Thứ Sáu, tháng 7 20, 2012

Ruột Đau Chín Khúc


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 120720

Bài toán của lãnh đạo Trung Quốc ngoài Đông hải....

 * Những nghịch lý của tham vọng bành trướng *
 

Đang chuyển mình từ một cường quốc đại lục thành cường quốc hải dương, Trung Quốc gặp rất nhiều mâu thuẫn.


Ngay từ năm 1947, Trung Hoa Quốc dân đảng đã vẽ bản đồ 11 khúc để đòi chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc trên các quần đảo ngoài khơi biển Hoa Nam (biển Nam Hải, hay Nam Trung Quốc hải hay South China Sea, tức là Đông hải của Việt Nam). Khi ấy, các nước Đông Nam Á còn dồn trọng tâm vào việc tranh đấu cho độc lập nên không có phản ứng. Tầm nhìn quá ngắn!

Các nước cũng chẳng có phản ứng khi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc ra đời từ năm 1949, thay Quốc dân đảng làm chủ Hoa lục và vẽ thành bản đồ chín khúc để đòi chủ quyền của mình và chính thức công bố từ năm 1953. Khi ấy, các nước Đông Nam Á cũng chẳng có phản ứng, nhiều nước còn nương tựa vào đảng Cộng sản Trung Hoa để giành độc lập! Tầm nhìn tai hại....

Ngày nay, toàn khu vực Đông Nam Á bị kẹt trong vụ tranh chấp về chủ quyền do Trung Quốc gây ra. Nhưng kẹt nhất không phải là các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á (Malaysia) hay Brunei - hoặc Đài Loan ở phía Bắc.

Kẹt nhất chính là Trung Quốc. Vì sao lại có nghịch lý đó?


***


Xưa nay, Trung Quốc là đại cường lục địa, với mối quan tâm về an ninh tập trung vào đất liền và những đe dọa ở bên trong. Qua ngần ấy cuộc xung đột trong lịch sử với Việt Nam, hay Chiêm Thành, Triều Tiên và Nhật Bản của các triều Tống, Nguyên Mông, Đại Minh hay Mãn Thanh, thật ra Trung Quốc đều bị đánh bại trong các trận thủy chiến.

Mâu thuẫn đầu tiên của cường quốc này là có bờ biển rất dài, trải dọc từ Hoàng Hải bên bản đảo Triều Tiên xuống tới Vịnh Bắc Việt, mà lại không kiểm soát được vùng biển cận duyên và thường chỉ giữ thế phòng thủ. Nguyên nhân chính là mối nguy cho Trung Quốc không đến từ biển Đông những ngả giao lưu cần thiết cho kinh tế đều nằm trong đất liền. Thứ nữa, tình trạng phân hóa và cát cứ khiến lãnh đạo xứ này phải ưu tiên thống nhất được nội tình trên một lãnh thổ bát ngát.

Sau các trường hợp bị khuất phục vì thủy chiến với Nga, Nhật hay các cường quốc Âu Châu vào đời Thanh, lãnh đạo Trung Quốc vẫn phải ưu tiên củng cố hệ thống cai trị ở bên trong.

Ngày nay, Trung Quốc đang ra khỏi mâu thuẫn truyền thống đó và muốn kiểm soát được vùng biển cận duyên nhờ sức mạnh hải quân thì lại gặp nhiều mâu thuẫn khác.


***


Sau khi cải cách từ năm 1979, Đặng Tiểu Bình ưu tiên giải quyết các vấn nạn kinh tế và chính trị bên trong để ra khỏi khủng hoảng xây dựng lực lượng. Với bên ngoài, ông chủ trương "thao quang dưỡng hối" nhằm che giấu sức mạnh sau chiến lược hòa dịu với các nước Đông Nam Á: hãy tạm gác một bên những tranh chấp về chủ quyền để cùng hợp tác và khai thác tài nguyên chung ở ngoài khơi. Năm chục năm nữa nói chuyện cũng chưa muộn.

Nôm na thì "cái gì của ta là của ta – cái gì của người thì đôi ta cùng khai thác".

Trong chiến lược âm nhu đó, lãnh đạo Bắc Kinh khéo áp dụng thủ thuật "bẻ đũa từng chiếc": đàm phán song phương với từng nước để tránh phản ứng tập thể, một chiến tuyến chung của các nước Đông Nam Á. Tính toán ở đây là 50 năm sau thì Trung Quốc đã có thực lực khác nên khỏi cần đàm phán hay thương thuyết gì cả.

Quả nhiên là trong hai chục năm liền, dù có tranh chấp hay xung đột nhỏ ở ngoài khơi, kể cả với Việt Nam vào năm 1988, chiến lược hòa dịu hình thức vẫn được áp dụng. Nhưng ngày nay đề nghị "hãy cùng phát triển khu vực có tranh chấp" không đem lại kết quả dự tính. Sau khi tham gia trò chơi đó trong các năm 2004-2005, Phi Luật Tân rồi Việt Nam cũng đành duỗi ra.

Lý do là một mâu thuẫn bất ngờ khác.

Hải quân Trung Quốc lớn mạnh cùng nhu cầu kiểm soát các dòng hải lưu để bảo vệ luồng vận chuyển hàng hóa cho một nền kinh tế đã mở ra ngoài và lệ thuộc vào thị trường quốc tế khiến các nước đều e ngại. Quy tắc ứng xử ngoài biển Đông ký kết với Hiệp hội ASEAN 10 Quốc gia Đông Nam Á vào năm 2002 vẫn không trấn an được.

Đã thế, khi Hoa Kỳ vướng bận vào cuộc chiến chống khủng bố từ 2001, lãnh đạo quân sự Trung Quốc còn nhìn ra cơ hội bành trướng và dẫn tới phản ứng ngược: các quốc gia Đông Nam Á đều kêu gọi Hoa Kỳ trở lại giữ thế đối trọng với đà bành trướng của Trung Quốc. Mà không chỉ các nước Đông Nam Á đang có tranh chấp về chủ quyền trên vùng biển chín khúc của Trung Quốc.

Cái lưỡi bò chín khúc của Trung Quốc khiến cho chín quốc gia cùng nhìn thấy một mối nguy. Đó là Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Việt Nam, Mã Lai Á, Brunei và cả Đài Loan. Ngần ấy quốc gia đều trông đợi vào phản ứng của Hoa Kỳ, nay đã xác định vai trò cường quốc Á Châu và nhấn mạnh đến nhu cầu bảo vệ quyền tự do lưu thông ngoài biển.



***

Chúng ta đi tới các bài toán hiện tại của Bắc Kinh, trong giai đoạn mà tiến thoái gì cũng bất tiện.

Từ chiến lược không can dự vào nội tình xứ khác, lãnh đạo Bắc Kinh đang ráo riết mua chuộc, uy hiếp hay lũng đoạn từng nước. Nghĩa là chứng tỏ bản chất đế quốc của một nước vẫn đề cao tinh thần "quật khởi hòa bình" để ra khỏi tình trạng lạc hậu.

Lập luận truyền thống của mấy chục năm qua, rằng Trung Quốc là một nước kém phát triển, nạn nhân của liệt cường và nay đang cố gắng công nghiệp hoá trong tinh thần hiếu hòa, lập luận đó đã hết công hiệu. Và trên các diễn đàn quốc tế lẫn trong dư luận các nước kém phát triển Á, Phi hay Trung Nam Mỹ, Trung Quốc có bộ mặt thực dân đế quốc. Đấy là một bài toán về lý luận với hậu quả phản tuyên truyền. Đó là bài toán thứ nhất.

Chuyện thứ hai, chiến lược đối thoại song phương để bẻ đũa từng chiếc cũng thất bại và khi Bắc Kinh chuyển qua giải pháp đối thoại quốc tế thì gặp kết quả trái ngược.

Người ta cứ nói đến phản ứng của Cam Bốt trong hội nghị tuần trước của khối ASEAN khi tránh nêu vấn đề tranh chấp ngoài Đông hải và coi đó là một thắng lợi của Bắc Kinh - chiếc đũa Cam Bốt đã gẫy.

Thật ra, nhận thức của các nước về lập trường ngoại giao của Bắc Kinh đã xoay chuyển. Thế giới thấy Trung Quốc dùng thủ thuật song phương để lũng đoạn từng nước, đến khi bước vào giải pháp đối thoại đa phương trên các diễn đàn quốc tế, cường quốc này có chủ đích phá hoại. Càng dùng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để bênh vực Iran hay Syria, hoặc có lập trường ngoại giao nhằm bao che cho Bắc Hàn, Sudan hay Venezuela, Bắc Kinh càng cho thấy Trung Quốc không là một cường quốc hữu trách và biết điều. Đấy là bài toán thứ hai.

Sau hai chục năm chỉ nhìn thấy quyền lợi của mình trong mối quan hệ với các nước và bị bất ngờ khi các chế độ thân hữu bỗng dưng sụp đổ, Bắc Kinh đang muốn xoay qua một đường lối chủ động và tích cực hơn.

Lãnh đạo Bắc Kinh đã bị bất ngờ tại Sudan, khi thân chủ bị xé làm hai, với sự xuất hiện của Cộng hoà Nam Sudan trên một vùng đất nhiều tài nguyên và được Tây phương bảo vệ. Bắc Kinh cũng bị bất ngờ khi chế độ độc tài Muamar Ghaddafi bị sụp đổ tại Libya. Những trường hợp trở tay không kịp như vậy xảy ra nhiều hơn là chúng ta nghĩ. Ngày nay, Bắc Kinh đang muốn chuyển qua chiến lược khác, là chủ động xử lý các hồ sơ liên quan đến quyền lợi của mình thay vì mơ hồ đề ra những nguyên tắc chung chung.

Kết quả là không chỉ nói về "cửu đoạn tuyến" ngoài Đông hải, Bắc Kinh chủ động trưng bày sức mạnh. Cùng với việc nâng cấp hành chánh cho Tam Sa, Trung Quốc đưa tầu ngư chính và hải đội của mình vào vùng tranh chấp với Phi Luật Tân và Việt Nam, xẵng giọng với Nhật Bản vì hồ sơ Điếu Ngư Đài (Senkaku của Nhật). Hậu quả của sự chuyển hướng chủ động ấy là gây hấn với mọi quốc gia và càng khiến Hoa Kỳ có lý do chính đáng để xác định vị trí và sức mạnh trên vùng biển Thái Bình dương, từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Đấy là bài toán thứ ba.

Trên toàn cảnh, lãnh đạo Bắc Kinh còn thấy mình thất thế do chiến lược "vô tư trung lập".

Đặng Tiểu Bình từ bỏ chủ trương cách mạng toàn cầu và thường trực của Mao Trạch Đông và chấm dứt yểm trợ các phong trào cộng sản trên thế giới, nhất là tại Á Châu. Ông còn tích cực hơn vậy khi đưa ra lập trường trung lập: Trung Quốc không can dự vào tranh chấp của các nước, không liên minh với một phe để tấn công một phe thứ ba, và giữ thái độ vô tư với mọi phe.

Trong khi ấy, Hoa Kỳ tích cực phát triển quan hệ với một chuỗi quốc gia bán đảo, hải đảo hay quần đảo chung quanh lãnh thổ Trung Quốc, từ Nam Hàn, Nhật Bản đến nhiều nước Đông Nam Á qua tới Ấn Độ dương và Úc Đại Lợi. Kết cuộc thì Bắc Kinh thiếu bạn mà Mỹ lại có nhiều đồng minh! Lãnh đạo Bắc Kinh phải tính lại.

Trung Quốc bắt đầu xuất hiện như một đối tác đáng tin của quốc tế khi cần ngăn ngừa hải tặc hay khủng bố và tìm cách hợp tác với các nước, từ nhóm ASEAN+3 (với Nam Hàn và Nhật Bản), đến Pakistan và cả Ấn Độ. Nhưng làm sao xây dựng được sự khả tín với các nước khi Bắc Kinh cũng chủ động can thiệp và xác định sức mạnh của mình trong khu vực có tranh chấp? Đấy là bài toán thứ tư.

Chúng ta không đánh giá thấp trình độ tư duy và khả năng biến báo của lãnh đạo Bắc Kinh, nhưng có thể tự hỏi vì sao họ rơi vào những mâu thuẫn khó gỡ và nay đang gặp bốn bài toán kể trên? Một giải đáp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này có thể tìm thấy ở bên trong nội tình Trung Quốc.


***


Lãnh đạo Bắc Kinh muốn áp dụng giải pháp ôn nhu để mời các nước – và doanh nghiệp quốc tế - cùng hợp tác và phát triển. Trong hợp tác, họ muốn các nước ít nhiều công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các vùng tranh chấp. Kết quả xảy ra trái ngược với dự tính: các quốc gia đều nghi ngờ và phản đối. Nhiều nước đối tác đã xoay ngược lập trường, như Phi Luật Tân dưới sự lãnh đạo của một Tổng thống khác, chứ không dễ mua dễ bảo như Gloria Macapagal-Arroyo.

Khi xẵng giọng và dùng sức mạnh quân sự bù đắp cho thế yếu về ngoại giao, nghĩa là tự lột trần bản chất bành trướng, Trung Quốc chỉ lung lạc nổi các nước nhỏ và yếu, ở ngoài vòng tranh chấp – như Lào hay Cam Bốt – nhưng gây phản ứng mạnh từ các nước khác.

Khi cần xoa dịu dư luận quốc tế và trở lại luận điệu ôn hoà thì lãnh đạo Bắc Kinh gặp phản ứng từ bên trong: ngư phủ Trung Quốc liều lĩnh lấy những rủi ro có thể dẫn tới xung đột và các tướng lãnh lại nhân cơ hội nhấn tới.

Trong khi chuẩn bị Đại hội 18 để đưa một thế hệ mới lên lãnh đạo Trung Quốc, đảng Cộng sản Trung Hoa cần xoa dịu sự bất mãn lan rộng của quần chúng bằng lý luận dân tộc cực đoan và bằng tư thế cường quốc trước diễn đàn quốc tế. Đồng thời, ngần ấy phe đang vận động ngầm ở bên trong để củng cố thế lực sau Đại hội 18 đều cần tới hậu thuẫn của quân đội. Và để các tướng lãnh lên giọng đề cao giải pháp bá quyền nước lớn!

Chính là những bất trắc nội bộ trong giai đoạn giao thời này, khi Bắc Kinh phải chuyển hướng đối ngoại, mới khiến Trung Quốc lâm thế kẹt. Bung ra thì bị thiên hạ tri hô và chặn cửa, thu vào thì gặp sự chống đối ở bên trong! Đi vào húng hắng, đi ra vội vàng....

Thứ Năm, tháng 7 19, 2012

Doanh Nghiệp và Thất Nghiệp

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120718

Hậu quả bất lường: bảo vệ công nhân mà gây thất nghiệp 



* AFP photo - Công nhân tổ hợp PSA sản xuất hai loại xe Peugeot 
và Citroen nổi tiếng của Pháp biểu tình tại Aulnay Sous Bois 
hôm 13/7/2012, một ngày sau tuyên bố sẽ cắt giảm 8,000 việc làm *


Kỳ trước, khi đề cập đến những ưu điểm của chủ nghĩa tư bản, chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa nói ra điều có vẻ nghịch nhĩ rằng nhà nước và cả các doanh nghiệp cũng không có nhiệm vụ tạo ra việc làm. Ông nhấn mạnh là nhà nước phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp tìm lợi nhuận và chính nhu cầu kiếm lời mới khiến doanh nghiệp tuyển người, nâng cao lợi tức cho xã hội và góp phần giảm bớt nguy cơ thất nghiệp. Diễn đàn Kinh tế xin trở lại đề mục này qua phần thực hiện của Vũ Hoàng.


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, doanh nghiệp có thể giải quyết nạn thất nghiệp như thế nào là đề tài mà chúng ta có gián tiếp nói tới qua chương trình phát thanh tuần trước. Hôm nay, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ đi sâu hơn vào lĩnh vực có thể rất sơ đẳng nhưng cũng là cơ bản của bộ môn kinh tế. Ông nghĩ sao về đề nghị này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước khi trình bày bối cảnh để xác định là chúng ta trao đổi về chuyện gì, tôi xin được kể lại một giai thoại có thật.

- Sau năm 1975, tôi được biết là một ông lãnh đạo Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Paris kể cho một người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, rằng giai cấp công nhân Pháp đấu tranh thành công đến độ nhân viên bị thất nghiệp vẫn hưởng trợ cấp bằng 70% mức lương cuối cùng nên nhiều người khỏi cần tìm việc nữa! Nghe thấy vậy thì tôi giật mình cho kinh tế Việt Nam nếu người ta tiếp tục lý luận theo kiểu đấu tranh giai cấp vì ai sẽ sản xuất cho người khác tiếp tục hưởng trợ cấp dồi dào như vậy! Sau này, mình cũng chẳng mấy ngạc nhiên về tỷ lệ thất nghiệp quá cao tại Pháp.

- Đó là cái chuyện "được" và "mất" trong kinh tế học là khi người ta chỉ nhìn thấy cái được của một thành phần này mà không thấy cái mất của cả nền kinh tế quốc dân trong lâu dài. Giai thoại năm xưa cũng phần nào giải thích vấn đề hiện tại của Âu Châu với nạn thất nghiệp quá cao khi thị trường lao động được bảo vệ như vậy. Bây giờ, mình mới nói qua phần bối cảnh.

Vũ Hoàng: Theo thói quen, khi trình bày về bối cảnh thì ông cũng có ý xác định là ta đang nói về chuyện gì, ở đâu. Có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như vậy vì trước hết, tôi đề nghị dùng chữ "nhân dụng", là vận dụng nhân lực, thay vì chữ "lao động" với hàm nghĩa tiêu cực. Lý do là nhân loại nói chung đã tiến lên trình độ sản xuất khác, khi bắp thịt không còn vị thế quan trọng bằng kiến thức, kể cả kiến thức của người thợ mà ta gọi là "tay nghề".

- Tiến trình tích lũy kinh nghiệm, tay nghề hay kiến thức nó giải thích vì sao mà người trung niên thường có lương cao dù sức khoẻ kém thanh niên và cũng giải thích vì sao mà phụ nữ hay phái yếu tham gia ngày càng nhiêu hơn vào tiến trình sản xuất. Yếu tố quan trọng ở đây là cái đầu, hay năng suất, hơn là cánh tay. Mà điều kiện then chốt cho sự thăng tiến đó là quyền tự do tìm nơi làm việc và học nghề để có mức lương cao hơn khi đáp ứng yêu cầu của thị trường.

- Thứ hai là trong chế độ độc tài, công nhân viên không có quyền tự do thành lập công đoàn hay hiệp hội độc lập để bảo vệ quyền lợi. Các công đoàn nhà nước là công cụ chính trị của đảng độc quyền và không chỉ giới hạn quyền tự do của thợ thuyền mà còn giúp nhà nước bóc lột công nhân và làm cơ chế lương bổng bị sai lệch, thí dụ như với chiến lược lương rẻ. Vì thế ta mới thấy có hiện tượng biểu tình chính đáng mà vẫn bị coi là phi pháp tại Việt Nam và Trung Quốc.

Vai trò Công đoàn  


000_118917745-250.jpg  

Xếp hàng nộp hồ sơ xin việc tại hội chợ việc làm
Hirevent, San Francisco, 12/7/2011. AFP photo  



Vũ Hoàng: Đó là về trường hợp của các nước độc tài, chứ công đoàn hay nghiệp đoàn trong các quốc gia có tự do thì lại khác hẳn. Ông giải thích thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong các xã hội dân chủ, công đoàn được tự do thành lập để bảo vệ quyền lợi công nhân đối diện với chủ nhân và đây là một nhu cầu chính đáng để định chế hóa việc đàm phán hay ngã giá giữa công nhân viên và doanh nghiệp. Khi người dân tại các nước độc tài đòi được quyền tự do lập hội và sinh hoạt công đoàn thì cũng trong mục tiêu này.

- Tuy nhiên, trong các nước dân chủ, người ta cũng chứng kiến hiện tượng không hẳn có lợi cho quyền lợi công nhân và sinh hoạt kinh tế. Trước hết là các công đoàn tự do có thể thành thế lực chính trị và tác động vào chính trường cho nhiều chủ trương nằm bên ngoài lĩnh vực kinh tế. Nạn chính trị hóa công đoàn là một lý do giải thích vì sao mà ngày càng có ít công nhân trở thành đoàn viên là hiện tượng đã thấy từ mấy chục năm nay.

- Thứ nữa, công đoàn mà bị chính trị hóa thì dễ cấu kết với bộ máy nhà nước và làm lệch lạc quy luật đàm phán giữa công nhân và doanh nghiệp, có khi gây vấn đề kinh tế và dẫn đến nguy cơ thất nghiệp. Nếu trong các nước dân chủ người ta lại theo quan điểm đấu tranh giai cấp như mình vừa nhắc tới tại Pháp thì đấy là vấn đề. Cho nên việc phân biệt này rất quan trọng khi ta nói đến vai trò của công đoàn ở hai thế giới trái ngược, có tự do hay không.

Vũ Hoàng: Phần bối cảnh và định nghĩa ấy dẫn ta về một đề tài thời sự là khi tập đoàn sản xuất xe hơi Peugeot của Pháp quyết định đóng cửa một xưởng ráp chế và sa thải tám ngàn nhân viên. Chính phủ Pháp đã phản đối và đòi can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân. Ông nghĩ sao và giải thích thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng tổ hợp PSA sản xuất hai loại xe Peugeot và Citroen nổi tiếng của Pháp đã quyết định hôm Thứ Năm vừa qua là sẽ đóng cửa một xưởng ráp chế tại Aulnay Sous Bois và tái phối trí lại công nhân với hậu quả là cắt mất tám ngàn việc trong hai năm tới. Lý do là nạn sản xuất thừa so với yêu cầu của thị trường, hoặc nói đúng hơn là sức cạnh tranh sút kém khiến xe bán không được và doanh nghiệp bị lỗ. Khi gặp một chuyện như vậy, chính quyền tất nhiên là phải tìm hiểu và can thiệp để giúp đỡ các công nhân có thể bị sa thải.

Trong các xã hội dân chủ, công đoàn được tự do thành lập để bảo vệ quyền lợi công nhân đối diện với chủ nhân và đây là một nhu cầu chính đáng để định chế hóa việc đàm phán hay ngã giá giữa công nhân viên và doanh nghiệp.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Nhưng then chốt ở đây là phải tìm hiểu vì sao hãng PSA không thể sản xuất nhiều hơn và bán được nhiều hơn hầu có thêm lợi nhuận và tạo thêm việc làm cho công nhân? Mối nguy trong vụ này là giữa công nhân và doanh nghiệp lại xuất hiện một lực lượng thứ ba là nhà nước, với lý do chính đáng về xã hội mà gây vấn đề về kinh tế là làm cho các hãng xưởng của PSA tại Pháp bị lỗ và mất sức cạnh tranh nếu so với cơ sở sản xuất cũng của PSA ở một nước Âu Châu khác, thí dụ  như tại Tây Ban Nha hay Slovakia.

- Chuyện ấy cũng khiến ta nên nhớ lại là vì sao ba hãng xe hơi Hoa Kỳ bị lỗ lã và gặp nguy cơ phá sản cách đây mấy năm khi các hãng xe của Nhật, Đức và Nam Hàn thiết lập tại Mỹ, tuyển dụng nhân công Mỹ lại vẫn có lời mà chẳng phải cầu cứu nhà nước. Vấn đề là khả năng cạnh tranh.

Vũ Hoàng: Ông nhấn mạnh đến yếu tố cạnh tranh, tức là khả năng sản xuất và bán ra có lời. Nhưng việc truy tìm lợi nhuận như vậy có gây thiệt hại cho công nhân hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta nên nhắc lại mục tiêu phải được xem là chính đáng chứ không là một cái tội của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận. Ngày nào mà sản xuất thêm vẫn còn có lãi thì doanh nghiệp còn tuyển thêm người. Muốn có lời cao thì doanh nghiệp có thể nâng giá bán nhưng chỉ trong một mức nào đó mà thôi vì đắt quá thì không thể cạnh tranh được và sẽ bị lỗ.

- Giải pháp kia là giảm bớt phí tổn cho mỗi đơn vị sản xuất thêm, tức là phải nâng cao năng suất, với công nhân có tay nghề cao hơn qua tiến trình đào tạo và huấn luyện. Việc cân nhắc hơn thiệt như vậy phải được thảo luận với công đoàn để đôi bên cùng thống nhất về mục tiêu có lợi cho cả hai. Trong mối quan hệ song phương này, nhà nước phải có mặt để đảm bảo là công đoàn và công nhân có quyền tự do chứ không bị ép.  Nhưng đôi khi nhà nước không chỉ giữ vị trí trọng tài và tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh để kiếm lời trong điều kiện lao động an toàn.

- Nhà nước có thể gây ra hậu quả bất lường khi là lực lượng can thiệp vào tiến trình thương thảo song phương giữa công nhân và chủ nhân, giữa công đoàn và doanh nghiệp. Thí dụ như với lý do đẩy lui nạn thất nghiệp, nhà nước hay các chính trị gia làm ra luật hoặc áp dụng chính sách bảo vệ để doanh nghiệp không được sa thải công nhân viên. Hậu quả bất lường ở đây là lý tưởng công bằng lại dẫn tới nạn thất nghiệp!

 

Thị trường nhân dụng  



000_GYI0057387508-250.jpg
Xếp hàng nộp hồ sơ xin việc về lĩnh vực y tế tại một hội chợ việc làm tổ chức ở New York vào 08/5/2009. AFP photo  


Vũ Hoàng:Chuyện hậu quả bất lường này quả là ly kỳ. Vì sao mục tiêu ban đầu là giải trừ thất nghiệp lại có thể dẫn tới thất nghiệp?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta nhắc đến một trường hợp phổ biến là các luật lệ bảo vệ quyền lao động hoặc chính sách lương bổng gọi là "công bằng". Mục tiêu ở đây là giúp công nhân viên đang có việc sẽ không mất việc và giữ được mức lương cao. Nhưng kết quả là làm thị trường lao động bị sơ cứng và lương bổng quá đắt khiến doanh nghiệp bị lỗ nên sẽ tìm giải pháp nâng cao năng suất và khỏi tuyển thêm người mới. Hậu quả là người đã có việc thì được ngồi mát ăn bát vàng, người chưa có việc thì tìm không ra doanh nghiệp tuyển dụng và kinh tế nói chung sa sút vì cái lý tưởng cao quý đó.

- Một thí dụ là trước khi cải cách kinh tế quãng hai chục năm trước, xứ Ấn Độ đã có loại luật lệ bảo vệ lao động như vậy. Cụ thể là kỹ sư trong doanh nghiệp nhà nước về điện thoại có quy chế làm việc toàn thời và vĩnh viễn, tức là không bao giờ bị sa thải. Kết quả là doanh nghiệp bị lỗ, nhân viên vẫn có việc có lương mà chẳng sản xuất gì nhiều. Sau khi cải cách và phải cổ phần hóa hay tư nhân hoá các cơ sở sản xuất này, tức là bán cho tư doanh, thì tư doanh bị kẹt vì hợp đồng bảo vệ đó. Họ không tham gia đầu tư và không tạo thêm việc làm cho kinh tế Ấn Độ cho tới khi xứ này phải sửa lại luật lệ. Chính là sự can thiệp của nhà nước để đẩy lui thất nghiệp lại là yếu tố gây ra thất nghiệp.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì thính giả của chúng ta có thể hiểu vì sao ông nói rằng nhà nước không có chức năng tạo ra việc làm vì đấy là vai trò của doanh nghiệp khi truy tìm lợi nhuận.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu không hiểu quy luật kinh tế thông thường thì người ta có thể nghĩ lý luận đó nhuốm mùi phản động nhằm bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp hay giới chủ nhân. Sự thật nó phức tạp hơn thế. Tôi xin lấy một thí dụ tại Hoa Kỳ này từ ba chục năm về trước để mình nhìn ra toàn cảnh.

- Năm 1982, tạp chí chuyên đề về kinh doanh là Forbes đã lần đầu tiên trình bày danh sách 400 người giàu nhất của nước Mỹ, trong đó có 23 người thuộc dòng họ du Pont, 14 người thuộc dòng Rockefeller và 11 người họ Hunt, là các đại gia tỷ phú từ nhiều đời. Hai chục năm sau, danh mục này chỉ còn ba ông Rockfeller, một ông Hunt và chẳng còn tay du Pont nào nữa. Điều ấy có nghĩa là xã hội thường xuyên chuyển dịch và đào thải chứ không thể có hiện tượng con vua lại cứ làm vua. 

Khi tìm hiểu thêm về các đại gia tỷ phú đó thì mình còn thấy rằng nhiều người khởi nghiệp rất sớm, từ khi còn ở tuổi thiếu niên. Họ cứ thế mà học nghề từ dưới lên, cho đến khi làm chủ doanh nghiệp xưa kia đã tuyển họ nên hiểu rất thấu đáo tiến trình sản xuất và kinh doanh.

Yếu tố ảnh hưởng đến nhân dụng chính là tính toán đầu tư của loại doanh nghiệp này và tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư chính là một cách thiết thực để đẩy lui thất nghiệp.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Yếu tố then chốt ở đây là quyền tự do và khả năng thay đổi chứ không nằm trong chế độ bảo vệ. Khi nhà nước thi hành chính sách bảo vệ, dù là vì động lực xã hội cao đẹp, thí dụ như về lương bổng, phúc lợi và điều kiện lao động, kể cả quyền nghỉ hè mà vẫn ăn lương, nhà nước lại góp phần gây ra tình trạng thất nghiệp lưu cữu ở mức cao, kéo dài khá lâu cho những người mất việc. Chúng ta có thấy hiện tượng đó tại Âu Châu nếu so sánh với Hoa Kỳ.

Vũ Hoàng: Chúng ta đi đến đoạn kết là tính toán kinh doanh với ảnh hưởng vào lĩnh vực nhân dụng như ông nói. Xin ông trình bày cho tiến trình này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thực tế thì doanh nghiệp phải tính toán làm sao để mỗi khi sản xuất thêm một đơn vị thì vẫn còn có lời và còn có lời thì còn sản xuất. Đó là hoàn cảnh chung, nhưng các tổ hợp lớn thật ra chẳng là những cơ sở tuyển dụng nhiều nhất. Khi nghiên cứu thị trường nhân dụng và cần giải quyết nạn thất nghiệp người ta mới thấy rằng các doanh nghiệp loại nhỏ và trung bình mới tuyển dụng nhiều nhất trong vòng năm năm mới được thành lập. Yếu tố ảnh hưởng đến nhân dụng chính là tính toán đầu tư của loại doanh nghiệp này và tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư chính là một cách thiết thực để đẩy lui thất nghiệp.

- Ngược lại, khi nhìn sự thể với nhãn quan đấu tranh theo lối "hơn bù kém", nghĩa là cái được của người này là cái mất của người khác, thì nhà nước tạo ra hiện tượng tranh ăn vì phe nào cũng muốn giành cho mình một phần bánh lớn hơn thay vì nghĩ đến sản xuất một cái bánh to hơn. Hậu quả của tâm lý đó là làm sản xuất co cụm và thất nghiệp kéo dài.

Vũ Hoàng: Xin cảm ơn ông Nghĩa về những lý luận rất cơ bản này của kinh tế học. 

Thứ Ba, tháng 7 17, 2012

Ngôn Từ và Hành Động


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120716
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Xảo ngữ bầu cử và thực tế ngoại giao


 * Ngoại trưởng Hoa Kỳ cùng Thủ tướng Thái Lan tại Hội nghị ASEAN *



Bài này sẽ từ bên trong nhìn lại Hoa Kỳ từ bên ngoài. Nhức đầu lắm!

Hôm Thứ Hai mùng chín, trong cái trớn của việc tái tranh cử, Tổng thống Barack Obama xém đoạt thêm một giải Nobel, về "Ngôn ngữ Nhiệm mầu", nếu thế giới có một giải thưởng như vậy.

Ông đề nghị triển hạn thêm một năm việc giảm thuế cho thành phần "trung lưu" - các hộ gia đình có lợi tức đồng niên 250 ngàn Mỹ kim trở xuống. Nhưng sẽ vĩnh viễn nâng mức thuế của người giàu hơn - chứ không cho hạ thuế như quy định trong hai đạo luật thuế vụ của vị tiền nhiệm vào các năm 2001 và 2003. Hai đạo luật này sẽ mạn hạn vào cuối năm nên sẽ chịu mức thuế cao hơn từ năm tới. Đây là một đề nghị có thể gây tranh luận với quan điểm của chính ông vào năm 2009: "điên sao mà tăng thuế giữa cơn suy trầm kinh tế"?

Nhưng chuyện ấy không là đề tài của bài viết.

Điều đáng nói là khi trình bày quan điểm của mình, ông Obama đả kích đối lập là "tin rằng thịnh vượng sẽ từ trên đỉnh (từ những người giàu nhất) tỏa xuống, cho nên nếu ta tiêu thêm nhiều ngàn tỷ khi hạ thuế cho những người Mỹ giàu nhất thì việc làm và đà tăng trưởng sẽ bằng cách nào đó bung ra".

Ngôn ngữ nhiệm mầu ở đây là một lý luận kinh tế được gán cho đảng Cộng Hoà, theo đó, thịnh vượng là hiện tượng "lọt sàng xuống nia", từ trên rỏ xuống, nghĩa là người giàu mà có cơ hội làm giàu hơn nữa thì người nghèo ở dưới sẽ được hưởng! Người viết chưa được thấy một kinh tế gia bình thường nào đưa ra một lý luận như vậy. Trừ phi là những nhà quản lý kinh tế Hà Nội, khi lý luận rằng sự lớn mạnh của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở trên sẽ đem lại ơn ích cho mọi doanh nghiệp và người dân ở dưới.

Nói cho nôm na đơn giản, ông Obama đã khéo làm một phép quy chụp để tấn công đối lập. Đây chỉ là thủ thuật chính trị trong mùa bầu cử. Nhưng phép màu về chữ nghĩa nằm trong chữ "tiêu".

Tổng thống Mỹ cho là nếu không tăng thuế thì cũng tựa như tiêu mất tiền của ngân sách quốc gia. Trong hoàn cảnh bội chi ngân sách quá nặng hiện nay, người dân sẽ phẫn nộ khi nghe nói là ngân sách sẽ lại "tiêu" thêm nhiều ngàn tỷ. Quý độc giả có thấy sự uyên áo của ngôn ngữ tuyên truyền trong mùa bầu cử hay chăng? Nó cũng xuất sắc như khi Chính quyền Obama đề nghị gia tăng công chi – nghĩa là tiêu thêm công quỹ - nhưng gọi đó là "đầu tư".

Chúng ta sống trong một thế giới đảo điên khi mà nội dung của chữ nghĩa lại xoay ngược, hiện tượng người ta tưởng chỉ thấy trong thế giới cộng sản.

Khi người cộng sản nói đến "xây dựng xã hội chủ nghĩa" – và truyền thông quốc tế dịch lại thành một khái niệm lạc quan và tích cực (socialism building) - thì người dân ở trong cuộc hiểu rằng muốn xây thì phải xoá đã - và chuyện xây dựng đó báo hiệu "cải tạo". Toé máu và mất tiền.

Thế giới ngày nay hết nghe nói đến lý luận cộng sản, nhưng dường như hiện tượng ngoa ngụy chữ nghĩa vẫn còn mà cũng chẳng là độc quyền của nước Mỹ trong mùa tranh cử. Với cảm nghĩ bi quan đó, xin hãy lùi về một bước và nhìn lại Hoa Kỳ từ bên ngoài.

Cách hay nhất là theo dõi bước chân của Ngoại trưởng Hillary Clinton.


***


Hoàn toàn đứng ngoài cuộc tranh cử, Ngoại trưởng Clinton đã có một cuộc chạy băng đồng, từ mùng sáu đến 17 để thăm viếng tám quốc gia, tham dự gần một chục hội nghị quốc tế, chính thức phát biểu 40 lần chưa kể những cuộc đàm phán tay đôi với lãnh đạo của nhiều nước.

Chỉ theo dõi những sinh hoạt "toàn phương vị" này thì cũng đã là một việc toàn thời. Điều ấy mới cho thấy những đa đoan của nước Mỹ trước quá nhiều hồ sơ của thế giới mà cách ăn nói đảo điên trong mùa tranh cử không thể khoả lấp được.

Trước hết, hôm mùng sáu, Ngoại trưởng Clinton ghé Pháp không để nói chuyện về Liên hiệp Âu châu, đồng Euro hay Minh ước NATO. Mục tiêu là để vận động quốc tế cùng giải quyết vụ khủng hoảng Syria. Rời Paris, bà bay qua Nhật Bản dự hội nghị viện trợ cho A Phú Hãn, một hồ sơ còn chiến lược hơn cho Hoa Kỳ.

Tại Tokyo, bà Clinton tất nhiên đàm đạo với Thủ tướng Nhật về mâu thuẫn Nhật Hoa liên hệ đến đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu ngư đài và đòi là của mình. Địa điểm chiến lược đó do Hoa Kỳ quản lý từ sau Thế chiến II, đã trao trả lại cho Nhật từ năm 1971 và nay đang là đầu mối tranh chấp Nhật-Hoa khiến Tokyo phải triệu hồi đại sứ về để tham khảo ý kiến.

Tại đây, bà Clinton cũng lại đụng vào chuyện ngôn từ khi chỉnh lại cách gọi của Nhật về các phụ nữ Á châu bị cưỡng bách phục vụ nhu cầu sinh lý cho binh lính Nhật trong Thế chiến II. Nhật gọi họ là "úy an phụ" hay "phụ nữ giải khuây" comfort women, Ngoại trưởng Mỹ nói thẳng rằng phải gọi họ là "nô lệ tình dục", sex slaves. Phút nói thật tuyệt vời! Nhất là khi Hoa Kỳ đang sát cánh với đồng minh Nhật Bản về an ninh chiến lược ngoài Đông hải.

Rời Nhật Bản qua viếng thăm Cộng Hoà Mông Cổ hôm mùng tám, Ngoại trưởng Clinton đàm đạo với lãnh đạo Ulan Baatar và phát biểu về dân chủ cùng nữ quyền, một đề tài nhạy cảm cho bên kia biên giới, là Nội Mông của Trung Quốc. Xuống Hà Nội hôm sau, bà nói về an ninh và kinh tế, ca tụng sự hợp tác Mỹ-Việt trong một số hợp đồng đầu tư, nhưng cũng nhẹ nhàng nhắc đến nhân quyền và dân chủ. Nhẹ thôi.... 

Từ Việt Nam bà là Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên đặt chân lên xứ Lào kể từ 57 năm nay, hôm sau qua tham dự năm hội nghị quốc tế tại Phnom Penh, kể cả hai hội nghị về hạ nguồn sông Mekong, và gặp gỡ lãnh đạo Cam Bốt. Trong ba ngày, Ngoại trưởng Clinton đã đạt một số thắng lợi với phụ nữ, nhưng Hoa Kỳ gặp thất bại với nhóm ASEAN, Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á. Do áp lực hay sự mua chuộc của Bắc Kinh, Chính quyền Phnom Penh gạt hồ sơ an ninh ngoài biển Đông ra khỏi Thông cáo chung và mặc nhiên phá vỡ thế liên kết của các nước Đông Nam Á trong một trận tuyến hay diễn đàn tập thể đối diện với sức ép của Trung Quốc.

Biến cố này cho thấy một bài toán của Hoa Kỳ: sau khi đắn đo cân nhắc, nhiều nước Đông Nam Á có thể hòa giải với Trung Quốc hơn là hòa hợp với Mỹ.

Rời Đông Á về Trung Đông, Ngoại trưởng Mỹ tới Ai Cập làm nhiệm vụ hòa hợp hòa giải khác: đàm đạo với Tổng thống tân cử Mohamed Morsi thuộc lực lượng Huynh đệ Hồi giáo và với lãnh tụ thật của Ai Cập là Thống chế Mohamed Hussein Tantawi, chủ tịch Thượng hội đồng Quân lực. Đòn bẩy viện trợ của Hoa Kỳ có cân bằng được cái thế đối nghịch lồng trong đối thoại giữa hai thế lực này không? Câu hỏi đầy rắc rối mà ngôn từ không thể giải quyết nổi.

Chỉ vì hôm sau, Ngoại trưởng Clinton phải bay vào mắt bão là xứ Israel. Hồ sơ nổi cộm tại đây là mối nguy Iran. Bên cạnh còn có mâu thuẫn giữa Israel với Chính quyền Palestine. Đúng lúc đó, một pháo hạm của Hoa Kỳ đã nổ súng ngoài khơi Dubai vì e ngại một vụ tấn công của quân khủng bố, như đã xảy ra cho Chiến hạm Cole ngoài khơi Yemen vào năm 2001....


***


Tổng kết lại, hơn 10 ngày công du của Ngoại trưởng Hillary Clinton đã đề cập tới một chục đề mục: Syria, A Phú Hãn, dân chủ, nữ quyền, đối thoại với Trung Quốc, hợp tác với Nhật Bản, an ninh Đông Á, đoàn kết ASEAN, hòa giải tại Ai Cập, gián chỉ Iran, trấn an Israel, ổn định Trung Đông và bảo vệ quyền lợi Hoa Kỳ trong một khu vực chiến lược. Chuyến đi được Bắc Kinh suy diễn như một nỗ lực liên kết của Mỹ để bao vây Trung Quốc. Nào chỉ có vậy!

Trong khi ấy, đề mục nóng nhất tại Hoa Kỳ vẫn là chuyện bầu cử và nghệ thuật ngôn ngữ để tranh thủ cử tri. Truyền thông chúng ta có quyền chọn, xem đề mục nào mới là ưu tiên.... 

Thứ Hai, tháng 7 16, 2012

Có tiền là mua được ghế Tổng thống Mỹ?


* Mitt Romney (trái) đang dẫn trước Tổng thống Obama về tiền quyên góp *

Trong hoàn cảnh kinh tế còn èo uột, năm nay hệ thống truyền hình Hoa Kỳ vẫn còn niềm an ủi. Là bội thu nhờ quảng cáo chính trị trong mùa tranh cử, nhất là ở các tiểu bang "xôi đậu" mà kết quả có thể ảnh hưởng đến cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.   

Lần này, số tiền mà các phe cùng tung ra sẽ vượt xa kỷ lục của cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tổng thống năm 2010. Từ đầu năm 2001 đến Tháng Sáu vừa qua, ngần ấy đài truyền hình đã thu được gần 600 triệu Mỹ kim. Chưa từng thấy! Cũng ly kỳ như những bùn nhơ đang được tung lên truyền hình để xuyên tạc đối thủ, ngân sách quảng cáo chính trị rất cao là điều đáng chú ý

Nhưng ai chi ra khoản tiền đó và để làm gì khi tác động vào quần chúng và cử tri?

Câu hỏi ấy dẫn tới huyền thoại về thế lực tiền tài trong thể chế dân chủ Hoa Kỳ. Chẳng hạn như bọn tài phiệt, dân Do Thái, thậm chí tổ chức tội ác, hay các tay lái súng, v.v. đã dùng tiền bạc lũng đoạn bầu cử và đưa tay chân lên lãnh đạo nước Mỹ.

Hình như sự thật lại không đơn giản như vậy.


Quần chúng thờ ơ


Từ nhiều năm nay, các nước dân chủ Tây phương đều gặp một hiện tượng chung là quần chúng ngày càng ít tham gia tiến trình quyết định chính trị qua việc đi bầu hoặc gia nhập công đoàn.

Người ta có nhiều ngả khác để tác động vào nhận thức lẫn chính sách quốc gia. Đó là các đoàn thể quần chúng, tổ chức ngoài chính phủ (NGO), hội thiện hay sáng viện, các nghiệp đoàn và doanh nghiệp đa quốc gia, v.v.... Trong số này, dư luận chú ý nhất đến doanh nghiệp. Cái "thuyết âm mưu" theo đó tài phiệt có thể bố trí nhân sự thi hành chính sách có lợi cho họ là một lý luận có vẻ hợp lý. Thể hiện ra bên ngoài là việc tung tiền vận động hành lang chính trị (lobby) và cấu kết với chính trường làm lệch lạc chính sách quốc gia, nên cứ mùa bầu cử là lúc tiền tài phấp phới màu sắc tham ô. Quy nạp vào chế độ tư bản Mỹ thì có vẻ đúng nhất.

Thuyết âm mưu này giúp người ta khỏi suy nghĩ. Nhưng sự thật lại rắc rối hơn vậy.

Nước Mỹ có 12 ngàn người ghi danh với pháp luật là tư vấn chính trị, nôm na là "thuyết khách", làm lobby tại thủ đô Washington, và năm ngoái chi hơn ba tỷ Mỹ kim cho hoạt động này. Nước Anh có 14 ngàn tay thuyết khách và chi ra hai tỷ Anh kim (quãng ba tỷ đô la) dù dân số chỉ bằng một phần sáu của Mỹ.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) chuyên trị về chống tham nhũng toàn cầu. Theo phúc trình mới công bố hôm mùng sáu Tháng Sáu, TI đã khảo sát quy chế vận động chính trị tại 25 quốc gia Âu Châu và thấy ra 19 nước không có luật lệ kiểm soát hoạt động lobby, trong đó có nước Anh, cũng là nơi không có giới hạn về việc góp tiền cho chính trị. Tổ chức TI còn than phiền là Liên hiệp Âu châu thiếu luật lệ chặt chẽ ngay trong cơ chế điều hành tại thủ đô Bruxelles và bị ảnh hưởng quá nặng và quá mờ ám của doanh trường.



Quần chúng ở phương Tây ngày càng ít đi bầu


Ngược lại, Mỹ là nơi có... quá nhiều luật lệ chi phối và kiểm soát các hoạt động nằm trong vùng tiếp cận giữa tiền bạc và chính trị.

Pháp quyền nhà nước tại đây không là khẩu hiệu mà là một cánh rừng nhiệt đới - không phải ngẫu nhiên mà đa số chính khách Mỹ lại là luật sư! Hoa Kỳ chỉ có 5% dân số địa cầu mà có 70% số luật sư của thế giới vì hệ thống luật lệ vô cùng phức tạp....

Một thí dụ của "đời thường": John Edwards là luật sư và trở thành triệu phú nhờ biệt tài "rượt xe cứu thương" - thành ngữ Mỹ về việc chạy theo xúi giục bệnh nhân kiện cáo bệnh viện. Làm Nghị sĩ North Carolina, ông ra ứng cử Tổng thống năm 2004, đứng Phó trong liên danh Dân Chủ cùng Nghị sĩ John Kerry rồi tính thử lại thời vận trong cuộc tranh cử 2008. Nhưng luật sư tài ba này thân bại danh liệt không chỉ vì tội ngoại tình ngay giữa bầu cử mà còn bị ra toà vì tội lấy hơn một triệu bạc quyên góp cho tranh cử để che giấu vụ ngoại tình: vi phạm luật lệ tranh cử liên bang. Nhờ công tố viên cột hồ sơ không chặt mà ông ta thoát được 30 năm tù!

Vận động tiền bạc

Hoa Kỳ là một xứ thường xuyên có bầu cử. Rẻ ra thì hai năm là bầu lại toàn thể 435 Dân biểu Hạ viện, một phần ba của 100 Nghị sĩ Thượng viện, và bốn năm một lần, lại bầu Tổng thống cùng Phó Tổng thống. Việc bầu ra 537 chức vụ dân cử cấp Liên bang đó bị luật lệ chi phối và thuộc quyền kiểm soát của Hội đồng Bầu cử Liên bang FEC. (Chuyện bầu bán tại tiểu bang và địa phương thì chấp hành luật lệ ở cấp thấp hơn.) Trong tranh cử cấp liên bang, các ứng viên được nhận tiền của công chúng hoặc của công quyền. Nguồn tài trợ của công quyền thì có giới hạn và điều kiện khắt khe chứ của công chúng mới là chuyện lớn.

Vì thế, đây cũng là đề mục gây tranh cãi, với hệ thống luật lệ thường thay đổi kể từ năm 1971. Đổi luật cũng là một tiến trình vận động tiền bạc!

"Dùng thế lực tiền tài trong chính trị có thể làm ung thối cơ chế quốc gia và bất công. Tìm ra giải pháp thỏa mãn hai yêu cầu trái ngược này là điều khó, thường gây bất mãn nên cứ thành đề tài tranh cãi."

Sở dĩ gây tranh cãi vì góp tiền vận động cho chính sách hay chính khách của mình là thể hiện quyền tự do ngôn luận của người dân. Nhưng dùng thế lực tiền tài trong chính trị có thể làm ung thối cơ chế quốc gia và bất công. Tìm ra giải pháp thỏa mãn hai yêu cầu trái ngược này là điều khó, thường gây bất mãn nên cứ thành đề tài tranh cãi.

Năm 2010, Tối cao Pháp viện và Tòa Kháng án của Hạt 9 tại thủ đô Washington lại có hai phán quyết lịch sử: cho doanh nghiệp và nghiệp đoàn rộng quyền góp tiền vào bầu cử ở cấp liên bang.

Vấn đề là thu tiền ở đâu và dùng vào việc gì?

Về số thu, người ta có bốn nguồn chính: từ cá nhân cò con, mỗi người không quá hai trăm bạc: từ các nhà hảo tâm giàu có; các ủy ban quyên góp; sau cùng là ứng viên tự tài trợ bằng tiền riêng. Thông thường, đảng Cộng Hoà có ưu thế trong ngả tự tài trợ và quyên góp cò con mà thua đảng Dân Chủ trong hai ngả kia (đại gia và ủy ban vận động). Về cách chi thì luật lệ có những quy định chặt chẽ với hơn hai chục giới hạn để tránh nạn lũng đoạn. Không đi đúng ngả, dùng đúng cách là phạm luật.

Nhưng các ứng cử viên và và tổ chức chính trị vẫn còn nhiều phương thức khác. "Tích tiểu thành đại" là cách gom các nguồn ủng hộ cò con thành một khoản lớn, qua một tay tích cực sau này có thể được đền đáp ân tình. "Vận động Hành lang" là một cách khác, với việc lập ra các Ủy ban Hành động Chính trị (Political Action Committees PACs) và cả "Siêu PAC" là các đơn vị độc lập không minh danh ủng hộ một ứng cử viên nào nhưng không bị giới hạn về tiền bạc để tác động vào tranh cử qua một số hồ sơ phản ảnh lập trường của ứng cử viên đó.

Ngoài ra, còn các đoàn thể vô vụ lợi được quy định trong điều khoản 501(c) và 527 của luật lệ thuế vụ liên bang. Các tổ chức này cũng tác động vào chính trường vì ảnh hưởng đến nhận thức của cử tri - miễn là phải làm ăn hợp pháp với sổ sách phân minh cho sở thuế liên bang. Sau cùng, các chính đảng cũng có quyền huy động quyên góp và khai thác ngần ấy ngả nói trên và một yếu tố thành công trong đấu tranh dân chủ cũng là khả năng huy động này. Nhưng quy luật chung vẫn là người nhận lẫn các tổ chức vận động đều phải khai báo rõ ràng.

Tựu trung, tiền bạc là cái đòn bẩy, được sử dụng khá tinh vi để ảnh hưởng đến nhận thức của cử tri và lá phiếu về chính khách và chính sách, nhưng mọi việc đều công khai hóa và phải hợp lệ.


Ngộ nhận



George Soros đã tuyên bố sẵn sàng hy sinh cả gia sản để đánh bại Tổng thống George W. Bush


Một trong những người giàu nhất thế giới là nhà đầu tư George Soros đã tuyên bố sẵn sàng hy sinh cả gia sản để đánh bại Tổng thống George W. Bush trong cuộc tranh cử năm 2004 và thực tế là chi tiền rất nhiều cho các tổ chức đấu tranh bên cánh tả của đảng Dân Chủ cho mục tiêu đó. Nhưng ông ta phải làm đúng luật, y hệt như các tỷ phú khác đã muốn tác động vào cuộc tranh cử tổng thống năm nay, qua cả hai đảng.

Trận chiến về tiền bạc này là đề tài hấp dẫn cho truyền thông. Nhưng báo chí không được mời tham dự dạ tiệc gây quỹ cho các ứng cử viên, một tiết mục hấp dẫn khác.

Tỷ phú David Koch theo xu hướng tự do tuyệt đối (libertarian) đã mời bằng hữu vào tư thất để ăn cơm riêng với ứng cử viên Mitt Romney sẽ đại diện đảng Cộng Hoà trong cuộc tranh cử tổng thống. Một khẩu phần ăn là năm vạn đô la. Bên kia ranh giới chính trị, hai tài tử điện ảnh là George Clooney và Sarah Jessica Parker, hay tỷ phú Tony James trong tập đoàn đầu tư Blackstone, cũng có sinh hoạt tương tự. Muốn ăn cơm tối để hàn huyên với thượng khách là Tổng thống Barack Obama thì xin chi ra dăm ba vạn. Đấy là phút nói thật giữa tiền bạc với chính trị?

Truyền thông không được biết nhiều về các cuộc gặp gỡ đó mà chỉ ghi nhận là khi chuẩn bị tái tranh cử, trong hai năm qua ông Obama đã dự 177 sinh hoạt gây quỹ. Cùng khoảng thời gian đó thì ông Bush cha có 86 lần, ông Bill Clinton 70 lần, ông Bush con 24 lần, Jimmy Carter 25 lần và Ronald Reagan vỏn vẹn ba lần trong các năm 1983-1984. Nhưng có phải vì vậy mà cử tri sẽ bỏ phiếu theo quan điểm của kẻ lắm tiền bộn bạc nhất không?

"Đa số người Mỹ gốc Do Thái lại dồn tiền qua đảng Dân Chủ, vốn dĩ có lập trường nhiều khi trái ngược với quốc gia Israel của dân Do Thái tại Trung Đông. Các tỷ phú Mỹ cũng thế, họ dồn tiền - nên dồn phiếu - nhiều hơn cho đảng Dân Chủ."


Sau cùng, ngoài việc dùng tiền tác động vào chính trị thì phải khai báo và hợp pháp trong mê cung của chính trường Mỹ, người ta vẫn thấy ra vài ba ngộ nhận.

Đa số người Mỹ gốc Do Thái lại dồn tiền qua đảng Dân Chủ, vốn dĩ có lập trường nhiều khi trái ngược với quốc gia Israel của dân Do Thái tại Trung Đông. Các tỷ phú Mỹ cũng thế, họ dồn tiền - nên dồn phiếu - nhiều hơn cho đảng Dân Chủ. Và thế lực tiền tài và nhân lực mạnh nhất tại Mỹ trong mùa tranh cử này không nhất thiết là tài phiệt mà còn có các nghiệp đoàn trong khu vực tư doanh lẫn công chức.

Nổi tiếng mà đầy nghịch lý là sức huy động rất mạnh của nghiệp đoàn giáo chức.

Các tổ chức này không chỉ dồn tiền vận động cử tri đi bầu và bỏ phiếu cho ứng viên Dân Chủ. mà còn tranh đấu cho các chủ trương xã hội như nữ quyền, dân quyền của thiểu số, hoặc quyền phá thai hay hôn nhân đồng tính. Nghịch lý ở đây là sự sa sút của nền giáo dục trung tiểu học tại Mỹ, trong khi đại diện của thầy cô lại phất cờ cho những mục tiêu khác. Nghịch lý ấy cũng giải thích vì sao mà ngay giữa cơn suy trầm kinh tế, ứng cử viên Obama lại chọn một số đề mục tranh cử về xã hội mà thiên hạ cho là không thuộc loại ưu tiên như kinh tế.

Ngoài đòn phép chính trị khá bẩn, việc theo đuổi tiền tài này mới là vấn đề cho nền dân chủ Mỹ. Nhưng hình như cử tri Hoa Kỳ mới là lực lượng được o bế nhất - và họ vẫn có thể gây bất ngờ.


Bài viết thể hiện quan điểm riêng của kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, sống tại California, Hoa Kỳ.