Thứ Hai, tháng 7 16, 2012

Săn Lùng Dưới Đáy Biển


Nguyễn -Xuân Nghĩa- Ngày Nay Houston, Ngày 120715

Khi Trung Quốc thị uy ngoài Đông hải, chuyện đáy biển còn ly kỳ gấp bội

 * Thêm một điểm nóng ngoài Đông Hải - tranh chấp Nhật-Hoa về đảo Senkaku (Điếu Ngư Đài) *

 
Từ 27 Tháng Sáu đến mùng bảy Tháng Tám, 22 quốc gia trên vành cung Thái bình dương có cuộc thao dượt hải quân gọi là RIMPAC. Do Hoa Kỳ khởi xướng năm 1971 và hai năm tiến hành một lần với sự tham gia ngày càng đông đảo của các nước, RIMPAC lại thiếu vắng quốc gia có nhiều tiềm thủy đĩnh nhất và đang muốn khống chế Đông hải của Việt Nam. Đó là Trung Quốc. Bỉnh bút Nguyễn-Xuân Nghĩa tìm hiểu và giải thích chuyện này....



Ngoài khơi Hawaii, trong cuộc thao dượt RIMPAC (Rim of the Pacific) lần thứ 23 kể từ năm 1971, có bốn quốc gia đã đưa tiềm thủy đĩnh vào cuộc kể cả Hoa Kỳ, duy nhất gửi tới loại tầu ngầm nguyên tử. Hải quân Trung Quốc hiển nhiên là theo dõi và tìm hiểu khả năng của Mỹ ở dưới đáy biển.

Tiềm thủy đĩnh là loại ám khí dưới biển có thể cân bằng lực lượng trong một trận giao tranh giữa hai cường quốc hải quân, vì có thể tiến rất sâu vào "phòng tuyến địch" để do thám và  bất ngờ ra đòn sát thương. Cho một quốc gia có tham vọng trở thành cường quốc hải dương trước sức mạnh độc bá của Hoa Kỳ, võ khí này của Trung Quốc có thể bảo vệ vùng biển cận duyên, từ lãnh thổ ra Hoàng hải, Đông hải hoặc xa lắm là Đông hải của Việt Nam. Đấy là lý thuyết.

Nhưng muốn từ vành đai đầu tiên mà tiến ra Thái bình dương, ám khí dưới biển của Bắc Kinh phải lách qua hai dàn phòng ngự là chuỗi hải đảo Ryu Kyu giữa Nhật Bản và Đài Loan và eo biển Luzon giữa Đài Loan và Phi Luật Tân. Đây là hai yết hầu dưới biển vẫn do Hoa Kỳ kiểm soát để bảo vệ quyền tự do giao lưu ngoài biển Đông.

Nhưng tầu ngầm Trung Quốc chưa có khả năng di chuyển ngầm – mà ít gây tiếng động – khi tiến tới vùng biển nằm sâu hơn, ở bên ngoài của thềm lục địa. Vì thế Bắc Kinh không muốn trực diện xung đột với Hoa Kỳ. Chỉ mong là sẽ chậm rãi kiểm soát được vùng biển cận duyên và gây ngần ngại nếu như Hoa Kỳ có muốn hay có phải can thiệp.

Việc Trung Quốc xây dựng lực lượng hải quân lớn mạnh đã khởi sự 10 năm sau cải cách kinh tế. Ngày nay, mục tiêu bành trướng của Bắc Kinh trở thành tinh vi và có trọng tâm là khống chế Đông hải như một vùng trái độn quân sự mà khỏi phải dụng binh.

Khu vực gọi là "Đông hải" này có hai phần Nam/Bắc.

Phía Bắc là biển Đông của Trung Quốc, kéo dài từ lãnh thổ Nga qua bán đảo Triều Tiên, biển Nhật Bản xuống tới Eo biển Đài Loan và dãy đảo Lưu Cầu hay Ryu Kyu của Nhật, trong đó có Senkaku hay Điếu Ngư Đài mà Nhật Bản và Trung Quốc đều đòi chủ quyền (cùng Đài Loan) và hiện do Nhật Bản kiểm soát. 

Phía Nam, là biển Đông của Việt Nam, có vùng biển Đông Nam Á. Vượt qua biển Đông Nam Á thì mới đến biển Phi Luật Tân và Thái bình dương. Đông hải của Việt Nam nối liền Thái bình dương với Ấn Độ dương và là khu vực sinh tử của Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan phía Bắc với lãnh hải của Úc Đại Lợi ở phía Nam. Đây cũng là nơi sinh sống của gần 600 triệu dân Đông Nam Á, trong đó có nguồn thủy sản và cả dầu khí thiết yếu cho gần 90 triệu người Việt.

Nhiều người cho rằng nếu Trung Quốc coi Đông hải là khu vực chiến lược của họ thì cũng chẳng khác gì Hoa Kỳ đã từng xem  đại lục Mỹ Châu là khu vực ảnh hưởng của Mỹ, theo lý luận của "Chủ thuyết Monroe" từ đầu thế kỷ 19 dưới thời Tổng thống James Monroe.

Thật ra, chủ thuyết ấy nhắm vào hai khía cạnh tích cực và tiêu cực. Sau hàng loạt cuộc chiến thời Napoléon, Hoa Kỳ không muốn can dự vào chuyện Âu Châu và thứ hai cũng không muốn các nước Âu Châu mở thêm thuộc địa tại Trung Nam Mỹ. Về sau, khái niệm đó được thu gọn thành "Mỹ châu là của người Mỹ". "Người Mỹ" ở đây là Hoa Kỳ. Trung Quốc ngày nay cũng có thể lý luận trên các diễn đàn quốc tế rằng "Á Châu là của người Á" với hàm ý là không của Hoa Kỳ.

Chỉ nội lập luận đó đã nói lên mâu thuẫn tất yếu: Hoa Kỳ khẳng định rằng mình là quốc gia Châu Á và bảo vệ quyền lợi của Mỹ tại Á Châu là mục tiêu chiến lược.

Hệ quả thứ hai của "chủ thuyết Monroe - với màu sắc Trung Hoa", rằng Á Châu là của người Á, còn đụng vào một thực tế khác tại Châu Á. Về địa dư, Á châu bao gồm các nước Tây Á như Iran hay Saudia Arabia qua tới Viễn Đông, như Nga, Đại Hàn, Nhật Bản, và bao trùm bán đảo Nam Á của Ấn Độ đến các quốc gia quần đảo hay bán đảo tại Đông Nam Á. Trong một chuỗi dài như vậy, Á Châu là của người Á nào?

Nói cách khác, Á châu có thể là của người Á, mà không thể là của người Trung Hoa. Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác tất nhiên cũng đồng ý như vậy! Các nước này đều tham gia thao dượt RIMPAC.

Một khía cạnh chiến lược khác là nếu ngoài Đông hải của Trung Quốc, lãnh đạo Bắc Kinh gặp bốn nước có khả năng đương cự là Nga, Nam Hàn, Đài Loan và Nhật Bản, thì tại Đông hải của Việt Nam, họ gặp các nước nhỏ yếu hơn, đó là 10 quốc gia trong Hiệp hội ASEAN. Vì thế, chiến lược Đông hải của Trung Quốc tất nhiên nhắm vào Đông Nam Á, gây ảnh hưởng tới 10 nước trong nhóm ASEAN. Đa số trong nhóm này lại là đồng minh hay đối tác của Hoa Kỳ.

Đấy là bối cảnh chung trên mặt biển. Dưới đáy sâu tình hình còn phức tạp hơn vậy.

Hoa Kỳ là siêu cường đại dương từ trăm năm. Hàng không mẫu hạm đầu tiên được Mỹ hạ thủy trăm năm trước khi hải quân Bắc Kinh thử nghiệm "tầu sân bay" Varyag mua lại của Ukraine. Hoa Kỳ cũng thường xuyên lâm chiến ở mọi nơi trong mọi hình thái chiến tranh và có kinh nghiệm chiến trường hơn hẳn mọi quốc gia khác trên địa cầu. Tướng lãnh Hoa Kỳ đều là sĩ quan lên lon là từ thành tích tác chiến và tổ chức hay chiến lược, chứ không từ các tiêu chuẩn vu vơ, như đảng tịch, hay sắc tộc. Sau chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc chỉ có kinh nghiệm quân sự là uy hiếp Việt Nam trong các năm 1974, 1979 và 1988.

Kết hợp với sức mạnh kinh tế và khả năng kỹ thuật từ cả trăm năm, Hoa Kỳ là quốc gia không đối thủ ngoài đại dương, trên không gian và dưới đáy biển. Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng hoặc đưa quân vào kiểm soát Trung Quốc như Nhật Bản đã làm và thất bại. Siêu cường này chỉ cần bảo vệ quyền tự do và ưu thế của mình trên các đại dương, và dĩ nhiên ngoài Đông hải của Trung Quốc và Đông hải của Việt Nam.

Trước một đối phương như vậy, Trung Quốc không dại gì mà trực diện thách đố, gây hấn hay tấn công trong một cuộc chiến tất bại ở ngoài đại dương.

Lãnh đạo Bắc Kinh chỉ muốn cản trở sự xâm nhập của Hoa Kỳ ở ngoài biển và ngăn ngừa sự khống chế của Mỹ trên không gian. Họ nhắm vào hai mục tiêu "cản trở" và "ngăn ngừa" (Ngũ Giác Đài gọi tắt là A2/AD, anti-access/area denial), nhưng với điều kiện là không bị thiệt hại. Họ thực hiện mục tiêu có điều kiện ấy qua nhũng tính toán về lẽ hơn thiệt: làm sao cho Hoa Kỳ cân nhắc lợi hại và e ngại tổn thất mà chấp nhận sự hiện diện của Trung Quốc ngoài biển.

Do không thể trực diện đối đầu ngoài biển và trên không gian, Trung Quốc đi ngầm ở dưới: dùng tiềm thủy đĩnh làm sức mạnh gián chỉ.

Vì lối tính toán ấy, Hải quân Trung Quốc ngày nay có lực lượng tiềm thủy đĩnh cổ điển lớn nhất thế giới, chạy bằng dầu cặn, diesel và vài tầu ngầm chạy bằng năng lượng hạch tâm và cốcải tiến loại cổ điển bằng sức đẩy của phản lực để có thể nằm lâu hơn dưới đại dương. Hải quân Trung Quốc hiện đã có 60 tầu ngầm đủ loại và muốn nâng số này lên 75 trong thập niên tới.

Nhưng nằm im dưới biển để làm gì nếu không có khả năng tấn công để can gián và cấm chỉ?

Khả năng đó là loại phi đạn đối hạm ASBM, Anti Ship Ballistic Missile, là dùng ám khí từ đáy biển để phục kích chiến hạm Mỹ. Nếu các ám khí này lại mang đầu đạn nguyên tử thì ưu thế của các hạm đội Mỹ có thể bị triệt tiêu. Các nhà nghiên cứu quân sự đều đang tìm hiểu khả năng này của Hải quân Trung Quốc.

Vì thế, cùng với cách dàn trận trên mặt đất hay xây dựng các đơn vị loại Hải quân Công xưởng ngoài biển Đông Nam Á là chuyện đang xảy ra, Trung Quốc cũng bố trí phương tiện dưới đáy biển. Và cần tìm hiểu xem Hoa Kỳ biết được tới đâu và sẽ làm những gì để chống trả phục binh của mình.

Đấy là trận đánh về tình báo và kỹ thuật không gây tiếng nổ đang tiến hành dưới đáy đại dương.

Tuy nhiên, một hệ thống quân sự thống nhất lại gồm có không gian ba chiều, trên không, ngoài biển và dưới đáy biển, với sự phối hợp chặt chẽ về thông tin, điều động và tác chiến. Vệ tinh, tầu ngầm hay hỏa tiễn gì thì cũng do con người điều khiển căn cứ trên nhận thức và tổ chức với những phương tiện hiện đại nhất mà cũng phải là bí mật nhất. Hoa Kỳ đã có cả trăm năm đào luyện, Trung Quốc mới chỉ bắt đầu và sớm lắm thì phải một thế hệ nữa mới làm ra trò. Trong khoảng thời gian đó, Hoa Kỳ không ngồi yên.

Duy nhất có một ưu thế của Trung Quốc là tâm lý của Hoa Kỳ, thường hay lạc quan tếu rồi hốt hoảng bậy và cãi nhau lung tung về ưu tiên.

Bên lề cuộc thao dượt RIMPAC có cuộc tranh luận về ngân sách quốc phòng. Lồng bên trong là ngân sách trang bị cho Hải quân.

Khi đã quyết định đưa 60% lực lượng Hải quân vào Thái bình dương, giới chức Hoa Kỳ và các nhà chiến lược ưa nói đến thuở vàng son là khi nước Mỹ có 600 chiến hạm vào thời Tổng thống Ronald Reagan. Hiện nay, Hải quân Mỹ có 284 đơn vị và thực tế chỉ có 250 chiến hạm có khả năng ứng chiến! Hoa Kỳ sa sút?

Một đề tài gây tranh luận khác là so sánh tương quan lực lượng. Từ năm 2000, so với Mỹ thì Hải quân Trung Quốc đã thiết kế tầu ngầm nhiều gấp bốn lần, và qua năm 2005 thì gấp tám. Trong khi ấy, Hải quân Mỹ mất dần khả năng tấn công tiềm thủy đĩnh và sẽ thua sút Trung Quốc. Nghĩa là lồng trong cuộc tranh luận về tiết giảm công chi để quân bình ngân sách, hình như nước Mỹ đang bật ra tín hiệu là sắp vỡ nợ nên phải cắt bớt quân phí!

Nhưng nếu nhìn từ Trung Quốc với tâm lý đa nghi và cũng do những tính toán về quyền lực của các đảng viên và tướng lãnh trước Đại hội 18, nhiều người lại không nghĩ vậy. Biết đâu đó chỉ là âm mưu giả yếu của lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ!

Phải chăng Hoa Kỳ đang tỏ vẻ yếu thế và tạo cơ hội cho Bắc Kinh có thái độ cương cường hơn như thế giới càng ngày càng thấy rõ. Thái độ ấy sẽ thuyết phục các nước ASEAN cùng nghĩ lại.... Nên hòa giải với Trung Quốc hay hòa hợp với Hoa Kỳ? 
 
Chúng ta có thể hiểu nội dung và mục tiêu chuyến Á du của Ngoại trưởng Hillary Clinton trong tinh thần đó. Tha hồ mà suy diễn!
 

Thứ Năm, tháng 7 12, 2012

Ngợi Ca Tư Bản Chủ Nghĩa

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120711

Những Nghịch Lý Về Chủ Nghĩa Tư Bản Và  Ngộ Nhận Về Chủ Nghĩa Xã Hội 





* AFP photo - Tấm biển ghi Có Những Lựa Chọn Thay Thế Cho Chủ Nghĩa Tư Bản 
tại các cuộc biểu tình bên ngoài nhà thờ St Paul ở London, ngày 25 tháng 2, năm 2012 *


Trên thế giới ngày nay, người ta đang chứng kiến một nghịch lý. Các quốc gia từng thiết lập và theo đuổi chủ nghĩa tư bản từ nhiều thế kỷ đều bị suy yếu về kinh tế, ngược lại, một số quốc gia đang phát triển hình như đã tiếp thu kinh nghiệm của các nước đi trước và đạt kết quả kinh tế tốt đẹp hơn, với vai trò trọng yếu hơn của nhà nước. Diễn đàn Kinh tế nêu vấn đề về lý luận và thực tế này với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa của đài Á châu Tự do và sau đây là phần giải đáp khá bất ngờ của ông.


"Liên Minh của sự Sợ hãi" 


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, từ hơn trăm năm nay, người ta cứ nghe nói đến sự tiêu vong tất yếu của tư bản chủ nghĩa theo các lý luận phổ biến nhất của Karl Marx hay những người tự xưng là "Mác-xít". Sự thật thì các nước đi theo chủ nghĩa tư bản đều phát triển mạnh và thường xuyên cải tiến hay điều chỉnh sau mỗi đợt khủng hoảng. Trong khi ấy, giải pháp tập trung quản lý theo kế hoạch của nhà nước lại thất bại và các nước cộng sản đều bị khủng hoảng và chế độ chính trị sụp đổ, đó là biến cố long trời lở đất đã xảy ra hai chục năm trước tại Liên bang Xô viết và các nước Cộng sản Đông Âu.

Thế rồi, sau thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, hàng loạt quốc gia tiên tiến trong khối tư bản lại bị khủng hoảng kinh tế, như tại Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Âu Châu. Trong khi đó, các nước đang phát triển mà áp dụng một hình thái tư bản chủ nghĩa khác, với vai trò chủ đạo về lý luận và lãnh đạo về quản lý của nhà nước, lại đạt thành quả ngoạn mục hơn. Vì vậy, người ta mới nói đến hình thái tư bản nhà nước như một giải pháp phát triển hấp dẫn, nhất là cho các nước nghèo. Vì các vấn đề khá cơ bản về lý luận lẫn thực tế, chúng tôi xin đề nghị là kỳ này, chúng ta sẽ cùng trao đổi về việc đó để làm sáng tỏ một số điểm. Ông nghĩ sao về đề nghị này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng đây là một đề tài hấp dẫn và cần thiết, nhất là để làm sáng tỏ một số ngộ nhận về lý luận. Cũng xin nói ngay từ đầu là tôi vẫn sẽ nói ngược để ngợi ca tư bản chủ nghĩa! Vấn đề là cần hiểu rõ về định nghĩa và thống nhất là ta đang nói về chuyện gì.

- Trước hết, trên thế giới hiện nay, chúng ta đã thấy xuất hiện một "liên minh của sự sợ hãi", giữa một số quốc gia đang nổi lên mà đứng đầu là Trung Quốc. Theo sau là Liên bang Nga cùng vài chế độ độc tài khác, như Bắc Hàn, Iran, Syria, Venezuela và cả Việt Nam. Các quốc gia này có thể viện dẫn một số thành quả kinh tế nhất định để chứng minh rằng lãnh đạo có lý lẽ chính đáng khi cầm quyền một cách tuyệt đối. Cái lẽ chính đáng ấy có thể là đà tăng trưởng cao hoặc sự ổn định chính trị khiến nhà nước lấy được nhiều quyết định cần thiết mà có lợi cho người dân. Sự thật lại hơi khác vì đấy là một liên minh thực tế của các chế độ bất ổn và đang sợ bị sụp đổ. Nhưng nhiều người lại không thấy ra sự thể khách quan này vì một ngộ nhận khác.

Vũ Hoàng: Ông vừa muốn ngợi ca chủ nghĩa tư bản lại vừa nói đến sự bất ổn và thậm chí sợ hãi của một số quốc gia đang có cái vẻ ổn định hoặc đã đạt một số thành tích kinh tế. Chúng ta sẽ trở lại chuyện này. Nhưng ông cũng nói đến một ngộ nhận khác. Thưa ông, ngộ nhận đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng ngộ nhận đó là các nước tư bản đều đang bị khủng hoảng và đây là sự khủng hoảng tất yếu của chủ nghĩa tư bản mình đã từng nghe nói đến từ khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lenin. Nói vắn tắt thì người ta lầm tưởng rằng sau khi chế độ tập trung quản lý bằng kế hoạch nhà nước bị sụp đổ cùng hệ thống tổ chức cộng sản, nhiều quốc gia khôn ngoan áp dụng phương pháp tư bản nhưng theo định hướng của nhà nước và chế độ tư bản nhà nước mới là giải pháp. Sự lầm lẫn ở đây nằm trong định nghĩa sai lạc về tư bản chủ nghĩa rồi sự ngộ nhận còn tai hại hơn, đó là ưu thế không hề có của chế độ tư bản nhà nước. Nó chỉ là chế độ "tư bản thân tộc" của tay chân nhà nước, một chế độ bất công và không bền.



000_DV1068833-200.jpg
Một người biểu tình đeo cây thánh giá với dòng chữ Chủ Nghĩa Tư Bản Là Chết tại Frankfurt hôm 29/10/2011. AFP photo


Vũ Hoàng: Chúng ta sẽ bắt đầu bằng phần giải thích của ông về định nghĩa sai lạc về chủ nghĩa tư bản. Nó sai lạc ở chỗ nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sai lạc đầu tiên xuất phát từ cách đánh giá sai lý luận cơ bản của kinh tế gia Adam Smith, người được coi là cha đẻ của tư bản chủ nghĩa, qua những gì ông ta viết từ cuối thế kỷ 18, trước Karl Marx cả trăm năm. Người ta đánh giá sai vì lầm tưởng rằng Adam Smith hoặc cả tư bản chủ nghĩa nằm trên một động lực duy nhất là lợi nhuận.

- Vì lầm lẫn đó, người ta dời đổi mục tiêu từ khoa học qua luân lý với nội dung phê phán chủ nghĩa tư bản là dựa trên lòng tham của con người. Một chế độ xác lập trên máu tham là chế độ đáng ghét về đạo lý. Và nếu nó lại tất yếu sụp đổ vì những lý luận có vẻ khoa học của Marx thì chủ nghĩa Mác Lênin hoặc chủ nghĩa xã hội tất nhiên là có giá trị hơn.

Trên thế giới hiện nay, chúng ta đã thấy xuất hiện một "liên minh của sự sợ hãi", giữa một số quốc gia đang nổi lên mà đứng đầu là Trung Quốc.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

- Sự lầm lẫn ở đây xuất phát từ một điểm căn bản trong lý luận của Adam Smith. Ông ta khách quan nhận định rằng con người ta có một động lực quan trọng trong đời sống, là lợi ích cá nhân hay tư lợi mà nhiều người hời hợt gọi là máu tham hoặc sự ích kỷ. Khái niệm về tư lợi thật ra không đơn giản như vậy vì ước muốn được người khác trọng vọng, thí dụ như chữ "danh" của Đông phương, cũng là tư lợi. Việc thu thập tiền tài để làm việc từ thiện cũng là một loại tư lợi.

- Nhưng, trên cơ sở của tư lợi, chủ nghĩa tư bản mà Adam Smith đề cao và báo trước là hệ thống định chế, là các cơ chế chi phối quyết định của con người trong tập thể. Quan trọng nhất trong các định chế này là quyền tư hữu, là người dân có quyền làm chủ tài sản của mình và nhà nước phải bảo vệ quyền tư hữu đó.

- Song song, Adam Smith cũng tiên báo một hiện tượng sau này người ta mới hiểu ra và ngày nay ai cũng thấy. Đó là vì tư lợi mà nhiều người muốn tiến tới chế độ độc quyền và dùng loại lý luận về đạo lý để bảo vệ cái thế độc quyền đó. Lý luận tiêu biểu nhất chính là công bằng xã hội. Vì yêu cầu công bằng xã hội mà nhà nước nên và cần can thiệp để nâng đỡ hay bảo vệ thành phần này hoặc thành phần khác. Chính là sự can thiệp có vẻ đạo đức và chính đáng ấy mới làm lệch lạc sự vận hành bình thường của thị trường và gây ra vấn đề kinh tế. Và hậu quả nối tiếp là gây ra vấn đề xã hội và chính trị. Nói vắn tắt lại, tư bản chủ nghĩa theo cái nhìn nguyên thủy của Adam Smith là một hệ thống giá trị về văn hóa chứ không đơn giản là chuyện theo đuổi tư lợi!

 

Chủ nghĩa Tư bản

 

Vũ Hoàng: Thưa ông, đó là về lý luận. Chứ về thực tế và đối chiếu với hoàn cảnh ngày nay của nhân loại thì chủ nghĩa tư bản đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói rằng chủ nghĩa tư bản là một hệ thống văn hóa và có giá trị về đạo lý thì có vẻ ngược ngạo nhưng sự thật là như vậy. Đó là nhà nước phải bảo vệ quyền tư hữu, phải đảm bảo khả năng thực thi các hợp đồng của người dân với nhau và không cho phép bất cứ ai nhân danh bất cứ điều gì mà can thiệp vào quyền quyết định của người khác. Vì thế, tư bản chủ nghĩa chỉ có thể phát triển trong một chế độ dân chủ là nơi mà mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau trước luật pháp do đại diện của mình thiết lập ra.

- Bây giờ ta đi vào thực tế và tôi xin lấy một thí dụ rất cụ thể đã được nói tới ở Việt Nam và nơi khác.

- Hiển nhiên là nhà nước có nhiệm vụ làm ra chính sách kinh tế có lợi cho việc tuyển dụng và đẩy lui nguy cơ thất nghiệp. Nhưng nhà nước không có nhiệm vụ tạo ra công ăn việc làm. Nói vậy thì có người thấy là chướng. Tôi xin nói thêm một điều chướng tai khác nữa, là doanh nghiệp cũng không có nhiệm vụ tạo ra việc làm. Nhà nước không thể là một cơ quan xã hội có nhiệm vụ tìm việc và tư doanh cũng chẳng là một trung tâm lao động có chức năng tuyển dụng.

- Nhà nước có nhiệm vụ và yêu cầu về chính sách là tạo điều kiện cho tư doanh được làm ăn dễ dàng để theo đuổi lợi nhuận. Tư doanh có quyền theo đuổi lợi nhuận và phải chấp nhận rủi ro trên doanh trường chứ không được đòi hỏi nhà nước bênh vực hay bảo vệ. Việc bênh vực hay bảo vệ đó chỉ khiến nhà nước can thiệp vào doanh trường, nâng đỡ thành phần nay hay thành phần khác và vô hình chung giúp cho một số cơ sở kinh doanh chiếm ưu thế trên các cơ sở khác. Thế rồi, trong tiến trình truy tìm lợi nhuận, tư doanh mới tạo ra việc làm. Càng sản xuất có lời thì càng tuyển thêm người và kết quả là đẩy lui nguy cơ thất nghiệp.

Vũ Hoàng: Ông vừa nêu ra một nghịch lý quả thật là hơi chướng tai, nhưng nghe ra thì hình như cũng có cơ sở. Ông giải thích chuyện này cho rõ ràng hơn được không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa:
- Trong một tiền kiếp của bản thân tôi, khi còn là nhân viên của một ngân hàng phát triển cách nay gần bốn chục năm, tôi vẫn thẩm định giá trị các dự án đầu tư của tư doanh và một trong các tiêu chuẩn đó là đánh giá xem dự án này sẽ tạo ra bao nhiêu việc làm.

- Sau này mình mới biết là sai nếu dùng tiêu chuẩn đó để thanh lọc dự án. Lý do là nếu lấy tiêu chuẩn "tạo ra việc làm" thì dự án xây dựng Vạn lý Trường thành của Trung Hoa có giá trị nhất. Hoặc nếu nói theo một kinh tế gia nổi tiếng của Thế kỷ 20 là ông Milton Friedman, một dự án đào kinh có thể có giá trị tuyển dụng lao động rất cao nếu thay vì dùng máy móc hay cuốc xẻng, người ta dùng muỗng nĩa hoặc tay không để đào đất. Theo phương pháp đó thì dự án thủy lợi này tạo ra cả triệu việc làm. Nhưng đó là một dự án có giá trị kinh tế rất thấp và là một sự lãng phí.

- Bây giờ ta tiến xa hơn một chút mà nói đến việc sản xuất thiết bị, khiến những người đào đất bằng tay bị mất việc và phải đi tìm việc khác. Nhưng việc sản xuất đó cũng khiến nhiều người có việc làm mới trong suốt quy trình chế biến sắt thép, thiết kế rồi vận chuyển và bảo trì máy móc.



000_DV1104358-200.jpg
Thủ tướng Anh David Cameron nói về trách nhiệm của Chủ nghĩa Tư bản và nền kinh tế tại New Zealand House ở London ngày 19 tháng 1 năm 2012. AFP photo


Vũ Hoàng: Ông vừa nêu ra một thí dụ lý thú và cũng gián tiếp nói đến vai trò của nhà nước trong một yêu cầu lao động có vẻ chính đáng mà lại gây ra hậu quả lãng phí.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và tôi xin nói đến một trường hợp khác để khỏi bị hiểu lầm là mình theo "chủ nghĩa phục Mỹ"!

- Quãng ba chục năm trước, người Mỹ hốt hoảng vì sự suy sụp của kỹ nghệ thép trước sự lớn mạnh của ngành thép Nhật Bản hay Nam Hàn. Vì yêu cầu bảo vệ việc làm cho công nhân ngành thép, nhà nước mới can thiệp vào thị trường và đánh thuế trên thép nhập khẩu. Nhờ vậy mà Hoa Kỳ đã "cứu được" 5.000 công việc. Nhưng cũng vì vậy mà thép lên giá và gây thiệt hại cho các nhà sản xuất Mỹ cần thép trong tiến trình sản xuất của họ. Sự thiệt hại đó khiến kinh tế Mỹ mất một số việc cao gấp năm con số công việc nói là được cứu trong ngành thép. Và kết quả là doanh nghiệp Mỹ tìm cách đầu tư ra ngoài, tạo ra việc làm cho thợ thuyền xứ khác, dụ như Trung Quốc hay Việt Nam.

Nhà nước có nhiệm vụ và yêu cầu về chính sách là tạo điều kiện cho tư doanh được làm ăn dễ dàng để theo đuổi lợi nhuận.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

- Một thí dụ nóng hổi khác là Đạo luật Canh nông của Hoa Kỳ, năm năm lại duyệt xét một lần và vừa được tái tục. Vì mục tiêu xã hội rất cao đẹp là bảo vệ nông gia, Đạo luật này lại gây thiệt thòi cho nhiều thành phần khác ở tại Hoa Kỳ, và nhất là cho nông gia của xứ khác. Đây không là một biểu hiện của tư bản chủ nghĩa mà chỉ là xã hội chủ nghĩa trá hình với hậu quả bất ngờ là lại gây ra bất công xã hội mà ít người nhìn ra.

- Cũng xin nói thêm là ta nên hoài nghi loại chữ như "xã hội chủ nghĩa" vì trong thế kỷ 20, nó dẫn tới hai tai họa trái ngược mà tàn khốc như nhau là chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội quốc gia của Đức quốc xã, nghĩa là chủ nghĩa phát xít. Loại "xã hội chủ nghĩa" lý tưởng này là một bước tiến tới "chủ nghĩa tư bản nhà nước" với hậu quả tất yếu là "chủ nghĩa tư bản thân tộc", chủ nghĩa tư bản phe phái và là một sự bất công khác.

Vũ Hoàng: Phải chăng ta có thể đi tới kết luận ở đây rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước không là chủ nghĩa tư bản mà chỉ là sự bất công được định chế hóa bằng luật lệ của đảng cầm quyền?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đúng như vậy thưa ông. Chủ nghĩa tư bản nhà nước có sự hấp dẫn của nó, nhưng dẫn đến chủ nghĩa tư bản thân tộc. Tức là những kẻ có chức có quyền can thiệp vào thị trường để nâng đỡ thân tộc hay phe đảng của mình và đi ngược đạo lý nguyên thủy của tư bản chủ nghĩa. Các nước dân chủ cũng bị nguy cơ tư bản thân tộc khi nhiều nhóm thế lực tác động vào chính quyền để bênh vực hay bảo vệ phe phái của mình. Nhưng nhờ quy luật dân chủ, hiện tượng đó có thể bị giới hạn hoặc đẩy lui và thường xuyên bị báo chí phanh phui.

- Tại các nước không có dân chủ, nhà nước có thể nhân danh lý tưởng xã hội chủ nghĩa để thiết lập chế độ tư bản nhà nước mà thực chất vẫn là bao che cho thân tộc, phe phái hoặc những ai có quan hệ với đảng viên cán bộ của đảng. Ta đang chứng kiến việc đó tại Trung Quốc và Việt Nam hoặc Liên bang Nga hay Venezuela. Chẳng phải ngẫu nhiên mà đấy cũng là nơi xuất phát ra những lập luận đả kích hoặc xuyên tạc tư bản chủ nghĩa.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn lý thú và đầy nghịch lý này.  

Thứ Ba, tháng 7 10, 2012

Một Hố Sâu Sâu

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120709
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Thất Nghiệp Còn Cao, Vực Thuế Còn Sâu...


 
* Tỷ lệ thất nghiệp “U6” từ sau nạn suy trầm kinh tế 2009 
(Hình: Người Việt, nguồn dữ liệu: Bureau of Labor Statistics) *


Từ Adam Smith vào năm 1776, người ta đã biết kinh tế cũng là chính trị. Khoa "Kinh tế chính trị học" xuất phát từ đó. Tai họa kinh tế năm tới cũng xuất phát từ chính trị của mấy năm qua.

Nhưng xin nói về thời sự đã: thất nghiệp còn cao và triển hạn giảm thuế thêm một năm.

Thứ Sáu mùng sáu, thống kê của Bộ Lao Động xối phẩm đỏ vào thị trường cổ phiếu. Hôm nào mà cổ phiếu rơi quá 1% thì ta biết là có biến. Hôm đó, thị trường mở cửa là rớt thẳng đứng, cuối ngày vẫn bò dưới đáy, chỉ số S&P500 mất 0,94%. Qua Thứ Hai mùng chín, thị trường Á Châu cũng vậy, Âu-Mỹ-Á gì đều sụt. Truyền thông đã loan tin này nên xin khỏi nhắc lại.

Sâu xa hơn, do dân số gia tăng, mỗi tháng kinh tế Mỹ phải tạo thêm cỡ 125.000 công việc thì mới không gây thêm thất nghiệp. Với mức thất nghiệp hiện là 8,2%, số việc làm phải gấp đôi thì mới khá. Ba tháng đầu năm, mọi người đều hồ hởi vì trung bình mỗi tháng có thêm 226 ngàn việc mới.

Nhưng suốt Quý II, tình hình bỗng dưng u ám, trung bình mỗi tháng chỉ thêm có 75 ngàn việc. Giới kinh tế không lạc quan nên dự báo số việc làm trong Tháng Sáu chỉ ở mức 95-100 ngàn. Thực tế còn bi đát hơn: số việc làm mới chỉ tăng 80 ngàn. Thà trả giờ phụ trội hay tuyển người bán thời chứ các doanh nghiệp đều chưa bung ra. Với cơn sốt thời tiết khiến nhiều tiểu bang mất điện trong mấy ngày liền, hậu quả sẽ lạnh mình cho nạn thất nghiệp trong Tháng Bảy, được thông báo sáng Thứ Sáu mùng ba tháng tới.

Nếu tìm hiểu nội dung của thống kê nhân dụng, người ta biết sáu loại chỉ số từ U1 đến U6, trong đó "thất nghiệp chính thức" do Văn phòng Thống kê Lao động của Bộ Lao động thông báo mỗi Thứ Sáu đầu tháng là chỉ số U3. Giới kinh doanh và hữu trách về kinh tế thì không hời hợt như vậy, họ chú ý đến chỉ số U6. U Sáu là cái gì vậy?

Đó là U3 cộng thêm số "lao động nản chí" (discouraged workers - hết muốn tìm việc), thêm "người ơ hờ tìm việc" (marginally attached workers), thêm số "lao động bán thời dù cần việc toàn thời" (part time workers who want full time job, tức là "thất nghiệp trá hình"). Ba lần cộng như vậy thì ra chỉ số U6, là con số thật về nạn khiếm dụng, hiện ở mức đáng ngại là 14,9%.

Trở lại chuyện thống kê hôm Thứ Sáu, lập tức các chính khách nhảy vào bình loạn. Từ Tổng thống Barack Obama đến ứng cử viên Mitt Romney bên Cộng Hoà và các dân biểu nghị sĩ. Bài này không viết về lập luận chống chế hay đả kích của đảng cầm quyền và đối lập. Chính trị lẽ thường, ai cả tin thì ráng chịu! Nhưng lại xin giới thiệu "Trung tâm Annenberg về Chính sách Công quyền" trong Phân khoa Báo chí của Đại học Pennsylvania và FactCheck.org của họ.

Từ năm 2003, Trung tâm này mở ra dự án kiểm chứng các lập luận chính trị về mọi chuyện ở cấp liên bang, tiểu bang và địa phương để khách quan xác định thực tế đúng sai so với những phát biểu hay tuyên truyền của chính khách. Người viết thường xuyên tham khảo chương trình này, và mỉm cười khi thấy có loại truyền thông loan tin như loài anh vũ - con vẹt.

Một thí dụ nóng tuần qua là việc FactCheck.org phê phán lời cáo buộc của Ban tranh cử Obama trên truyền hình về ứng cử viên Romnney là quá đáng và thiếu cơ sở. Ban tranh cử Obama bèn phản pháo mà chẳng trưng thêm chứng cớ nên bị quạt lại cho bẽ mặt. Nền dân chủ tuyệt vời của Hoa Kỳ khi một cơ quan độc lập lại lật mặt nạ của những kẻ quyền thế! Quý độc giả có thể kiểm lại chuyện đó và truyền thông cũng nên tìm hiểu và lâu lâu dịch lại cho độc giả thấy rõ thực hư.

Chúng ta khỏi bàn gì thêm, chỉ tin là sự am hiểu tối thiểu của người dân về kinh tế và trình độ của báo chí có góp phần nâng cao giá trị của nền dân chủ. Bài viết trở lại vấn đề đã nêu hôm 26 Tháng Sáu ("Treo Trên Bờ Vực" - Kinh Tế Lại Suy Trầm Nữa"?) Vực thuế này là gì? Hậu quả sẽ ra sao?

Tính cho tròn, một năm, kinh tế Hoa Kỳ sản xuất thêm khoảng 15 ngàn tỷ đô la. Năm tới, nền kinh tế đó bị hai mối nguy song hành, tăng thuế và giảm chi.

Về thuế, lý do là mùng một Tháng Giêng, hai đạo luật giảm thuế 2002 và 2003 của Chính quyền George W. Bush sẽ mãn hạn cùng đạo luật miễn thuế trung lưu của Chính quyền Barack Obama. Cỡ 80% các hộ gia đình sẽ đóng thuế nhiều hơn, trung bình là trên 3.700 đô la. Về công chi, ngân sách quân sự và dân sự, kể cả Medicare, tự động bị cắt trăm tỷ.

Nội năm tới, hai mối họa này sẽ vượt 600 tỷ, làm sản lượng kinh tế sụt 4%. Với đà tăng trưởng ở dưới 2%, nếu sụt thêm 4% thì kinh tế tất nhiên suy trầm, chưa nói gì đến hiệu ứng Âu-Á-Tầu.

Đó là kịch bản Fiscal cliff hay Taxmageddon - Tận thế vì thuế - khi đa số được ít hơn mà trả nhiều hơn các sắc thuế như lợi tức, cổ tức, thặng giá đầu tư và thuế thổ trạch.

Nguyên do xương tủy là Hoa Kỳ đã tăng chi rồi đi vay quá nhiều. Mỗi năm bội chi thêm hơn ngàn tỷ và mức công trái đã lên tới 70% Tổng sản lượng. Không hãm đà thì công trái sẽ gấp đôi Tổng sản lượng vào năm 2037. Nếu không giảm chi mà cứ chỉ tăng thuế thì Hoa Kỳ sẽ đuổi kịp Âu Châu.

Từ ba năm qua, Quốc hội và Hành pháp không đạt giải pháp lâu dài cho vấn nạn đó mà cứ thoả hiệp ngắn hạn. Lần cuối là đầu Tháng Tám năm ngoái khi Quốc hội cho nâng định mức đi vay, với điều kiện giảm chi 2.000 tỷ trong 10 năm tới, nếu không, thủ tục tăng chi tự động áp dụng. Và đôi bên, trong cả hai đảng, vẫn bất đồng về triển hạn giảm thuế hay nâng thuế suất của một số thành phần. Kết quả là bẫy xập sẽ tự động đưa kinh tế vào suy trầm, và đẩy mạnh thất nghiệp.

Trong trận đấu chỉ toàn những đòn ngắn, quan điểm của đôi bên là gì?

Đảng Cộng Hoà đề nghị vĩnh viễn giảm thuế để thúc đẩy tăng trưởng, đồng thời giảm chi một số mục để tiến tới quân bình ngân sách. Hành pháp Obama và đảng Dân Chủ hiện kiểm soát Thượng viện thì chỉ muốn giảm thuế thành phần trung lưu, một hộ có hai lợi tức không quá 250 ngàn một năm, và rất dè dặt với yêu cầu giảm chi. Sáng Thứ Hai mùng chín, ông Obama đề nghị triển hạn giảm thuế cho thành phần trung lưu, nhưng chỉ một năm thôi. Vẫn câu giờ và sẽ bị đối lập phản bác: người ta không lập hãng xưởng và tuyển người nếu được miễn thuế có một năm.

Cái thế "cài răng lược" hiện nay chỉ chấm dứt sau khi có kết quả bầu cử, ngày sáu Tháng 11.

Nếu Romney thắng cử và Cộng Hoà kiểm soát luôn lưỡng viện thì biện pháp giảm thuế sẽ tiếp tục, do Tổng thống Romney ban hành sau khi nhậm chức hôm 20 Tháng Giêng, với giá trị hồi hiệu từ mùng một. Bên Cộng Hoà cũng sẽ đẩy mạnh việc giảm chi, và cải tổ chế độ thuế vụ lẫn quỹ An sinh Xã hội và Trợ cấp Y tế Medicare.

Nếu Obama tái đắc cử, đảng Dân Chủ có thể hủy luôn việc hạ thuế của Bush và đề nghị tăng thuế nhà giàu, giảm thuế thành phần trung lưu và giữ lại một số mục công chi. Nhưng, chỉ giảm chi một phần như bên Cộng Hoà đòi hỏi nếu thương thuyết lại việc cải tổ quỹ An sinh và Y tế.

Thương thuyết ra sao? Vấn đề là cái thế mạnh hay yếu của hai đảng trong cuộc đọ sức của Quốc hội khóa 113, do cử tri bầu ra vào tháng 11 tới đây. Từ nay đến đó, các chính khách chỉ gây ấn tượng cho công chúng và Quốc hội khóa 112 sẽ mãn nhiệm thì chỉ tìm giải pháp ngắn hạn.

Trong khi ấy, đa số lại quên một khuyến cáo của Ủy ban Bowles-Simpson từ năm 2010. Do ông Obama chỉ định, ủy ban lưỡng đảng này đã nghiên cứu và yêu cầu phải bít lại nhiều lỗ hổng thuế khoá và giảm chi không phải 2.000 mà 4.000 tỷ trong 10 năm tới. Nếu không, hệ thống tài chánh công của Hoa Kỳ sẽ phá sản. Nhưng lời khuyến cáo đó đã rơi vào khoảng trống.

Cử tri nghĩ sao về mối nguy kinh tế sắp tới là một vấn đề chính trị và tới nay thì đa số đến 56% cho rằng nước Mỹ đang đi chệch hướng. Ai sẽ điều chỉnh sau khi kinh tế lại sụt hố năm tới?






Thứ Sáu, tháng 7 06, 2012

Động Thái Trung Quốc Ngoài Đông Hải

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120705

Xuống Đông Hải Không Chỉ Vì Dầu Khí


* File photo - Bản đồ khu vực Đông Nam Á*


Việc Trung Quốc quyết định mở ra chín lô thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam là động thái đáng ngại. Nhưng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa cho rằng mục tiêu không chỉ là kinh tế và đấy mới là một vấn đề mà thế giới cần quan tâm. Diễn đàn Kinh tế có cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế của đài Á châu Tự do về vấn đề này, sẽ do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.


Kinh tế và Chính trị ở biển Đông Á


Vũ Hoàng: Thưa ông, kỳ này ta sẽ cùng trao đổi về một vấn đề đáng quan tâm trong khu vực Đông Nam Á. Đó là việc tập đoàn dầu khí CNOOC của Trung Quốc tiến sâu vào thềm lục địa và phạm vi 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trong vụ này, các nước đều thấy ra mục tiêu kinh tế của Trung Quốc khi họ có yêu cầu rất lớn về năng lượng. Nhưng liệu vấn đề có chỉ là kinh tế hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc chuẩn bị việc này đã từ khá lâu và quyết định của Tổng công ty Dầu khí Hải dương như ông vừa nhắc đến chỉ là kết cục tất yếu nhưng sẽ mở ra nhiều vấn đề không chỉ cho Việt Nam mà cho các quốc gia khác trong khu vực. Chúng ta nên tìm hiểu về các khía cạnh kinh tế, kinh doanh và sâu xa hơn vậy là cả khía cạnh an ninh chiến lược.

Vũ Hoàng: Như vậy, xin đề nghị với ông là từng bước tìm hiểu những mục tiêu và động thái của Trung Quốc trong khu vực này theo lối trình bày bối cảnh của cả một hồ sơ rộng lớn ở đây.

Trung Quốc chuẩn bị việc này đã từ khá lâu và quyết định của Tổng công ty Dầu khí Hải dương như ông vừa nhắc đến chỉ là kết cục tất yếu nhưng sẽ mở ra nhiều vấn đề không chỉ cho Việt Nam mà cho các quốc gia khác trong khu vực.
Ô Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, ta sẽ mở ra một tấm bản đồ để tìm hiểu toàn bộ sự việc rồi tập trung dần vào bài toán hiện nay của Việt Nam và các nước trong khu vực. 

- Thứ nhất, là khu vực rộng lớn ở miền Tây của Thái bình dương mà ta có thể gọi chung là biển Đông Á. Tại miền Bắc, ta có khu vực Đông Bắc Á là vùng biển tiếp cận giữa Trung Quốc, Triều Tiên, Nga, Nhật Bản xuống tới Đài Loan. Miền Nam có khu vực Đông Nam Á, là vùng biển Đông hải của Việt Nam mà thế giới quen gọi là Trung Nam hải, biển miền Nam của Trung Quốc hay biển Hoa Nam. Vùng biển Đông Nam Á này mới là khu vực chiến lược nhất cho cả thế giới, vì thịnh vượng hay chiến tranh có thể là từ đây mà ra. Lý do thuộc về địa dư.

- Đây là khu vực sinh sống của gần 600 triệu dân Đông Nam Á bên cạnh hơn hai tỷ người tại Trung Hoa và bán đảo Ấn Độ, tức là 40% dân số toàn cầu, mà của các nền kinh tế năng động nhất. Vùng biển này có các dòng hải lưu hoặc đường chuyển vận ngoài biển và ba eo biển nối liền Ấn Độ dương ở miền Tây với Thái bình dương ở miền Đông, nối liền Đông Bắc với Đông Nam Á và Úc Châu ở miền Nam. Vì vậy, không chỉ có 10 quốc gia Đông Nam Á mà hầu hết các nước khác đều phải đi qua khu vực này trong mục tiêu giao dịch buôn bán. Hoa Kỳ chẳng hạn thì hàng năm có khoảng 1.200 tỷ đô la xuất nhập khẩu được vận chuyển trên vùng biển này. 

Vùng biển Đông Nam Á này mới là khu vực chiến lược nhất cho cả thế giới, vì thịnh vượng hay chiến tranh có thể là từ đây mà ra
Ô Nguyễn-Xuân Nghĩa


Vũ Hoàng: Đó là về hình thể và tính chất trung tâm chuyển vận của địa cầu. Bên trong hay bên dưới đại dương này còn có tiềm năng dầu thô hay khí đốt rất quan yếu cho công nghiệp của các nền kinh tế mà ông vừa nói là năng động nhất.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và cũng vì thế mà mình sẽ tiến dần và tập trung vào bài toán kinh tế hay năng lượng của Trung Quốc để hiểu ra chuyện tranh chấp ngày nay.

- Vùng biển Đông Nam Á có tiềm lực cao về năng lượng. Người ta tính ra trữ lượng đã xác định về dầu thô là bảy tỷ thùng và về khí đốt là 900 ngàn tỷ thước khối. Là một nước đói ăn và khát dầu, Trung Quốc rốt ráo tìm hiểu tiềm năng về dầu và khí tại đây.   


Đoàn tàu hải giam trong đội hình đi tuần khu vực Trường Sa
Đoàn tàu hải giam của TQ trong đội hình đi tuần khu vực Trường Sa.


- Họ ước lượng là dưới lòng biển Đông, họ có thể tìm ra 130 ngàn tỷ thùng dầu, coi đây là giếng dầu khổng lồ chỉ thua Ả Rập Xaođi thôi. Nhìn cách khác, mà cũng từ Trung Quốc ra, một phần ba trữ lượng về dầu khí của xứ này thật ra lại nằm tại biển Đông Nam Á. Nhưng 70% của số năng lượng đó lại nằm rất sâu dưới đáy biển trên một khu vực có diện tích là 1.600 ngàn cây số vuông.

- Khi vạch ra cái lưỡi bò chín đoạn và đòi chủ quyền trên một vùng biển rộng lớn của thiên hạ, có diện tích là ba triệu rưởi cây số vuông nghĩa là một phần ba của lãnh thổ Trung Quốc, tất nhiên là họ nhắm vào nguồn dầu khí ở dưới. Chín lô dầu mà họ vừa đòi khai thác trên thềm lục địa của Việt Nam bao trùm lên một diện tích là 160 ngàn cây số vuông, nhưng ta không quên rằng nguồn năng lượng đó không nổi trên bề mặt mà chìm sâu dưới đáy biển.

Nhìn cách khác, mà cũng từ Trung Quốc ra, một phần ba trữ lượng về dầu khí của xứ này thật ra lại nằm tại biển Đông Nam Á. Nhưng 70% của số năng lượng đó lại nằm rất sâu dưới đáy biển trên một khu vực có diện tích là 1.600 ngàn cây số vuông
Ô Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Tức là muốn tìm ra và bơm lên để sử dụng thì phải cần kỹ thuật, có phải vậy chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đúng vậy, kỹ thuật là một bài toán. Vì thế ta mới chú ý đến tập đoàn khai thác dầu khí ngoài khơi là "Tổng công ty Dầu khí Hải dương", một trong ba doanh nghiệp năng lượng lớn nhất của nhà nước Trung Quốc. Cả chục năm qua, tập đoàn "Xi Nốc" này ráo riết liên doanh với các tổ hợp dầu khí tiên tiến của Tây phương để học hỏi kỹ thuật và kinh nghiệm.

- Qua liên doanh, họ đóng góp nhân công, thiết bị và hoa hồng, để tiếp nhận công nghệ thăm dò và đào dầu dưới biển hầu có thể tự khai thác lấy. Kết quả là đầu Tháng Năm vừa qua, họ hoàn tất dàn khoan 981 cách Hong Kong 350 cây số ở hướng Đông Nam. Đây là bước đột phá vì dàn này có thể đào ở độ sâu 3.000 thước dưới đáy biển. Khi tranh chấp thuần về kinh doanh với các nước trong khu vực, họ đã có thêm một lợi thế là trình độ kỹ thuật mà các tập đoàn dầu khí Việt Nam hay Philippines hoặc Malaysia, Indonesia vẫn chưa có.

- Lợi thế thứ hai là khả năng bảo vệ bằng phương tiện quân sự, vì thế mà ngay sau khi mời quốc tế vào thăm dò và khai thác chín lô ngoài biển, họ đưa ngay tầu "hải giám" vào để thị uy và chứng tỏ khả năng bảo vệ đó. Nhưng, mục tiêu chính thật ra vẫn không là tìm dầu qua thủ thuật chiêu dụ kinh doanh. Mục tiêu chính là dùng mối lợi kinh doanh để cho các nước xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển Đông Nam Á.


Không có lý nhưng có lực 



Chín lô  dầu khí mà Trung Quốc quyết định mở ra  thăm dò nằm trong thềm lục địa của Việt Nam. Petrovn
Chín lô dầu khí mà Trung Quốc quyết định mở ra thăm dò nằm trong thềm lục địa của Việt Nam. Petrovn

 
Vũ Hoàng: Chúng tôi xin tóm lược lại diễn tiến của kế hoạch này hầu thính giả của chúng ta hiểu ra lối tính toán tinh vi của Trung Quốc. Trước nhất, họ dùng mối lợi kinh doanh để mời các nước có trình độ kỹ thuật cao cùng vào khai thác với mục đích là học nghề và thiết kế lấy loại dàn khoan có khả năng đào dầu dưới đáy biển. Sau khi đã tự túc và lập lấy dàn khoan, có họ thế mạnh để loại bỏ các nước đang tranh chấp về chủ quyền ngoài khơi rồi lại dùng mồi kinh doanh để nhử các tổ hợp dầu khí tiến sâu hơn vào thềm lục địa hay khu đặc quyền kinh tế của các xứ kia, với sức bảo vệ của hải quân Trung Quốc. Mục tiêu sau cùng và rốt ráo là khiến cho xứ nào muốn liên doanh với họ thì mặc nhiên công nhận chủ quyền thực tế của Trung Quốc trên vùng biển đang có tranh chấp. Thưa ông, có phải là như vậy chăng?
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ vậy và đề nghị là ta hãy lạnh lùng nhìn vào thực tế của thiên hạ trong cách tính toán về quyền lợi.

- Việc Bắc Kinh đòi mở ra chín lô khai thác nằm sát bờ biển Việt Nam chỉ có một hai trăm cây số là điều vô giá trị về pháp lý và vi phạm Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc. Mà họ cứ làm vì tin vào lòng tham của thiên hạ. Việc họ thiết lập một đơn vị hành chính là thành phố Tam Sa đã manh nha từ năm năm trước cũng nằm trong cái hướng bất chấp công pháp quốc tế và gần đây là cách trả lời khá ngang ngược của Bắc Kinh khi Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Luật biển.

Đây là lúc ta trở lại khái niệm về "quyền lợi cốt lõi" hay "hạch tâm nghĩa lợi" của họ. Với Bắc Kinh, khu vực này cũng chiến lược tương tự như Tân Cương và Tây Tạng.
Ô Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Thứ hai, dù chẳng có lý họ vẫn có lực, là phương tiện quân sự bảo vệ việc phi pháp của mình. Thứ ba, khi đã thuyết phục được các nước là hãy cùng vào khai thác những giếng dầu này – mà thật ra họ có thể tự túc khai thác lấy – lãnh đạo Trung Quốc có thêm thế mạnh về pháp lý vì coi như các nước đã xác nhận chủ quyền của họ trên một vùng biển đang có tranh chấp với năm sáu nước khác trong khu vực. Sau cùng, và tôi nghĩ là đây mới là mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh, đó là minh nhiên xác nhận rằng biển Đông Nam Á, hay Đông hải của Việt Nam, là vùng trái độn quân sự, một khu vực mà Trung Quốc có quyền và có khả năng kiểm soát. Đây là lúc ta trở lại khái niệm về "quyền lợi cốt lõi" hay "hạch tâm nghĩa lợi" của họ. Với Bắc Kinh, khu vực này cũng chiến lược tương tự như Tân Cương và Tây Tạng.


Vũ Hoàng: Chúng tôi bắt đầu hiểu rõ hơn diễn tiến lý luận của ông, rằng dầu khí không là mục tiêu duy nhất. Chủ quyền và khả năng khống chế về quân sự mới là chính. Nhưng các nước khác tính sao về động thái đó của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta có thể phân biệt ba trường hợp khác nhau trong cách tính toán này.

- Thứ nhất là các nước Đông Nam Á không có tranh chấp về chủ quyền với Trung Quốc, như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambốt hay Indonesia, có thể cân nhắc quyền lợi để đứng ngoài vòng tranh chấp hầu vẫn hợp tác về kinh tế với Trung Quốc, nhưng mặc nhiên làm suy yếu tiếng nói thống nhất của cả Hiệp hội ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á. Thí dụ như lập trường hòa hoãn gần đây của Thái Lan, với hậu quả cũng bất lợi cho năm nước hạ nguồn Mekong.

- Thứ hai là các nước Đông Nam Á đang tranh chấp về chủ quyền với Trung Quốc, nổi bật là Việt Nam và Philippines. Các nước này yếu thế và bị áp lực từ nhiều mặt, thí dụ như Philippines khó xuất khẩu chuối vào Trung Quốc là chuyện quá nhỏ mà có ý nghĩa lớn nhưng ít ai chú ý. Trong vụ đụng độ tại Bãi cạn Scarborough gần đây, Philippines cũng phải cân nhắc khá tinh vi và hiển nhiên là nhớ lại kinh nghiệm hợp tác khá bẽ bàng để cùng thăm dò năng lượng với Trung Quốc vào cuối năm 2004.

- Dù sao, Philippines còn có thỏa ước an ninh với Hoa Kỳ từ năm 1951, Việt Nam thì không và đang phải trả giá cho những lầm lẫn chiến lược của mình khi đứng cùng Trung Quốc từ mấy chục năm nay. Việc Hà Nội vừa phê chuẩn Luật biển lại cấm dân chúng biểu tình về công lý ngoài biển cho thấy lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa ra khỏi sự lầm lẫn đó.

Vũ Hoàng: Bây giờ đến trường hợp thứ ba, là tính toán của các nước ở bên ngoài.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta để ý đến vai trò của các nước ở xa, như Anh hay Canada với các tập đoàn dầu khí đã hợp tác với doanh nghiệp Trung Quốc từ khá lâu. Ở xa vòng hoạn nạn, họ có cái nhìn lý tài hơn là an ninh. Một cường quốc khác trong khu vực là Ấn Độ thì cũng đã muốn tiến về hướng Đông và còn tìm cách liên doanh về dầu khí với Việt Nam ở trong vùng tranh chấp ngoài Đông hải mà sau đó ngần ngại vì muốn tránh trực diện đối đầu với Trung Quốc. Tôi nghĩ Nhật Bản và thậm chí cả nước Úc cũng đang cân nhắc như vậy, giữa an ninh và kinh tế.
Vũ Hoàng: Sau cùng, thưa ông, còn có Hoa Kỳ với nhiều tập đoàn dầu khí đã muốn bắt cá hai tay là định hợp tác với cả Việt Nam và Trung Quốc và thực tế thì đã làm ăn khá sâu với doanh nghiệp Trung Quốc. Họ nghĩ sao trong vụ tranh chấp này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong kinh doanh thì người ta phải lo về lợi nhuận và chỉ chịu trách nhiệm với cổ đông, nhưng cũng cân nhắc rủi ro về pháp lý và an ninh. Họ chưa thấy rủi ro thì còn tiếp tục và có thể nghiêng về phía Trung Quốc.

Nhưng, chính là động thái quá đáng vừa qua của Bắc Kinh mới lại gây ra rủi ro lớn và sẽ làm thay đổi cách tính toán của thiên hạ
Ô Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Chúng ta không quên hàng năm, Hoa Kỳ có 1.200 tỷ hàng hóa giao dịch trên biển Đông Nam Á, chủ yếu qua Eo biển Malacca và hai eo biển nhỏ hơn của Indonesia là Sunda và Lombok. Vì cả quyền lợi kinh tế lẫn an ninh chiến lược, việc bảo vệ quyền tự do lưu thông ngoài biển là chủ trương truyền thống của Mỹ. Bắc Kinh đã vì quyền lợi riêng mà cản trở tiến trình toàn cầu hóa và tự do chuyển vận trên các dòng hải lưu nên trở thành một vấn đề Nhưng, chính là động thái quá đáng vừa qua của Bắc Kinh mới lại gây ra rủi ro lớn và sẽ làm thay đổi cách tính toán của thiên hạ. cho thế giới và trước hết cho Hoa Kỳ. Như lãnh đạo xứ này đã phát biểu, Hoa Kỳ không chủ trương bao vây hoặc tấn công Trung Quốc và còn muốn mời Trung Quốc vào tiến trình tự do hóa việc lưu thông ngoài biển.


- Nhưng chính Bắc Kinh đang khiến lãnh đạo Mỹ phải có đối sách cứng rắn hơn và đang cố gắng tranh thủ hậu thuẫn của hàng loạt quốc gia trong vành cung Á châu Thái bình dương. Yếu tố đó cũng chi phối cách suy tính của các nước trong vùng.


Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, Việt Nam nên suy tính thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất là định nghĩa lại về quyền lợi, đó là quyền lợi của quốc gia và dân tộc hay của một đảng độc quyền đang cai trị cả nước. Thứ hai, khi đã xác định quyền lợi tối thượng thì phải tìm cách bảo vệ, trước hết bằng nội lực sau đó là ngoại giao. Khi chà đạp nhân quyền và mất thế hợp tác sâu rộng hơn về quân sự với Hoa Kỳ thì lãnh đạo Hà Nội đã sai lầm về quyền lợi, cũng tai hại như để nạn tham ô lan rộng trong các tập đoàn nhà nước và làm nản chí giới đầu tư quốc tế, làm suy sụp hệ thống kinh tế của mình. Thứ hai, Việt Nam không thể và không nên là tiền đồn của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á nhưng phải cho Bắc Kinh thấy ra những tổn thất của họ khi muốn biến Đông hải của Việt Nam thành vùng trái độn quân sự của họ. Muốn như vậy thì trước hết phải có chí khí và thoát khỏi lối tính toán lý tài, thiển cận hiện nay. Có như vậy thì mới hy vọng hợp tác với các nước để cùng giải quyết vấn đề Trung Quốc của thế giới.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.  



Thứ Năm, tháng 7 05, 2012

Bắt Quả Tang Một Vụ Xuyên Tạc

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune 120704

Ban tranh cử Obama với lời chống chế yếu ớt - yếu xìu và cay như ớt!...


 * Hai ứng cử viên tổng thống Mỹ, Barack Obama và Mitt Romney, qua nét hý họa *



Nhân ngày sinh nhật Hoa Kỳ, lễ Quốc Khánh mùng bốn Tháng Bảy, người viết đơn cử một thí dụ về những ưu điểm của nền dân chủ Mỹ....

Đại học Pennsylvania là trường tư thục cổ kính, được Benjamin Franklin thành lập từ năm 1740 và hiện là một trong những đại học uy tín nhất Hoa Kỳ với các phân khoa về luật, nha y, kinh doanh, truyền thông, chính sách công quyền. Đại học này đã đào tạo nhiều nhân vật nổi tiếng, từ Tổng thống Mỹ tới Thủ tướng của các xứ khác, từ tỷ phú đến bác học hay khôi nguyên Nobel, v.v....

Từ năm 1993, University of Pennsylvania lập ra một Trung tâm về Chính sách Công quyền, Annenberg Public Policy Center, do sự đóng góp tiền bạc từ Sáng viện Annenberg của ông Walter Annenberg, doanh gia tỷ phú, nhà ngoại giao, truyền thông và người hảo tâm đã hiến tặng nhiều tỷ Mỹ kim cho các hoạt động công ích. Nằm trong Phân khoa Báo chí, Trung tâm Annenberg có một dự án là FactCheck.org từ năm 2003.

"FactCheck", hay kiểm chứng, là dự án độc lập, có mục tiêu kiểm chứng và trình bày các vấn đề thuộc chính sách công quyền từ cấp liên bang đến tiểu bang và địa phương.

Dự án FactCheck này rất có ích cho giới truyền thông và quần chúng quan tâm vì tự động kiểm chứng lại mọi lẽ đúng sai trên chính trường. Nôm na là lãnh tụ này hay chính khách kia mà tuyên bố điều gì, hoặc tung ra khẩu hiệu tranh cử ra sao, thì đều bị FactCheck tìm hiểu và phê phán. Người viết này thường xuyên theo dõi những thông tin hai chiều và khách quan của họ. Quý độc giả nên tìm vào đây để đánh giá các bài bình luận hay phiên dịch của truyền thông!

Bây giờ, bước qua chuyện tranh cử.

Trong một loạt quảng cáo trên truyền hình, ban tranh cử của Tổng thống Barack Obama đã đả kích ứng cử viên Mitt Romney, người có hy vọng là thụ ủy bên đảng Cộng Hoà. Đây là chuyện thường tình trên chính trường trong mua tranh cử. Ê kíp Obama công kích Romney là kẻ "làm thịt doanh nghiệp" – mua các hãng xưởng gặp khó khăn về rồi banh ra từng mảng, giữ lại phần vụ có lời để bán ra và giải tán những phần vụ lỗ lã, sa thải nhân viên, v.v... – là là "tư lệnh của việc đẩy việc làm ra nước ngoài", outsourcing in chief, vì đã từng làm chủ và quản trị công ty Bain Capital.

Ngày 29 Tháng Sáu, FactCheck rọi đèn vào loạt quảng cáo này và kiểm chứng từng phần để kết luận rằng ban tranh cử Obama nói sai, thậm chí xuyên tạc là Mitt Romney đã đẩy việc làm của công nhân Mỹ sang bên Tầu!

Số là Mitt Romney lập ra Bain Capital từ năm 1984, có mua lại, tái tổ chức rồi bán ra nhiều cơ sở kinh doanh, có đóng cửa một số, nhưng cũng đầu tư vào sản xuất tại Mỹ cho thị trường nội địa và xuất cảng, v.v... Năm 1999, dù vẫn là chủ đầu tư, Romney ủy quyền quản trị Bain Capital cho người khác để giành thời giờ cho Ủy ban Tổ chức Thế vận hội mùa Đông 2002 của thành phố Salt Lake City. Và sau đó ông không quay trở lại điều kiển Bain Capital nữa.

Những hoạt động ấy đều có khai báo với Hội đồng Giám sát Thị trường Cổ phiếu và Chứng khoán (SEC) và dầu vết còn lưu trong các hồ sơ hay thông cáo báo chí được FactCheck kiểm lại.

Trong một bài phân tách dài hơn 4.200 chữ với 19 cước chú về xuất xứ các tài liệu tham chiếu, FactCheck nhận định rằng những lời cáo buộc của ban tranh cử Obama về Romney, khi ông ta không còn điều khiển Bain Capital, là sai lạc. Bài "Obama’s ‘Outsourcer’ Overreach" của  FactCheck lập tức bị ban tranh cử Obama phản bác qua một lá thư dài sáu trang gửi FactCheck vào chiều mùng một Tháng Bảy. Và cho cả truyền thông báo chí mà khỏi thông báo.

Hôm sau, FactCheck trình bày lại nội vụ và bác bỏ từng lập luận phản bác của ban tranh cử Obama, với tiêu đề là "FactCheck to Obama Camp: Your Complaint is All Wet": lời ta thán của ban tranh cử Obama là ướt nhẹp!

Nội dung bài này trình bày lại từng sự việc từ hơn chục năm trước, với chứng cớ rõ ràng kể cả việc trực tiếp phỏng vấn những người trong cuộc, để bác bỏ lời phàn nàn của ban tranh cử Obama. Lý thú nhất trong kết luận của FactCheck là 1) những lời cáo buộc của ban tranh cử là vô bằng, thiếu cơ sở vững chắc; và 2) nếu quả thật Mitt Romney đã can dự vào những tội danh bị ban tranh cử kết án thì ông ta đáng bị toà án liên bang truy tố!

Nghĩa là Hành pháp Obama không làm đúng chức năng công quyền?

Chúng ta chứng kiến chuyện ly kỳ là ban tranh cử của một Tổng thống đương quyền đã vu cáo ứng cử viên đối lập. Khi bị một cơ quan độc lập phanh phui lại vẫn nhập nhằng chuyện xuyên tạc nên bị cơ quan độc lập này quạt ngược, với đầy đủ chứng từ trong một chuỗi lý luận nhuốm vẻ mỉa mai. Nghĩa là không thể nhân danh tổng thống mà nói nhăng nói cuội được!
Trong quá khứ và qua cuộc vận động bầu cử lần này, FactCheck đã phê phán và phơi bày nhiều lý luận ngoa ngụy của cả hai đảng, hoặc của từng ứng cử viên. Và càng nói quá hoặc nói sai thì càng bị chiếu cố. Nhưng đây là lần hiếm hoi mà ban tranh cử Obama lại nhảy vào đả kích một trọng tài vô can để tiếp tục đốn chân đối thủ, nên lãnh cái thẻ vàng!

Khi nhìn dân chúng chuẩn bị đốt pháo bông ăn mừng Quốc Khánh, người viết xin có cái pháo nhỏ này, để góp phần vinh danh nền dân chủ Hoa Kỳ. Các tờ báo Việt ngữ của chúng ta lâu lâu nên ghé mắt vào mạng lưới FactCheck, để khỏi dịch những lý luận hàm hồ của chính giới mà cứ tưởng là tin đáng tin. Cũng là một cách nâng cao dân trí và góp phần xây dựng dân chủ.

Thứ Ba, tháng 7 03, 2012

Dầu Khí và Võ Khí – Ai Đưa Con Pháo Sang Sông?


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt 120702
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

 Hoa Kỳ làm gì khi đó? - Tranh luận về ngân sách....


 * Thao dượt RIMPAC 2012 *


Hôm 25 vừa qua, tập đoàn CNOOC thông báo sẽ mở chín lô dầu ngoài Đông hải để mời thiên hạ cùng thăm dò và khai thác qua các liên doanh. Khu vực này trùm lên 160.000 cây số vuông mà Đông hải đây là biển Đông của Việt Nam, giữa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngay hôm sau, bốn tầu "hải giám" của Trung Quốc đã xuất hiện tại Trường Sa, để "sẵn sàng chiến đấu"....

Là một trong ba tập đoàn nhà nước về năng lượng, CNOOC ("Trung Quốc Hải dương Thạch du Tổng công ty"), là mũi nhọn chiêu dụ các tổ hợp quốc tế nhằm hợp thức hóa việc Bắc Kinh đòi chủ quyền trong cái lưỡi bò chín đoạn của họ. Nhưng là mũi nhọn có cán sắt của bộ máy Hải quân.

Ở đằng sau, những tướng lãnh cực đoan nhất đang công khai đả kích tâm lý "phòng thủ bạc nhược" khiến Trung Quốc khó bành trướng về quân sự, chiến lược và kinh tế. Đề đốc Trương Triệu Trung còn khẳng định rằng xứ sở có cả triệu kẻ bội phản, những viên chức được đào tạo tại các Đại học Anh-Mỹ và nay đưa ra những chủ trương hiếu hòa với quốc tế.

Phiên dịch cho dễ hiểu mà đáng ngán là Trung Quốc "không chủ trương bá quyền", nhưng có quyền bành trướng chính đáng - và không chấp nhận một trở lực nào ở bên trong hay bên ngoài. Vì vậy mới có nước cờ đưa pháo sang sông.

Biến cố dồn dập ấy xảy ra sau 1) vụ chạm trán với Philippines tại bãi đá ngầm Scarborough – Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham và nhận là của mình – và 2) việc Việt Nam vừa cho Quốc hội thông qua Luật biển hôm 21 và đôi bên lập tức đấu khẩu.


***


Từ cả chục năm nay, CNOOC dùng thuật liên doanh - lần đầu với Crestone Energy của Mỹ năm 1992 - để học nghề khai thác dầu khí ngoài khơi, rồi dần dần chiếm thế thượng phong trên hai đối thủ lẹt đẹt phía sau là Việt Nam và Philippines. Ngày nay, đã có tay nghề lại có tiền bạc, CNOOC phất cờ tiến sâu vào thềm lục địa Việt Nam. Tổ hợp quốc tế nào mà vì lòng tham cùng ký hợp đồng khai thác thì mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực được Hải quân Bắc Kinh kiểm soát và bảo vệ.

Trong khi ấy, lãnh đạo xứ này lại đang lúng túng với vụ chuyển quyền sau Đại hội 18 sắp tới.

Phe "Thái thượng hoàng" của lão đồng chí Giang Trạch Dân muốn cài thêm vây cánh trong thế hệ lãnh đạo thứ năm. Thế hệ thứ tư là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào thì muốn có người nối tiếp sự nghiệp 10 năm lãnh đạo của mình và giảm thiểu ảnh hưởng của người kế vị là Phó Chủ tịch Tập Cận Bình - thuộc "Thái tử đảng", cũng gần gũi với nguyên Chủ tịch họ Giang.

Nơi mà cả ba tay Giang Hồ Tập cùng đấu trí là Trung ương Quân ủy hội, hai cơ chế lãnh đạo quân đội của đảng và của nhà nước, có cùng tên và cùng thành phần nhân sự 12 người, trong đó có 10 tướng lãnh. Sau khi hết làm Chủ tịch/Tổng bí thư, Giang Trạch Dân vẫn cầm đầu Quân ủy thêm hai năm. Hồ Cẩm Đào cũng tính vậy làm Tập Cận Bình phải chờ thêm hai năm mới lãnh đạo đảng, nhà nước và quân đội. Vì vậy, cả ba đều tranh thủ hậu thuẫn của các tướng. Thừa cơ hội để tác động vào dư luận và đả kích các đối thủ là những ngôi sao diều hâu nhất, như La Viện, Hàn Húc Đông, Trương Triệu Trung hay Lưu Nguyên.

Chúng ta có cùng lúc sự chuyển động kinh tế, chính trị, quân sự và an ninh tại một khu vực chiến lược của toàn cầu. Khi Bắc Kinh đưa pháo sang sông, phía sau thì om xòm thanh la não bạt, Hoa Kỳ làm gì?


***


Dụng lễ thì có Đô đốc Samuel Locklear III, Tư lệnh Hạm đội Thái bình dương từ Tháng Tư.

Là viên tướng Mỹ cao cấp nhất đã đến Bắc Kinh kể từ bốn năm nay, ông kết thúc bốn ngày thăm viếng vào Thứ Sáu vừa qua với một thông điệp hòa hoãn: Hoa Kỳ không muốn ngăn chặn mà muốn hợp tác với Trung Quốc, vì vậy, Bắc Kinh chẳng nên e ngại.

Nhưng làm sao Bắc Kinh không giật mình khi hôm đó lại khai mở cuộc Tổng diễn tập RIMPAC của Vòng cung Thái bình dương tại Hawaii, với sự tham dự của 22 quốc gia Âu-Á-Úc và Trung Nam Mỹ, kể cả Liên bang Nga, lần đầu tiên tham dự. Đây là sáng kiến của Hoa Kỳ từ năm 1971. Hai năm một lần lại tập dượt để ngăn ngừa xung đột, cứu trợ nạn nhân ngoài biển, và cứ vậy mà mở ra cho nhiều quốc gia khác cùng tham gia - từ năm nước ban đầu tới 22 nước ngày nay.

Trong số này, và đến cuộc tập dượt thứ 23 vào tuần qua, vẫn không có Trung Quốc!

Đã thế, mùng hai Tháng Sáu, Tổng trưởng Quốc phòng Leon Panetta đọc tham luận trước diễn đàn Đối thoại Sangri-La do viện IISS tổ chức tại Singapore với mấy điểm nhấn: Hoa Kỳ đã, đang và còn là cường quốc Á Châu, để duy trì sự ổn định và quyền tự do giao lưu trên Thái bình dương. Trong mục tiêu đó, từ nay đến 2012, Hoa Kỳ sẽ đưa 60% hải đội qua Thái bình dương, kể cả sáu trong số 11 hàng không mẫu hạm của mình.

Vì nhu cầu giảm chi khi bị thiếu hụt ngân sách và vay mượn quá nhiều, ngân sách quốc phòng Mỹ sẽ bị Quốc hội cắt 487 tỷ đô la trong 10 năm tới. Nhưng, theo ông Panetta, đấy cũng là cơ hội biến phẩm thành lượng, là cải tiến bộ máy quân sự cho gọn, nhẹ, linh động và hiện đại hơn. Có tin được không?


***


Ta hãy lùi lại để nhìn vào cả bàn cờ.

Thế giới toàn cầu hóa ngày nay có 90% hàng hóa chuyển dịch giữa các lục địa bằng đường biển. Trong số này, phân nửa về trọng lượng và một phần ba về trị giá là phẩm vật giữa Ấn Độ dương và Thái bình dương, từ Nhật Bản xuống Úc châu. Vùng biển này là nơi sinh hoạt của 40% dân số địa cầu, gần ba tỷ người, và có vị trí chiến lược nhất thế giới qua các yết hầu như Eo biển Malacca, Sunda và Lombok. Đây cũng là nơi hàng năm chuyển vận đến 1.200 tỷ đô la của ngoại thương Hoa Kỳ.

Vì vậy, khu vực này là nơi mà tính toán về địa dư chính trị của Trung Quốc lại đe đọa yêu cầu toàn cầu hóa và tự do lưu thông của Hoa Kỳ và các nước.

Hoa Kỳ chủ trương bảo vệ quyền tự do chuyển vận trên mọi dòng hải lưu cho mọi quốc gia, kể cả Trung Quốc, mà Bắc Kinh không tin, đôi khi chẳng sợ. Vì thế, không chỉ chủ trương, Hoa Kỳ cần chứng minh khả năng đó. Tại vùng biển Đông Nam Á mà Trung Quốc coi là vùng trái độn quân sự và thuộc quyền khai thác của mình, các nước đều chờ xem Hoa Kỳ có khả tín, đáng tin hay không.

Vì trước khi nói cứng tại Singapore, cũng ông Panetta lại cảnh báo ở nhà, rằng yêu cầu giảm chi ngân sách sẽ làm suy yếu khả năng quân sự của Hoa Kỳ, và gây vấn đề cho an ninh thế giới. Ông ta không thuộc đảng Cộng Hoà hoặc là tay lái súng chủ chiến như cánh tả vẫn hay lèm bèm! Nhưng ông cũng biết rằng nói về bảo vệ đại dương, thì số chiến hạm khả dụng của Mỹ hiện chỉ có 250 đơn vị, 60% của số này là 150. Chỉ bằng 25% sức mạnh hải quân Hoa Kỳ trước khi Chiến tranh lạnh kết thúc vì Liên Xô tuột xích chìm lỉm. Với Trung Quốc hung hăng như vậy, liệu chiến tranh lạnh có tái diễn không?

Đâm ra cuộc tranh luận về ngân sách tại Mỹ có thể chi phối cách ứng xử của các nước.

Khó tin vào lá chắn Hoa Kỳ, chi bằng ta hợp tác với Bắc Kinh và xin mẩu bánh của CNOOC. Nếu không tranh chấp về chủ quyền lãnh hải với Trung Quốc, các nước có thể tính vậy cho an toàn, như tuần qua Thái Lan đã trì hoãn trả lời khiến cơ quan NASA của Mỹ phải bỏ dự án sử dụng lại căn cứ không quân U-Tapao. Nếu có tranh chấp, nhiều nước cũng nghĩ lại và trở về giải pháp đàm phán ngoại giao, hoặc tỏ thiện chí là cấm dân chúng biểu tình chống Trung Quốc!

Nghĩa là mặt trái của ngân sách Mỹ bất ngờ thấm sang đối sách ngoại giao của các nước! Có nên đứng cùng nước Tề trù phú mà đang suy yếu ngoài biển, hay ngả theo cường Tần ở bên trong? Cứ như cuộc cờ thời Chiến Quốc vậy!

Khi các con diều hâu đầy lon lá tại Bắc Kinh đòi mở cờ gióng trống xuống biển Đông, họ bất ngờ góp tiếng vào cuộc tranh luận về chi thu của Mỹ, giữa mùa tranh cử. Ai bẫy ai trên bàn cờ này?