Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải Ảo Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải Ảo Kinh Tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, tháng 5 08, 2016

Tang Bồng Hồ Thỉ



Nguyễn-Xuân Nghĩa Việt Báo Ngày 160508

Quy Luật Cung Cầu Khi Vua Sở Mất Cái Cung 


 * Trời ơi còn đó thôi sao? *


Hôm Thứ Sáu mùng sáu vừa qua, các thị trường cổ phiếu Á Châu đều nhấp nháy màu đỏ, là sụt giá, nhưng sụt không mạnh nên mới chỉ nhấp nháy: người ta đợi thống kê về tình hình lao động Tháng Năm tại Hoa Kỳ, được bộ Lao Động công bố vào ngày Thứ Sáu đầu tiên trong tháng.

Riêng có cổ phiếu Trung Quốc thì xanh lè. Quốc gia này tôn thờ màu đỏ của cách mạng nên làm ngược thiên hạ, khi cổ phiếu lên giá thì yết màu đỏ và khi tuột giá thì dùng màu xanh lục.

Sở dĩ cổ phiếu Trung Quốc mất giá nặng trong có một ngày (Thượng Hải mất 2,8% và Thẩm Quyến 3,8%) là vì người ta e ngại giới đầu tư sẽ tháo chạy khỏi thị trường trái phiếu, nơi mua bán trao đổi giấy nợ. Mấy tuần trước, người viết có giải thích thế nào qua bài “Khi Trái Phiếu Trung Quốc Bị Rách”. Kỳ này, xin cố phân tách xa hơn….

Nói về kinh tế Trung Quốc, người ta có thể phân vân vì giới kinh tế thuộc các quỹ đầu tư đưa ra những nhận định mâu thuẫn.

Chúng ta sẽ cố hiểu qua những thí dụ thông tục sau đây…

Kinh tế xứ này đang hạ cánh với tốc độ tăng trưởng thấp hơn, có thể nhẹ nhàng, có thể nặng nề, có khi tan tành. Đấy là ba mức độ khác nhau của thực tế kinh tế với ảnh hưởng nặng nhẹ ra sao trong xã hội và hệ thống chính trị thì chưa ai dự đoán được.

Tháng trước, lãnh đạo Bắc Kinh khó chịu khi tỷ phú Georges Soros - nhà đầu tư lừng danh đã hốt bạc tỷ nhờ đoán trước nhiều chuyển động tài chánh bất ngờ từ hơn 20 năm trước - cảnh báo rằng kinh tế Trung Quốc có triệu chứng tài chánh bất ổn vì gánh nợ quá lớn, nên thế giới có thể bị khủng hoảng tương tự như vụ 2008 bùng nổ từ Hoa Kỳ. Nhưng dù khó chịu thì vẫn phải chịu khó vì quy luật khó bảo của cung cầu.

Nhiều công trình nghiên cứu và dự báo liền phê phán ngược với luận cứ của ông Soros, rằng thị trường Trung Quốc còn khép kín, nợ nần hay trái phiếu của họ chỉ giao dịch bằng đồng Nguyên trong nội địa nên không gây hậu quả dây chuyền như lần trước tại Hoa Kỳ. Vả lại, một số nhà quan sát khác nhận định, Trung Quốc có mắc nợ nhiều thì cũng vì bơm tiền kích thích sản xuất và dù bơm vào nơi dễ bị úng thủy cho các dự án đầu tư kém hiệu năng thì năm bảy năm sau việc kích thích ấy vẫn có kết quả.

Người viết này gọi các nhận xét ấy là lạc quan tếu. Và trật chìa.

Hai chục năm trước, người ta đã từng ca ngợi phép lạ của các nước rồng cọp kinh tế Đông Á. Đầu năm 1997, hai định chế tài chánh quốc tế như Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF hay Ngân hàng Thế giới WB cũng chẳng dự đoán nổi vụ khủng hoảng hối đoái tại Thái Lan vào ngày hai Tháng Bảy, với hậu quả lan qua các nước Đông Á, kể cả Nam Hàn, rồi gây khủng hoảng cho kinh tế Liên bang Nga và dội về thị trường Hoa Kỳ làm quỹ đầu tư đối xung (hedge fund) LTCM của Mỹ mất bốn tỷ sáu trong có bốn tháng và chuyển sang từ trần, nôm na là vỡ nợ.

Mười năm trước, người ta cũng chẳng ngờ rằng nạn bể bóng đầu tư gia gia cư và địa ốc Hoa Kỳ vào năm 2006 lại dẫn tới vụ khủng hoảng tín dụng thứ cấp (sub-prime) với những kén nợ ung thối làm các ngân hàng Âu Châu và Hoa Kỳ bị họa lây. Và sau doanh nghiệp đầu tư Bear Sterns vào đầu năm 2008 thì tới đại gia Lehman Brothers sụp đổ ngày 15 Tháng Chín năm đó. Vụ khủng hoảng tại Hoa Kỳ khuếch đại những nhược điểm có sẵn tại Âu Châu nên lây lan rất mạnh khiến thế giới bị Tổng suy trầm 2008-2009.

Ngày nay, trường hợp của Trung Quốc cũng không khác và còn tệ hơn vậy. Xin có một chút chuyên môn ở đây. Một chút thôi!

Kinh tế Trung Quốc đang giảm đà tăng trưởng. Quy ra toàn năm thì từ 6,8% trong Quý 4 của năm ngoái thì chỉ còn 6,7% trong Quý 1 của năm nay. Nhưng nếu có giảm 0,1% thì cũng chẳng nhiều và so với chỉ tiêu của Bắc Kinh là từ 6,5% đến 7% thì cũng chửa đáng lo. Nhận xét ấy vẫn phản ảnh tinh thần lạc quan. Vì sao?

Hôm Thứ Tư 27 vừa qua, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông báo việc truy tố 300 viên chức trong Cục Thống Kê Quốc Gia về tội ăn hối lộ để thổi phồng số liệu thống kê. Vụ án tham nhũng này xảy ra sau khi Cục trưởng Vương Bảo An, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chánh, bị tống giam ngày 26 Tháng Giêng cũng vì tội danh xào nấu thống kê. Qua biến cố pháp lý ấy, lần đầu tiên trong đời, Bắc Kinh gián tiếp xác nhận sự thật mà ai cũng biết trừ những kẻ mê Tầu: tính chất thiếu khả tín của thống kê Trung Quốc, trong đó có những con số về đà tăng trưởng.

Và nếu áp dụng cách ước tính của thế giới văn minh – hình như là trong chữ “minh” cũng có chữ trong sáng minh bạch – thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chỉ ở khoảng 4,5% mà thôi, có khi thấp hơn nữa, có thể là không tăng trưởng gì! Hãy cứ tạm cho 4,5% là đúng thì còn lâu xứ này mới đạt chỉ tiêu của Kế hoạch Ngũ niên 2016-2020 do Tập Cận Bình đề ra là nhân đôi lợi tức người dân trong 10 năm 2010-2020. Muốn nhân đôi thì mỗi năm phải tăng 7%. Kết luận nhỏ: hạ cánh nặng nề chứ không nhẹ nhàng.

Kết luận ấy phải coi là nhỏ khi ta từ bỏ mấy con số trừu tượng về sản lượng vật chất mà đi vào huyết mạch của cơ thể kinh tế. Cơ thể này được bơm thêm máu tươi là tín dụng. Và được bơm rất mạnh.

Sau một đợt đầu từ cuối năm 2009, lượng tín dụng ngân hàng đã tăng vọt kể từ 2014. Quy ra toàn năm thì tăng 15% vào cuối 2014 rồi tăng 25,4% tính tới Tháng Ba vừa qua. Những người lạc quan, hoặc ăn bả Tầu, có thể am hiểu văn hóa Trung Hoa mà bảo rằng “vua Sở có mất cái cung thì cũng là người nước Sở sẽ dùng”. Nôm na là nếu bơm tiền vào kinh tế thì chẳng bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, không tăng chỗ này sẽ tăng chỗ khác.

Khốn nỗi, quy luật kinh tế nó… đểu lắm!

Luồng máu tươi hay tín dụng ngân hàng ấy lại không bơm vào cơ thể mà bơm vào túi bạc. Nếu bơm vào cơ thể cho tài hóa lưu thông thì ta thấy ngay đà gia tăng của khối tiền tệ lưu hành, thường được gọi tắt bằng ký hiệu M2, gồm có tiền mặt, ký thác vãng lai, ký thác tiết kiệm và các quỹ giao dịch trên thị trường mở, v.v…. Đấy là nguồn tài hóa có thể giúp cho đầu tư sản xuất, kể cả đầu tư hoảng tiều như cái cung bị mất của vua Sở.

Như vậy, về cái “cơ thể kinh tế”, thì khối tiền tệ lưu hành có tăng được chút đỉnh sau biện pháp bơm tiền kích thích kinh tế của Bắc Kinh từ năm ngoái, tăng được 13,5% tính đến Tháng Ba vừa qua. Trong khi ấy, ta nhớ tới bình máu tươi, tín dụng ngân hàng, tính đến Tháng Ba vừa qua, xin nhắc lại là nó tăng 25,4%.

Chi tiết chuyên môn ở đây là lượng tín dụng ngân hàng tăng mạnh hơn khối tiền tệ lưu hành M2. Chiều hướng gia tăng khác biệt ấy lại mở rộng từ giữa năm 2014 trở đi, và ngày càng rộng hơn.

Nói cho đơn giản thì máu tươi không bơm vào cơ thể mà bơm vào nơi khác, vào nơi sinh bệnh! Vì sao Bắc Kinh cần bơm tiền kích thích sản xuất mà dòng tiền ấy lại chảy vào nơi khác?

Lại một chút chuyên môn, xin bà con đừng nản: kinh tế sa sút khiến cơ hội đầu tư – những nơi đầu tư sản xuất ra tiền – sút giảm và mức doanh lợi của ngân hàng cũng vậy. Vì thế, các ngân hàng ráo riết cho vay làm tín dụng ngân hàng tăng vọt, nhưng người đi vay, khách nợ, không dùng tiền ấy để tài trợ đầu tư sản xuất mà để mua thêm tài sản tài chánh hoặc để đắp nợ, vay để trả tiền lời chứ chưa nói đến phần vốn của các khoản nợ trước.

Trường hợp này được giới kinh tế gọi là “thời Minsky” do tên của kinh tế gia Hyman Minsky, người đã chú ý đến hệ thống tài chành ngân hàng lệch lạc và cảnh báo về các vụ khủng hoảng tài chánh. Gặp cái thời quái đản này thì ta nên chờ đợi khủng hoảng! Đấy là trường hợp đã thấy tại Thái Lan từ 1992 đến 1994 và Nam Hàn từ 1996 đến 1998. Sau đó là khủng hoảng Đông Á! Hoa Kỳ cũng gặp hiện tượng đó từ 2002 đến 2005, sau đấy là khủng hoảng tín dụng thứ cấp và pháo bông đen.

Cột lại cho dễ nhớ thì kinh tế Trung Quốc đang đi vào điểm lật, với nhiều ngân hàng cò con bị mất nợ sau khi bơm quá nhiều tín dụng, rồi tai họa dây chuyền sẽ làm hệ thống tài chánh rung chuyển.

Nhiều người lạc quan cho rằng Bắc Kinh vẫn còn ba ngàn 200 tỷ ngoại tệ dự trữ. Thật ra cái tháp nước để chữa cháy đó bị rò rỉ vì nạn tẩu tán tư bản, mỗi tháng mất trăm tỷ. Nó lại còn bị khóa trong nhiều cam kết khác, như Con Đường Tơ Lụa hay Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu để thực hiện giấc mơ tang bồng hồ thỉ của Tập Cận Bình. Và so với đà gia tăng của lượng tín dụng ngân hàng cùng khối tiền tệ lưu hành thì khối dự trữ này bị giảm mất phân nửa!

Nếu khủng hoảng bùng nổ, chưa chắc lãnh đạo Bắc Kinh đã có đủ dự trữ đề đối phó. Hoa Kỳ đã từng bị như vậy và dù có những biện pháp bất thường để cấp cứu, với đồng Mỹ kim vẫn là dự trữ ngoại tệ phổ biến nhất của thế giới, tám năm sau tình hình vẫn chưa khả quan. Trung Quốc chưa đi tới chốn đó, với đồng Nguyên có khi bị xé vụn….

Thành thử, và đây là cách ngôn kinh tế với màu sắc Trung Hoa, “khi vua Sở mất cái cung, thì có khi người nước Sở lại lấy cung mà bắn lủng ngai vua Sở”! Cũng là chuyện tang bồng hồ thỉ của kinh tế học vậy! 

Thứ Tư, tháng 9 30, 2015

Hàng Việt Nam – Chế Tạo Tại Nước Ngoài

Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 150930
"Diễn đàn Kinh tế"  


Vì sao chưa thể có "Hàng Việt Nam"?  
 
Những cửa hàng "Made in Vietnam"  trên đường phố.
* Những cửa hàng "Made in Vietnam" trên đường phố. Photo Ngoc Lan * 





Với viễn ảnh gia nhập Hiệp ước Xuyên Thái Bình Dương TPP trong vài năm tới, Việt Nam hy vọng buôn bán tự do với một khu vực rộng lớn của 12 quốc gia có sản lượng bằng 40% của toàn cầu. Khi ấy, quy chế về thương hiệu được đặt ra. Đó là điều kiện ưu đãi chỉ áp dụng cho các hàng hóa hay dịch vụ chế tạo tại một quốc gia thành viên của khu vực TPP. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về vấn đề xuất xứ chế tạo qua cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, kinh tế Việt Nam có cơ hội phát triển mới xuất phát từ hai chuyển động quốc tế. Một là Trung Quốc ở vào giai đoạn chuyển hướng với đà tăng trưởng thấp hơn và hết chiếm lĩnh ưu thế chế biến hàng tiêu dùng nhờ nhân công rẻ. Hai là Việt Nam sẽ cùng 11 nước khác gia nhập khu vực tự do thương mại Xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là TPP. Trước viễn ảnh đó, Việt Nam hy vọng thu hút đầu tư của nước ngoài để thành một công xưởng ráp chế hàng hóa phần nào thay thế thị trường Trung Quốc và bán cho các nước trong khối TPP dưới nhãn hiệu là “Hàng Việt Nam”. Nhưng mà nhìn từ giác độ của các thành viên TPP thì thế nào là “Hàng Việt Nam”? Vì câu hỏi này đang gây tranh luận ở trong nước, xin hỏi là ông người ta nên nghĩ sao về một giải đáp thỏa đáng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi trộm nghĩ rằng người ta sở dĩ tranh luận chỉ vì lầm lẫn về ngôn từ. Tôi xin được đi ngược lên khái niệm sản xuất để chúng ta cùng hiểu ra điều ấy.

- Khi thấy thị trường có một nhu cầu chưa được thỏa mãn mà mình muốn đáp ứng để kiếm lời thì trước hết phải có sáng kiến sản xuất ra loại hàng hóa giải quyết nhu cầu đó của thị trường. Yếu tố then chốt ở đây là “sáng kiến”, kế tiếp mới là bố trí sản xuất để từ đó có một sản phẩm hoàn tất. Việt Nam mà có sáng kiến và khả năng tổ chức để sản xuất thì sẽ có “Sản phẩm của Việt Nam” hoặc nói theo Anh ngữ là “Product of Vietnam”. Chỉ trong trường hợp đó ta mới gọi “Sản phẩm của Việt Nam” hay “Hàng Việt Nam”.

- Yếu tố quyết định là sáng kiến và khả năng tổ chức để tìm ra kỹ thuật, thiết bị và nguyên vật liệu hầu sản xuất ra một mặt hàng trước đấy chưa có. Việt Nam chưa đi tới trình độ ấy, về cả sáng kiến lẫn tổ chức sản xuất, nên chưa thể có “Sản phẩm của Việt Nam” hay “Hàng Việt Nam”. Đấy là chuyện có thể hiểu được, nhưng bị lãng quên vì cái bệnh tự ru ngủ và hài lòng với sự tầm thường.

- Vì chưa có khả năng, Việt Nam phải ăn theo thị trường. Hình thái nhỏ là khi thấy thiết bị đi động của nước ngoài ăn khách thì ta sản xuất các nhóm phụ kiện, như cho smart phone hay tablet của Mỹ và Đại Hàn, với giá rẻ mà phẩm chất và độ bền thì còn thua hàng phụ kiện của hãng chính hay của Trung Quốc. Khi mới bước vào loại hàng có kỹ thuật cao thì chỉ làm được như vậy mà thôi.

Yếu tố quyết định là sáng kiến và khả năng tổ chức để tìm ra kỹ thuật, thiết bị và nguyên vật liệu hầu sản xuất ra một mặt hàng trước đấy chưa có. Việt Nam chưa đi tới trình độ ấy, về cả sáng kiến lẫn tổ chức sản xuất, nên chưa thể có “Sản phẩm của Việt Nam” hay “Hàng Việt Nam” - Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Lên một trình độ khác thì xem xứ khác đang kiếm tiền bằng cách nào ta cố bắt chước, là khai thác sáng kiến của người khác để tham gia vào tiến trình sản xuất. Đa số các quốc gia đang phát triển đều ở vào trường hợp đó là khai thác sáng kiến của các nước tiên tiến để góp phần thỏa mãn một nhu cầu của thị trường. Yếu tố then chốt ở đây là “góp phần”.

Nguyên Lam: Khi ông nói “góp phần” thì người ta phải tìm hiểu xem là đóng góp chừng nào và cái phần nào trong sản phẩm là của mình và phần nào là của người khác, của nước khác. Thưa ông có phải là như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như vậy và khi ấy ta cần nhìn qua lĩnh vực kế toán.

- Về mặt thương mại, ta biết giới tiêu thụ thường ưa mặt hàng xuất phát từ các quốc gia nổi tiếng. Thí dụ như trang phục xa xỉ đắt tiền mà có nhãn hiệu là “Hàng Pháp” hay “Sản phẩm của Pháp” hoặc “Chế tạo tại Pháp” thì được chiếu cố hơn hàng của Thái Lan chẳng hạn, nên có thể bán cao giá hơn. Thí dụ kia là hàng công nghệ cao của Mỹ, Nhật, Hàn. Khi ấy, vấn đề của quốc gia xuất xứ được đặt ra. Đó là quy chế về “quan thuế” mà Việt Nam cứ gọi sai là “hải quan” vì nhiều cửa quan như phi cảng Tân Sơn Nhất hay Nội Bài chẳng là hải cảng. Theo quy chế này, chỉ được phép gọi là Hàng của Pháp, của Mỹ hay của Nhật Bản, Đại Hàn nếu các nước đó góp phần sản xuất tới hơn 50% của giá thành khi xuất xưởng. “Giá xuất xưởng” là một khái niệm kế toán được các nước cùng chấp nhận và tín nhiệm dù đây đó tại Việt Nam thì vẫn có gian lận.


Nhãn hiệu Made in Vietnam
Nhãn hiệu Made in Vietnam


Nguyên Lam: Nguyên Lam bắt đầu hiểu diễn tiến suy luận của ông. Giả dụ như hãng Samsung của Đại Hàn có sáng kiến về loại điện thoại cao cấp và tổ chức việc sản xuất sao cho có lợi nhất, với giá rẻ mà phẩm chất cao, thì họ có thể thiết lập cơ xưởng ráp chế tại Việt Nam hay Malaysia. Với công nghệ và thiết bị Hàn quốc, phụ tùng hay phụ kiện của Nhật Bản dưới sự quản lý của kỹ sư Đại Hàn để điều khiển nhân công Việt Nam hoặc Mã Lai sản xuất ra điện thoại có nhãn hiệu là “Sản phẩm Đại Hàn”. Trong suốt tiến trình này, từ nguyên vật liệu lên hàng bán chế phẩm rồi sản phẩm hoàn tất được đóng hộp để bán ra ngoài thì nhiều quốc gia có thể tuần tự góp phần, nhưng phần chính, hơn phân nửa của giá xuất xưởng, là của Hàn quốc. Thưa ông, có phải là phương pháp kế toán mới lần lượt bút ghi tiến trình tích lũy giá trị của sản phẩm hay không?

Áo quần giày dép của Việt Nam với phần đóng góp chủ yếu là của Trung Quốc. Loại sản phẩm đó không thể nào lọt qua ải TPP dù có dán nhãn là “Hàng Việt Nam” vì các thành viên đều truy lên quốc gia xuất xứ không phải là Việt Nam - Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa vâng và khi ấy, khái niệm “góp phần” hay “trị giá gia tăng” mới được đặt ra. Trong thế giới gọi là “toàn cầu hóa” ngày nay, còn rất ít sản phẩm là do một xứ sản xuất nguyên vẹn 100% mà thường là kết quả của nhiều nước cùng tham gia. Vấn đề chính là nước nào quyết định, căn cứ trên cái gì? Nếu năng suất hoặc tay nghề của nhân công Việt Nam mà kém nhân công Mã Lai chẳng hạn thì Samsung có thể dời hãng xưởng mà vẫn có “Sản phẩm Đại Hàn” nhưng ráp chế tại Mã Lai thay vì ráp chế tại Việt Nam. Khi ấy ta mới cần phân biệt các mặt hàng gọi là “Product of Vietnam”, với “Made in Vietnam” hay “Manufactured in Vietnam”, tức là “Sản phẩm của Việt Nam” khác với “Chế tạo hay Ráp chế hoặc Chế biến tại Việt Nam”.

- Việt Nam mới ở vào trình độ góp phần ráp chế hay chế tạo thôi. Khi Bộ Công Thương của Hà Nội hãnh diện về Sản phẩm của Samsung dán nhãn “Hàng Việt Nam” thì họ bị hoang tưởng hoặc nhập nhằng về quy chế thương hiệu. Đấy chỉ là “Sản phẩm Đại Hàn” với phần đóng góp của Việt Nam chưa tới 50%. Trường hợp tương tự chính là áo quần giày dép của Việt Nam với phần đóng góp chủ yếu là của Trung Quốc. Loại sản phẩm đó không thể nào lọt qua ải TPP dù có dán nhãn là “Hàng Việt Nam” vì các thành viên đều truy lên quốc gia xuất xứ không phải là Việt Nam.


Áo sơ mi Made in Vietnam
Áo sơ mi Made in Vietnam


Nguyên Lam: Nói về viễn ảnh gia nhập khu vực Xuyên Thái Bình Dương TPP, giới đầu tư quốc tế đã nhìn vào thị trường Việt Nam như một cơ hội mới, thí dụ trong các ngành may mặc áo quần, để “Hàng Việt Nam” được ưu đãi về quan thuế khi bán cho 11 nước kia. Nhưng khốn nỗi trong cấu trúc Hàng Việt Nam ấy thì phần đóng góp của Trung Quốc lại chiếm đa số vì Việt Nam chưa có nguyên nhiên vật liệu và nhiều phụ tùng lắt nhắt, từ cái khóa trên áo hay sợi dây của đôi giày nên cứ phải nhập từ Trung Quốc. Thưa ông, làm sao mình có thể giải quyết vấn đề ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đi từ chuyện xa đến chuyện gần thì dễ thấy toàn cảnh. 

- Năm 1980 Bộ Công Thương Quốc Tế MITI của Nhật, nay là Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp METI, lập ra Viện Khoa học Công nghiệp và Thuật lý (Agency of Industrial  Science and Technology) AIST có nhiệm vụ phối hợp hoạt động của 16 trung tâm nghiên cứu trên toàn quốc với ngân sách rất cao để nghiên cứu và thực hiện 25 dự án ưu tiên nhằm giải quyết vấn đề tài nguyên và sản xuất và giữ vị trí khoa học tiên tiến cho Nhật. Cho đến nay, dù có sản lượng kinh tế đứng hạng ba, Nhật vẫn có ngân sách nghiên cứu và phát triển hạng nhất nên tiếp tục có những sáng kiến tiên tiến.

- Gần với chúng ta hơn thì năm 1966, khi kinh tế Nam Hàn còn thua kinh tế miền Nam Việt Nam, Hội đồng Kế hoạch của họ đã đề ra hướng phát triển công nghiệp cho 20 năm sau của ba lớp kỹ nghệ. Ba lớp đó là 1/ các ngành phôi thai non yếu như thép, đóng tầu, phân bón và ráp chế điện tử, 2/ các ngành có khả năng cạnh tranh là dệt sợi, áo quần hay giày dép – như Việt Nam ngày nay - và lớp 3/ là các ngành có thể tự túc. Cứ mỗi năm năm thì sự yểm trợ của nhà nước và các tập đoàn sản xuất của tư nhân phải nâng ngành ở lớp dưới lên lớp trên. Tiêu chí của họ là phải bắt kịp và vượt Nhật trên thị trường xuất khẩu. Kết quả là nửa thế kỷ sau, là ngày nay, sản phẩm Đại Hàn như xe hơi hay điện thoại đang chiếm thị phần rất cao trên trường quốc tế của Mỹ, Nhật, Âu.

Nhắc đến kỹ nghệ đóng tầu của Đại Hàn, 20 năm trước còn là phôi thai mà sau đó đã vượt Nhật Bản, còn VN thì 10 năm trước mới sinh ra hiện tượng Vinashin với kết quả tồi tệ ra sao thì ta đã rõ. Một tập đoàn kinh tế nhà nước có sự yểm trợ mọi mặt của nhà nước mà còn vậy thì làm sao tư doanh VN có thể cạnh tranh với nhà nước và với quốc tế sau này? Nguyễn-Xuân Nghĩa


- Trong suốt tiến trình đó, hai nước đang dẫn đầu Đông Á vốn có ít tài nguyên và nhân lực nội địa là Nhật Bản và Đại Hàn đã phát huy sáng kiến và tổ chức để tìm nguồn cung cấp nguyên vật liệu và lao động. Họ lập ra chu trình cung cấp và điều hướng việc đầu tư ra ngoài để dùng bắp thịt và vật liệu của xứ khác. Nếu nhớ lại thì ta tự hỏi rằng trong những năm đó, Việt Nam làm gì và nghĩ gì để ngày nay đi mua vật liệu của Trung Quốc và bán bắp thịt của mình nhờ lương rẻ hầu có phần đóng góp rất nhỏ?


Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày kinh nghiệm của các nước đi trước thì việc có được “Sản phẩm Việt Nam” thay vì chỉ có “Sản phẩm Ráp chế tại Việt Nam”, người ta cần khởi sự từ cái đầu, từ khả năng phát huy sáng kiến và tổ chức. Mà có phải là khả năng đó đòi hỏi tầm nhìn dài hạn của giới lãnh đạo kinh tế và doanh nghiệp hay không?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đúng như vậy và tôi nhắc đến kỹ nghệ đóng tầu của Đại Hàn, 20 năm trước còn là phôi thai mà sau đó đã vượt Nhật Bản, còn Việt Nam thì 10 năm trước mới sinh ra hiện tượng Vinashin với kết quả tồi tệ ra sao thì ta đã rõ. Một tập đoàn kinh tế nhà nước có sự yểm trợ mọi mặt của nhà nước mà còn vậy thì làm sao tư doanh Việt Nam có thể cạnh tranh với nhà nước và với quốc tế sau này? Nếu ta có thấy “Hàng Việt Nam” trong loại phụ kiện cho Samsung hay Apple mà chỉ có ưu thế rẻ tiền mà chóng hư thì mình hiểu ra nguyên do sâu xa của vấn đề.

- Sau cùng, ta chẳng nên quên rằng trong hai chục năm qua, công nghệ của thế giới cũng thay đổi nên phí tổn sản xuất của nguyên vật liệu như tơ sợi hay hàng dệt giảm mạnh, với phần đóng góp ít hơn của nhân công và nhiều hơn của thiết bị máy móc. Vì vậy, Việt Nam nên nhìn xa vào đó để tìm nguồn sản xuất và cung cấp khác ngoài Trung Quốc hầu khai thác được lợi thế về thuế khóa của hệ thống TPP. Chỉ với tinh thần đó thì mình mới có “Hàng Việt Nam” đích thực. Yếu tố then chốt ở đây là tinh thần, là tầm nhìn. Chưa khắc phục được bài toán ấy thì mình chỉ đi làm hàng nhái, hàng giả và “Made in Vietnam” vẫn đồng nghĩa với hàng rẻ mà chẳng bền!

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài học thấm thía này.

Thứ Tư, tháng 9 23, 2015

Nếu Bắc Kinh Xuất Khẩu Đạn?

Nguyễn Lam - Nguyễn-Xuân nghĩa, RFA Ngày 150923
Diễn đàn Kinh tế
 
"Kho đạn ngoại tệ" của Bắc Kinh giảm sút vì họ "xuất cảng đạn" ra ngoài?

Kinh tế Trung Quốc, khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng ... (ảnh minh hoạ)
* Kinh tế Trung Quốc, khối dự trữ ngoại tệ đã giảm sút nặng ... (ảnh minh hoạ) *  



Từ hai tháng qua, các thị trường tài chính quốc tế đều chứng kiến hiện tượng là khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng và tính đến Tháng Bảy vừa rồi thì chỉ còn khoảng ba ngàn 560 tỷ đô la. So với đỉnh cao vào Tháng Sáu năm ngoái thì sụt chừng 440 tỷ đô la. Một trong các nguyên nhân của sự kiện ấy là nạn tẩu tán tư bản, hay chuyển tài sản từ dạng nội tệ là đồng Nguyên qua ngoại tệ là đồng đô la Mỹ. Nhưng nếu lãnh đạo Bắc Kinh lại nhân trào lưu ấy mà có chủ đích tung dự trữ để đầu tư ra ngoài thì sao? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu mặt trái của sự việc này qua phần trao đổi do Nguyên Lam thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong chương trình phát thanh vào mùng hai vừa qua, ông nói đến sự kiện khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc, được ước lượng là tương đương với bốn ngàn tỷ đô la vào năm ngoái nay đã hao hụt và chỉ còn chừng ba ngàn 560 tỷ tính đến Tháng Bảy. Ông gọi đó là “kho đạn của Bắc Kinh đang cạn dần” trên trận tuyến kinh tế đối ngoại. Kỳ này, chúng tôi xin hỏi ngược rằng nếu Bắc Kinh cố tình tung ngoại tệ ra ngoài trong mục tiêu đầu tư và bành trướng ảnh hưởng thì sao? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là câu hỏi này rất hay vì cho ta thấy một kịch bản khác về kho dự trữ ngoại tệ như một kho đạn. Có thể gọi kịch bản ấy là “Bắc Kinh xuất khẩu đạn” để sẽ có ngày sử dụng sau này. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những mục tiêu giả định và khả năng thực hiện kế hoạch này.

- Trước hết, ta nhớ là Trung Quốc học các nước Đông Á khi cải cách kinh tế, lấy đầu tư và xuất khẩu làm lực đẩy, rồi nhà nước thu về một lượng ngoại tệ rất lớn nhờ đạt xuất siêu, là xuất nhiều hơn nhập. Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới 15 năm trước, quả nhiên Bắc Kinh gom về một khối dự trữ rất cao, tính đến Tháng Sáu năm ngoái là lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la. Trong số này, họ dùng gần một phần ba, khoảng một ngàn bốn trăm tỷ, để mua tài sản Mỹ, chủ yếu là Công khố phiếu Hoa Kỳ, là cho Mỹ vay tiền. Mà việc cho vay tiền có giảm phân lời đi vay và lãi suất tại Hoa Kỳ nên giúp Trung Quốc dễ xuất khẩu hơn. Một mục tiêu kia của việc cho vay tiền là yêu cầu về an toàn vì thị trường tín dụng Mỹ có đặc tính sâu và rộng hơn năm thị trường lớn nhất đi sau và có tính lưu hoạt cao, là dễ đổi ra tiền mặt đem về.

- Xin nói thêm về bối cảnh hay tương quan trao đổi thì thị trường tiêu thụ Mỹ chỉ có  12% là nhập khẩu mà nhập khẩu từ Trung Quốc chưa bằng gần 1% của Tổng sản lượng Hoa Kỳ trong khi lại là thị trường sinh tử cho kinh tế Trung Quốc. Thứ nữa, thế giới khi đó cứ nói đến việc Trung Quốc là chủ nợ số một của Mỹ mà quên rằng chủ nợ số hai với gần một ngàn ba trăm tỷ là Nhật Bản và nước Nhật không coi Mỹ là một đối thủ về chính trị. Bây giờ, ta mới bước qua chuyện chính trị ấy.

Nguyên Lam: Trước khi nói đến tương quan chính trị như ông vừa nhắc thì chúng ta thấy một tương quan kinh tế khá bất ngờ. Đó là kinh tế Trung Quốc lại cần thị trường Hoa Kỳ hơn là ngược lại, và sau khi đạt xuất siêu thì cũng đẩy tiền qua cho Mỹ vay thì để dễ bán hàng vào Mỹ! Thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng vậy nhưng tình trạng ấy đã hết sau vụ khủng hoảng tài chính và Tổng suy trầm 2008-2009. Hoa Kỳ giảm nhập khẩu và xuất siêu của Trung Quốc hết tăng. Trong khi ấy, Ngân hàng Trung ương Mỹ lại cắt lãi suất tới gần số không rồi ban hành biện pháp bơm tiền gọi là “tăng mức lưu hoạt có định lượng” hay “quantitative easing” khiến tiền rẻ và nhiều mới tràn ngập các thị trường. Trước sự kiện xuất khẩu vào Mỹ thì giảm mà đô la Mỹ lại rẻ, doanh nghiệp Trung Quốc bèn đi vay bằng đô la. Thực tế thì nhiều quốc gia cũng có động thái tương tự nên tổng cộng các nước đã mắc nợ thêm khoảng chín ngàn tỷ đô la, là một con số không nhỏ.

- Nhưng kinh tế Mỹ đã tạm phục hồi dù chưa mạnh nên từ năm kia, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ thông báo là giảm dần và chấm dứt việc bơm tiền rồi sẽ có lúc tăng lãi suất để trở về trạng thái bình thường nên từ năm ngoái, đồng Mỹ kim vọt lên giá. Khi đô la lên giá, và sẽ còn lên nếu lãi suất ngắn hạn được nâng khỏi số không, thì các quốc gia hay doanh nghiệp mà vay vào bằng đô la bị gánh nợ cao và đắt hơn. Vì vậy, yêu cầu trả nợ khiến các doanh nghiệp Trung Quốc cần nhiều đô la hơn. Đã thế, vì đoán trước là đô la còn lên giá so với các đồng bạc khác, kể cả đồng Nguyên, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền bèn nghĩ đến việc bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la trước khi tiền Mỹ lên giá.

- Ngần ấy yếu tố mới dẫn đến chuyện đồng Nguyên bị sức ép khiến Bắc Kinh phá giá vào tháng trước rồi dùng khối dự trữ bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la nhằm thanh toán nợ nần. Dự trữ ngoại tệ vì vậy bị hao hụt cả trăm tỷ trong có một tháng. Đó là chuyện "kho đạ"n của Bắc Kinh bị bào mỏng.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, cho dù Bắc Kinh đã mất vài trăm tỷ và sẽ mất thêm thì phần còn lại của khối dự trữ đó cũng có thể là các khoản đầu tư ra ngoài. Huống hồ, như ông vừa phân tích, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền của họ đều đã đoán trước rằng tiền Mỹ sẽ tăng nên mới bán ra đồng Nguyên để mua trước đô la. Như vậy thì mình có thể nói rằng việc tẩu tán tài sản ấy cũng mang ý nghĩa tích cực là đầu tư ra ngoài được không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là chẳng những lãnh đạo Bắc Kinh có mơ điều ấy mà còn nhắm vào nhiều mục tiêu sâu xa hơn. Nhưng họ có thành công hay không lại là chuyện khác.

- Trong trung hạn, theo quy ước chung là từ hai đến năm năm, thì các dự án xây dựng Con Đường Tơ Lụa trên đất liền và ngoài biển hoặc việc thành lập định chế tài chính như Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu AIIB hay Tân Ngân hàng Phát triển của nhóm BRICS đều là loại đầu tư để bành trướng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể đã dự trù 900 tỷ đô la cho giấc mơ đầu tư ấy và tin là kế hoạch lớn lao này sẽ nâng mức xuất khẩu của các tập đoàn kinh tế nhà nước Trung Quốc về thiết bị hay công nghệ, mà lại còn có lời lớn nếu đầu tư bằng đô la. Lý do là tiền Mỹ càng lên giá thì đồng bạc của các nước đối tác kia càng mất giá và chủ đầu tư là Trung Quốc sẽ thêm lợi.

- Trong dài hạn thì mối lợi ấy còn tăng gấp bội nếu Trung Quốc yêu cầu các nước đối tác thanh toán việc đầu tư hay đi vay bằng đồng Nguyên. Đấy là một cách đưa đồng bạc của họ vào thị trường quốc tế để sẽ thành một ngoại tệ giao hoán phổ biến trong toàn vùng Châu Á. Từ đó, Bắc Kinh tin rằng các nước kia sẽ dùng đồng Nguyên như một ngoại tệ dự trữ.

Nguyên Lam: Tức là Bắc Kinh vẫn có giấc mộng đưa đồng bạc của mình vào hàng ngoại tệ dự trữ sau này? Phải chăng là để cạnh tranh rồi sẽ có ngày thay thế đồng đô la Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh thường có tham vọng lớn và có cái nhìn trường kỳ như vậy.

- Chúng ta nên trở lại chuyện vừa nói ở trên là quan hệ kinh tế Mỹ-Hoa chỉ là sự lệ thuộc của toa tấu Trung Quốc vào đầu máy Hoa Kỳ nên họ có nỗ lực ta nên gọi là “thoát Mỹ” chứ không thể tiếp tục cho đối thủ vay tiền để dễ mua hàng của mình. Thứ hai, họ tung tiền đầu tư ra ngoài mà lại đầu tư bằng Mỹ kim để chiếm lợi thế khi đô la lên giá. Thứ ba, họ có thể đòi các nước thanh toán bằng đồng Nguyên để xứ nào cũng ghim sẵn đồng bạc Trung Quốc trong kho. Nếu sau này, hay vào năm tới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF mà cho phép đồng Nguyên là một ngoại tệ trong cái giỏ dự trữ có đồng Mỹ kim, đồng Euro, đồng Bảng của Anh và đồng Yen của Nhât, thì sẽ càng củng cố tư thế quốc tế của đồng bạc Trung Quốc.

Nguyên Lam: Đấy có thể là giấc mơ của Bắc Kinh, nhưng thưa ông liệu họ có thành công được chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là ai chẳng mơ chuyện cung trăng, huống hồ lãnh đạo Bắc Kinh! Họ muốn quốc tế hóa đồng Nguyên và kiểm soát được lưu lượng đầu tư ra ngoài lẫn cả luồng đầu tư của nước ngoài vào Hoa lục. Nhưng thực tế thì họ gặp nhiều rủi ro lắm.

- Trước hết trong cái đà họ gọi là chủ động đầu tư ra ngoài thì vẫn có hiện tượng tẩu tán tài sản, chuyển ngân lậu và cả cái nạn rửa tiền cho các đại gia. Chẳng vậy mà nhiều ngân hàng ma bị Bộ Công an đóng cửa vì tội đã rửa hơn 60 tỷ đô la ở nước ngoài chứ không ít. Ta không quên trường hợp tương tự là khi Liên Xô cho đảng viên cán bộ đem tiền ra ngoài để bành trướng ảnh hưởng thì đồng tiền ấy không trở lại sau khi chế độ tan rã.

- Thứ hai, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể mơ ngày đánh bạt ảnh hưởng của đống Mỹ kim bằng một đồng Nguyên được quốc tế hóa, nhưng việc một đồng bạc mà trở thành ngoại tệ giao hoán và dự trữ đòi hỏi nhiều biện pháp cải cách không dễ thực hiện. Một cách cụ thể, khi đồng bạc được thả nổi theo quy luật cung cầu thì cũng có nhiều thành phần bị thiệt hại. Họ không thiết tha với giấc mơ tốn kém của Tập Cận Bình nên tìm cách ngăn cản. Cho nên bên trong hệ thống lãnh đạo chìm và nổi đã có tranh luận và cả thanh trừng dưới danh nghĩa đả hổ diệt ruồi để trừ tham nhũng.

Nguyên Lam: Trong khi ấy, dường như kinh tế Trung Quốc lại bị suy trầm và khi cải cách để chuyển hướng thì càng khó giữ được đà tăng trưởng ngày xưa. Thưa ông, đấy có phải là một rủi ro phụ trội không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nhớ đến lời phát biểu của tỷ phú Warren Buffet, một nhà đầu tư xuất chúng của Hoa Kỳ, đại để là khi thủy triều rút trên bãi biển thì mình mới biết là ai không bận quần! Khi kinh tế suy trầm thì việc chuyển từ chiến lược lỗi thời sang một hướng khác mới làm các vấn đề tiềm ẩn bên dưới bùng phát lên trên.

- Mà lãnh đạo Trung Quốc lại đang ở vào thời điểm rất nhạy cảm về chính trị. Sau chuyến thăm viếng Hoa Kỳ tuần này, qua tháng 10, Chủ tịch Tập Cận Bình phải chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 5 của khóa 18 để thông qua Kế hoạch Năm năm thứ 13, từ 2016 tới 2020. Chẳng những Trung Quốc đang đi vào bước ngoặt mà bản thân và uy tín của họ Tập cũng gặp vấn đề, và thậm chí bị thách đố, sau mấy tháng lụp chụp về chính sách trên thị trường cổ phiếu rồi thị trường ngoại hối.

- Tuần qua, khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ chưa tăng lãi suất vào ngày Thứ Năm 17 thì Bắc Kinh đỡ bị sức ép trên đồng Nguyên nhưng chẳng vì vậy mà đã ra khỏi những khó khăn triền miên. Vì thế, cả kế hoạch gọi là dùng kho đạn là ngoại tệ dự trữ để chủ động đầu tư ra ngoài như một hình thái xuất khẩu đạn trong thế đối đầu với Hoa Kỳ có khi chỉ là ảo vọng.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn kỳ này.


Thứ Ba, tháng 9 22, 2015

Kinh Tế Thị Trường và Tôn Giáo



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 150921
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"


Đức Giáo Hoàng Francis Nên Vận Dụng Kinh Tế Cho Mục Tiêu Xã Hội

 * Đức Giáo hoàng Francis giữa dân nghèo *



Người viết này thường tránh nói đến tôn giáo vì kém hiểu biết về cảm quan và ấn tượng của con người trong các vấn đề tín ngưỡng. Nhưng, trong chuyến Mỹ du của đức Giáo Hoàng Francis, có một vấn đề kinh tế được đặt ra, mà vì kinh tế cũng là chính trị, nên đề tài kỳ này sẽ là chuyện kinh tế thị trường và đức tin tôn giáo.


Về triết lý kinh tế chính trị học, đức Giáo Hoàng Francis có thể được liệt vào cánh tả, liberal theo giác độ Hoa Kỳ, trong ý nghĩa là ngài quan tâm đến công bằng xã hội, chú trọng đến nhược điểm của tư bản chủ nghĩa, và ưu lo cho số phận của dân nghèo, thành phần đa số trong mọi xã hội. Đây là một niềm tin xuất phát từ một động lức đáng kính trọng. Về triết lý xã hội chính trị, ngài cũng thuộc thành phần cấp tiến, có cái nhìn khoan hồng về cách ứng xử của con người với các khái niệm đạo lý, như việc ly dị hay thậm chí hôn nhân giữa người đồng tính. Đây cũng là một quan điểm phóng khoáng khiến ngài gặp phản ứng của hàng tăng lữ bảo thủ.

Người viết này thông cảm với quan điểm xã hội đó của vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo Hoàn vũ. Nhưng hoài nghi về quan điểm kinh tế của ngài.


***


Như Winston Churchill đã nói về nền dân chủ, là “chế độ ít tệ nhất trong dăm ba thể chế chính trị mà con người đã thử nghiệm”, tư bản chủ nghĩa cũng là chế độ kinh tế ít tệ nhất trong các chế độ con người đã áp dụng - từ kinh tế thần linh vào buổi hoang sơ đến loại kinh tế tập quán, đời trước làm sao đời sau làm vậy. Tư bản chủ nghĩa vận dụng quy luật thị trường để giải quyết bài toán khan hiếm của loài người và tạo ra những tiến bộ chưa từng thấy kể từ cả trăm thể kỷ vừa qua.

Xin ghi thêm rằng “tiến bộ” ấy có nghĩa là nhân loại ít bị nghèo khốn hơn xưa mà không do việc ban phát trợ cấp của một lãnh tụ anh minh hay một đấng thần linh hào phóng.

Những ai quan tâm đến kinh tế sử có thể kể rằng từ hậu bán thế kỷ 19, khi chủ nghĩa tư bản áp dụng quy luật thị trường một cách phổ biến từ Âu Châu qua Bắc Mỹ, cuộc sống vật chất của con người được cải thiện, nhiều người ra khỏi tình trạng đói khổ truyền thống, tuổi thọ con người được kéo dài, trình độ học vấn được nâng cao cho đại đa số. Lợi tức, tuổi thọ và học vấn là các tiêu chuẩn thuộc loại vật chất, nhưng có nâng cao giá trị tinh thần của đời sống. Còn giá trị tâm linh, hay tín ngưỡng, lại là chuyện khác và thuộc phạm vi của giới lãnh đạo tôn giáo.

Khi đức Giáo hoàng Francis than phiền về tình trạng đói khổ và bất công trên thế giới hiện này, và coi đó một tai họa mà Giáo hội cần góp phần giải trừ, ngài bày tỏ lòng từ tâm đáng quý. Nhưng khi ngài kết án sự mù quáng của tư bản chủ nghĩa, “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường, hoặc tác hại của nguyên tắc tự do kinh doanh, đức Thánh Cha có thể đã lầm về tương quan nhân quả.

Có lẽ, ban tham mưu về kinh tế chính trị của ngài không làm tròn nhiệm vụ giải thích sự thể thực tế của nhân sinh. Và cứ theo đà này, có khi ta lại thấy sự hồi sinh tai hại của việc nhà nước hay một cơ chế cao cả nào đó can thiệp vào thị trường để cứu giúp dân nghèo. Lý do bi quan ở đây là chính đức Giáo hoàng đã phát biểu rằng giá trị của kinh tế thị trường chưa hề được chứng minh bởi thực tế, và rằng dù hiện tượng toàn cầu hóa có đưa nhiều người ra khỏi sự cùng quẫn, thì cũng dìm nhiều người vào nạn đói. Ngài còn cho rằng dù mức thịnh vượng toàn cầu có gia tăng, nhưng nạn bất công và nghèo khốn cũng vậy.

Rất nhiều tay lý luận thiên tả sẽ vin vào uy tín của vị chủ chăn hoàn vũ mà kết luận rằng kinh tế thị trường hay trào lưu toàn cầu hóa đã gia tăng mức nghèo khổ và làm nhiều người chết đói.

Nhiều định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới, hay quốc gia như các trung tâm nghiên cứu chuyên biệt đều cho thấy rằng kể từ cuộc Cách mạng Kỹ nghệ vào thế kỷ 18 cho đến khi Thế kỳ 21 được 15 tuổi, tình trạng bất công toàn cầu về kinh tế đã giảm sút đáng kể. Một cách cụ thể hơn thì xứ Hoa Kỳ mà đức Giáo hoàng thăm viếng tuần này là nơi mà, cách nay nửa thế kỷ, lợi tức trung bình của người dân được ước lượng là gấp 11 lần lợi tức tiêu biểu của dân Á Châu. Ngày nay, khoảng cách đáng tởm ấy chỉ còn gấp 4,8 mà thôi. Chỉ vì từ quãng 1960, các nước Á Châu đã áp dụng quy luật thị trường trong chánh sách kinh tế. Họ chuyển hướng theo nguyên tắc tự do.

Sau các nước Á Châu, Trung Quốc đi trễ mất hai chục năm sau 30 năm đòi cào bằng tất cả để thực hiện lý tưởng công bằng xã hội. Cũng chế độ này mới nhân danh nhu cầu bảo vệ thành phần nghèo khốn mà điều hướng thị trường bằng bàn tay thô bạo của nhà nước, và dẫn tới chủ nghĩa tư bản thân tộc và nạn bất công phổ biến. Đức Thánh Cha không thể dùng phép quy nạp mà kết án quy luật thị trường vì điều ấy mặc nhiên biện minh cho sự can thiệp với viễn ảnh là “giải pháp Bắc Kinh”.

Năm xưa, một nhà nhân khẩu học bậc thầy cùa nước Pháp là Alfred Sauvay từng lý luận rằng mô hình tập trung quản lý theo kiểu Xô viết quá thành công nên sẽ khiến Liên Xô sản xuất thừa lúa mì và sẽ phát không bánh mì cho mọi người. Lịch sử đã minh chứng sự nông cạn của lý luận này qua việc Liên Xô sụp đổ. Còn kinh tế chính trị học lớp đồng ấu thì cho biết rằng nếu dư ngũ cốc thì người ta nuôi thịt chứ không thể có chuyện phát không như vậy.

Lý tưởng “bánh mì miễn phí” ấy vào thời Stalin có thể là một quyến rũ tôn giáo, nhưng bị thực tế phủ nhận. Chế độ Xô viết tan rã và Trung Quốc xuất hiện với một giải pháp hấp dẫn hơn: nhà nước điều tiết thị trường cho mục tiêu công bằng xã hội. Giải pháp ấy vừa tự chứng minh tính chất viển vông khi các đại gia Trung Quốc đều hạ cánh ở nước ngoài, với đầy đủ tài sản và con cái!

Nhưng chúng ta chưa vội mừng về sự lầm than của trí tuệ.

Chỉ vì cùng với nỗi quan ngại chính đáng của đức Giáo hoàng, ta đang thấy tái sinh trào lưu “xã hội chủ nghĩa” tại hai nước tiên phong của tư bản chủ nghĩa. Đó là việc “đồng chí” Jeremy Corbyn vừa lên lãnh đạo đảng Lao Động Anh, như một tiếng vang của việc “đồng chí” Bernie Sanders đang ra tranh cử Tổng thống từ cánh cực tả của đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ. Cũng với lý luận cào bằng và lấy của người giàu chia cho nhà nghèo, họ thể hiện tinh thần bác ái từng gieo họa cho nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa trong quá khứ.

Nếu lại châm thêm yếu tố môi sinh vào bài toán kinh tế - một đề mục khác cũng được đức Thánh Cha nhấn mạnh - chính là các quốc gia đã cho nhà nước thọc tay vào thị trường mới gây ra nạn ô nhiễm môi sinh trầm trọng nhất mà ngài đang nói tới.


***


Kết luận ở đây là dường như đức Thánh Cha đã vạch ra lằn ranh đối lập tinh thần hay đạo lý giữa những ai tin vào kinh tế thị trường và những người quan tâm đến sự nghèo khốn. Điều ấy sai vì kinh tế thị trường không tạo ra sự nghèo khốn mà còn góp phần đẩy lui nạn bần cùng trong xã hội. Những người thành công trong nền kinh tế ấy có thể và nên quan tâm đến dân nghèo, ở mọi nơi, và họ có các hội thánh hay hội thiện để giải quyết nhu cầu này. Còn lại, ta rất nên hoài nghi những kẻ nhân danh dân nghèo mà làm xứ sở lụn bại.

Đức Thánh Cha vừa gặp họ tại Cuba.