Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết cho người ngu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết cho người ngu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, tháng 10 03, 2015

Mỹ Chỉ Hót – Nga Lại Hốt



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 151002

Putin đưa quân vào Syria và Obama ngạc nhiên!


* Thằng hề gặp thằng gian - Obama và Putin - hí họa của Michael Ramirez IBD *


Ngày Thứ Tư 30 Tháng Chín có thể là ngày hài kịch quốc tế mà truyền thông dòng chính, định nghĩa là nịnh Barack Obama, và truyền thông thông ngôn của ta thì đi chậm hai ngày nên cứ vi vút nói về kế hoạch Nga-Mỹ-Iran cho xứ Syria sau khi Tổng thống Obama ăn trưa với Vladimit Putin của Nga bên lề cuộc họp của Đại hội đồng Liên hiệp quốc tại New York hôm Thứ Hai 28.


Hãy nói về hài kịch hôm Thứ Tư đã, sau đó là bi kịch của thằng hề Obama!

Buổi trưa, giờ thủ đô Hoa Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện là Nghị sĩ John McCain thuộc đảng Cộng Hòa họp báo về việc Liên bang Nga vừa mở cuộc không tập tại Syria. Lý do là trái với tuyên bố của Moscow, vụ oanh tạc không nhắm vào căn cứ của tổ chức Nhà nước Hồi giáo (ISIL hay ISIS) ở hướng Đông mà lại tấn công lực lượng nổi dậy chống chế độ độc tài Bashar al-Assad, lực lượng do Hoa Kỳ và liên quân quốc tế (chủ yếu là Anh và Pháp) yểm trợ tại hướng Tây. Vladimir Putin ra tay hành động nhằm bảo vệ al-Assad.

Trước đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, qua lời tuyên bố của Ngoại trưởng John Kerry sau khi điện đàm với vị tương nhiệm của Moscow là Sergei Lavrov, cho biết Hoa Kỳ “đang bắt đầu tìm hiểu về động lực của Nga tại Syria.” Beginning of trying to understand what the Russian’s intentions are in Syria. Đang bắt đầu tìm - mà chưa hiểu.

Một giờ sau cuộc họp báo của Nghị sĩ McCain, phát ngôn viên tòa Bạch Cung cho biết rằng Bộ Quốc phòng Mỹ đang theo dõi động thái mới của Nga tại Syria.

Ba giờ sau, Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter họp báo và tuyên bố Nga đang đổ dầu vào lửa khi đưa quân vào để vừa bảo vệ chế độ al-Assad vừa tấn công tổ chức ISIL. Nhưng mục tiêu nào là chính, mục tiêu nào là phụ thì chưa rõ, vì tại chỗ, Nga cản trở nỗ lực tấn công lực lượng ISIL của Hoa Kỳ và liên quân quốc tế trong khi lại không tập những nơi không có quân ISIL.

Đến buổi chiều, khán giả được thấy hình ảnh của hai Ngoại trưởng Nga Mỹ tiếp xúc với báo chí tại trụ sở Liên hiệp quốc sau cuộc gặp gỡ riêng. John Kerry nói đến nhu cầu “xuống thang xung đột”, deconflict, một chữ rất mới, và rằng giới chức quân sự của hai nước nên gặp nhau nói chuyện. Lại nói. Sergei Lavrov thì lạnh lùng đứng bên và gật gù đồng ý. Rồi hai người chia tay.

Mãi sau đó công chúng mới biết John Kerry đã trễ hai tiếng trong cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc trước đấy, nên chẳng nghe bài diễn văn của Ngoại trưởng Sergei Lavrov. Trễ vì không dàn xếp được nghị trình làm việc, hay vì muốn tỏ vẻ coi thường đối thủ? Chúng ta khó biết được.  Nhưng mọi chuyện cứ giống như một hài kịch ngoại giao.

Đó là chẳng nói chẳng rằng, Nga đã ra quân tại Syria mà Mỹ chưa hiểu là để làm gì, tại sao….

Thật ra câu chuyện lại còn ly kỳ hơn vậy.

Vì người ta được biết là sáng Thứ Tư 30, giờ Iraq, một viên tướng b sao của Nga điện thoại cho Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại thủ đô Baghdad ở Iraq để báo trước là sẽ đến họp.  Một giờ sau, Hoa Kỳ được Nga chính thức thông báo tại Baghdad rằng Nga sẽ mở cuộc không tập tại Syria và rằng phi cơ của Mỹ phải ra khỏi không phận của Syria. Bộ Quốc phòng gọi hành động ấy là “thiếu chuyên nghiệp”! Ai thiếu?

Thật ra, Liên bang Nga đã rất chuyên nhiệp trong việc dụng binh và làm Hoa Kỳ giật mình lúng túng!


***


Ngày bốn Tháng Chín, là gần một tháng trước, Nga đã đưa ít ra là 15 trực thăng vào căn cứ Bassel al-Assad (một phi cảng quốc tế) trong đó có nhiều chiếc Mi-24 Hind với khả năng khu trục, tấn công. Hai tuần sau, Nga dồn dập đưa thêm vào chiến trường Syria đủ loại võ khí tân kỳ. Từ khu trục cơ Su-25 Frogfoot tới chiến đấu cơ đa năng Su-30 Flankers, cùng chiến xa T-90, thiết vận xa BTR-80, và cả chiến hạm lẫn hai dàn hỏa tiễn phòng không, v.v. cho trận địa chiến. Tại Latakia, họ xây dựng công thự có thể chứa mấy ngàn binh lính. Tại quân cảng Tartous, các chiến hạm Nga có thể theo dõi hoạt động của Hạm đội Hoa Kỳ trong khu vực chiến lược này.

Tức là từ ngày 18 Tháng Chín và trong mấy ngày sau đó, Ngũ Giác đài của Hoa Kỳ đã phải biết qua vệ tinh và không ảnh rằng Nga đưa quân vào các căn cứ chiến lược của Syria tại miền Tây Bắc ở ven biển Địa Trung Hải. Và chiến đấu cơ siêu thanh Su-30 Frankers có thể cất cánh từ Bassel al-Assad bay vào không phận của Turkey trong vài phút. Thành viên Hồi giáo duy nhất của Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO là Turkey có thể bị de dọa vì tên bay đạn lạc mà chỉ có vài phút để xác định mục tiêu của đối thủ trên không phận của mình.

Giới chức quân sự Hoa Kỳ và các đồng minh NATO không thể không biết chuyển động này và phải suy đoán ra những mục đích gần xa của Putin.

Sau khi tấn công Ukraine và thôn tính bán đảo Crimea để khống chế vùng biển Hắc hải, Liên bang Nga gặp nhiều khó khăn vì bị Hoa Kỳ cùng các nước Tây phương phong tỏa kinh tế. Trong nội tình chính trị Moscow, Tổng thống Putin cũng gặp sức ép của thành phần bảo thủ “siloviki”, có chủ trương triệt để bảo vệ an ninh và sức mạnh quân sự của Nga. Mặc dù như vậy và có khi cũng vì vậy mà Putin lại có cuộc phản công làm Chính quyền Obama bị bất ngờ.

Thật ra, mục tiêu của Nga không là điều gì khó hiểu.

Sau khi Hoa Kỳ từ chối can thiệp vào Syria dù chế độ al-Assad đã vượt qua “lằn ranh đỏ” do Obama vạch ra từ Tháng Tám năm 2012, là dùng võ khí hóa học tàn sát phe đối lập, Chính quyền Putin lại được Obama mời vào dàn xếp một giải pháp cho Syria, có thể là với dụng tâm nhờ Nga tìm giải pháp tháo gỡ kế hoạch võ khí hạch tâm của Iran. Kế hoạch tháo gỡ ấy đang thành hình qua hiệp ước hòa giải với Iran và qua lời hứa không thể kiểm chứng được của các Giáo chủ Tehran.

Đó là bi kịch Obama.

Khi tổ chức khủng bố ISIL xuất hiện vào đầu năm ngoái tại Syria rồi bành trướng qua Iraq, Obama đánh giá sai ISIL là “đội banh tay mơ” và quyết định chỉ không tập chứ không thả quân vào trận địa, dù chỉ để thu thập tin tức tình báo. Khi ấy, Hoa Kỳ có mục tiêu mâu thuẫn là chống al-Assad, tiêu diệt tổ chức ISIL chống al-Assad và yểm trợ các lực lượng võ trang Hồi giáo khác, của mình.

Một năm sau, chiến lược đánh cầm chừng như vậy không đạt kết quả.

Putin bèn đưa quân vào Syria tiếng là để bảo vệ kiều dân của mình và tìm giải pháp chính trị - có hay không có chế độ al-Assad – và cùng quân đội của al-Assad tấn công lực lượng ISIL. Đấy là lập luận chính thức. Thực chất là để ngăn ngừa các nhóm võ trang chống al-Assad được Hoa Kỳ yểm trợ. Mục tiêu chiến thuật dễ hiểu về quân sự là thiết lập hệ thống cấm bay bằng võ khí phòng không của Nga để bảo vệ chế độ al-Assad. Mỹ bị Nga ra lệnh cấm bay!

Mục tiêu chiến lược là xây dựng liên minh giữa Nga, Iran, Iraq, Syria và cả lực lượng Hezbollah do Iran yểm trợ tại Lebanon, để chứng minh rằng Nga chứ không phải là Hoa Kỳ hay các nước Tây phương mới có giải pháp ngăn ngừa và tiêu diệt tổ chức ISIL.

Nhưng mục đích sâu xa và lâu dài hơn vậy là lần đầu tiên kể từ 1984, Nga có chân đứng tại Trung Đông, với khả năng đe dọa Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO tại miền Nam, và bành trướng ảnh hưởng trong thế giới Hồi giáo, từ Địa Trung Hải qua tới khu vực Trung Á. Nếu theo dõi động thái của Nga trên vùng biển Baltic lên tới Bắc Cực, người ta còn thấy kế hoạch quy mô có kích thước toàn cầu nhằm trám vào khoảng trống do Hoa Kỳ để lại sau hai nhiệm kỳ của Tổng thống Obama.

Trong hai nhiệm kỳ ấy, Hoa Kỳ thoái thác trách nhiệm quốc tế và làm gì cũng sợ thất bại nên đánh chỉ cầu hòa - và đánh bằng miệng cho an toàn. Putin thì nói ít mà làm nhiều. Dù kinh tế khó khăn vẫn tăng ngân sách quốc phòng tời 20% và đang phơi bày sự nhu nhược bất nhất của Hoa Kỳ.

Các nước trong vùng đang phải chọn lựa….


***


Khi đưa quân vào Syria, Putin đã thu hẹp khả năng hành động của Hoa Kỳ và các nước Tây phương không chỉ trong lãnh thổ Syria mà còn khiến chính quyền Iraq cộng tác chặt chẽ hơn với Nga, Syria và nhất là Iran. Tức là ngày càng xa dần ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Tuần qua, Chính quyền Baghdad đã xác nhận là sẽ trao đổi tin tức tình báo với Nga và Iran, để có một chiến tuyến chung chống tổ chức ISIL. Thật ra là chống cả ISIL lẫn quyền lợi của Hoa Kỳ trong khu vực.

Thực tế ở tại chỗ cho thấy chiến đấu cơ của Nga đã xuất hiện trên không gian Syria, có khả năng ngăn ngừa các phi vụ chống ISIL của Hoa Kỳ và liên quân. Không quân Nga đang yểm trợ và bảo vệ trực thăng của chế độ al-Assad và gây khó cho các vụ không tập của Mỹ chống ISIL. Nhờ vậy, Putin có thể đảm bảo là Hoa Kỳ không thể làm suy yếu chế độ al-Assad mà cũng chẳng giải quyết được mối nguy ISIL trong cả khu vực.

Đã vậy, Chính quyền Putin còn khéo dụ Hoa Kỳ cùng phối hợp hoạt động không quân với Nga trong khi vẫn duy trì khả năng cản trở các phi vụ Mỹ chống lại ISIL hay chế độ al-Assad. Sở dĩ như vậy vì Putin đưa vào chiến trường Syria một lực lượng quy mô và có tiềm năng lớn hơn mục tiêu chính thức ban đầu là để bảo vệ thường dân và các căn cứ của Nga tại Syria.

Chi tiết kỹ thuật về các loại võ khí được tung vào trận địa, từ phi cơ đến chiến xa và hỏa tiễn, và các căn cứ đang được Nga sử dụng tại Syria cho thấy tầm nhìn rất xa của Putin. Nó rộng hơn lãnh thổ Syria! Không quân Nga có thể từ Syria can thiệp vào Iraq để yểm trợ các lực lượng thân Iran và nhân tiện gây khó cho các phi vụ Hoa Kỳ. Tổng trưởng Ash Carter cho biết rằng bộ Quốc phòng đang tìm cách liên lạc với Nga để có thêm thông tin hầu tránh đụng độ giữa Không quân Nga-Mỹ!

Chẳng những vậy, phi đạo Bassel al-Assad của căn cứ không quân Latakia chỉ cách biên giới Turkey chưa đầy 50 cây số, và Turkey là thành viên tiền đồn của Minh ước NATO trong khu vực nhiễu nhương này! Chiến đấu cơ siêu thanh Su-30 (Flankers) của Nga có thể cất cách từ Bassel al-Assad bay vào không phận Turkey trong vài phút nên không quân của Turkey và NATO tại đây không kịp xác định mục đích của Nga và có quyết định phòng thủ hay nghênh chiến.

Vì vậy, qua chiến tuyến mở rộng với Syria, Iraq và Iran, Putin có thể thực tế uy hiếp hàng loạt quốc gia thân Tây phương như Turkey, Israel, Jordan và cả Saudi Arabia. Khi nhớ đến các phi vụ Nga xuất hiện trên không phận của ba nước Cộng hòa Baltic, của Thụy Điển và Phần Lan tại Bắc Âu, người ta phải suy đoán ra tham vọng của Putin.

Sau khi tấn công Ukraine, Liên bang Nga không hề thúc thủ mà còn tiến vào Địa Trung Hải, gây phản ứng lo ngại cho các quốc gia thân Tây phương tại Bắc Phi và Trung Đông. Và bộc lộ nhược điểm của Hoa Kỳ: thất bại trong cuộc chiến chống tổ chức ISIL mà không trấn an được các đồng minh.

____

Xin chạy lên Bắc Cực, xem Putin lấn át Hoa Kỳ như thế nào dưới sự lãnh đạo của Obama:

 https://www.youtube.com/watch?v=YTxCysJjJ3A


Thứ Năm, tháng 9 10, 2015

Sợ Tầu Là Bệnh Hay Lây



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt Ngày 150909

Hoa Kỳ Sợ Tầu Quá Mạnh Rồi Quá Yếu

* Ngai trống vàng son lợt sắc rồi *



Quãng ba chục năm trước, nước Mỹ xôn xao vì sức mạnh kinh tế Nhật Bản, đến nỗi trong xã hội đã nổi lên phong trào “Bài Nhật”. Ngày nay, người ta đang thấy tái diễn một phản ứng tương tự, là bệnh “Sợ Tầu”.

Vào đầu thập niên 1980, người Mỹ thấy kinh tế Nhật phát triển quá mạnh, tư bản Nhật tràn ngập Đông Á đã ào ạo chảy vào Hoa Kỳ như thác lũ. Giá nhà đất của một quận của thủ đô Tokyo cỏn cao hơn giá đất của cả tiểu bang California. Xe hơi Nhật chạy như mắc cửi trên xa lộ Mỹ, với ưu điểm đẹp rẻ bền lại ít tốn xăng. Doanh nghiệp Nhật mua các phim trường, bất động sản và cả biểu tượng văn hóa Hoa Kỳ là Rockefeller Center ở New York. Người ta bình luận về sức mạnh Nhật Bản, viết truyện và dựng phim về âm mưu mờ ám của tư bản Nhật. Đây đó có người treo xe Nhật lên rồi lấy búa nện cho tan tành….

Sau đó là lịch sử: kinh tế Nhật bị khủng hoảng từ năm 1991, đến tuần qua mới có vài chỉ dấu tạm gọi là khả quan mà không bền. Ở giữa là sáu đợt suy trầm mà chưa chắc là “ba mũi tên cải cách” của Chính quyền Shinzo Abe đã có thể đảo ngược nổi. Nhưng dư luận Hoa Kỳ đã hướng nỗi lo qua chuyện khác rồi. 

Nói tắt về bối cảnh thì sau gần chục năm lo sợ kinh tế Trung Quốc sẽ bắt kịp Hoa Kỳ khi Mỹ bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 và kinh tế của Tầu vượt Nhật năm 2010, ngày nay dư luận Mỹ lại sợ nạn trời xập bên Tầu sẽ văng miểng vào kinh tế Mỹ. Hồ Sơ Người-Việt sẽ tìm hiểu về cái bệnh Sợ Tầu này.


Trung Quốc Cất Cánh


Từ 15 năm nay, sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO với sự đồng ý của Hoa Kỳ, thế giới bắt đầu giật mình vì sự xuất hiện của một cường quốc kinh tế mới. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Liên Âu thành hình năm 1992 và khối Euro ra đời vào năm 2000, thiên hạ mới chú ý đến nền kinh tế Hoa lục có một tỷ 300 triệu dân, theo kinh tế thị trường từ năm 1980 và có đà tăng trưởng cao. Sau khi là thành viên WTO, nền kinh tế đó hội nhập vào luồng giao dịch toàn cầu với mũi nhọn là xuất cảng các mặt hàng chế biến với giá rất rẻ và thu về một kho ngoại tệ vĩ đại. 

Sự thật là sau 30 năm hoang tưởng của Mao Trạch Đông từ 1949 đến 1978 làm mấy chục triệu dân thác oan, Đặng Tiểu Bình mới tiến hành kế hoạch “cải cách và khai phóng kinh tế” từ đầu năm 1979. Khi ấy, Bắc Kinh áp dụng chiến lược phát triển của các xứ Đông Á đã theo kinh tế thị trường từ trước, như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan và Singapore. Nhưng khác với các mẫu mực Đông Á là lấy tiêu thụ làm sức mạnh, chiến lược Trung Quốc lấy đầu tư làm lực đẩy cho sản xuất và sản xuất nhiều và rẻ thì tìm sức kéo ở xuất cảng.  

Trung Quốc không phát minh ra chiến lược ấy nhưng có ưu thế là dân số cao, nhân công nhiều và rẻ được giải phóng khỏi chế độ tập trung kế hoạch nên đạt mức tăng trưởng trung bình là gần 10% trong ba chục năm. Với sức tăng trưởng đó thì mỗi bảy năm sức nặng kinh tế của xứ này lại nhân đôi, làm nhiều người Mỹ gọi là sự kỳ diệu và báo hiệu một “Thế kỷ 21 của Trung Quốc”.

Họ không thấy trào lưu tương tự ở các nước Đông Á đi trước, khi ấy được ca tụng là “tân hưng”, với phẩm chất tăng trưởng cao chứ không tệ hại như Trung Quốc. Sau đó các nước này còn chuyển lượng thành phẩm và thoát khỏi hiện tượng “bẫp xập của lợi tức trung bình” để tăng trưởng thấp hơn nhưng người dân có mức sống cao bằng khối công nghiệp hóa tiên tiến trong thể chế dân chủ.

Cụ thể thì theo một công trình nghiên cứu vào Tháng Năm vừa qua của Ngân hàng Dự trữ Hoa Kỳ tại khu vực Minneapolis, lợi tức trung bình một đầu người của Trung Quốc đã từ 1.300 đô la vào năm 1980 tăng đến 7.700 đô la vào năm 2010: tăng 500% trong 30 năm (năm 2010 đó là khi sản lượng kinh tế Tầu vừa vượt Nhật Bản). Nếu chỉ nhìn vào Trung Quốc thì đấy là sự kỳ diệu. Nhưng ngày nay dân Nhật, Nam Hàn hay Đài Loan lại giàu gấp bội, với lợi tức đồng niên cho một người là hơn 36.000, hơn 28.000 hay hơn 22.000. Đó là nhìn vào không gian.

Nhìn theo trục thời gian thì có một trào lưu chung là sau thời tăng trưởng cao như khi một phi cơ mới cất cánh, các nước đó bước vào thời kỳ bay ngang, hay “bằng phi”, với đà tăng trưởng thấp hơn. Nhật cất cánh từ 1951 và Nam Hàn từ 1954 và sản lượng một đầu người tăng mạnh trong mấy thập niên đầu rồi chậm dần. Của dân Nhật thì khởi đầu là 6,1% một năm rồi 5,4% vào thập niên 1970, rồi chỉ còn 2,2% từ thập niên 90. Nam Hàn cũng thế, sản lượng một đầu người tăng 8,5% một năm trong thập niên 80, rồi 5,8% trong 10 năm kế, và từ quãng 2000 về sau thì chỉ còn 3,8%. Trường hợp Trung Quốc cũng không khác và họ đang bước vào thời trì trệ, nhưng với lợi tức trung bình một năm vẫn ở dưới 10 vạn đồng và lạc quan lắm thì năm 2030 sẽ bằng 32,8% của dân Mỹ hoặc quãng 2061 thì mới bằng được phân nửa của dân Mỹ.


Phi Cơ Hạ Cánh Vào Thời Đình Trệ 


Sau khi Trung Quốc cải cách kinh tế thì thế giới ngợi ca việc đổi mới là có ý nghĩa lịch sử.

Nếu so với nhiều quốc gia đã theo quy luật của thị trường cho tự do hơn, như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan hay Ấn Độ sau này, thì mức tăng trưởng của Trung Quốc chẳng là phép lạ. Nó còn được thổi phồng như cơ quan nghiên cứu độc lập của Mỹ là Conference Board vừa lượng định lại sau nhiều năm khảo sát công phu. Một cách cụ thể thì trong 25 năm, đà tăng trưởng thực của Trung Quốc thấp hơn số chính thức đến hơn một phần tư, là tăng quãng 7,5% một năm thôi, cho nên thật ra kinh tế của xứ này chưa có sức nặng như người ta nghĩ.

Đi vào chi tiết thì trong 35 năm sau khi Đặng Tiểu Bình mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã qua ba giai đoạn cất cánh tuần tự.

Trước hết về phẩm thì họ giải tỏa cho dân được làm ăn cho nên từ cái đáy của sự bần cùng nên kinh tế dễ bật dậy. Về lượng là nhà nước chủ động dùng đầu tư làm lực đẩy, đến khi đụng vào giới hạn của cơ chế kinh tế từ bảy tám năm trước thì yêu cầu cải cách được đặt ra. Nhưng năm 2008, thế giới lại bị Tổng suy trầm và Bắc Kinh sợ suy thoái nên hoãn cải tổ mà ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế. Khi đó, tư bản ứ đọng từ khối Âu-Mỹ-Nhật bị đình trệ chảy về Châu Á để tìm mức lời cao hơn. Nhờ vậy mà khi thế giới bị trì trệ thì Trung Quốc vượt lên và qua mặt Nhật Bản từ năm 2010, đấy là giai đoạn thứ ba.

Nhưng cũng do đó mà Trung Quốc tích lũy thêm yếu tố bất ổn và đang gây mối sợ khủng hoảng cho Hoa Kỳ.

Vắn tắt thì cái nhân khủng hoảng bên trong đã có, cái duyên ngày nay khi khối công nghiệp hóa, trước hết là Mỹ, muốn tăng xuất cảng, giảm mức bơm tiền, hút lại lượng tiền đã bơm ra và sẽ nâng lãi suất. Khi ấy, kinh tế Trung Quốc bị rủi ro lớn, là điều có thể xảy ra từ năm tới.

Thật ra từ Tháng Ba năm 2007, Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Ôn Gia Bảo nêu ra bốn nhược điểm kinh tế là "không ổn định, không cân đối, không phối hợp và không bền vững". Đáng lẽ ông phải nêu thêm một cái không nữa là không công bằng. Ba năm sau, Tháng Sáu năm 2010, người lên làm Thủ tướng ngày nay là Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường cũng viết trên tạp chí "Cầu Thị", cơ quan lý luận của Trung ương đảng và của Trường đảng, rằng công cuộc phát triển của họ "tạo ra một cơ cấu kinh tế phi lý" và "ngày càng thấy rõ chiều hướng thiếu phối hợp và không vững bền". Khi ấy các lãnh tụ khác như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sắp mãn nhiệm và Tổng bí thư Tập Cận Bình sẽ lên thay cũng đều phát biểu như vậy.

Nghĩa là lãnh đạo xứ này thấy ra vấn đề từ đã lâu mà không cải cách được cho tới ngày hạ cánh.


Hạ Cánh Bấp Bênh


Y hệt như về Nhật Bản ba chục năm trước, nhiều người không thấy ra các vấn đề của Trung Quốc.

Nền kinh tế này nén tiêu thụ để lấy đầu tư làm lực đẩy mà đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước kém năng suất lại là chính, cho nên mới gây lãng phí. Số đầu tư ấy lấy tiết kiệm rất cao của dân mà đền bù rất rẻ nên gây ra bất công. Nhờ sản xuất ồ ạt bằng mọi giá, Trung Quốc có thể xuất cảng rẻ, là công xưởng cho thế giới, và giúp nhà nước độc quyền thu về một lượng ngoại tệ kỷ lục có lúc lên tới bốn ngàn tỷ đô la làm dân Mỹ hãi sợ vì trong đó có hơn ngàn tỷ là cho Mỹ vay. Bất trắc lớn là trong cơ chế ấy, các đảng viên cán bộ cao cấp của khu vực nhà nước và ở địa phương thì làm giàu dễ nên ủng hộ chiến lược cũ và cản trở việc cải sửa với lý do là sợ giảm đà tăng trưởng.

Thế rồi vì đà tăng trưởng nhờ đầu tư mạnh bắt đầu giảm và kinh tế toàn cầu bị suy trầm nên hãm đà tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc cho nên kể từ năm 2008, lãnh đạo ồ ạt bơm tiền kích thích sản xuất. Tín dụng quá rẻ, lại dồn vào thành phần kinh tế nhà nước và đảng bộ địa phương nên thổi lên bong bóng đầu cơ trong tình trạng nợ quá sức trả. Trong khi đó, tư doanh mới là lực lượng tạo ra việc làm nhờ tiểu doanh thương thì không dễ vay tiền từ hệ thống chính thức, họ phải vay gián tiếp qua thị trường chui, hay tín dụng ngoại ngạch, shadow banking, với lãi suất cắt cổ và chỉ có thể hoàn trả nếu đầu cơ theo lối chụp giựt đầy rủi ro. Hậu quả là kể từ 2008, kết số nợ của các cấp nhà nước công và tư nhân đã tăng hơn sản lượng cả năm, bên trong có nhiều khoản nợ xấu, khó đòi và sẽ mất. Mà xấu đến cỡ nào thì không ai đoán biết được.

Vì vậy, ngày nay, Hoa Kỳ cũng lại Sợ Tầu. Nhưng là nỗi sợ ngược: Sợ kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề, hoặc hạ cánh tan tành rồi sẽ bị khủng hoảng tài chánh vì gánh nợ.

___

Kết luận ở đây là gì?

Nền kinh tế đứng hạng nhì sau Hoa Kỳ là Nhật Bản đã bị khủng hoảng từ năm 1991 mà kinh tế Hoa Kỳ không bị ảnh hưởng nặng. Ngày nay, nếu mà nền kinh tế hạng nhì là Trung Quốc có bị khủng hoảng thì hậu quả kinh tế cũng chẳng đáng ngại. 

Nhưng hậu quả chính trị lại khác, vì Nhật Bản là đồng minh của Mỹ mà Trung Quốc thì không. 

Đấy mới là chuyện đáng lo và đáng theo dõi khi Mỹ-Hoa có thượng đỉnh vào cuối Tháng Chín này.