Thứ Sáu, tháng 8 03, 2012

Dầu Khí và Ý Chí

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo 120803

Lặn Xuống Vực Sâu Mới Giải Phóng Được Cái Đầu Nông Cạn?


 * CNOOC đáng trống xuất quân - mũi nhọn "Hải dương Thạch khí *



Trung Quốc đang mở ra ba mũi công về ngoại giao, quân sự và kinh tế để khẳng định chủ quyền của mình trên thềm lục địa của Việt Nam. Nhưng mục tiêu của họ không chỉ có vậy, nên có thể tạo ra một cơ hội khác cho người Việt Nam. Một nghịch lý kỳ lạ....


Sau khi mở chiến dịch tấn công ngoại giao nằm tranh thủ và phân hóa lập trường của Hiệp hội ASEAN gồm 10 Quốc gia Đông Nam Á, với kết quả là quyết định trì hoãn đầy tính chất phá hoại của Cam Bốt tại các hội nghị vừa qua của ASEAN và diễn đàn Cấp vùng ARF của ASEAN, Bắc Kinh đã nhấn tới với việc nâng cấp bộ hành chánh và vị thế quân sự của thành phố Tam Sa cùng sự hiện diện của lực lượng hải giám.

Mũi nhọn ngoại giao được họ tăng cường bằng sức mạnh quân sự để khẳng định tư thế của Trung Quốc trên vùng biển Đông hải của Việt Nam, nơi mà chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang là mâu thuẫn giữa Trung Quốc, Đài Loan và các nước Đông Nam Á, đứng đầu là Việt Nam và Phi Luật Tân (Philippines).

Với hai mũi công về ngoại giao và quân sự, lãnh đạo Bắc Kinh vừa nhồi thêm một đòn kinh tế để khẳng định chủ quyền của mình trên vùng tranh chấp.

Ngày Thứ Hai 23 Tháng Sáu, tập đoàn dầu khí hải dương CNOOC chính thức mời các doanh nghiệp năng lượng quốc tế vào thăm dò và khai thác chín lô dầu trên một diện tích 160 ngàn cây số vuông. Khu vực đó bao trùm lên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, nơi có nhiều lô dầu cũng đang được thăm dò từ nhiều năm nay.

Sau khi công bố quyết định ấy, CNOOC vừa thông báo thêm rằng các doanh nghiệp ngoại quốc có một năm để cân nhắc lợi hại và tham gia đấu thầu việc thăm dò chín lô này, hạn chót là Tháng Sáu năm tới. Mục tiêu của "Chiến dịch CNOOC" là dùng mồi kinh tế nhử các tổ hợp dầu khí ngoại quốc vào liên doanh hầu mặc nhiên chấp nhận chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển đang tranh chấp với Việt Nam và Phi Luật Tân.

Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.

Vùng biển Đông Nam Á, Đông hải của Việt Nam hay South China Sea theo cách gọi thông dụng của quốc tế, là khu vực rộng lớn đến ba triệu rưởi cây số vuông và là nơi sinh hoạt của 600 triệu dân Đông Nam Á, hơn ba tỷ người từ Trung Quốc qua bán đảo Ấn Độ vì nối liền Thái bình dương với Ấn Độ dương.

Đây là cũng khu vực kinh tế trọng yếu của nhân loại vì là nơi vận chuyển hàng hóa liên lục địa, với trọng lượng khoảng 45% và giá trị là 35% của luồng giao dịch hàng hải toàn cầu. Khu vực này còn có các yếu hầu chiến lược là Eo biển Malacca và hai eo biển nhỏ hơn của Nam Dương (Indonesia) là Sunda và Lombok. Hàng hóa từ Đông qua Tây, từ Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan ở phía Bắc xuống tới Úc Đại Lợi phía Nam đều phải qua các dòng hải lưu này.

Ở dưới đáy, vùng biển Đông Nam Á có trữ lượng đã xác định khoảng bảy triệu thùng dầu thô và 900 ngàn tỷ thước khối khí đốt. Người ta còn mong là có thể tìm thêm được khoảng 190 tỷ thùng dầu, chưa nói đến và nhiều kim loại cần thiết cho kỹ nghệ, được gọi là "đất hiếm". Vì vậy, tập đoàn CNOOC đã tung ra 20 tỷ Mỹ kim để thăm dò ở dưới.

Chưa biết tiềm năng thực tế về dầu khí hay kim loại sẽ là bao nhiêu, có là một Saudi Arabia thứ nhì hay chăng, người ta không quên một thứ tài nguyên đã xác định là thủy sản. Đó là nguồn sống của mấy chục triệu người dân Việt Nam và Phi Luật Tân.

Khi đòi chủ quyền trên khu vực chiến lược đó qua "cửu đoạn tuyến" và mở ra mũi công ngoại giao, quân sự và kinh tế, tất nhiên là lãnh đạo Bắc Kinh nhắm vào tài nguyên kinh tế và mong là sẽ thỏa mãn từ 30 đến 40% nhu cầu năng lượng của mình. Nhưng họ không chỉ có mục tiêu kinh tề và đòn phép kinh doanh để nhờ lòng tham của các doanh nghiệp quốc tế mà xác định chủ quyền ngang ngược của mình trên vùng đặc quyền kinh tế của thiên hạ.

Lãnh đạo Trung Quốc muốn kiểm soát được dòng hải lưu và các hiểm lộ hàng hải trên vùng biển chiến lược này. Nghĩa là không chỉ xâm phạm chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên, họ còn muốn khống chế cả quyền tự do hàng hải của các nước.

Nhìn từ lịch sử lâu dài của đế quốc này, chúng ta nên nghĩ đến những mục tiêu sâu xa hơn. Đó là chiếm đoạt lãnh thổ của lân bang để biến thành vùng trái độn quân sự mà ngày nay họ gọi là "hạch tâm nghĩa lợi" - quyền lợi cốt lõi như một nghĩa vụ thiêng liêng và chính đáng. Việc thôn tính Tân Cương và Tây Tạng từ hơn nửa thế kỷ trước nằm trong chiều hướng đó. Việc đòi hỏi chủ quyền để kiểm soát vùng biển Đông Nam Á ngày nay chỉ là một tiếp nối và được hậu thuẫn bởi sức mạnh kinh tế và hải quân mà họ chưa từng có trong quá khứ.

Quan niệm phòng thủ truyền thống của Trung Quốc mang ý nghĩa tích cực và nguy hiểm hơn xưa: khu vực chiến lược này của Á châu phải là vùng trái độn quân sự mở rộng của Thiên triều.

Từ Eo biển Đài Loan xuống Eo biển Malacca qua tới Ấn Độ dương, cả một khu vực rộng lớn đó phải được Bắc Kinh kiểm soát để bảo vệ quyền lợi của mình trong lục địa và ngăn cản sự can thiệp hoặc quyền can thiệp của nước khác. Đó là khái niệm mà Ngũ giác đài của Hoa Kỳ gọi là A2/AD của Bắc Kinh ("anti-access" và "area-denial").

Phản ứng phòng thủ tích cực này có thể xuất phát từ quá khứ khi mà khu vực Trung Nguyên của họ trên các vùng châu thổ Hoàng hà và Dương tử lại bị các dị tộc tấn công, uy hiếp hoặc ba lần làm chủ trong nhiều thế kỷ như đã từng thấy trong lịch sử. Nhưng thế giới ngày nay đã đổi khác.

Quyền tự do vận chuyển cùng với quyền khai thác tài nguyên ngoài biển cả là hai khái niệm đã được quốc tế công nhận và thực tế là được đệ nhất siêu cường hải dương là Hoa Kỳ bảo vệ.

Một khía cạnh đáng chú ý khác là nếu tại khu vực Đông Bắc Á, quốc tế gọi là East China Sea, Trung Quốc đối diện với các nước hùng mạnh như Liên bang Nga, Nam Hàn, Nhật Bản, hoặc không hãi sợ như Đài Loan, tại vùng biển Đông Nam Á, họ gặp các nước nhỏ yếu và thiếu thống nhất trong Hiệp hội ASEAN, một câu lạc bộ kinh tế không hơn không kém.

Vì vậy, vùng biển này mới là nơi Bắc Kinh thấy là dễ khống chế bằng phương pháp mua chuộc đi cùng hăm dọa theo kiểu "bẻ đũa từng chiếc" hay "Phần Lan hóa" tập thể ASEAN: trung lập hóa để hóa giải phản ứng của cả tập thể.

Nhưng cũng chính vì thế mà quyết định của Bắc Kinh mới trực tiếp đe dọa quyền lợi của hầu hết các quốc gia bán đảo hay hải đảo ở chung quanh, từ Ấn Độ qua các nước Đông Nam Á xuống tới Úc và lên tới Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn. Đâm ra Trung Quốc đang xác nhận một điều mà Hoa Kỳ khẳng định từ lâu và ngày nay các nước đều công nhận là cần thiết: Hoa Kỳ là cường quốc Á Châu, có nhiệm vụ bảo đảm quyền tự do vận chuyển dân sự và quân sự trên các dòng hải lưu ("sea lines of communication" – SLOCs).

Trước thái độ và hàng động ngang ngược của Trung Quốc qua mũi nhọn CNOOC, các quốc gia có tranh chấp bị đặt trước những chọn lựa bất toàn.

Hoặc là bọc xuôi theo Thiên triều đỏ, nuốt hận mà liên doanh với CNOOC và các tổ hợp quốc tế để được chia lại một chút tài nguyên về năng lượng trong một khu vực mà mình có một phần chủ quyền. Cho đến Tháng Sáu vừa qua, doanh nghiệp Philex Petroleum của Phi còn thương thảo với CNOOC về việc thăm dò và khai thác dầu khí trên khu vực Reed Bank đang có tranh chấp với Trung Quốc. May mà sự hung hăng của Bắc Kinh đã khiến Chính quyền Manila nghĩ lại. Và phản ứng chống đối Trung Quốc của người dân Phi Luật Tân có thể phá vỡ sự thoả hiệp đó khiến Chính quyền càng phải tìm ra một thế đấu tranh khác.

Chọn lựa thứ hai là mời các quốc gia đệ tam vào cùng thăm dò các lô dầu đang bị Bắc Kinh nhòm ngó và đòi nuốt chửng. Thí dụ như Việt Nam có dự án khí đốt tại Nam Côn Sơn và hai lô dầu 127 và 128 đã liên doanh với tập đoàn ONGC Videsh Ltd. của Ấn từ năm 2006. Ngày nay, lãnh đạo Hà Nội có thể nghĩ đến các tập đoàn năng lượng của các nước khác. Nhưng giải pháp ấy gặp hai bất lợi là trình độ công nghệ quá thấp của kỹ thuật thăm dò năng lượng dưới đáy biển và trình độ tham nhũng quá cao của đảng viên cán bộ trong đảng. Xin hãy nhớ đến trình độ kỹ thuật và tham ô của "quả đấm thép" Vinashin.

Một chọn lựa khác là ráo riết học bài để nâng cấp vể kỹ thuật đào dầu dưới biển. Tới nay, các tập đoàn dầu khí của Hà Nội đã lập dự án đầu tư khoảng 600 triệu Mỹ kim cho nhu cầu đó. Nhưng thực tế thì Việt Nam mới chỉ mon men ở vùng nước nông với các dàn khoan chưa đủ sức cạnh tranh với dàn CNOOC 981 có khả năng lặn sâu 3.000 thước để tìm dầu dưới độ sâu 12.000 thước.

Thật ra, yếu tố cần thiết cho Việt Nam không chỉ là tiền bạc và thời giờ học bài mà còn là ý chí.


***


Những quyết định dồn dập của Trung Quốc đang gây ra nguy cơ mâu thuẫn và xung đột tại một khu vực chiến lược cho kinh tế thế giới. Không quốc gia nào muốn có tranh chấp vào lúc này, ở khu vực đó, nhưng ngần ấy quốc gia liên hệ đều thấy tương quan nhân quả, cái nguyên nhân gây bất ổn, cho thế giới. Cái nhân đó nằm tại Bắc Kinh.

Lý do nội bộ có thể là sự hung hăng của các tướng lãnh trong tình trạng lúng túng của lãnh đạo trước khi có Đại hội 18, hay những toan tính sâu xa của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chuyện ấy thật ra không quan trọng bằng ấn tượng phổ biến của các nước, rằng Trung Quốc đang gây vấn đề chứ không là một quốc gia biết điều có khả năng hợp tác để cùng giải quyết thiên hạ sự theo đúng công pháp quốc tế.

Ấn tượng đó của thế giới cùng trùng hợp với nhận thức của người Việt Nam. Rằng đảng Cộng sản Việt Nam mới là vấn đề từ nhiều năm nay khi cho phép Trung Quốc nắm dao đằng chuôi.

Sau những hiệp định mờ ám để nhường chủ quyền cho Trung Quốc trên đất liền từ hơn chục năm trước, Tháng Năm năm 2009, Hà Nội nộp cho Liên hiệp quốc một hải đồ bên trong đã các nhận 3/4 vùng biển Hoàng Sa và 4/5 vùng biển Trường Sa là không thuộc về Việt Nam. Nghĩa là có thể và đã bị Trung Quốc đòi là của mình.

Nhìn lại thì 80 năm sau ngày lập đảng tại Hong Kong, và nửa thế kỷ chinh chiến oan uổng ngụy danh là cách mạng và giải phóng đã dẫn tới ngày nay. Là khi tiềm lực của đất nước bị suy yếu trước sự ngang ngược của Bắc Kinh. Phản ứng tất nhiên của quốc tế có thể mua được một khoảng thời gian cho Việt Nam xoay trở và nhất là cho người dân ý thức được vấn đề mà suy nghĩ lại. Việt Nam cần có ý chí bảo vệ quyền lợi của tổ quốc. 

Ý chí ấy khởi đầu từ vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, nằm tại Hà Nội, đó là đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, bài toán không là xuống vực sâu để tìm dầu hay tranh đoạt chủ quyền trên mặt biển mà là thay đổi tư duy về đảng Cộng sản Việt Nam. Chính là các đảng viên nên khởi đầu cái quyết định cần thiết ấy. Và đừng đàn áp người dân nữa.

Thứ Tư, tháng 8 01, 2012

Dầu Khí trên Thương Trường và Chiến Trường

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120801

 Muốn biến thương trường thành chiến trường, Trung Quốc sẽ gặp chiến hạm



* Giàn khoan dầu nước sâu của tập đoàn dầu khí CNOOC của Trung Quốc 
đang rời cảng Thanh Đảo, phía đông Trung Quốc tiến ra Biển Đông. 
Ảnh chụp hôm 21/5/2012 của AFP *


Hồ sơ CNOOC-Nexen


Nhân chuyến thăm viếng Liên bang Nga vừa kết thúc của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, giới quan sát quốc tế đã đồn đoán về nội dung thảo luận giữa Việt Nam và Nga liên quan đến việc sử dụng Cam Ranh, như một căn cứ hải quân của Nga hay chỉ là một cơ xưởng bảo trì tầu bè của quốc tế.  

Cùng lúc đó, tại Hoa Kỳ đã có cuộc tranh luận về việc tập đoàn dầu khí hải dương CNOOC dạm mua công ty Nexen của Canada để làm chủ nhiều giếng dầu của Mỹ nằm trong Vịnh Mexico và việc Ấn Độ sẽ không rút khỏi dự án thăm dò lô dầu 128 với Việt Nam và gây mâu thuẫn với Trung Quốc vì địa điểm thăm dò lại là một trong chín lô mà tập đoàn CNOOC vừa mời quốc tế vào khai thác.

Giữa bối cảnh đầy căng thẳng tại vùng biển Đông Nam Á do thái độ gần đây của nhà cầm quyền Trung Quốc, dường như các quốc gia đang có một phản ứng về các hồ sơ có vẻ kinh tế mà lại có nội dung liên hệ đến an ninh. Diễn đàn Kinh tế sẽ tổng hợp và phân giải các yếu tố phức tạp này.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Trên thương trường quốc tế, trong tuần qua ta thấy nổi lên hàng loạt hồ sơ về năng lượng giữa các tập đoàn dầu khí và các chính quyền mà điểm đồng quy của ngần ấy chuyện đều liên hệ đến Trung Quốc và tập đoàn dầu khí hải dương CNOOC. Với tin tức dồn dập và khá phức tạp như vậy, chúng ta có thể khó nhìn ra mối nhân quả, cái gì là nguyên nhân và cái gì là kết quả, của các hồ sơ cứ tưởng như thuộc lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, xin ông tổng kết về toàn cảnh trước khi ta phân tích nội dung đích thực của các hồ sơ này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng chúng ta quả là đứng trước một thứ mê hồn trận với cả chục yếu tố chằng chéo về cả kinh tế lẫn an ninh, cho nên nếu có trình bày lại toàn cảnh thì cũng là điều có ích. Từ đó, may ra mình mới có thể phân tích hay phân giải nội dung để phăng ra một chuỗi tương quan nhân quả như ông vừa hỏi.

- Trước hết, có một chuyện tưởng là đã cũ mà đang thành mới. Tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh có nhiều dự án thăm dò năng lượng với Việt Nam, như khí đốt tại Nam Côn Sơn và hai lô dầu 127 và 128 được ký kết từ năm 2006. Cách đây hai tháng, khi thấy đầu tư tốn kém mà chưa có triển vọng, tập đoàn Videsh quyết định rút khỏi lô 127 và cân nhắc lại về lô 128 và hai lô đó nằm trong khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

- Ngày 25 Tháng Sáu, tập đoàn CNOOC của Trung Quốc lại mời quốc tế vào thăm dò để sẽ khai thác chín lô dầu ngay tại khu vực này và thực tế còn đưa hải quân vào hỗ trợ quyết định ngang ngược đó. Lô 128 mà Việt Nam và Ấn Độ đang thương thuyết lại cũng bị dìm vào một phần của lô Danwan 22 mà CNOOC vừa rao bán. Tuần qua, phía Ấn Độ liền có phản ứng, là chưa chắc đã rút khỏi lô 128 mà còn kêu gọi các nước không chỉ tôn trọng quyền lưu thông ngoài biển mà phải bảo vệ quyền khai thác tài nguyên theo luật lệ quốc tế. Đấy là một chuyện cho thấy kết quả của việc CNOOC đòi khai thác tài nguyên trong một khu vực của Việt Nam.

Vũ Hoàng: Tức là Trung Quốc vừa gây ra một phản ứng trên thương trường và phản ứng đó của Ấn Độ không chỉ thu gọn vào tính toán kinh doanh lời lỗ mà còn có nội dung ngoại giao nữa. Hồ sơ thứ hai cũng liên quan đến tập đoàn CNOOC này là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa:-  Cùng lúc với việc Ấn Độ cân nhắc lợi hại về kinh tế và ngoại giao trong dự án liên doanh với Việt Nam, hôm Thứ Hai 23 Tháng Bảy, tập đoàn CNOOC dạm mua tổ hợp dầu khí Nexen của Canada với giá cao hơn giá trị trường đến hơn 60%.

- Đề nghị này nhắm vào nhiều mục tiêu kinh tế, xin được tóm lược như sau. Nếu CNOOC làm chủ Nexen, Trung Quốc sẽ thụ đắc trình độ kỹ thuật gần như các tổ hợp số một của quốc tế như Shell hay ExxonMobile. Thứ hai, nhờ kiến năng hiện đại của các doanh nghiệp Bắc Mỹ để gạn đá ra dầu và khí đốt, Trung Quốc có thể khai thác được tiềm năng này của mình ở nhà. Thứ ba, từ nay Trung Quốc có thể bung ra thụ đắc các giếng dầu hay khí đốt trên toàn cầu và làm chủ nhiều giếng dầu khí của thế giời. Và thứ tư, nhờ đó họ có thể chi phối sản lượng và ảnh hưởng tới giá dầu trên thế giới, thay vì thụ động chấp nhận cái giá lên xuống của thị trường.

- Nhưng tính toán đầy tham vọng đó của CNOOC cũng lại gây phản ứng, lần này là từ phía Hoa Kỳ. Hôm Thứ Sáu 27 vừa qua, các giới chức trong Quốc hội Mỹ yêu cầu chính quyền cứu xét đề nghị này. Lý do cứu xét là vì Nexen hiện đang khai thác nhiều giếng dầu của Mỹ nằm trong Vịnh Mexico và nếu tổ hợp này được bán cho CNOOC thì Trung Quốc sẽ là chủ đầu tư và khai thác các giếng dầu đó của Hoa Kỳ. Hai cơ quan là Hội đồng Kiểm soát Chứng khoán SEC và Ủy ban Đầu tư Nước ngoài thuộc Bộ Ngân khố Mỹ đang chú ý về hồ sơ CNOOC-Nexen đó. 

Quân cảng Cam Ranh  


pb-120604-panetta-vietnam-ps1-250.jpg
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta thăm cảng Cam Ranh tháng 6/2012. AFP photo


Vũ Hoàng: Xin hỏi thêm một câu thưa ông, vì sao Canada có thể cho một tập đoàn Trung Quốc mua tổ hợp Nexen? Hiển nhiên là CNOOC và Nexen đã thỏa thuận trước khi thông báo việc dạm bán đó, trong lúc ấy, chính quyền Canada nghĩ gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khác với tập đoàn Videsh của Ấn Độ là một công ty quốc doanh, Nexen của Canada là doanh nghiệp tư nhân có hội sở tại tỉnh Alberta. Luật lệ Canada cho phép tư doanh và các địa phương thẩm quyền quyết định về các dự án có lợi cho kinh tế. Ban đầu, Canada đã muốn bán dầu khí ở Alberta và ngoài thềm lục địa cho Hoa Kỳ và dự án thiết lập một mạng lưới những ống dẫn dầu và khí đốt của Canada cho các tiểu bang Mỹ đã được nghiên cứu.

- Không may là dự án Keystone Pipelines này lại bị Chính quyền Barack Obama bác bỏ vì e ngại về môi sinh. Quyết định bất ngờ ấy của Mỹ khiến Canada thất vọng trong khi CNOOC đang dạm mua dầu khí Canada và tổ hợp Nexen. Bây giờ, nếu CNOOC lại làm chủ các giếng dầu Mỹ thì Hoa Kỳ có khi tính lại, hoặc sẽ đặt ra điều kiện với Trung Quốc để tìm mối lợi khác. Ta không quên là năm 2005, CNOOC đòi mua tổ hợp dầu khí UNOCAL của Mỹ mà sau cùng phải kín đáo rút lui vì sự phản đối của Ủy ban Đầu tư Nước ngoài và của Quốc hội Mỹ. Lần này, họ đi đường vòng để không chỉ mua dầu mà còn mua công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí dưới đáy biển.

Vũ Hoàng: Bây giờ đến chuyện Liên bang Nga và dự án Cam Ranh. Chúng ta có thấy một viên tướng Hải quân Nga nói đến việc sử dụng hải cảng này như một quân cảng cho Hải quân Nga. Nhưng Bộ Quốc phòng Nga lập tức điều chỉnh lời tuyên bố và ông Trương Tấn Sang xác nhận rằng đôi bên nghiên cứu việc lập ra một cơ xưởng bảo trì tầu bè mà thôi. Cách đây hai tháng, Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ đã thăm viếng Cam Ranh là nơi mà một tầu vận chuyển dân sự của Mỹ do Hải quân sử dụng đang được bảo trì. Bây giờ, đến lượt Nga lại chú ý và nghĩ đến việc trở lại căn cứ này. Tất nhiên là dư luận thế giới đã theo dõi và nghĩ đến sự hiện diện đầy đe dọa của Trung Quốc. Ông đánh giá thế nào về chuyện đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vị trí địa dư và hình thể của Cam Ranh có tính chất chiến lược về quân sự nên hải cảng này đã được thực dân Pháp chú ý từ thế kỷ 19. Cam Ranh thực tế đã là căn cứ của Nga trước cuộc chiến Nga-Nhật năm 1905, rồi của Nhật trong Thế Chiến II, rồi là căn cứ hải quân và chủ yếu là không quân của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Sau đó, Cam Ranh cũng trở thành bàn đạp cho Hạm đội Xô viết trong khu vực Đông Nam Á. Kết cuộc thì Việt Nam có một báu vật trời cho mà nhiều nước thèm thuồng vì những mục tiêu riêng của họ.

- Tôi thiển nghĩ đáng lẽ Việt Nam nên tân trang căn cứ này thành một trung tâm kinh tế hiện đại, mở ra cho các nước cùng khai thác về cả dân sự lẫn quân sự. Khi ấy, vì quyền lợi của họ, các nước đều phải tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và hợp tác trong tinh thần bình đẳng. Nhưng lãnh đạo Việt Nam đã lỡ cơ hội và theo đuổi ưu tiên khác, thí dụ như quả đấm thép Vinashin và những lỗ hổng khổng lồ trong hệ thống phòng thủ, trong khi Cam Ranh cứ thế mà tụt hậu.

- Bây giờ, có lẽ Việt Nam đang tính lại và nhìn vào Cam Ranh như một lợi thế để mời người này hay can gián người kia và đung đưa giữa hai mục tiêu kinh tế và an ninh. Nhưng sau khi Hà Nội nộp Liên hiệp quốc tấm bản đồ đầy bất lợi về chủ quyền của mình trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào Tháng Năm năm 2009, tơi nghĩ rằng lãnh đạo Hà Nội đã cho Trung Quốc nắm dao đằng chuôi nên e là Cam Ranh cũng chẳng cứu được Hoàng Sa hay Trường Sa. Bây giờ họ mới nghĩ đến Mỹ, đến Nga, đến Ấn Độ hay Nhật Bản...

Vũ Hoàng: Chúng ta có thể đi qua phần hai là phân tích lại mục tiêu chính và phụ, kinh tế hay an ninh, của ngần ấy hồ sơ phức tạp. Ông nhận xét như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta cứ nói về triển vọng kinh tế lớn lao của vùng biển Đông Nam Á với khả năng tìm ra mấy chục tỷ thùng dầu hay mấy ngàn tỷ thước khối khí đốt ở dưới đáy. Thật ra mối lợi kinh tế về năng lượng mới chỉ là dự đoán và đòi hỏi đầu tư rất tốn kém, như Videsh của Ấn Độ đã mất 45 triệu đô la mà chưa thấy kết quả nên mới tính đến chuyện bỏ cuộc.

- Chuyện thứ hai, rất quan trọng cho Việt Nam chính là nguồn thủy sản cho mấy chục triệu dân sống tại vùng duyên hải. Người ta cứ nghĩ đến những dàn khoan đào dầu mà chưa thấy dầu trong khi lại quên số phận ngư phủ và khu vực sản xuất thủy sản rất thiết thực của quốc gia.

- Chuyện thứ ba, nói về việc khai thác dầu khí dưới đáy biển thì yếu tố sinh lời và an toàn tất nhiên nằm trong sự cân nhắc của mọi đối tác. Trung Quốc đang chiếm ưu thế về công nghệ và tài chính để chiêu dụ các nước và đẩy Việt Nam ra ngoài. Nhưng mục tiêu của họ chưa hẳn là lấy dầu dưới biển mà là nhờ các doanh nghiệp quốc tế vào tìm dầu sẽ mặc nhiên hợp thức hóa việc chiếm đóng phi pháp của ắc Kinh. Họ bổ xung thế yếu về pháp luật nếu chiếu theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển bằng mối lợi kinh tế sẽ chia chác với các nước.

- Nhưng vì chủ quan với sức mạnh hải quân ngụy danh hải giám để hỗ trợ việc ăn cướp, lãnh đạo Bắc Kinh lại khiến các nước cân nhắc lại sự lợi hại của an ninh và kinh tế. Bắc Kinh đang biến thương trường thành chiến trường nên có thể gặp phản ứng dội ngược của quốc tế.

 

Ứng xử ra sao  



000_Del512725-250.jpg
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (T) bắt tay Thủ tướng Ấn Đô Manmmohan Singh tại New Delhi hôm 12 tháng 10 năm 2011. AFP photo  


Vũ Hoàng: Thưa ông, trong hoàn cảnh đó thì các nước trong cuộc sẽ tính sao, nên làm gì để bảo vệ được quyền lợi của mình?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói theo lối dí dỏm kiểu Mỹ thì việc đó vượt quá mức lương của tôi! Thực tế thì chỉ có thể suy đoán theo cái nhìn hạn hẹp của mình mà thôi.

- Trước hết, những đòn phép kinh tế của Trung Quốc mà chúng ta đã phân tích kỳ trước trong bài "Võ khí Kinh tế" lại dẫn tới hậu quả ngược. Trên vùng biển Đông Nam Á, Trung Quốc gặp các đối thủ nhỏ yếu và dùng kinh tế để mua chuộc và sức mạnh để hăm dọa từng nước theo kiểu bẻ đũa từng chiếc. Nhưng kết quả của đòn ly gián này đang khiến Hiệp hội ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á thấy ra sự bất lực của tập thể nên ta mới có phản ứng khá mạnh của Indonesia và Philippines với Cam Bốt, bị quy trách là quân cờ của Trung Quốc trong cục diện Đông Nam Á. Khi Ấn Độ cũng nhảy vào cuộc qua dự án Videsh, mình thấy ra nhiều trở ngại sắp tới cho Trung Quốc. Các nước nhìn ra bàn tay cầm súng và chi tiền của Bắc Kinh.

- Khi dùng thủ thuật CNOOC, Trung Quốc đặt các nước đối thủ như Việt Nam hay Philippines trước hai chọn lựa. Một là hợp tác với CNOOC trong chín lô dầu đó và đành chịu mất chủ quyền để còn được chia chác một mối lợi nhỏ hơn, thay vì mất hết cả chì lẫn chài. Hai là mời một quốc gia đệ tam vào cùng khai thác để phần nào được bảo vệ. Có lúc Philippines thiên về giải pháp thứ nhất là liên doanh với CNOOC. Nhưng bây giờ thì họ sẽ ngần ngại và dân chúng sẽ phản đối rất mạnh. Việt Nam thì thiên về giải pháp thứ hai, qua liên doanh với Ấn Độ và có thể là nhiều xứ khác, như Nga, Mỹ, Âu, Nhật. Giải pháp đó bị Bắc Kinh tìm cách phá vỡ, thí dụ như qua việc phản đối và hăm dọa Ấn Độ. Kết quả hình như xảy ra trái ngược như ta đã thấy.

- Sau cùng và nhìn trên toàn cảnh, các doanh nghiệp quốc tế đều đang cân nhắc về triển vọng đào dầu trong tương lai, sau những đầu tư rất tốn kém mà kết quả thì chưa đảm bảo. Chuyện có lời sau này thì chưa thấy đâu nhưng ngay trước mắt, họ lại e ngại về sự an toàn vì thái độ hung hăng của Trung Quốc. Khi biến thương trường thành chiến trường như vậy, Trung Quốc đang mời các chiến hạm đi vào vùng nước đục, trong khi các doanh nghiệp đứng ngoài chờ đợi.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, Việt Nam nên ứng xử ra sao trong hoàn cảnh đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thật chẳng biết là lãnh đạo Việt Nam có muốn ứng xử hay không vì những mâu thuẫn sâu xa trong nội bộ của họ là nên theo voi hít bã mía hay nên trở lại với quyền lợi dân tộc. Lý do là họ vẫn đàn áp người biểu tình chống Trung Quốc. Nếu Việt Nam lại muốn bọc xuôi như Căm Bốt thì mình có nói gì cũng thừa. Có lẽ ta nên đợi xem lãnh đạo Hà Nội bày tỏ được một chút đởm lược khi các nước đều đang nghĩ lại đối sách với Trung Quốc và muốn biết rằng Việt Nam đứng ở đâu.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Thứ Ba, tháng 7 31, 2012

Ngợi Ca Tự Do

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120730
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Thế Vận Hội và tương quan lực lượng

* Dân biểu tình tại Khải Đông trong tỉnh Giang Tô 
lật đổ xe cảnh sát hôm Thứ Bảy 28 - Ảnh Kyodo *



Trước khi Thế vận XXX khai mạc tại thủ đô Anh quốc và không hổ danh một đại diện cho đảng Cộng Hoà, nguyên Thống đốc Mitt Romney đã thể hiện truyền thống của đảng là... rút súng tự bắn vào chân! Hoặc nói cho hiền hòa hơn, tự vả vào miệng.

Đã từng tổ chức Thế vận hội Mùa Đông 2002 tại Utah, ứng cử viên Tổng thống bên đảng Cộng Hoà hiển nhiên biết rõ sự khó khăn của việc tổ chức. Nhưng thay vì nhấn mạnh đến nỗ lực tích cực của Ủy ban Thế vận Anh quốc trong bối cảnh suy trầm kinh tế, ông mau mắn dạy dỗ nước Anh về việc bảo vệ an ninh Thế vận và nhắc tới khiếm khuyết. Kết quả là nhục mạ quốc gia đang chào đón ông trong vòng tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ.

Ban tham mưu tranh cử của Romney không làm đúng việc. Phải chi họ dành dăm ba phút suy nghĩ về một việc phù du mà cần thiết cho các chính khách:

Vì sao lực sĩ đoạt huy chương vàng lại rưng rưng nước mắt khi quốc thiều trổi lên cùng lá quốc kỳ của mình? Vì sao khán giả trong vận động trường hay trước màn ảnh truyền hình ở nơi khác lại hò la cổ võ lực sĩ của quốc gia mình? Với người Việt ta, loại câu hỏi đó cũng thể hiện qua sự việc là mình ta hơi buồn khi nhìn đến phái đoàn Việt Nam và chú ý đến các lực sĩ gốc Việt trong phái đoàn Mỹ và Đức....

Vì sao như vậy? Vì tâm lý liên đới của những người cùng sinh sống trong một cộng đồng quốc gia? Vì lòng yêu nước hay vì tự ái dân tộc? Khi hữu sự, những động lực mơ hồ ấy thật ra lại có sức mạnh dời sông lấp biển.

Ông Romney quên bẵng chuyện này và xúc phạm tự ái của người Anh. Từ một đế quốc suy tàn sau mấy thế kỷ thấy lá quốc kỳ không hề lặn trên mặt địa cầu, người Anh muốn nhân Thế vận London khẳng định bản sắc của mình. Nhất là khi đã thấy Trung Quốc phô trương thanh thế tại Thế vận Bắc Kinh năm 2008. Thế rồi trước khi mở màn thì lại bị một ông đồng minh xối cho lon nước lạnh!

Chuyện ấy dẫn ta trở về một tiêu chuẩn phù phiếm có thể đo lường sức mạnh của quốc gia: số huy chương đoạt được tại Thế vận hội. Càng nhiều vàng thì càng mạnh.

Chỉ có tại Hoa Kỳ, nhật báo The Wall Street Journal cất công nghiên cứu và phỏng vấn các chuyên gia để trong một bài tổng hợp rất dài dự đoán số huy chương mà phái đoàn Mỹ sẽ đoạt tại London: như số anh hùng Lương Sơn Bạc, 108 cái! Trong đó có 40 huy chương vàng. Còn Trung Quốc? Sau thành tích hoành tráng lần trước, năm nay phái đoàn Trung Quốc có thể tụt xuống hạng nhì với 92 huy chương, gồm 38 lóng lánh màu vàng.

Đây chỉ là một dự đoán, và dù có cơ sở rất khoa học về những tiêu chuẩn - kể cả thành tích đã qua của từng lực sĩ ưu tú cho mỗi quốc gia - thì bảng điểm này vẫn có thể trật lấc. Nhưng chính các tiêu chuẩn ấy mới khiến ta chú ý đến sự khác biệt giữa hai nước dẫn đầu về kinh tế lẫn huy chương.

Đó là số tiền mà mỗi bên đầu tư vào việc tuyển chọn, huấn luyện hay thi đấu? Không!

Khác biệt chính là tính chất tự do và tự phát của Hoa Kỳ, khởi đi từ phân khoa thể thao trong các trường học cho đến việc tuyển lọc và tập dượt ở từng địa phương. Hoàn toàn tư nhân, của xã hội dân sự. Phía Trung Quốc thì đấy là sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của hơn một tỷ 300 triệu người. Nhưng do nhà nước gom thành một mũi nhọn.

Chìm sâu bên dưới có một hiện tượng xã hội rất lạ: trong 20 năm qua, số trường học về thể thao tại Trung Quốc giảm mất 40% vì người dân Hoa lục nhìn thấy nhiều ngả tiến thân khác hơn là trở thành lực sĩ. Riêng người viết còn nhìn thấy một hiện tượng nhỏ nhoi khác. Ngày đầu tiên, con kình ngư Michael Phelps mất ngay huy chương vàng, nhưng tấm huy chương cao quý ấy vào tay một lực sĩ khác của Mỹ, Ryan Lochte. Tại Hoa Kỳ, chẳng ai có thể mãi mãi ngự trên đỉnh và thay bậc đổi ngôi là một quy luật.

Sự linh động và sinh động của một xã hội tự do đã tạo ra sức mạnh Hoa Kỳ.

Câu chuyện ấy dẫn ta về một vấn đề thời sự. Trong cuộc tranh đua về quyền lợi quốc gia, cụ thể là thế và lực giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, những yếu tố nào mới là sức mạnh? Tài nguyên, nhân lực, khả năng tổ chức, tinh thần quốc dân, hay ý chí lãnh đạo? Câu hỏi ấy dẫn tới một mâu thuẫn, một nghịch lý, chưa được vận dụng.

Hơn một tỷ người dân Trung Hoa hiển nhiên là có niềm tự hào dù mơ hồ về văn hoá lịch sử của họ. Y như trong trò chơi Thế vận – It's just a game! – lãnh đạo Bắc Kinh đã khéo khai thác niềm tự hào thành sức mạnh tổng hợp. Một sức mạnh do đảng Cộng sản Trung Hoa là đại biểu chân chính – và toàn quyền sai khiến.

Nhưng trong khối dân đông đảo ấy, cả trăm triệu người đã và đang tranh đấu và thậm chí hy sinh vì những yếu tố mà nhiều người Mỹ lại coi thường: chống lại cường quyền, sự nghèo đói, bất công, bệnh tật hay chinh chiến. Nhiều người Mỹ coi thường các yếu tố đã trở thành hiển nhiên trong cuộc sống thường nhật của họ nên ít chú ý đến nỗi khát khao của dân Trung Quốc.

Ngoài tự ái dân tộc, một điểm rất chung của mọi quốc gia như ta có thấy trong Thế vận hội, đa số người dân Trung Quốc ngày nay cũng hiểu ra sức mạnh giải phóng của kinh tế thị trường. Kinh tế tự do mở ra chân trời tự do cho chính họ và có làm xã hội thay đổi. Nhưng quyền tự do đó xuất phát từ sự tính toán của lãnh đạo nên tất nhiên là phải có giới hạn.

Tại Hoa Kỳ, quyền tự do này là bản chất của xã hội, quốc gia, của từng người dân và vì vậy nó thường gây mâu thuẫn với nhà nước. Chúng ta sẽ sai lầm nếu coi mâu thuẫn này là nhược điểm của nước Mỹ. Càng sai lầm hơn khi đánh giá thấp những mâu thuẫn trong xã hội Trung Quốc.

Một nhà nước mà không có khả năng thay đổi thì khó có khả năng tồn tại.

Hoa Kỳ thường xuyên thay đổi. Cứ hai năm một lần là nhà nước ở mọi cấp lại được người dân xét lại khả năng qua lá phiếu trong nhiễu âm cãi cọ của bầu cử. Tại Trung Quốc, mọi sự đều có vẻ lầm lỳ khốc liệt. Cứ hai Đại hội đảng, 10 năm một lần, người ta mới thấy một chút hy vọng thay đổi. Hoặc chẳng được thấy mà chỉ suy đoán qua những đòn phép chính trị, pháp lý hay hình sự từ trên rỉ xuống.

Nếu không nhìn ra khác biệt này, Hoa Kỳ - và cả chúng ta nữa – sẽ quên một yếu tố vận động hay vận dụng.

Người dân Trung Quốc hãnh diện về phi thuyền Thần Châu, vệ tinh Phong Vân hay mẫu hạm Thi Lang, chuyện ấy rất chính đáng nhưng nếu chỉ nhìn vào đó thì người ta dễ gom tỷ người thành một. Vào chung một chiến tuyến.

Người dân Trung Quốc có hãnh diện về nạn tham ô, bất công, độc đoán, cướp bóc và đàn áp của cái đảng đang độc quyền lãnh đạo hay chăng? Hiển nhiên là không. Họ có thầm kính phục về đởm lược của những người đang tranh đấu như Lưu Hiểu Ba hay Ngải Vị Vị không? Dù chẳng được nói ra, hiển nhiên là có.

Khi hữu sự, ở ngoài Đông hải chẳng hạn, thì những người khát khao tự do của Trung Quốc sẽ đứng ở đâu? Nếu người dân Trung Quốc có tự do và làm nhà nước thay đổi thì chuyện "hữu sự" hay xung đột ấy có xảy ra không? Nhiều phần thì không vì họ cũng chấp nhận quyền tự do lưu thông ngoài biển mà hầu hết mọi quốc gia đều đồng ý và bảo vệ. Hiển nhiên là họ cũng chấp nhận việc ôn hòa đàm phán để giải quyết những mâu thuẫn về chủ quyền. 

Nếu giúp cho người dân Trung Quốc thật sự làm chủ đất nước của họ, có lẽ Hoa Kỳ sẽ tránh được câu hỏi nhiều người đang thắc mắc. Là làm sao chống được Trung Quốc.

Thứ Bảy, tháng 7 28, 2012

Độc Hành Sát Thủ hay Cái Dũng Ở Đầu Ruồi

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày Nay 120724 

Nhân Vụ Tàn Sát Tại Colorado, Nhìn Lại Hiện Tượng Sát Thủ Cô Đơn Trong Xã Hội Mỹ  

 * Truyện bằng tranh cho thiếu nhi *


Nửa đêm Thứ Sáu 20, nghi can James Homes đã mở cuộc tàn sát trong một rạp hát bóng tại thị trấn Aurora của tiểu bang Colorado. Kết quả là 12 người thiệt mạng, 58 người bị thương. Vụ giết người của một tay sát thủ cô đơn lập tức gây phản ứng trong dư luận thế giới. Như mọi khi, bỉnh bút Nguyễn-Xuân Nghĩa lại... nhìn ra chuyện đổi trắng thay đen trong lịch sử Hoa Kỳ.


Vụ tàn sát tại Colorado vào nửa đêm 20 qua ngày 21 đã được dư luận cả thế giới chứ không riêng gì Hoa Kỳ theo dõi và bình luận. Người ta nói đến cái "nhân" là tình trạng tâm thần bất ổn của nghi can, James Holmes, xuất thân từ California và đang bỏ dở học trình Tiến sĩ về khoa thần kinh tại Đại học Colorado, hay cái "duyên" là cuốn phim về nhân vật Batman, nửa người nửa dơi ("The Dark Knight Rises").

Một kẻ như vậy tất nhiên là đã có tư tưởng sát nhân lởn vởn trong đầu và chuẩn bị tội ác từ lâu rồi. Cơ hội ra tay là đêm đầu tiên ra mắt cuốn phim hư cấu này. Việc nghi can nhuộm đỏ mái tóc và hành xử như nhân vật Joker trong truyện Batman chỉ là phần trình diễn của kẻ bất thường. Nghĩa là chẳng có phim Batman thì Holmes vẫn có thể hành động và chẳng dùng súng thì hung thủ vẫn có thể giết người, như đã gài bom ngay trong căn hộ của mình.

Đáng chú ý hơn cả về biến cố đau thương này là phản ứng của các chính trị gia.

Họ lập tức tranh luận về quyền mang súng của người Mỹ, hoặc về nhu cầu kiểm soát việc thụ đắc võ khí. Nếu nghi can không dễ dàng mua súng thì có khi bi kịch đã chẳng xảy ra, đấy là lập luận cố hữu của những người hiền lành - và của đa số bên đảng Dân Chủ. Nhưng cuộc tranh luận đó chỉ chứng tỏ là người Mỹ mắc bệnh quên trí nhớ.

Xin hãy nhắc về chuyện trí nhớ trước, về hiện tượng độc hành sát thủ sau.


***


Sau cuộc Nội chiến 1861-1865, một số nhân vật cực đoan của phe Confederation ở miền Nam đã lý luận rằng xã hội bị biến chất bởi người da đen, dân da trắng phải tự bảo vệ lấy bản sắc. Nhóm người quá khích này xuất phát từ đảng Dân Chủ, là sáng lập viên của phong trào Ku Klux Klan hắc ám. Chuyện ấy, người Mỹ đã quên.

Họ cũng quên rằng đảng Dân Chủ khi đó chủ trương phải kiểm soát võ khí và hạn chế quyền mang súng để dân da đen không thể tự vệ bằng súng. Loại luật lệ "phải đạo" ấy cho phép các tay Ku Klux Klan bên đảng Dân Chủ tha hồ bắn hạ bọn nô lệ da đen vừa được giải phóng như người ta bắn vịt trời. Mà chơi.

Chìm sâu trong chuyện quái đản ấy là đảng Dân Chủ thời "hậu chiến" vừa lập ra phong trào KKK vừa vận động đạo luật chối từ quyền công dân cho người da đen: chẳng là công dân thì không có quyền mang súng. Vì thế, từ hơn trăm năm trước, sau khi Tổng thống Abraham Lincoln giải phóng dân da đen, đảng Cộng Hoà ủng hộ việc cho họ quyền mang súng để tự vệ.

Như đạo luật "Anti-Klan" năm 1871 do Tổng thống Cộng Hoà Ulysses Grant nhắm vào hai việc: diệt trừ tổ chức kỳ thị KKK và cho phép công dân mang súng để bảo vệ tính mệnh và tài sản. Được thành lập cũng từ năm đó, hiệp hội NRA đề cao quyền mang súng và 60 năm trước đây hội này còn tích cực vận động cho người da đen được quyền có súng!

Ngày nay, người ta quên hẳn quá khứ và cứ nghe những lý luận đảo điên về nhân quả mà tưởng là sự thật. Mỗi khi có một vụ thảm sát, chuyện mang súng lại là đề tài tranh luận!


***


Chúng ta trở lại những kẻ một thân một mình tìm cách giết người.

Từ hung thủ đã ám sát Tổng thống Lincoln đến John Hinckley, kẻ mưu sát Tổng thống Ronald Reagan, hay Theodore Kaczinski, tay "Unabomber" đã gửi bom thư để giết người từ năm 1978 mãi đến 1996 mới bị bắt. Hoặc trường hợp của Eric Rudolph, kẻ đánh bom nơi tổ chức Thế vận hội 1996 tại Atlanta, hay hai phụ nữ đã chẳng bảo nhau mà cùng mưu sát Tổng thống Gerald Ford. Trường hợp của hai phụ nữ đó là hãn hữu chứ đa số hung thủ đều thuộc nam giới.

Gần đây hơn thì có vụ Seung-Hui Cho, kẻ gây ra vụ tàn sát tại Đại học Virginia Tech trước khi tự sát. Hay Jared Lee Loughner, kẻ đã nố súng bắn loạn đầu năm ngoái vì oán ghét nữ Dân biểu Gabrielle Giffords tại Arizona, khiến sáu người thiệt mạng, bà Giffords bị thương nặng vì trúng đạn vào đầu.

Động lực giết người của họ có thể là ý thức hệ, là tôn giáo, là bệnh lý, hoặc sự hòa nhập của cả ba yếu tố này, cho nên người ta rất khó xếp loại để điều tra hay ngăn ngừa.

Thí dụ như vì chống lại quyền phá thai, hoặc muốn bảo vệ súc vật, kẻ điên có thế tấn công nhà thương, phá hoại xưởng thuộc da thú làm y phục. Nổi tiếng trong xu hướng bệnh hoạn này là các nhóm "dân quân" tự phát đã giết người hay tấn công nhà chức trách vì lý do ý thức hệ: cực hữu, vô chính phủ, tự do tuyệt đối, hoặc đề cao sự ưu việt của da trắng, nhóm "white supremacist".

Nhưng khi đã là một tập thể, các lực lượng ấy có thể bị nhà chức trách xâm nhập và phá vỡ từ bên trong và kẻ sát thủ độc hành bỗng dễ thành thất nghiệp.

Đầu năm 1992, một lãnh tụ lỗi thời của tổ chức KKK bèn phát huy sáng kiến "kháng chiến không lãnh đạo" để "đổi mới" phong trào white supremacist: gầy dựng các tổ đặc công tự trị mà khỏi cần phối hợp.

Từ lý luận của tay Louis Beam này, họ lập ra hai tầng tổ chức. Hoàn toàn hợp pháp và công khai là lớp vỏ vận động thông tin – được Đệ nhất Tu chính án bảo vệ - nhằm khích động quần chúng. Chìm bên dưới như tà ma là phần hành động, gồm từng cá nhân hay tiểu tổ một vài người sẽ tiến hành bạo động sau khi thu thập kiến thức về "nghiệp vụ" từ hệ thống thông tin công khai.

Người ta rất khó truy tìm hung thủ trong môi trường khủng bố tự phát đó.

Nhưng trong hiện tượng bạo động, vấn đề gai góc nhất cho nhà chức trách là đối phó với những cá nhân mắc bệnh cuồng sát trong tâm trí. Làm sao biết trước để phòng ngừa vì tình trạng tự cô lập của những tay sát thủ mắc bệnh tâm thần? Hung thủ thường lủi thủi sống một mình, chuẩn bị lấy hành động sát nhân và vì ít giao tiếp với người khác nên không để lộ âm mưu giết người.

Đã thế, vì mắc bệnh tâm thần, họ bất cần tới hậu quả. Nhiều khi phạm tội rồi vẫn chẳng tìm cách đi trốn, như John Hinckley năm xưa và có khi còn được giảm án vì mắc bệnh! Trường hợp James Holmers có lẽ cũng như vậy, bất cần, khỏi trốn và có khi thoát tội tử hình.

Mà nạn sát thủ độc hành này không chỉ xảy ra trong các thành phố lớn vì nơi nào cũng có. Hiện trường cũng chẳng là một công thự liên bang hay cơ quan nhà nước như vụ Timothy McVeigh đánh bom cao ốc liên bang của Oklahoma City khiến 168 người mất mạng năm 1995. Nơi giết người có thể là đất công cộng rất khó kiểm soát hay bảo vệ, như trường học, nhà thương, bãi đậu xe.

Chỉ sau khi tai họa xảy ra người ta mới hiểu ra một vài triệu chứng chung.

Thí dụ như phản ứng bạo động trước đó của hung thủ với người chung quanh. Hoặc hành vi phạm pháp hay những phát biểu kỳ quái trước khi ra tay. Một hiện tượng đáng chú ý là khi hung thủ bất ngờ ly khai một tập thể, bỏ học, ra khỏi một tổ chức hay chìm sâu vào một vùng im lặng không còn liên lạc gì với thân nhân hay bạn bè.

Nhưng làm sao có thể đoán trước thảm họa từ những chỉ dấu mơ hồ đó? Hoặc làm sao biết được là kẻ điên có thể "tập dượt" – dry run – trước khi ra tay, như thăm viếng hiện trường, hoặc tìm cách tiếp xúc hay bật tín hiệu cho nạn nhân?

Khi tìm hiểu những chuyện như vậy trong xã hội Mỹ, người ta có thể kết luận rằng ngăn ngừa tội ác còn khó hơn đáy biển mò kim. Nhưng, cũng từ những nhiễu âm vang dội sau khi đã có người mất mạng, chúng ta còn có thể nhìn ra vài chuyện khác về văn hoá.


***


Xã hội Mỹ sùng chuộng bạo lực ngay từ trong lịch sử.

Thiên anh hùng ca của Hoa Kỳ nhiều khi lạc điệu thành ra hành khúc của bọn sát nhân. Và tinh thần đó thấm vào nghệ thuật giải trí, càng sát sự thật càng hay. Càng tinh vi ma quái thì càng ăn khách. Hàng năm, vào dịp lễ Halloween thì ta càng thấy ra điều ấy, nhất là trong giới thiếu niên có tâm trí non nớt và tưởng rằng mình có quyền làm được mọi chuyện. Ngợi ca bạo lực hoặc chỉ thấy cái dũng ở đầu ruồi của nòng súng là một nết văn hoá rất lạ, và được Hiến pháp bảo vệ tương tự như quyền mang súng.

Cánh tả thì đòi quyền tự do sáng tạo, cánh hữu đòi quyền tự do mang súng và cãi lộn lung tung!

Vậy mà một hiện tượng bi thảm khác đã lặng lẽ xảy ra trong thế giới của những người có súng: 10 năm sau khi khai mở chiến dịch A Phú Hãn, nạn binh lính Mỹ tự sát đã vượt mọi kỷ lục - mỗi ngày một mạng - còn cao hơn số thương vong vì tác chiến. Có mấy ai để ý đến hiện tượng ấy không? Làm sao giải thích được sự thờ ơ của xã hội với những thanh niên đang làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và rơi vào khủng hoảng tâm thần vì nỗi cô đơn trước hình ảnh của chiến trường và sự thản nhiên của hậu phương?

Thế rồi, khi một vụ tàn sát xảy ra thì truyền thông lại tranh nhau khai thác tin tức khiến hung thủ nổi danh như minh tinh màn bạc, khiến kẻ câm nín trong thế giới bệnh hoạn bỗng muốn nổi danh với đời - đòi chơi lấy tiếng! Có khi còn viết hồi ký ra tiền nữa. Hiện tượng bắt chước – copy cat – sau mỗi vụ thảm sát có thể gieo mầm cho một vụ thảm sát khác.

Trong khi ấy, các chính khách đều ra vẻ nhỏ lệ rồi lập tức tranh cãi và đổ lỗi. Hung thủ mà là người da trắng và nạn nhân là dân da đen thì mọi chuyện bỗng chuyển qua hướng khác, qua cái tội tổ tông của nước Mỹ. Tội kỳ thị dân da đen.

Thật ra, một lỗi lầm đã có trong lá tử vi của nước Mỹ là việc các tiểu bang có quyền ban hành luật lệ cấm dân nô lệ không được có võ khí.

Sau Nội chiến, khi chế độ nô lệ được bãi bỏ, nhiều tiểu bang vẫn duy trì luật này, lồng trong Đạo luật Da đen (Black Codes) nhằm hạn chế quyền hạn của người da đen, kể cả quyền có súng. Chế độ kỳ thị đó dẫn tới phản ứng đấu tranh cho dân quyền và quyền bình đẳng của mọi công dân, bất kể tới màu da, ngày nay đang được coi như ưu điểm của đảng Dân Chủ.

Ngày nay, cái đảng mang tiếng ác ôn kỳ thị và nguyên nhân của hiện tượng chơi súng lại là đảng Cộng Hoà, xưa kia tranh đấu cho mọi người da đen được quyền bình đẳng, kể cả quyền bình đẳng với khẩu súng. Chúng ta gọi hiện tượng đó là gì? 


Đổi trắng thay đen?  

Thứ Tư, tháng 7 25, 2012

Võ Khí Kinh Tế

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120725

Những Sợi Thòng Lọng Bọc Nhung 



* AFP photo - Thành phố Thượng Hải, Trung Quốc chụp hôm 29/6/2012, ảnh minh họa *



Tại Thượng đỉnh vừa qua của Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á là ASEAN, các nước đã không đạt được thống nhất để có một bản thông cáo chung. Đây là lần đầu tiên mà sự kiện như vậy xảy ra từ khi tổ chức này được thành lập 45 năm về trước. Giới quan sát quốc tế nói đến một lý do của tình trạng này là sự ngần ngại của Cam Bốt là nước đăng cai tổ chức, do Chính quyền Trung Quốc dùng áp lực kinh tế để gây chia rẽ trong nội bộ của ASEAN. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về những đòn bẩy kinh tế nhắm vào các mục tiêu ngoại giao.

 

Sức Ép từ Trung Quốc


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Trung Quốc đã viện trợ cho Cam Bốt đến 10 tỷ Mỹ kim và năm ngoái thì đầu tư trực tiếp vào xứ này một kim ngạch cao gấp mười số đầu tư của Hoa Kỳ. Giới quan sát quốc tế cho rằng đấy là đòn bẩy kinh tế đã khiến Cam Bốt gây trở ngại cho việc 10 quốc gia Đông Nam Á thống nhất được quan điểm về cách ứng xử ở ngoài Đông Hải trước sự bành trướng của Trung Quốc. Chúng tôi xin đề nghị là kỳ này mình sẽ tìm hiểu về loại áp lực đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là trong quan hệ giữa các nước với nhau, kinh tế có giữ một vai trò quan trọng và có thể chi phối khía cạnh ngoại giao hay an ninh. Nhưng nếu các nước dân chủ phải tôn trọng quy luật thị trường và chỉ dùng viện trợ làm phương tiện tác động tích cực về mặt ngoại giao thì các nước độc tài lại có thể dùng đòn bẩy kinh tế để gây áp lực tiêu cực hầu đạt mục tiêu của họ. Trung Quốc là một nước độc tài đã nhiều lần dùng sức ép đó với các quốc gia khác. Vấn đề ở đây là lãnh đạo các nước phải ý thức được sự kiện này hầu tránh được hoàn cảnh bất lợi là để Trung Quốc tròng được cái dây thòng lọng kinh tế vào cuống họng mình.

- Một cách rộng lớn, người ta có thấy Trung Quốc đã ký kết Hiệp định Tự do Mậu dịch với hiệp hội ASEAN từ 10 năm trước là năm 2002 cũng tại thủ đô Phnom Penh. Hiệp định mở ra một khu vực tự do thương mại với thuế quan rất thấp giữa 11 nước với nhau kể từ đầu năm 2010. Nhưng bên trong thì họ tiến hành chiến lược tôi gọi là "bẻ đũa từng chiếc" để tranh thủ từng nước riêng khiến Hiệp hội ASEAN khó có một quan điểm hay đối sách thống nhất với Bắc Kinh.

Vũ Hoàng: Như vậy, chúng ta có thể khởi đi từ sợi dây thòng lọng này của Trung Quốc và trước tiên là chuyện Cam Bốt như người ta đã có thể thấy hôm 12 vừa qua.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói về lịch sử thì ta đều biết hoàn cảnh cầm quyền của đương kim Thủ tướng Cam Bốt, ông Hun Sen, một người lãnh đạo lâu nhất của các nước Đông Nam Á kể từ 25 năm nay. Hoàn cảnh cầm quyền lúc đó của ông ta là do sự yểm trợ của lãnh đạo Hà Nội.

- Nhưng sự tình có thay đổi kể từ Tháng Bảy năm 1997 là khi Hun Sen tiến hành đảo chính để lật đổ đồng thủ tướng thời ấy là Norodom Ranariddh khiến ông này phải lưu vong qua Thái Lan. Khi theo dõi tình hình kinh tế xứ này thì mình cũng thấy ra là ngay sau đó, giới đầu tư Đài Loan bị đẩy ra ngoài và Trung Quốc tiến sâu vào mặt trận kinh tế để có ảnh hưởng mạnh về chính trị. Khi ấy, xứ Cam Bốt hết còn quan hệ khắng khít với Việt Nam như trước mà nhiều người ít để ý.

- Cũng vì không để ý nên ít người thấy Bắc Kinh viện trợ khá nhiều cho chính quyền Phnom Penh khiến Cam Bốt có lập trường hết còn thống nhất với các nước trong Ủy ban Mekong ở dưới hạ nguồn của con sông. Dự án viện trợ hai triệu Mỹ kim để xây dựng Dinh Hòa Bình ở Phnom Penh, là nơi có Thượng đỉnh ASEAN vừa qua, đã khởi sự từ thời ấy rồi.

- Tình hình cũng đã có xoay chuyển tương tự ở tại Lào, khi mà lãnh đạo xứ này có lập trường ngày càng khác biệt với Hà Nội. Một thí dụ nóng hổi là đập thủy điện Xayaburi được Lào thực hiện để bán điện cho Thái và gây mâu thuẫn quan điểm với Cam Bốt và Việt Nam. Nghĩa là các nước có quyền lợi sinh tử với sông Mekong do Trung Quốc kiểm soát trên thượng nguồn đã hết thống nhất về nhận thức và ý chí sinh tồn với nhau.


Trung Quốc là một nước độc tài đã nhiều lần dùng sức ép đó với các quốc gia khác. Vấn đề ở đây là lãnh đạo các nước phải ý thức được sự kiện này hầu tránh được cái dây thòng lọng kinh tế vào cuống họng mình.
Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Một thí dụ đầy ý nghĩa là việc các nước muốn tổ chức sinh hoạt chào mừng hiệp định hợp tác Tiểu vùng Mekong vào Tháng Tư năm 1995 bằng một con thuyền di chuyển từ Thái Lan qua Việt Nam. Thế rồi con thuyền này mắc cạn vì trên thượng nguồn Trung Quốc đã ngăn nước để đưa vào đập Mạn Loan của họ ở Vân Nam! Chuyện nước nôi trên thượng nguồn là một vấn đề sinh tử cho cả tỷ người Á châu ở dưới hạ nguồn, từ Ấn Độ qua Việt Nam mà có thể là chúng ta sẽ đề cập tới trong một kỳ khác.

 

Không chỉ các nước ĐNÁ  


000_Hkg7578969-250.jpg
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Indonesia Marty Natalegawa (T) nói chuyện với Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong (P) trong một cuộc họp tại Bộ Ngoại giao nước ngoài tại Phnom Penh vào ngày 19 tháng 7 năm 2012. AFP photo   



Vũ Hoàng: Như ông trình bầy thì những sự việc ngày nay có mầm mống sâu xa từ hơn chục năm trước mà dư luận không mấy để ý?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Có lẽ như vậy nên dư luận chẳng để ý là đầu Tháng Bảy năm 1996, khi Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội Tám thì Thủ tướng Lý Bằng của Trung Quốc khi đó đã qua tham dự với một phái đoàn hùng hậu của 150 doanh gia Trung Quốc, tất nhiên là cán bộ của hệ thống kinh tế nhà nước. Họ đi khắp nơi để gọi là phát triển dự án đầu tư mà thực sự là tung tiền ảnh hưởng tới cơ cấu đảng ngay từ cấp cơ sở ở dưới với kết quả đang thấy ngày nay.

- Tôi e là Việt Nam đã thực tế rơi vào quỹ đạo Trung Quốc kể từ đó sau khi tái lập bang giao với Bắc Kinh và coi ý thức hệ cộng sản là tư tưởng chỉ đạo cho quan hệ giữa hai nước. Sợi dây thòng lọng được lồng từ đó rồi và ngày càng siết chặt hơn do tánh tham của các đảng viên khiến kinh tế Việt Nam ngày nay lệ thuộc quá nặng vào Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Đấy là những gì xảy ra tại các quốc gia lân bang với Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á, như Việt, Miên, Lào, Thái và Miến Điện. Hình như là chuyện ấy cũng xảy ra với các nước ở xa hơn, thí dụ điển hình là Philippines. Có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta không nên quên là vào năm 2004. Bắc Kinh đề nghị các nước có tranh chấp về chủ quyền trên các quần đảo ngoài khơi Đông Hải là hãy tạm gác mâu thuẫn qua một bên để cùng nhau hợp tác thăm dò tài nguyên năng lượng nằm ở dưới. Chính quyền của bà Gloria Macapagal-Aroyo đã đồng ý khiến Hà Nội cũng ngả theo mà rốt cuộc việc hợp tác chẳng đi tới đâu, cho tới quyết định gần đây của Bắc Kinh là nâng cấp hành chính cho thành phố Tam Sa và đòi mở ra chín lô thăm dò dầu khí ngay trên thềm lục địa của Việt Nam.

- Một thí dụ gần đây hơn là chuyện trái chuối trong quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines. Tháng Năm vừa rồi, tranh chấp bùng nổ giữa hai nước về Bãi cạn Scarborough nằm gần Vịnh Subic của Phi khi ngư phủ Philippines bắt giữ ngư phủ Trung Quốc hoặc người Trung Quốc thủ vai ngư phủ và xâm phạm vào vùng chủ quyền của Phi.

- Giữa khung cảnh căng thẳng ấy, hôm mùng chín Tháng Năm, Bắc Kinh bỗng tri hô rằng chuối của Philippines thiếu tiêu chuẩn vệ sinh nên phải chịu chế độ cách ly. Philippines xuất khẩu chuối nhiều nhất là qua Nhật, năm ngoái thu về 75 triệu đô la, kế tiếp là qua Trung Quốc, một thị trường có sức tăng trưởng rất nhanh. Khi quyết định tạm ngưng nhập khẩu chuối - tức là sẽ để cho hư thối - Bắc Kinh gây áp lực về nhiều mặt cho Chính quyền Manila. Thứ nhất là mất một nguồn thu về ngoại tệ, thứ nhì là gây khó khăn cho hai chục vạn nông dân trồng chuối khiến họ phàn nàn chính quyền. Nó cũng tương tự như động thái của Trung Quốc khi ảnh hưởng vào các doanh gia người Phi gốc Hoa dưới chính quyền khá tham nhũng của Tổng thống Macapagal-Arroyo.

Vũ Hoàng: Hình như Trung Quốc không chỉ gây áp lực kinh tế với các nước Đông Nam Á mà còn sử dụng đòn bẩy đó với nhiều nước khác, thưa ông có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng vậy và thí dụ nổi bật là với cả Nhật Bản vào năm kia.

- Tháng Chín năm 2010, Bắc Kinh quyết định ngưng xuất khẩu các kim loại cần thiết cho công nghiệp mà người ta gọi là "đất hiếm" chỉ vì tuần duyên Nhật Bản đã bắt giữ một ngư thuyền Trung Quốc gần đảo Senkaku mà Trung Quốc nhận là của mình với tên gọi là Điếu Ngư Đài. Lý do chính thức là vì họ cạn nguồn đất hiếm và phải tính lại giá bán cho cao hơn mặc dù họ vẫn xuất khẩu qua nhiều xứ khác, kể cả Hong Kong và Singapore. Lý do thực tế vẫn là để gây sức ép với Nhật Bản và sau này với cả Hoa Kỳ và Âu Châu.

- Với Âu Châu, ta cũng không quên rằng năm 2010 đó, Ủy ban Nobel ở xứ Na Uy đã trao giải Nobel Hòa bình cho Lưu Hiểu Ba, một nhà báo bất đồng chính kiến và đang bị cầm tù. Mặc dù Ủy ban Nobel là cơ chế hoàn toàn độc lập, Bắc Kinh vẫn gây áp lực với Chính quyền Na Uy bằng cách ngưng thương thuyết hiệp định tự do mậu dịch và hạn chế nhập khẩu cá hồi cũng vì lý do vệ sinh khiến số xuất khẩu của Na Uy bị sụt mất 60% trong năm sau dù số tiêu thụ của thị trường Trung Quốc đã tăng 30%.

- Nói chung, các nước độc tài và thiếu dân chủ thường hay dùng đòn bẩy kinh tế để gây sức ép chính trị. Một trường hợp tương tự là khi Liên bang Nga đơn phương quyết định ngưng cung cấp khí đốt cho Cộng hoà Ukraine hôm mùng một Tháng Giêng năm 2009. Quyết định này gây khó cho Chính quyền Ukraine và giúp cho phe thân Nga của Tổng thống Viktor Yanukovich trở lại cầm quyền. Quyết định này cũng gây phân hóa cho Âu Châu vì các nước, nhất là Đức, phải nhập khí đốt của Nga chuyển vận qua lãnh thổ Ukraine. Chính là các nước Âu Châu đã vì quyền lợi của mình mà gây thêm sức ép cho Ukraine.

 

Ứng xử ra sao?


image.jpg
Người dân tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22-07-2012. AFP photo   



Vũ Hoàng: Thưa ông Nghĩa, trong chương trình phát thanh cách đây hai tuần, ông có nói đến một "liên minh của sự sợ hãi" giữa các nước độc tài như Trung Quốc hay Liên bang Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Vladimir Putin. Qua những gì ông vừa trình bày thì các nước đó đâu có sợ hãi mà vẫn dám lấy quyết định táo tợn và đi ngược với quy luật trao đổi kinh tế tự do. Ông nghĩ sao về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có vấn đề đầu tiên là đạo đức, dù sao vẫn là giá trị phổ cập mà đa số các nước trên thế giới đều muốn tôn trọng. Khi dùng sức ép kinh tế một cách ngang ngược như vậy thì các nước độc tài càng phơi bày bộ mặt thật và đấy là một điều thật ra vẫn bất lợi về ngoại giao. Thí dụ nóng hổi là lập trường của Nga và Trung Quốc trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về nạn Syria tàn sát người dân.

- Chuyện thứ hai là đòn bẩy kinh tế đó thường chỉ công hiệu với các nước yếu thế và thiếu thống nhất với nhau. Nhưng nếu áp dụng mãi thì nó lại gây tác dụng ngược là khiến các nước nạn nhân càng dễ đoàn kết với nhau. Tôi xin được nêu một thí dụ là Sáng kiến Hợp tác Tiểu vùng Mekong do Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đề xướng năm 2009.

- Ai cũng có thể nghĩ rằng đấy là một phản đòn của Mỹ trước sự khuynh đảo của Trung Quốc. Nhưng nếu xét cho kỹ thì mình thấy rằng một xứ dân chủ có thể dùng biện pháp tích cực là viện trợ để thuyết phục các nước khác cùng chia sẻ một chủ trương ngoại giao có lợi chung. Nó khác hẳn lề thói ngang ngược của Bắc Kinh. Chính là điều ấy mới khiến lãnh đạo nhiều nước liên hệ phải xét lại quan điểm về lợi ích khi hợp tác với Bắc Kinh, một điển hình là sự chuyển hóa của Miến Điện qua chế độ dân chủ hơn mà thế giới đang chứng kiến.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, trước hoàn cảnh đó thì các nước đang làm ăn với Trung Quốc nên hành xử như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta thấy tại các nước dân chủ có quyền tự do báo chí thì dư luận thường xuyên nêu vấn đề về quy cách ứng xử đáng chê trách của Trung Quốc. Một thí dụ là chương trình phát thanh này của chúng ta. Một thí dụ khác là khi dư luận được biết, họ có thể tự huy động thành sức mạnh gây áp lực với chính quyền và các doanh nghiệp có tính chất đồng lõa với Bắc Kinh. Ta không nên đánh giá thấp phản ứng này của quần chúng.

- Tại các nước thiếu dân chủ và không có tự do báo chí thì chính quyền thật sự đã bị Trung Quốc vận dụng để thực hiện những điều có hại cho quyền lợi quốc gia vì chẳng hạn như khi Bắc Kinh bẻ đũa từng chiếc thì chính mình đã bị bẻ gãy và sự thiếu đoàn kết đa phương càng khiến quốc gia bị lệ thuộc nhiều hơn vào Bắc Kinh. Khi người dân Việt Nam biểu tình chống lại thái độ ngang ngược của Trung Quốc mà lại bị chính quyền Hà Nội cấm đoán thì lãnh đạo Việt Nam cho thấy quyền lợi của họ nằm ở đâu!


Tại các nước thiếu dân chủ và không có tự do báo chí thì chính quyền thật sự đã bị Trung Quốc vận dụng để thực hiện những điều có hại cho quyền lợi quốc gia ...
Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Tôi lại xin kết thúc bằng một ngụ ngôn trong cuốn Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Có ông phú hộ đó sợ bị trộm nên bao nhiêu của quý đều chất vào một cái rương, bên ngoài có khóa và đóng đai cho chặt. Khi kẻ trộm lẻn vào thì chỉ ôm lấy cái rương là lấy được hết và trên đường đào tẩu, hắn còn cám ơn cái khóa là không bị bung. Chính quyền độc tài đã khóa chặt người dân và trao cả cơ đồ cho ngoại bang. Vì vậy, muốn bảo vệ quyền lợi quốc gia trước sức ép của ngoại bang thì người ta phải có dân chủ. Chính là nền dân chủ đã giúp Philippines có một chính quyền độc lập và tự tin hơn trước sức ép của Trung Quốc. Cũng vậy, ta sẽ thấy sự chuyển hóa tốt đẹp hơn cho xứ Miến Điện tiếp giáp với Trung Quốc nếu nền dân chủ sẽ được thực thi.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Thứ Ba, tháng 7 24, 2012

Nghịch Lý Kinh Tế Trung Quốc


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120723
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Và trận đánh Mỹ-Hoa không tiếng nổ

 * Vã mồ hôi lạnh *



Trung Quốc có sản lượng kinh tế đứng hạng nhì thế giới, nhưng trong khoảng 200 quốc gia của địa cầu thì lợi tức đồng niên một người dân của họ chỉ ở cỡ trung bình, ngang hàng Namibia, Jamaica hay Macedonia. Dân nghèo nước mạnh?

Trong 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới của danh mục Forbes 2012, Trung Quốc có 73 công ty, còn nhiều hơn Nhật Bản (68), mà hầu hết là các tập đoàn nhà nước. Trong 20 doanh nghiệp có mức lời cao nhất của danh mục, Trung Quốc có bốn đơn vị, toàn là ngân hàng - mà là ngân hàng của nhà nước, trong khi tư doanh Trung Quốc phá sản hàng loạt. Nước giàu dân mạt?

Trong ba năm mà kinh tế toàn cầu bị tổng suy trầm, từ 2009 đến 2011, tổng số tín dụng ngân hàng tại Trung Quốc lên đến gần bốn ngàn tỷ Mỹ kim, 80% là trút vào các doanh nghiệp nhà nước. Cấp phát là một cách gọi về kế toán, trợ cấp là cách gọi về kinh tế, vì lãi suất tài trợ chỉ mấp mé số không. Nước chảy chỗ trũng?

Làm sao mà các ngân hàng của nhà nước - hiện kiểm soát 90% tài sản của hệ thống ngân hàng toàn quốc và tài trợ doanh nghiệp cũng của nhà nước với lãi suất cận âm nếu giảm trừ ảnh hưởng của lạm phát - lại có mức lời cao như vậy?

Xin chào mừng sự kỳ diệu kinh tế của Trung Quốc!

Nhìn từ Hoa Kỳ trong một năm tranh cử, các dân biểu nghị sĩ rất nhịp nhàng than phiền Bắc Kinh can thiệp vào hệ thống hối đoái và duy trì hối suất quá thấp của đồng Nguyên để cạnh tranh bất chính. Và làm dân Mỹ thất nghiệp vì việc làm đã bị "xuất cảng" qua Tầu.

Lý luận chính trị đượm mùi kinh tế của sự mị dân!

Chỉ vì, trong 10 năm mà tỷ giá đồng Nguyên so với Mỹ kim được định quá thấp, từ 1991 đến năm 2000, thất nghiệp tại Hoa Kỳ có giảm liên tục: từ sáu, lên bảy rồi sụt tới 4%. Trong 10 năm sau đó, khi Bắc Kinh bị áp lực và phải nâng giá đồng bạc thì thất nghiệp tại Hoa Kỳ lại tăng vọt. Vì những nguyên nhân khác hơn là do hàng hóa quá rẻ của Trung Quốc tràn ngập vào thị trường Mỹ. Hàng quá rẻ của Trung Quốc bán qua Mỹ khiến giới tiêu thụ dư tiền mua được nhiều thứ khác, kể cả hàng Mỹ, nghĩa là vẫn có lợi cho kinh tế Hoa Kỳ. Vua nước Sở mất cái cung, người nước Sở được lời?

Kết hợp sự kỳ diệu kinh tế của Trung Quốc với lý luận mị dân của chính khách Hoa Kỳ, người ta nên nhìn ra một thực tế đầy nghịch lý của kinh tế cũng là chính trị.

***


Lãnh đạo Trung Quốc không trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước ở nhà để tìm lợi thế ngoại thương, như bán hàng rẻ hơn "thực giá" vào các thị trường Âu-Mỹ. Lý do trợ cấp thuộc vào loại "có thực với vực được đạo": không trợ cấp thì cả triệu doanh nghiệp sẽ phá sản.

Mà hình thái trợ cấp không chỉ có lãi suất rẻ hay hối suất thấp.

"Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý" – cứ như người Hà Nội – nên nhà nước thống nhất giao cho doanh nghiệp nhà nước gần như miễn phí. Tư doanh cứ đứng chầu rìa, nếu cạnh tranh với quốc doanh thì còn bị xoá sổ. May lắm thì xin được một mẩu với rất nhiều hượt liệu để bôi trơn bộ máy. Nói về hoạt liệu "lubrifiant" hay nguyên nhiên vật liệu, thì doanh nghiệp nhà nước cũng được trợ giá. Được cung cấp với giá rẻ hơn thực giá của thị trường.

Cả hệ thống kinh tế nhà nước Trung Quốc là cơ chế trợ cấp, qua luật lệ và phí tổn của mọi nhập lượng – đất đai, vật liệu, tiện ích, tín dụng, v.v... – để các doanh nghiệp nhà nước từ lớn đến nhỏ, ở cấp trung ương tới địa phương và hương trấn không thể phá sản. Phá sản hay khánh tận là số phận của dân đen.

Trên đỉnh là các đại gia góp mặt trong danh mục Forbes.

Lãnh đạo các cơ sở huy hoàng này là đảng viên cao cấp, do ban Tổ chức Trung ương bố trí. Họ xào bài đổi ghế chủ tịch tổng giám đốc lấy ghế thứ trưởng hay trợ lý để cùng bảo vệ một chế độ kinh tế gần như độc quyền, chế độ tư bản nhà nước.

Trong khi ấy, các chính khách Hoa Kỳ chỉ nhìn vào một góc của nghịch lý đó, là lợi thế xuất cảng của Trung Quốc. Nếu nhìn theo thế công, có lẽ người ta nên tìm hiểu về lợi thế xuất cảng của Mỹ. Khi ấy lại thấy ra nhiều nghịch lý khác.

Người ta thường nghĩ Hoa Kỳ có ưu thế kỹ thuật nên bán máy bay cho Trung Quốc và chở về các mặt hàng tiêu thụ hạ đẳng, như áo quần giày dép linh tinh mà dân Mỹ chẳng thèm làm nữa vì ít lời. Sự thật thì Mỹ có bán hàng công nghệ điện tử cho Trung Quốc nhưng lại nhập từ xứ này loại hàng tương tự trị giá gần gấp bẩy. Và hai loại mũi nhọn xuất cảng của Hoa Kỳ vào Trung Quốc – trị giá cao nhất trong năm ngoái – là 1) hàng đồng nát và phế thải (11 tỷ rưỡi) và 2) đậu nành (10 tỷ rưỡi). Máy bay hay xe hơi của Mỹ chỉ chiếm tổng cộng là gần 12 tỷ đô la.

Xin ghi lại cho gọn: ba mũi nhọn xuất cảng của Trung Quốc vào Mỹ là máy điện toán, thiết bị thông tin và linh kiện điện tử, với trị giá tổng cộng còn lớn hơn tổng số xuất cảng của Hoa Kỳ vào Trung Quốc.

Đằng sau nghịch lý này là dàn phòng thủ của Trung Quốc: quyền sở hữu trí tuệ hay tác quyền, "intellectual property rights".


***


Lãnh đạo Trung Quốc không bảo vệ tác quyền của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, thực tế còn thi hành chế độ "đạo chích siêu cấp" - quốc hữu hóa thuật ăn cắp tác quyền của thiên hạ - và ráo riết thi hành các nghiệp vụ tình báo kỹ nghệ để thu hẹp khoảng cách lạc hậu với Hoa Kỳ về an ninh. Hoàn toàn hợp lý với chủ trương của họ là nhà nước phải ưu tiên lãnh đạo 18 ngành sản xuất chiến lược, trong đó có công nghệ điện tử, hàng không, thông tin, thiết bị sản xuất, và năng lượng.

Sau khi thủ rất kín như vậy, lãnh đạo Trung Quốc có thể tự tiện quyết định rằng một khu vực nào đó là "chiến lược" – nghĩa là ngoại quốc miễn được vào. Một khu vực vừa được đưa vào hàng rào phòng thủ chiến lược đó là công nghệ môi trường.

Những nghịch lý ấy trong quan hệ kinh tế Hoa-Mỹ (xin miễn gọi là Trung Mỹ!) thật ra xuất phát từ cả chục năm trước, khi Chính quyền Bill Clinton chấp nhận cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Từ đó, cơ chế quốc tế WTO giải quyết các tranh chấp song phương, trong đó có nạn trợ cấp, lũng đoạn hối đoái hay ăn cắp tác quyền. Nhưng giải pháp WTO không thể gỡ nổi dụng ý bảo vệ của Trung Quốc và chỉ dẫn đến những vụ kiện cáo kéo dài.

Thực tế thì cơ chế WTO đã bị tê liệt và Vòng đàm phán Doha khởi xướng từ Tháng 10 năm 2001 vẫn dậm chân tại chỗ. Cũng vì thế mà Hoa Kỳ phải tìm giải pháp đa phương khác.

Đó là các thỏa ước tự do ngoại thương cấp vùng với một số quốc gia thuộc hạng đối tác chiến lược. Trong hướng này, Hiệp ước Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái bình dương TPP do chính quyền George W. Bush đề nghị tham gia và Chính quyền Barack Obama quyết định xúc tiến sẽ có tác dụng thuyết phục cao hơn: chủ điểm hợp tác là việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và Trung Quốc không nằm trong vòng đối tác chiến lược đó nếu vẫn duy trì chính sách cũ.

Cùng vành cung hợp tác về an ninh trong khu vực Đông hải, Hiệp ước TPP này là một vòng đai khác.
 
Chúng ta thấy rằng quốc gia nào cũng có chủ trương bảo vệ quyền lợi của mình và trong luồng giao dịch kinh tế thì đấy là chủ trương bảo hộ mậu dịch hay protectionism. Trung Quốc là một đại gia của thuật bảo hộ này để thực tế là bảo vệ chế độ. Nếu Hoa Kỳ chỉ theo đuổi hồ sơ hối đoái với những tố tụng định kỳ về trị giá đồng Nguyên thì vẫn chỉ là múa quyền ở vòng ngoài.

Cho nên trận đánh về tác quyền IPR và Hiệp ước Xuyên Thái bình dương TPP mới là chuyện thật, ở vòng trong, một trận đánh không gây tiếng nổ. Chúng ta nên theo dõi xem Quốc hội Mỹ xử trí ra sao về hồ sơ đó.