mắc nợ nhiều nhất thế giới. Cao gấp bẩy lượng dự trữ ngoại tệ gần bốn ngàn tỷ đô la. Số nợ thật là bao nhiêu thì chẳng ai có thể biết một cách chính xác, kể cả lãnh đạo, và vẫn được nhà nước coi là bí mật quốc gia.

Nhưng qua hàng loạt sáng kiến trình bày ở trên, Bắc Kinh thường nói đến hàng chục tỷ đô la:

Nào 41 tỷ trong số vốn trăm tỷ cho ngân hàng BRICS; 100 tỷ cho Ngân hàng AIIB, hoặc 46 tỷ cho dự án hạ tầng nối liền Trung Quốc với Pakistan, 244 tỷ trong mấy năm tới cho Con Đường Tơ Lụa, hoặc một ngàn 250 tỷ cho các dự án đầu tư trên toàn cầu cho 10 năm tới….

Nghĩa là Bắc Kinh vừa lập kế hoạch tranh thủ thế giới trị giá một ngàn 500 tỷ cho mươi năm tới, tính trung bình thì mỗi năm 150 tỷ. Trong thời Chiến tranh lạnh 1948-1991, hai siêu cường đối nghịch là Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết cũng chẳng thể tung tiền viện trợ, đầu tư hay vận động tới mức lớn lao như vậy. Nếu có tính theo hiện giá – giá trị ngày nay – thì Kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ cho Âu Châu chỉ có khoảng hơn trăm tỷ. Trung Quốc chi viện gấp 15 lần Hoa Kỳ!

Trong nền văn hóa chính trị của Trung Quốc hiện đại, khái niệm “tuyên truyền” không mang nội dung tiêu cực mà rất gần với tinh thần “binh bất yếm trá” trong văn hóa chính trị cổ đại. Với một chính quyền độc tài và đầy quyền năng thì mọi khía cạnh của thông tin, văn học nghệ thuật hay giáo dục và cả thể thao, v.v… đều phải có mục đích tuyên truyền.

Đội bóng nữ của Hoa Kỳ trong Giải Túc Cầu FIFA là một tổ chức tư nhân, tự phát và thi đấu rồi được dân Mỹ cổ võ thì cũng trong tinh thần hồn nhiên và tự động, không do một quyết định nào đó của Chính quyền tại Thủ đô Washington. Đội bóng nữ của Trung Quốc thì khác, đấy là niềm kiêu hãnh dân tộc hình thành với sự yểm trợ và chỉ đạo của đảng và nhà nước. Nhân sự cho nỗ lực thể thao này được nhà nước yểm trợ và chi phối.

Người ta khó biết nhà nước Trung Quốc dành bao nhiêu tiền cho nỗ lực tuyên truyền hải ngoại đó, nhưng giới nghiên cứu quốc tế về Trung Quốc ước lượng là khoảng 10 tỷ một năm. Còn ngân sách năm ngoái cho công tác quảng bá của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ có 666 triệu bạc!

Cơ quan điều hướng và phối hợp toàn bộ nỗ lực tuyên truyền này của Bắc Kinh là Cục Thông tin trong Quốc vụ viện (Hội đồng Chính phủ), có trụ sở nguy nga nằm giữa thủ đô Bắc Kinh, dưới một cái tên rất hiền lành vô hại “Quốc vụ viện Tân văn Biện công thất”. Chỉ là Tân Văn thôi!

Hàng năm, Tân văn của Quốc vụ viện tổ chức hội nghị vào tháng 12 để rà soát phương hướng và nhiệm vụ năm tới. Nào tổ chức Liên hoan Phim ảnh Trung Hoa tại xứ này, yểm trợ sinh hoạt chào mừng “Năm Trung Quốc” tại xứ kia, thực hiện triển lãm, hay tài liệu, sách báo, hình ảnh, cho đến cả khái niệm tuyên truyền “văn hóa ẩm thực” của Trung Hoa, v.v… Tất cả đều được chuẩn bị tỉ mỉ có trọng tâm hướng vào từng khu vực địa dư hay ngành nghề quan trọng, thậm chí cho cả du khách ngoại quốc đến thăm Hoa Lục…. Mọi hội nghị quốc tế có sự tham dự của Trung Quốc, hay do Bắc Kinh tổ chức, đều nhận được sự nhắc nhở của Tân văn. Kiều vận, địch vận hay trí vận là những chiến dịch hay công tác quen thuộc trong nền văn hóa chính trị của xứ này.

Dĩ nhiên là cơ quan chiến lược ấy cũng có nhiệm vụ kiểm soát mạng lưới Internet và huấn luyện một dàn dư luận viên có khả năng lập tức phản bác – bằng ngoại ngữ - mọi thông tin lý luận bất lợi cho Trung Quốc. Và có thể cấm lưu hành những tờ báo hay tin tức họ cho là “có ác ý với Trung Quốc”. Cầm đầu cơ quan này phải một Trung ương Ủy viên.


Tiếng và Miếng


Như vậy, Trung Quốc là nơi mà tuyên truyền được nâng thành quốc sách, với phương tiện nhân sự tài chánh dồi dào, và có sự chỉ đạo thống nhất của đảng và nhà nước. Thế rồi kết quả ra sao?

Năm 2014, hệ thống BBC của Anh có làm một cuộc khảo sát ý kiến và thấy rằng từ năm 2005, trong 10 năm qua, số người có quan điểm tích cực với ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc lại giảm 14 điểm bách phân. Tức là Bắc Kinh mất cảm tình viên sau khi dồn tiền truyên truyền hải ngoại. Một cuộc khảo sát khác của Pew Research Center (Global Attitutes Project) còn cho thấy một kết quả ngạc nhiên hơn: quyền lực mềm của Trung Quốc lại giảm sút tại Phi Châu và Mỹ Châu La Tinh, nơi Bắc Kinh đã tốn rất nhiều tiền đầu tư, viện trợ và truyên truyền lung lạc.

Lãnh đạo Trung Quốc không thể không biết được chuyện ấy và ra sức châm thêm tiền. Phải thêm miếng để được tiếng.

Trung Quốc là nơi có khả năng biểu dương với loại xe lửa cao tốc hay cao ốc nguy nga thực hiện trong có ba tháng. Trung Quốc cũng là nơi mỗi tháng lại xây dựng được nhà cửa cho một thị trấn 10 vạn dân. Với kết quả là thương xá ế ẩm và thành phố ma, mà vẫn được bút toán là góp phần tăng trưởng kinh tế.

Quyền lực mềm của Bắc Kinh cũng là loại công trình tốn kém tương tự, với kết quả tương tự: đắt đỏ mà mềm oặt. Lý do giải thích nghịch lý này? Bắc Kinh lại mắc bệnh duy ý chí, cứ tưởng rằng trồng tiền thì sẽ hái hoa. Sâu xa hơn vậy, người ta còn phải nhìn thấy một lý do văn hóa.

Khái niệm “quyền lực mềm” được Tây phương quảng bá trước tiên xuất phát từ một xã hội quan đa nguyên. Đây là ảnh hưởng gián tiếp và mạnh mẽ của xã hội, của công dân, không phải của chế độ. Ảnh hưởng ấy là những giá trị tinh thần của văn hóa, của con người bình thường, không phải là của cán bộ nhà nước. Cho nên dàn hợp xướng quốc doanh của Bắc Kinh, với đầy đủ kèn trống và ống kính, chỉ làm khán giả thêm khó chịu chói mắt vì nhịp điệu đồng dạng.

Thiên hạ thấy ra sự giả trá.

___

Kết luận ở đây là gì?

Muốn được người yêu mình thì trước hết mình phải yêu người - với chân tình.

Với gian ý, Bắc Kinh càng tuyên truyền thì thiên hạ càng nghi ngờ Trung Quốc!

Nếu người dân được quyền tự do, chính họ sẽ tự nhiên quảng bá văn hóa của nước nhà.

Và chẳng ai muốn làm con vẹt cho một chế độ gian ác.