Hiển thị các bài đăng có nhãn Hillary Clinton. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hillary Clinton. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, tháng 11 01, 2016

Vuốt Dao Cạo



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người-Việt ngày 161030
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"


Những Kỳ Quái Của Một Cuộc Tranh Cử Bất Thường    


* Lạy trời mưa đừng xuống! *


Thông thường, đề tài cột báo kỳ này là khía cạnh chính trị bên trong một vấn đề kinh tế. Nhưng tuần này không là một tuần thông thường vì tuần sau sẽ là ngày bầu cử trong một cuộc tổng tuyển cử bất thường của nước Mỹ. Bất thường nhất là cuộc tranh cử Tổng thống, từ lạ kỳ đến kỳ cục, kỳ quái - chúng ta thiếu chữ để diễn tả.

Nói về Hoa Kỳ, sự phân cực về quan điểm chính trị đã có từ lâu, khiến lập trường của hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa ngày càng tách biệt và tìm ra điểm dung hòa là điều khó. Lần này, với dân số hơn 320 triệu, dân Mỹ đề cử hai ứng cử viên có chung một nét là bị đa số nghi ngờ (tính tới cuối Tháng 10, Hillary Clinton bị gần 60% và Donald Trump bị hơn 60%) trong khi hơn 63% dân Mỹ cho là quốc gia đang chệch hướng.

Ai đã đề cử họ? Đấy là thiểu số tích cực nhất của hai đảng trong vòng sơ bộ kéo dài suốt năm - khoảng 18% dân số, chia đều cho cả hai. Vì là thiểu số đầy nhiệt tình đã vận động ngay từ đầu, họ có lập trường bên kia gọi là cực đoan.

Không lên tới các cuộc bầu cử năm 1800 hay 1824 khi bùn nhơ được báo chí đôi bên ném cho nhau, có lẽ phải nghĩ tới cuộc bầu cử tổng thống năm 1860, trước khi Hoa Kỳ bị Nội chiến thì người ta mới thấy được tình trạng phân cực đáng ngại đó. Nó vượt xa hai cuộc bầu cử năm 1952 hay 1968 là khi Hoa Kỳ đang ở trong thời chiến (Cao Ly và Việt Nam).

Hai chính đảng lớn đề cử hai nhân vật có hành trang lạ, được truyền thông và các bình luận gia chất thêm nhiều tội. Một người là tỷ phú trốn thuế, chạy cờ cho Tổng thống Vladimir Putin của Nga và nói khỏi cần nghĩ vì chỉ nghĩ về mình, lại còn khoe mẽ về tình nhờ có tiền. Người kia, vì lý do chưa hề giải thích, có hệ thống điện toán riêng mà bất chấp nhu cầu bảo mật khi thi hành công vụ là Tổng trưởng Ngoại giao và còn có quyền lợi mắc mứu với sáng viện Clinton Foundation của gia đình.

Những tỳ vết hay tai tiếng đó được đôi bên phanh phui tiết lộ có chọn lọc nhằm mục tiêu chính trị là gây ấn tượng xấu cho đối thủ, làm như nước Mỹ hết người.

Thế rồi, như chưa đủ kỳ lạ, cuối tuần qua, Giám đốc cơ quan điều tra liên bang là James Comey thông báo cho giới lãnh đạo Quốc hội rằng FBI tìm thấy trong máy điện toán của cựu dân biểu Anthony Weiner đang bị điều tra về tội sách nhiễu tình dục trẻ vị thành niên nhiều điện thư có thể liên quan đến bà Hillary Clinton và công vụ. Sở dĩ liên hệ vì ông Weiner có bà vợ đang ly thân là Huma Abedin, cố vấn thân tín của bà Clinton và hai vợ chồng vẫn liên lạc với nhau qua máy điện toán cá nhân của họ. Hai ngày sau, người ta biết khối điện thư ấy lên tới 650 ngàn và FBI xin được trát toà để mở cuộc điều tra khác, không về cựu dân biểu Weiner mà về những gì có thể liên quan tới Huma Abedin và bà Clinton.

Quyết định của ông Comey lập tức đưa cuộc tranh cử tổng thống vào khủng hoảng, một tuần trước ngày bầu cử. Người ta chưa thể hiểu được lý do của quyết định này.

Từ Tháng Bảy khi điều tra việc bà Clinton sử dụng hệ thống điện toán riêng và xóa hết 30 ngàn điện thư trước khi mãn nhiệm Ngoại trưởng, FBI có thể lập thủ tục pháp lý – xin công tố viện – truy tố bà về một khinh tội (dùng điện toán riêng) và hai trọng tội (tạo cơ hội cho ngoai bang xâm nhập, và xóa điện thư để phi tang). Nhiều viên chức quân và dân sự đã bị truy tố vì tội nhẹ hơn vậy. Nhưng khi đó, ngày bảy Tháng Bảy, Giám đốc FBI chỉ công khai phê bình bà Clinton là “cực kỳ bất cẩn” nhưng không đề nghị truy tố trước Đại bồi thẩm đoàn. Lần đó, ông Comey được đảng Dân Chủ nức lời ca ngợi. Phải chăng, ông muốn cử tri có phán quyết bằng lá phiếu thay vì gây ra khủng hoảng chính trị giữa mùa bầu cử?

Bây giờ vì sao ông lại quyết định khác khiến cả hai đảng và giới luật gia đều đả kích? Cho tới nay, chúng ta chỉ có thể nêu ra vài giả thuyết về hành động này.

Từ xưa, Jim Comey là vị thẩm phán cứng đầu đã từng lấy nhiều quyết định táo bạo mà bất chấp quan điểm chính trị của cả hai chính quyền Dân Chủ và Cộng Hòa. Lần này, có thể là ông vừa thấy ra nhiều điều thể nào cũng bị phanh phui khiến bà Clinton không đủ tư cách pháp lý làm Tổng thống Hoa Kỳ.

Nếu điều ấy xảy ra sau khi bà thắng cử Tổng thống thì sẽ bị Tòa Đại hình điều tra, bị Quốc hội Khóa 115 đàn hặc hay truất phế và Chính quyền Mỹ bị tê liệt trong nhiều năm. Ông Comey muốn tránh mang tiếng là để hụt chuyện tầy trời như vậy mà nên mới đảo ngược quyết định và những gì sẽ được công khai hóa cho thấy ông là có công tâm.

Giả thuyết thứ hai, có thể là Comey đoán trước rằng khối điện thư này không ảnh hưởng gì tới Clinton nhưng ông muốn kéo Quốc hội Khóa 114 vào cuộc khi đi ngược quan điểm của thượng cấp là bà Tổng trưởng và Thứ trưởng, một nhân vật thân tín bên phía Clinton, mà báo cho dân biểu nghị sĩ của các ủy ban hữu trách trong Quốc hội rằng cơ quan FBI sẽ xin điều tra. Trách nhiệm đúng sai hai bên cùng gánh!

Sau này, lịch sử và công lý sẽ phán xét quyết định kỳ lạ của Giám đốc FBI nhưng trước mắt, Tổng trưởng Tư pháp sẽ không cho phép lập ra Đại Bồi thẩm đoàn để thụ lý hồ sơ rắc rối này. Bà Loretta Lynch có thẩm quyền đó vì được Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm theo “sở kiến của Tổng thống Hoa Kỳ trong thời gian tại chức” (người viết xin dịch “the pleasure of the President of the United States ra “sở kiến” cho lịch sự!) Và vì theo Hiến pháp, chỉ có một Đại Bồi thẩm đoàn mới có thẩm quyền truy tố, bà Clinton sẽ không bị truy tố trước ngày bầu cử.

Có lẽ vì vậy mà sáng Thứ Hai 31, Tòa Bạch Cung lên tiếng qua Tùy viên Báo chí Josh Earnest, rằng “Tổng thống không tin là Giám đốc Comey muốn chi phối kết quả một cuộc bầu cử”.

Nhưng đấy là cái nhân của khủng hoảng vì nếu Clinton không bị truy tố mà đắc cử, Tổng thống thứ 45 chẳng có tuần trăng mật hay trăm ngày dễ thở với Quốc hội. Trận chiến pháp lý bùng nổ sẽ đưa Hành pháp và Lập pháp Hoa Kỳ vào vòng ách tắc kéo dài nhiều năm.

Bà Clinton còn hy vọng đó vì đối thủ là ông Trump vẫn giữ thói tật quá lời khi tuyên bố không chứng cớ, rằng trong khối điện thư vừa được phát giác có ba chục ngàn điện thư đã bị xóa của Hillary Clinton. Quần chúng ủng hộ ông rất vui với tai họa mới của đối thủ - họ thường đông gấp đôi và triệt để gấp bốn thành phần đầy nhiệt tình trong các cuộc vận động của bà Clinton - nhưng chưa chắc là khối cử tri lưỡng lự tại một số tiểu bang “xôi đậu” đã đổi ý mà dồn phiếu cho ông Trump. Dù vậy, việc kiểm phiếu sẽ báo hiệu nhiều ngày nghẹt thở.

Chuyện kỳ quái của cuộc tranh cử năm nay là hai ứng cử viên tổng thống có điểm tương đồng: cả hai đều không biết xấu hổ và có một lời xin lỗi vì nghĩ là họ nằm ngoài vòng phán xét của quần chúng, công lý hay quy phạm xã hội. Khác biệt nếu có là ông Trump xấc xược trong sự trâng tráo, bà Clinton lại kín đáo trong sự xấc xược. Cả hai đều bất xứng vì sự nông cạn trái chiều khi chỉ nhìn vào sự nghiệp của họ. (Người viết tôn trọng lời đả kích do các độc giả đầy nhiệt tình từ cả hai phía sẽ tung ra khi dám đồng hóa thần tượng của họ với đối thủ ma quỷ ở bên kia chiến hào!)

Nhưng cho dù bất cứ ai thắng cử lần này, chính trường Hoa Kỳ vẫn bị khủng hoảng. Với báo chí thì đây là cơ hội bằng vàng trong nghiệp vụ tường thuật và bình luận. Với các quốc gia lỡ trông cậy vào Hoa Kỳ thì đây là ác mộng.

Tuy nhiên về dài thì nền cộng hòa của Mỹ vẫn tồn tại và nói đi nói lại thì tới 99,99% vẫn chọn nơi này làm quê hương!

Như thông lệ, với mọi nhược điểm, ứng cử viên nào cũng vẽ ra nhiều chương trình hành động vô bổ vì sẽ bị thực tế và các nước khác phủ nhận hay thách đố. Khi đắc cử, Tổng thống tân cử sẽ đối diện với thực tế đó. Lần này, thực tế sẽ ụp xuống rất sớm và cử tri mua hớ có quyền nghĩ lại kỳ tới, vào năm 2020. Khi đó, ta sẽ bình tiếp về sự nổi loạn của thành phần trung lưu. Những gì vừa xảy ra mới chỉ là cuộc tổng tập dượt!

Nhân tiện, cũng xin nhắc lại về kinh tế, là trong mùa thông báo kết quả doanh lợi của tam cá nguyệt vừa qua, các thị trường đều e ngại nạn sụt giá cổ phiếu và chu kỳ suy trầm kinh tế sắp tới. Nhưng vì sao đồng Mỹ kim vẫn lên giá so với các ngoại tệ khác? Đứng giữa vũng bùn, ta thấy bên kia sông chưa là ánh mặt trời! 


Thứ Sáu, tháng 10 21, 2016

Tổng Thống Hillary Clinton



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo ngày 161020
 
Đối sách ngoại giao của Clinton II   
 
 * Phụ nữ lắm mầu như cầu vồng phun nước ! *



Cuộc tranh luận thứ ba và cuối cùng giữa hai ứng cử viên tổng thống của hai chính đảng lớn có thể cho thấy cuộc bầu cử tổng thống đã ngã ngũ.

Ứng cử viên Donald Trump không chỉ rút dao tự sát mà còn đâm thấu phổi đảng Cộng Hòa khi hai lần khẳng định là vì có gian lận bầu cử, ông sẽ không công nhận nếu thất cử mà để chờ xem. Lời phát biếu hàm ý là nạn gian lận nghiêm trọng đến độ chi phối kết quả bầu cử toàn quốc - và nếu vậy thì còn ai trong đảng Cộng Hòa muốn đi bầu? Hậu quả là Cộng Hòa có thể thất cử trên cả hai trận tuyến Hành pháp và Lập pháp….

Hôm sau, Thứ Năm 20, Donald Trump điều chỉnh tác xạ tại Ohio và chuyển bại thành liệt. Không rút dao mà tự bắn vào mồm: “tôi sẽ chấp nhận kết quả bầu cử nếu thắng cử”. Nền dân chủ Hoa Kỳ có nhiều nét lố bịch nhưng không thể có một tổng thống bài bây như vậy!

Xin chào mừng Hillary Clinton, Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. 


***


Bây giờ, chúng ta có thể tự hỏi đối sách ngoại giao của Chính quyền Clinton II sẽ là gì?

Người viết không nói về những tỳ vết quá lớn của chính khách này, được truyền thông báo chí Hoa Kỳ bỏ qua vì tư tưởng tả khuynh của họ, nhưng sẽ tìm hiểu về thế giới quan của một người có thể lãnh đạo nước Mỹ trong bốn năm tới.

Đa số dư luận để ý đến Hillary Clinton kể từ năm 1991 – khi Thống đốc Bill Clinton chuẩn bị tranh cử tổng thống – cho tới năm 2008 là khi bà ra tranh cử tổng thống lần đầu. Trong khoảng thời gian ấy, trật tự thế giới có chuyển động lớn với việc Chiến tranh lạnh kết thúc và Liên bang Xô viết sụp đổ cho tới khi khủng hoảng tài chánh bùng nổ và kinh tế bị Tổng suy trầm 2008-2009 với hậu quả chưa chấm dứt. Thế giới quan của Clinton II chịu ảnh hưởng của những đổi thay trong mươi năm đó, lại càng rõ nét qua bốn năm Hillary làm Ngoại trưởng, từ đầu năm 2009 tới đầu năm 2013.

Khi Liên Xô tan rã cuối năm 1991, nhiều người lạc quan cho rằng nhân loại vừa bước qua một thời đại hết chiến tranh, lịch sử kết thúc (Francis Fukuyama), một trật tự mới thành hình (George H. W. Bush) và thế giới có thể nói đến hợp tác và phát triển. Quan điểm dễ hiểu ấy thật ra vẫn phiến diện.

Thứ nhất, Hoa Kỳ không đại thắng mà Liên Xô đại bại: chế độ cộng sản tự sụp đổ vì sự bất toàn của nó khi Liên Xô lại bành trướng quá khả năng. Thứ hai, Hoa Kỳ và các đồng minh đã thắng vì sự thất bại của đối thủ trong thời Chiến tranh lạnh, nhưng khi đối thủ chính là Liên Xô tan rã thì quan hệ giữa Hoa Kỳ và các đồng minh cũng thay đổi. Khi yếu tố đoàn kết là mối nguy Xô viết không còn thì đối sách ngoại giao của nước Mỹ cũng thay đổi. Trường hợp Nhật Bản hay Trung Quốc là hai thí dụ. Thứ ba, niềm lạc quan về sự thắng thế của chủ nghĩa tư bản và thể chế dân chủ khiến các nước Âu-Mỹ cùng “Đông tiến”: lăn tấm khiên NATO vào khu vực Đông Âu và Trung Âu, các nước Tây Âu tái thống nhất nước Đức và tiến hành “cách mạng dân chủ” trong khu vực Balkans trên những mảnh vụn của Liên bang Nam Tư, v.v… Các định chế quốc tế hình thành từ sau Thế chiến II và trong 40 năm Chiến tranh lạnh trở thành trụ cột của trật tự mới: Liên Hiệp Quốc, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Ngân hàng Thế giới, và Minh ước NATO.

Dù sao mặc lòng, Tổng thống Bill Clinton kế thừa di sản màu hồng đó, với niềm lạc quan về “cổ tức hòa bình” - bớt ngân sách quốc phòng dành cho kinh tế - và tinh thần cải tạo kinh tế xã hội, cho tới khi gặp chướng ngại kinh tế khiến đảng Cộng Hòa chiếm lại đa số trong Hạ viện vào năm 1994 sau hơn 40 năm ngồi ghế đối lập. Ông Clinton liền biến báo xoay chiều, hợp tác với đối lập về nội trị và đạt kết quả.

Về đối ngoại, ông khai triển tinh thần lạc quan của Tổng thống Bush 41. Hoa Kỳ bung ra khắp nơi để xây dựng trật tự mới và sẵn sàng can thiệp vào xứ khác vì lý do nhân đạo: Somalia, Haiti, Kosovo, v.v… Niềm lạc quan đó có tên gọi là “Đồng thuận Washington” hàm ý kinh tế thị trường và dân chủ chính trị sẽ có giá trị phổ cập toàn cầu và là nền móng của hòa bình và hợp tác. Hillary chia sẻ quan điểm này và còn khai triển trong những năm làm Ngoại trưởng.

Truyền thông báo chí không thấy một nét chung là chủ trương “tân bảo thủ” của Chính quyền George W. Bush (Bush 43) và “can thiệp quốc tế vì lý do nhân đạo” của Bill Clinton chỉ là hai mặt của một đồng tiền có tên gọi là “sự lạc quan về khả năng can thiệp của Hoa Kỳ” để xây dựng quốc gia và phát huy dân chủ cho thiên hạ. Sự thật thì “trật tự thế giới” của Bush 41 là một hỗn loạn lớn, kéo dài qua tám năm cầm quyền của Clinton và kết tụ vào biến cố đã manh nha từ 1993: thế giới Hồi giáo bị khủng hoảng và nạn khủng bố với cao điểm là vụ 9-11 đã làm đảo lộn trật tự toàn cầu.

Trong khi ấy, Liên bang Nga tạm hồi phục sau tám năm khủng hoảng vì Liên Xô tan rã và nhìn vào tấm khiên của NATO tại Đông Âu với sự lo ngại. Hậu quả là Georgia bị Vladimir Putin tấn công năm 2008 để tái lập vùng trái độn quân sự ở các nước biên vực. Năm đó, Bắc Kinh cũng lên ngôi với Thế vận hội 2008 và Hoa Kỳ bị chấn động vì vụ tổ hợp Lehman Brothers sụp đổ. Thế giới đổi thay rất mạnh từ đó.

Hoa Kỳ vẫn là siêu cường, nhưng hết giữ vị trí độc bá.

“Đồng thuận Washington” không cảm hóa được Trung Quốc mà còn bị “Đồng thuận Bắc Kinh” qua mặt: hợp tác kinh tế bất kể tới thể chế chính trị phi dân chủ có thể là giải pháp cho nhiều nước! Cũng từ 2008, các cường quốc cấp vùng mặc nhiên giành lại quyền tác động để thu hẹp vai trò của Mỹ. Ngoài Nga và Tầu, thì Iran, Turkey và cả Saudi Arabia đã ngầm phá trật tự của Hoa Kỳ và tìm ra hướng đi mới. Chỉ mấy năm sau khi tưởng là “lịch sử cáo chung”, nhiều người cỏn nói đến “Thế giới hậu Hoa Kỳ”, hoặc khủng hoảng của tư bản chủ nghĩa.

Đấy là khung cảnh thời sự và tư duy để chúng ta nhìn lại Hillary Clinton.

Tinh thần lạc quan về trật tự mới khiến Hoa Kỳ lầm tưởng là hợp tác được với Trung Quốc của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào và với Liên bang Nga của Vladimir Putin. Trong chuyến công du đầu tiên ra hải ngoại, Ngoại trưởng Clinton kêu gọi là đừng để hồ sơ nhân quyền chi  phối quan hệ Mỹ-Hoa! Sau đó là chánh sách “reset the button” với Nga do Hillary tiến hành. Kết quả hoàn toàn trái ngược, thất bại từ từ Đông Âu qua Đông Á.

Lý tưởng dân chủ như một động lực tất yếu còn khiến Hoa Kỳ đánh giá sai vụ khủng hoảng trong thế giới Á Rập Hồi giáo là “mùa Xuân dân chủ” vào đầu năm 2011 và góp phần lật đổ chính quyền độc tài của Tổng thống Hosnia Mubarak tại Ai Cập. Chủ trương can thiệp vì lý do nhân đạo còn khiến Ngoại trưởng Clinton và một số cộng sự phái nữ ủng hộ việc Hoa Kỳ nhảy vào cuộc nội chiến tại Libya. Thật ra, Mubarak là lãnh tụ độc tài đồng minh của Mỹ, Muammar Gadhafi là lãnh tụ độc tài đang cố hòa giải với Mỹ, trong khi mối nguy thật là sự thắng thế của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan xưng danh Thánh Chiến với phương pháp khủng bố tự sát.

Sau những sai lầm đó, Quân đội Ai Cập mau mắn đảo chính Mubarak đề cứu lấy chế độ và sau khi thử nghiệm dân chủ với việc phong trào Huynh đệ Hồi giáo đắc cử thì cũng quân đội đã đảo chánh Tổng thống Mohammed Morsi để cứu lấy Ai Cập và trở về chế độ quân phiệt. Libya không may như vậy vì sau Gadhafi là sự hỗn loạn và môi trường màu mỡ - không, máu mê - cho khủng bố Hồi giáo từ Syria và Iraq đã có thể lan ra khắp nơi.

Ngoại trưởng Clinton không thấy sự đổi thay của thế giới sau vụ 9-11 và chế độ độc tài của một lãnh tụ tham ô còn có thể khá hơn những gì xảy ra sau đó. 

Thế giới quan của bà bị ảnh hưởng từ sự lạc quan của Bill Clinton. Chính quyền Clinton I có thể can thiệp vào nơi này nơi khác vì lý do nhân đạo, từ vùng Balkans tới Haiti. Nhưng biến cố 9-11 đã đảo lộn trật tự bấp bênh thời Hậu-Chiến tranh lạnh và vụ khủng hoảng của thế giới Hồi giáo đã lan khắp nơi và đe dọa cả Liên Âu lẫn Trung Đông tới Trung Á khiến mọi sự đều hòa nhập làm một  - và dội ngược về nước Mỹ.

Còn vụ khủng hoảng tài chánh 2008 làm kinh tế thế giới sa sút nên càng gây thêm hỗn loạn, trong đó có phong trào chống toàn cầu hóa.

Khi kiểm lại tình hình từ 1991 tới 2008 và ngày nay, người ta có thể kết luận rằng cái nhìn của lãnh đạo Tây phương, từ Âu qua Mỹ, là cái nhìn cổ điển đã bị thời sự vượt qua. Các chính đảng truyền thống, từ trung tả đến trung hữu, từ Âu Châu qua tới Hoa Kỳ, đều trở thành lạc hậu, bị thực tế thách đố trước sự hoang mang tuyệt vọng của quần chúng. Trầm trọng hơn vậy, trật tự thế giới thành hình từ sau Thế chiến II cũng cáo chung. Hệ thống chính trị cổ điển, của Bush 41-43 và Clinton có thể chắp vá được tình hình từ những năm 1988 tới 2008, nhưng sau đó thì thất bại vì không theo kịp những xoay chuyển mới để có một đối sách khác.

Chính quyền Barack Obama thừa hưởng di sản ấy và để lại một sự hỗn mang toàn cầu, khởi đầu là từ nước Mỹ. Đấy là lúc sự bất tài của đảng Cộng Hòa khiến Donald Trump cướp cờ nói nhảm mà không đề ra một chủ trương nào thích hợp cho tình hình mới. Bản lãnh của Hillary Clinton và sự trợ giúp của truyền thông làm nốt phần vụ còn lại cho tới ngày bầu cử.

Trong suốt một năm tranh cử, Hillary cho thấy là bà vẫn tin rằng Hoa Kỳ sẽ hàn gắn được trật tự Hậu-Chiến tranh lạnh bằng đàm phán và thỏa hiệp. Kinh nghiệm ngoại giao khiến bà tin vào khả năng thỏa hiệp. Nhưng đấy chỉ là phần chiến thuật như đã thấy khi Hoa Kỳ thỏa hiệp với Nga, Tầu hay Iran, Cuba…. Phần chiến lược là tìm ra một viễn kiến khác, một cái nhìn mới về cục diện thế giới sau 70 năm không có đại chiến. Cục diện thế giới ngày nay là sự suy sụp và khủng hoảng trên cả đại lục Âu Á và một cuộc chiến toàn diện giữa khái niệm dân chủ Tây phương với một nỗ lực Hồi giáo là dùng bạo lực vẽ lại bản đồ do các nước Âu Châu để lại từ trăm năm trước.

Chỉ nhìn vào rốn, Donald Trump không hiểu ra điều ấy. Với kinh nghiệm chiến thuật, Hillary Clinton tin là sẽ giải quyết được bài toán chiến lược của Hoa Kỳ với các nước. Nhưng khả năng chiến thuật của bà là nhược điểm chiến lược cho Tổng thống Clinton II.

Chỉ mong là sau khi đắc cử, bà sớm quên thành quả tranh cử và có một ban tham mưu với tầm nhìn xa hơn để tự chuẩn bị cho những thách đố mới. Nếu không, Clinton II chỉ được một nhiệm kỳ và cuộc tranh cử tổng thống năm 2020 sẽ là một màn hào hứng khác. Đến rợn mình.


Thứ Tư, tháng 7 22, 2015

Đồng Tiền Trong Chính Trị Mỹ

Vũ Linh - Việt Báo Ngày 150721

Bây giờ bà Hillary dự trù cần... hai tỷ đô để làm Tổng thống...

 * Ráp vào là ăn khớp!

 
Báo chí thời gian qua làm rùm beng về xì-căng-đan hai ông bà Clinton vơ vét tiền đủ kiểu, đặc biệt là qua những vụ mà Việt Nam hiện nay gọi là “chặt chém” trong thù lao đọc diễn văn, và “quyên góp” cho quỹ “từ thiện” Clinton Foundation. Đi đọc diễn văn cho mấy đứa trẻ con trong hướng đạo cũng “hai trăm rưởi, chắc giá, không bớt một xu”. Nhiều người thắc mắc, ngao ngán, sao lại có người tham lam quá mức như vậy. Cả triệu rồi vẫn chưa đủ, vẫn than “nghèo”, “gần phá sản” là sao? Trong khi đó thì đi đâu cũng vỗ ngực tranh đấu sống chết cho “lao động” Mỹ.

Thật ra, nói hai ông bà Clinton ham tiền thì hơi quá đáng vì không chính xác lắm. Hai ông bà đều là nhân vật quyền thế, uy danh hàng đầu, không có nhu cầu tiền bạc nhiều lắm đâu. Suốt ngày được mời mọc yến tiệc, đi tàu bay chùa mà lại là phản lực riêng chứ không phải mua vé rồi ra phi trường ngồi chờ hai ba tiếng đồng hồ như thiên hạ đâu. Đi đâu cũng xe đưa xe đón, khách sạn đài thọ đầy đủ, phục vụ chu đáo hết rồi. Cô con gái cũng lớn rồi, đi đọc diễn văn lai rai cũng lãnh 70.000 đô một bài rồi, cho dù chẳng ai nghe cô nói gì, chỉ cần mượn cái tên “Clinton” thôi.

Thế thì tại sao lại cắm đầu kiếm tiền làm gì? Xin thưa ngay: đó là để có tiền mua cái ghế trong Nhà Trắng. Vâng thật sự là vậy: không có tiền không thể nào đắc cử tổng thống trong cái xứ gọi là “dân chủ” này được.

Chế độ chính trị Mỹ mang tiếng là chế độ “dân chủ” nhất thế giới. Tất cả mọi công dân trên nguyên tắc đều có thể ra tranh cử tổng thống, và tất cả cử tri trên nguyên tắc cũng có thể bầu bất cứ người nào mình muốn làm tổng thống. Thực tế, chỉ là nói nghe cho vui thôi chứ chẳng bao giờ có chuyện lý tưởng vớ vẩn như vậy.

Cách đây không lâu, thời mấy ông Clinton và Bush tranh cử thì mọi việc đều tương đối khá sòng phẳng. Các ứng viên tổng thống đều ra tranh cử trong giới hạn tiền tranh cử do Nhà Nước chu cấp và cử tri đóng góp trong giới hạn nào đó, tương đối bằng nhau, trong những mức phải chăng.

Trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1992 (là năm TĐ Clinton hạ đương kim TT Bush cha), hai chính đảng thu và chi xấp xỉ ngang ngửa nhau, khoản 50 triệu mỗi bên. Đến năm 2000, là năm TĐ Bush –con- hạ PTT Gore, hai bên thu chi trên dưới 200 triệu. Cả hai bên đều nhận trợ cấp không nhiều lắm của Nhà Nước, bằng nhau, cộng thêm một phần tiền do các mạnh thường quân ủng hộ cho đảng gọi là “tiền mềm”, soft money, chứ không phải cho cá nhân hai ứng viên,.

Nhưng đến năm 2008 thì cái đê ngăn nước bị TNS Barack Obama phá vỡ, cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc biến thành cuộc đấu thầu xem ai thu được nhiều nhất rồi chịu chi nhiều nhất. Giải thưởng là Nhà Trắng, bất kể kinh nghiệm, tài cáng, hay mánh mung gì.

Khi TNS Obama mới xuất hiện, chưa ai biết đến thì việc gây quỹ khó khăn, trong khi đối thủ là bà Hillary lại là cái giếng không đáy, nơi mà các đại gia đảng Dân Chủ đổ tiền vào. Ông Obama lên mặt đạo đức, sỉ vả bà Hillary lấy tiền đè người, mua chức tổng thống, kêu gọi bà ngưng gây quỹ cá nhân mà lấy tiền trợ cấp tranh cử của Nhà Nước cho công bằng. Lời kêu gọi của ông dĩ nhiên bà Hillary coi như không nghe thấy gì.

Thế rồi, nhờ tài ăn nói, nhờ đám phụ tá giỏi, và nhất là nhờ hậu thuẫn của khối thanh niên và trí “ngủ” sống trong mộng tưởng ngây ngô, ông nổi lên như niềm hy vọng của Mỹ. Khối này hậu thuẫn từ trí tuệ -khả năng tổ chức, tuyên truyền, vận động,...- cho đến tài chánh. Tiếng tăm nổi lên như cồn, cùng lúc với tiền vào như nước, giúp ông hạ được bà Hillary và ra tranh cử chống ứng viên Cộng Hoà, TNS John McCain.

Bây giờ thì ông McCain dùng gậy ông đập lưng ông, thách thức TNS Obama giữ lời hứa, không dùng tiền mua Nhà Trắng, chấp nhận tiền của Nhà Nước, đâu 80 triệu cho mỗi ứng viên. Để rồi bây giờ đến phiên TNS Obama dùng chiêu “võ điếc” không nghe thấy gì, nhắm mắt nhắm mũi đi gây quỹ. Ông McCain đành cố gắng lẹt đẹt chạy theo.

Kết quả, TNS Obama thu được 730 triệu và TNS McCain thu được 330 triệu. Tổng cộng cả hai bên là hơn một tỷ đô trong khi trong cuộc bầu cử giữa TT Bush cha và TĐ Clinton, tổng cộng chỉ hơn 100 triệu. Số tiền TNS Obama thu được là con số kỷ lục chưa từng thấy, lớn gần gấp mười lần số tiền Nhà Nước chuẩn bị cho mỗi ứng viên. Ở đâu ra số tiền đó? TNS Obama khoe hàng trăm ngàn người dân “thấp cổ bé họng” đã yểm trợ bạc cắc cho ông. Thực tế, các tài liệu về tiền yểm trợ cho thấy tuyệt đại đa số tiền ông thu được là do hai nguồn yểm trợ: các nghiệp đoàn bắt ép đoàn viên phải đóng tiền yểm trợ cho các “tổ chức hành động chính trị” - Political Action Committees hay PAC - và các đại gia Wall Street với những đại tài phiệt như George Soros, Bill Gates,… Bill Gates cũng là người tài trợ cho đài MSNBC (là sự hợp tác giữa MicroSoft -MS- và NBC), là đài TV phe ta hung hăng nhất.

TNS Obama quên bẵng những lời sỉ vả “lấy tiền đè người”, “mua chức tổng thống”, “công bằng”,… mà ông đã thân tặng bà Hillary. Chuyện quân tử Tàu, giữ lời hứa, là chuyện các chính khách Mỹ, đặc biệt là TNS Obama, chưa bao giờ nghe nói tới, khỏi thắc mắc. Nói như “tonton Thiệu”, đừng nghe những gì Obama nói...

Và rồi như ta đã biết ông đã mua được cái ghế trong Nhà Trắng thật.

Câu chuyện TNS Obama dùng tiền áp đảo đối phương để vào Nhà Trắng đã đi vào lịch sử Mỹ, như là biến cố thay đổi hẳn cấu trúc và phương thức tranh cử chính trị Mỹ: đồng tiền biến thành yếu tố chi phối kết quả bầu cử. Bốn năm sau, TT Obama chi 1 tỷ để tranh cử chống TĐ Mitt Romney. Bây giờ bà Hillary dự trù sẽ cần... 2 tỷ để vào Nhà Trắng.

Tiền bạc đã chi phối cuộc bầu cử tổng thống ngay cả ở cấp bầu sơ bộ.

Năm nay, bên Cộng Hòa chưa chi đã có tới 18 ứng viên ra chạy đua vào Nhà Trắng. Điểm nổi bật đáng nói hiện nay là ứng viên hàng đầu, với tỷ lệ hậu thuẫn nhất nhì, là tỷ phú Donald Trump. Ít người coi ông này như là một ứng viên nghiêm chỉnh, với nhiều hy vọng đắc cử làm đại diện cho đảng Cộng Hòa, khoan nói tới đắc cử tổng thống. Ấy vậy mà ông leo lên hàng đầu. Ông tranh cử bằng tiền túi của mình, rầm rộ khoe có gia tài gần mười tỷ, dư sức lấy tiền đè tất cả các ứng viên khác.

Thậm chí, có tiền cũng chẳng cần phải thắng ở cấp sơ bộ luôn. Như ông tỷ phú Ross Perot, bỏ tiền túi ra tranh cử trực tiếp chống TT Bush cha và TĐ Clinton năm 1992. Cũng thu được đâu 20% phiếu, phần lớn là từ khối bảo thủ của TT Bush, khiến ông này bị chia phiếu, và TĐ Clinton ngáp phải ruồi, vào được Tòa Bạch Ốc.

Dĩ nhiên, ta cũng phải hiểu là đồng tiền còn chi phối tất cả mọi cuộc tranh cử khác, chứ chẳng riêng gì tranh cử tổng thống. Tuy nhiên, ở những cấp dân biểu, nghị sĩ, hay cấp tiểu bang thì tương đối không lên đến những mức kinh hồn như tranh cử tổng thống.

Tại sao ngày nay tranh cử lại tốn quá nhiều tiền như vậy? Họ cần tiền cho ba mục tiêu chính:

- Sản xuất phim quảng cáo và mua thời gian quảng cáo trên TV và đài phát thanh;

- Mở văn phòng tranh cử tại càng nhiều tỉnh, quận hạt càng tốt, đặc biệt là trong khoảng một tá tiểu bang xôi đậu;

- Thuê các cố vấn vận động tranh cử, các chuyên gia điện toán và internet, marketing, thăm dò dư luận,...

Một điều quan trọng không kém là việc đồng tiền cũng chi phối các luật lệ mà các vị dân cử đưa ra hay không đưa ra.

Chính trị Mỹ có một hiện tượng có một không hai trên thế giới: đó là các chuyên gia của các nhóm vận động hành lang - lobby groups. Tại quốc hội, có cả ngàn chuyên gia kiểu này, đại diện cho đủ mọi ngành nghề, đủ mọi quyền lợi, đủ mọi địa phương, luôn cả đủ loại người như người già, nữ giới, đồng tính, da đen, da nâu, da vàng, di dân lậu, cựu quân nhân, công giáo, tin lành, v.v... Không thiếu một thứ nào hết.

Và ảnh hưởng của họ cực kỳ mạnh. Trên căn bản, họ có trách nhiệm theo dõi kỹ từng bộ luật được đưa ra, nghiên cứu xem khối quyền lợi của họ có bị đụng chạm hay không. Ngược lại, họ cũng có trách nhiệm xúi các vị dân cử đưa ra những luật mới có lợi cho quyền lợi của nhóm của họ. Giúp cho các vị dân cử có những lập luận, tài liệu, dữ kiện để ủng hộ hay chống một dự luật nào đó.

Đó là nói chuyện lý thuyết. Thực tế là họ dùng đồng tiền để khuynh đảo các vị dân cử. Đút lót cho họ tiền vận động tranh cử, là thứ tiền mà không có ông bà chính khách nào không cần. Làm theo ý họ thì có nhiều tiền, không làm theo ý họ là không có tiền tranh cử. Mà tiền nhiều thì hy vọng thắng nhiều, tiền ít thì hy vọng về quê câu cá rất cao.

Nhiều khi tiền mặt được trao trực tiếp. Như trường hợp một ông dân biểu của tiểu bang Louisiana bị FBI bắt với 50.000 đô tiền mặt giấu trong tủ lạnh trong văn phòng của ông. Khiến dân tỵ nạn ta bất ngờ có được một ông dân biểu tỵ nạn tại Hạ Viện, đại diện cho một khu vực mà đại đa số là dân da đen.

Lương các vị dân cử chỉ trên 150.000 một năm thôi, nhưng thực tế tất cả các vị dân cử, dân biểu hay thượng nghị sĩ, sau vài năm đều trở thành triệu phú hết.

Dân biểu Cộng Hoà Dennis Hastert, cựu Chủ Tịch Hạ Viện, mới đây bị truy tố ra tòa vì đút lót 3,5 triệu đô cho một người tống tiến ông ta, dọa khui tội lem nhem tình dục của ông cách đây mấy thập niên. Với mức lương trên dưới một trăm ngàn một năm, làm sao có được bạc triệu dễ dàng như vậy?

Cũng có khi đút lót bằng quà cáp, bao máy bay đi du lịch thế giới, hay đi tranh cử, bao đi đánh gôn, yến tiệc dài dài, mời đọc diễn văn với thù lao trên trời. Hay tặng tiền cho “quỹ từ thiện” của họ.

Ảnh hưởng của các nhóm vận động hành lang này không phải là không đáng kể.

Một ví dụ cụ thể nhất là vấn đề kiểm soát súng. Trong thời gian mấy năm gần đây, đã xẩy ra hàng loạt những vụ mấy anh khùng vác súng đi bắn thiên hạ. Mỗi lần xẩy ra chuyện này thì dư luận quần chúng lại ào ào nổi lên đòi ra luật kiểm soát súng đạn. Ngay cả TT Obama, mỗi lần có chuyện, cũng mau mắn chụp cơ hội lên tiếng kêu gọi ra luật kiểm soát súng đạn. Nhưng rồi cho đến nay, sau cả chục vụ, thì ta vẫn thấy tình trạng “vũ như cẩn”, chẳng có luật gì ra được hết. Các vị dân cử lên tiếng than phiền là “khó lắm”, vì đại đa số dân Mỹ vẫn rất mê súng đạn, không có cách nào lay chuyển ý thích này được.

Thực tế, vấn đề không phải là cử tri họ không cho họ ra luật kiểm soát súng đạn, mà chẳng qua, họ đã lỡ chìa tay nhận quá nhiều tiền của tổ chức NRA, tức là National Rifle Association, là hiệp hội những người sở hữu súng. Đây là một tổ chức cực mạnh về tài chánh, mỗi năm bỏ ra cả chục triệu tiền “lobby” mấy ông bà dân cử thuộc cả hai đảng. Chúng ta không có thống kê chính xác vì tất cả đều thuộc loại tin “bí mật”, không ai biết được chi tiết rõ ràng, nhưng có thể nói cỡ hai phần ba các vị dân biểu và nghị sĩ Cộng Hoà cũng như Dân Chủ, đều đã nhận được tiền yểm trợ của NRA. Do đó, há miệng mắc quai, họ không cho ra nổi bất cứ một luật nào nhằm kiểm soát sở hữu súng đạn được.

Thực tế trong chính trị Mỹ là các nhóm vận động hành lang phải “cho phép” thì một dự luật mới thành luật được.

Điển hình lớn nữa là Obamacare. Một bộ luật vĩ đại, với những hậu quả tài chánh khổng lồ cho các đại công ty trong ngành y tế như các công ty quản lý bệnh viện, các hãng bảo hiểm y tế, các công ty dược phẩm lớn, chưa kể các phòng mạch của các bác sĩ tư.

Năm 1992, bà Hillary thất bại hoàn toàn, không đưa ra nổi một dự luật để thảo luận trước quốc hội vì bị chống đối mạnh ngay từ trong nội bộ đảng Dân Chủ, cũng như từ các hiệp hội y sĩ, các nhà thương, hãng bảo hiểm, công ty thuốc, qua các nhóm vận động hành lang của họ.

Năm 2009, Obamacare ra đời được một phần là do đảng Dân Chủ kiểm soát được cả Toà Bạch Ốc lẫn hai viện quốc hội. Nhưng quan trọng hơn nữa là Obamacare đã không bị các nhóm vận động hành lang đại diện cho các đại công ty ngành y tế chống đối. Tại sao? Lý do giản dị là Obamacare khác với Hllarycare, thực sự rất có lợi cho các đại công ty ngành y tế, do đó, được họ chấp nhận.

TT Obama khi rao bán Obamacare đã long trọng hứa hẹn chi phí y tế, từ bảo hiểm cho đến nhà thương, bác sĩ, thuốc men, sẽ giảm đồng loạt cho tất cả mọi người. Lập luận của ông rất giản dị: Obamacare sẽ giúp khoảng ba chục triệu người có bảo hiểm y tế, tức là giúp cho ngành y tế có thêm ba chục triệu khách hàng. Do con số khách hàng gia tăng như vậy, nên giá cả sẽ giảm mạnh.

Cái lập luận này nghe xuôi tai, nhưng thực tế không phải vậy. Trong trường hợp khách hàng gia tăng mạnh như vậy, giá cả có thể giảm, nhưng với điều kiện là ngành y tế dư thừa bác sĩ, dư thừa nhà thương, dư thừa thuốc men. Thực tế trong xứ Mỹ này không có tình trạng dư thừa đó, cho nên khi khách hàng tăng cả chục triệu người một sớm một chiều, thì sẽ xẩy ra tình trạng khan hiếm bác sĩ, nhà thương, và thuốc men. Và kết quả hiển nhiên là giá cả y tế sẽ phải tăng. Luật cung cầu sơ đẳng. Khi cung vẫn vậy mà cầu tăng vọt thì giá cả bắt buộc phải tăng thôi. Kinh tế thị trường không có đuôi định hướng gì hết là vậy.

Làm con tính sơ đẳng đó, các đại công ty ngành y tế thấy rõ hai chuyện: thứ nhất khách hàng sẽ tăng mạnh, thứ nhì giá cả cũng sẽ tăng mạnh luôn. Và họ được lời to. Do đó, họ không chống phá Obamacare, các chuyên gia vận động hành lang chẳng những không ngăn cản, mà trái lại còn ra sức giúp cho Obamacare được thông qua, giúp cho Obamacare trở thành luật.

Muốn thấy bằng chứng là Obamacare có lợi cho các đại công ty ngành y thì chỉ cần nhìn vào thị trường chứng khoán Dow Jones, nhân ngày Tối Cao Pháp Viện biểu quyết không giết Obamacare mới đây, hạ tuần tháng Sáu vừa qua. Ngay sau quyết định, giá cổ phiếu các công ty ngành y, nhất là các công ty quản lý bệnh viện, nhẩy vọt lên từ 10% đến 20% trong vài tiếng đồng hồ, tuy đến cuối ngày thì giảm lại xuống mức vừa phải hơn khoảng từ 5% đến 10%. Những người đầu tư vào ngành y thấy rõ duy trì Obamacare sẽ giúp các công ty này có lời nhiều hơn trong tương lai, và đó là nơi họ có thể đầu tư lâu dài. Thiên hạ xúm vào mua cổ phiếu của các đại công ty đó, đưa đến mức giá tăng vọt.

Nhìn vào câu chuyện Obamacare ta mới thấy cái tài của phù thủy Obama: ra một luật có lợi lớn cho các đại tài phiệt ngành y, nhưng giấu nhẹm khía cạnh này nên ít ai nhìn thấy, trong khi quảng bá mạnh khía cạnh “nhân đạo” giúp cho nhiều người có bảo hiểm sức khoẻ hơn, nên được thiên hạ vỗ tay hoan hô kịch liệt. Một phần cũng nhờ những lươn lẹo, lắt léo, dối trá mà GS Gruber, một trong những người vẽ ra Obamacare, đã tiết lộ.

Bà Hillary, một chính khách lão làng về tuổi tác lẫn kinh nghiệm chính trường Mỹ, đã nhìn thấy hơn ai hết sức mạnh của đồng tiền trong chính trị, do đó đã hùng hục lo kiếm tiền từ gần cả chục năm nay. Cả hai ông bà kiếm tiền cho riêng mình, nhưng cũng kiếm tiền rất nhiều, hơn hai tỷ, cho quỹ từ thiện Clinton Foundation. Nếu có người nào nghĩ đây chỉ là quỹ tư thiện thuần túy thì người đó phải là ngây ngô nhất nhân loại. Mấy ông độc tài giết người không chớp mắt không có dư thừa lòng nhân đạo để tặng quỹ từ thiện bạc triệu chống bệnh AIDS. Với tư cách tổng thống, sao họ không bỏ tiền ra cho ông bộ trưởng y tế của họ làm việc này tại nước của họ, mà lại phải đưa tiền cho bà Hillary? Họ nhìn thấy rất rõ cái bà chủ nhân quỹ đó có rất nhiều triển vọng làm tổng thống Mỹ. Đấm mõm ngay từ cả mấy năm trước cho chắc ăn mai mốt sẽ có “đồng minh” trong Nhà Trắng. Mặt khác, bà Hillary cũng hiểu rất rõ phân phát tiền bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất để lấy cảm tình và cuối cùng là lấy phiếu thôi.

Và cho đến nay, chưa ai kiếm tiền và phát tiền mạnh bằng bà, và cũng chưa ai có hy vọng ngăn chặn được bà vào Toà Bạch Ốc. Ít nhất là cho đến nay.

Ai dám nói chính trị Mỹ không bị đồng tiền chi phối?
____

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.