Thứ Sáu, tháng 11 21, 2014

Hết chuyện "Đại Gia Không Chết"

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 141119
Diễn đàn Kinh tế 
Vì ngân hàng quá lớn nên phải được cấp cứu - và càng ỷ thế làm bậy...
 
Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Brisbane. Australia đón tiếp các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho hội nghị thượng đỉnh G20 ở Brisbane vào ngày 15 và 16, 2014
* Australia đón tiếp các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới tại Thượng đỉnh G20 ở Brisbane vào ngày 15 và 16, 2014 - Ảnh AFP * 





Tại thượng đỉnh tuần qua của nhóm G20, một kế hoạch kiểm soát tài chính được nguyên thủ của 20 quốc gia giàu nhất thế giới thông qua nhằm chấm dứt hiện tượng gọi là "doanh nghiệp quá lớn để có thể cho phá sản". Hiện tượng đó là gì và tại sao lại có một kế hoạch kiểm soát như vậy? Mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, ta được biết là nhiều chính quyền phải tung tiền cấp cứu các ngân hàng bị nguy cơ phá sản để tránh nạn sụp đổ dây chuyền. Sáu năm sau, vào tuần qua tại hội nghị cấp cao của nhóm G-20 tổ chức ở thành phố Brisbane của Australia, nguyên thủ các nước đã phê chuẩn kế hoạch kiểm soát tài chính nhằm chấm dứt hiện tượng gọi là "quá lớn để sụp đổ". Xin ông phân tích cho thính giả của chúng ta một vấn đề quá chuyên môn như vậy. Hiện tượng gọi là "too big to fail" là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang gặp một vấn đề kỹ thuật phức tạp và thật sự có chi phối sinh hoạt kinh tế tài chính mà nhiều người lại không được biết.

- Ta nhớ rằng trong vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ năm 2008, khi tập đoàn đầu tư Lehman Brothers hay tập đoàn bảo hiểm AIG bị nguy cơ vỡ nợ, và trước đó khi hai trong ba hãng xe lớn nhất của Mỹ là Chrysler và General Motors có thể phá sản, thì một vấn đề được đặt ra. Đó là nhà nước có nên lấy tiền thuế của dân để cấp cứu các doanh nghiệp ấy không? 

- Vấn đề sở dĩ gây tranh luận không chỉ tại Hoa Kỳ mà ở bên Âu Châu và nhiều xứ khác là vì nếu nhà nước không cứu các đại doanh nghiệp ấy thì hậu quả sẽ lan qua khu vực khác. Đó là hiện tượng gọi là "quá lớn để có thể cho phá sản". Nhưng ngược lại, chính là do kích thước quá lớn với nguy cơ dây chuyền cho cả hệ thống kinh tế mà doanh nghiệp càng dễ ỷ thế làm liều, như các đại gia ỷ vào hậu thuẫn của nhà nước mà trở thành bất cẩn và lấy rủi ro lớn về kinh doanh. Tôi xin dùng một chữ cho thính giả của chúng ta dễ hiểu và dễ nhớ, đó là "hễ là đại gia thì không chết được".

Vấn đề sở dĩ gây tranh luận không chỉ tại Hoa Kỳ mà ở bên Âu Châu và nhiều xứ khác là vì nếu nhà nước không cứu các đại doanh nghiệp ấy thì hậu quả sẽ lan qua khu vực khác. Đó là hiện tượng gọi là "quá lớn để có thể cho phá sản. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Về bối cảnh thì suốt sáu năm qua các quốc gia bị lâm nạn, từ Âu Châu đến Hoa Kỳ, đều cùng tăng cường kiểm soát để không cho khủng hoảng tái diễn. Nhưng việc kiểm soát ấy tập trung vào khu vực ngân hàng vì ngân hàng mà phá sản thì cả khách nợ lẫn chủ nợ đều mắc nạn. Người ta gọi nỗ lực đó là "chấm dứt chuyện đại gia không chết".

Vũ Hoàng: Một cách cụ thể thì kế hoạch kiểm soát này thành hình như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nói tiếp về bối cảnh vì vấn đề này cực kỳ khó hiểu cho nhiều người trong chúng ta. Người ta nghiệm thấy một hiện tượng tâm lý chung là khi khủng hoảng bùng nổ, thí dụ như vụ Tổng khủng hoảng năm 1929-1933, các chính quyền và thị trường đều hốt hoảng và tăng cường luật lệ kiểm soát để khủng hoảng khỏi tái diễn.

- Như Hoa Kỳ thì có Đạo luật Ngân hàng mang tên hai tác giả là Glass-Steagal Act năm 1933 để quy định là các ngân hàng thương mại mà nhận tiền ký thác của công chúng thì phải tuân thủ những tiêu chuẩn chặt chẽ về đầu tư và tín dụng hầu không lấy tiền của thân chủ mà làm bậy và gây rủi ro vỡ nợ. Nhưng sau cơn khủng hoảng, khi mọi chuyện trở thành bình thường thì người ta lại phát huy sáng tạo theo kiểu "ngựa quen đường cũ" và tháo gỡ hệ thống kiểm soát nên gây ra những rủi ro khác. Đó là khi đạo luật Ngân hàng nói trên được Chính quyền Bill Clinton thu hồi năm 1999 để các ngân hàng thương mại vẫn có thể tham gia nghiệp vụ đầu tư. Mươi năm sau thì quả nhiên là khủng hoảng tái diễn vào năm 2008 - mà không chỉ riêng ở Hoa Kỳ.

- Khi ấy, các ngân hàng trung ương có nhiệm vụ kiểm soát nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng bị đặt trước hai vấn đề khác biệt. Vấn đề thứ nhất là nhiều ngân hàng đã lấy rủi ro đầu tư quá lớn. Vấn đề thứ hai là các ngân hàng, cả đầu tư lẫn thương mại hay doanh nghiệp tài chính và chủ nợ trái phiếu, lại cho nhau vay quá nhiều. Họ dệt thành mạng lưới tín dụng chằng chịt, khiến một ngân hàng vỡ nợ thì kéo theo ngân hàng khác làm doanh nghiệp vay tiền ngân hàng bị ách tắc tín dụng là tìm không ra vốn luân lưu và khủng hoảng tài chính biến thành khủng hoảng kinh tế.

Nhưng sau cơn khủng hoảng, khi mọi chuyện trở thành bình thường thì người ta lại phát huy sáng tạo theo kiểu "ngựa quen đường cũ" và tháo gỡ hệ thống kiểm soát nên gây ra những rủi ro khác Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thưa ông, khi ấy các nước đã giải quyết hai vấn đề khác biệt này ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một đằng thì chính quyền, là chính phủ, quốc hội và ngân hàng trung ương, phải tung tiền cấp cứu ngân hàng lâm nạn qua thủ tục tôi xin tạm gọi là "chuộc nợ" hay "bail out". Trong khi đó người ta biểu quyết các đạo luật kiểm soát nghiệp vụ ngân hàng để tránh rủi ro cho tương lai. Nhưng song song, các nước còn có một nỗ lực thứ ba rất khó hiểu là bắt các chủ đầu tư vào ngân hàng phải chịu một phần thiệt hại gọi là "bail in", tôi xin dịch là "châm vốn" cho dễ hiểu. Tức là nếu làm ăn bất cẩn thì phải chịu trách nhiệm chứ không thể ỷ vào cái lưới cấp cứu của nhà nước, tức là ỷ vào tiền thuế của dân vì nhà nước có bao giờ làm ra tiền đâu?]

- Đấy là bối cảnh của những biện pháp cải cách đã được Thượng đỉnh của nhóm G-20 biểu quyết vào các năm 2009, 2010. Một cách cụ thể thì các nước lập ra một Hội đồng Ổn định Tài chính năm 2009 và qua năm sau thì đề nghị của Thượng đỉnh G-20 tại Seoul được hiệp hội các ngân hàng chấp nhận và nâng cấp thành tiêu chuẩn Basel III. Nôm na là các ngân hàng sẽ phải có thêm tài sản đảm bảo những khoản tín dụng đã cho vay và tuân thủ việc kiểm soát khắt khe hơn.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì có lẽ thính giả của chúng ta mường tượng ra một phần của vấn đề khi có tin là Chủ tịch của Hội đồng Ổn định Tài chính đã công bố một kế hoạch cải cách vừa được Thượng đỉnh G-20 chấp thuận tại Brisbane tuần qua. Thưa ông, kế hoạch đó gồm có những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ông Chủ tịch Hội đồng Ổn định Tài chính có phạm vi hoạt động toàn cầu hiện cũng là Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh quốc. Hôm Thứ Hai mùng 10 vào tuần trước, ông ta có trình bày kế hoạch này nhằm giải quyết một lúc hai vấn đề khác biệt mà liên hệ với nhau như tôi vừa trình bày. Tức là thứ nhất giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng với đòi hỏi phải gia tăng mức tài sản bảo đảm các nghiệp vụ cho vay và bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Thứ hai là đòi các chủ đầu tư phải tự châm vốn và nâng cao khả năng chịu lỗ chứ họ không thể trông cậy vào tiền thuế của dân. Mục tiêu thứ hai này là để mạng lưới tín dụng chằng chịt mình vừa nói ở trên sẽ có sức chịu đựng cao hơn và nếu sụp đổ thì tự bung ra từng mảng riêng chứ không lây lan qua kinh tế. Một cách nôm na dễ hiểu là nếu có gan làm giàu thì cũng phải có gan chịu lỗ.

Để kết luận thì hệ thống ngân hàng của Âu Châu có đầy kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ cao mà còn khủng hoảng thì loại ngân hàng tân tòng của TQ và VN mới chỉ xuất hiện sau này dưới sự bao che của đảng và nhà nước sẽ còn phải học nhiều kinh nghiệm về khủng hoảng.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Nếu chúng tôi hiểu không lầm thì từ nay các ngân hàng sẽ có thể vỡ nợ chứ không nhờ cậy vào chính quyền hay ngân hàng nhà nước. Thưa ông, có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một cách nôm na thì quả thật là như vậy. Nhưng kế hoạch này cũng làm nhiều ngân hàng thương mại xưa nay làm ăn cẩn trọng than phiền là vừa bị kiểm soát chặt chẽ hơn vừa phải dốc thêm tiền để đạt mức dự phòng rủi ro cao hơn.

Vũ Hoàng: Thưa ông, hậu quả của những biện pháp phức tạp này sẽ là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng ta khó có một câu trả lời chung vì tình hình ở mỗi nơi lại mỗi khác. Thí dụ như tại Hoa Kỳ hay Anh quốc, hệ thống doanh nghiệp có nhiều cách gọi vốn tinh vi và đa diện trên thị trường trái phiếu nên sẽ không gặp nhiều trở ngại. Tại Âu Châu, kế hoạch diệt trừ các đại gia ngân hàng ỷ thế làm liều có khi lại gây khủng hoảng cho khối Euro vì các doanh nghiệp loại trung và nhỏ thì chỉ huy động vốn kinh doanh qua hệ thống ngân hàng mà các ngân hàng đều sẽ bị kẹt vì phải tăng vốn. Trong ba chục ngân hàng loại lớn của thế giới, với khả năng gọi là "gây họa cho cả hệ thống thì" có 11 cái là ở tại Âu Châu. Kết cục thì biện pháp kiểm soát chủ yếu là nhắm vào các ngân hàng Âu Châu lại gây vấn đề cho kinh tế Âu Châu, ít ra là trong ngắn hạn và vì vậy lại gia tăng rủi ro khủng hoảng cho khối Euro.

Vũ Hoàng: Câu hỏi sau cùng, thưa ông, còn các ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng họ sống trong một thế giới khác!

- Trong 30 đại gia toàn cầu mình vừa nói ở trên thì có ba ngân hàng là của Trung Quốc. Nhưng đấy là các ngân hàng quốc doanh có nhà nước Bắc Kinh ở đằng sau và là công cụ cho chính sách tài trợ tăng trưởng kinh tế bất kể lời lỗ. Trung Quốc cũng chẳng tôn trọng gì những đòi hỏi cải tổ và kiểm soát của quốc tế và sẽ viện dẫn lý do là môi trường bên trong có khác thiên hạ. Vả lại, họ cũng chưa có một thị trường trái phiếu đủ rộng lớn để hỗ trợ yêu cầu tăng vốn của ngân hàng.

- Trường hợp Việt Nam cũng không khác vì hệ thống ngân hàng thương mại vẫn chủ yếu là do nhà nước làm chủ và chi phối. Nhiều ngân hàng thuộc loại cổ phần của tư nhân chỉ có cái vỏ là tư nhân chứ vẫn là cơ sở của tay chân nhà nước nên cứ ỷ thế làm liều. Lâu lâu mới có đại gia sa lưới thì cũng do những tranh đoạt quyền bính trên thượng tầng mà thôi.

- Để kết luận thì hệ thống ngân hàng của Âu Châu có đầy kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ cao mà còn khủng hoảng thì loại ngân hàng tân tòng của Trung Quốc và Việt Nam mới chỉ xuất hiện sau này dưới sự bao che của đảng và nhà nước sẽ còn phải học nhiều kinh nghiệm về khủng hoảng. Và thời của các "đại gia" vẫn chưa chấm dứt đâu, sau khi một mớ phải vào tù.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về một chương trình quả thật là rắc rối phức tạp.

Chủ Nhật, tháng 11 16, 2014

Múa Đôi Hoa Mỹ



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo141115

Hoa Kỳ phải quan niệm lại đối sách với Trung Quốc - từ nay đến 2016  


* Tập Cận Bình và Barack Obama tại Bắc Kinh *



Tại Thượng đỉnh APEC vừa qua ở Bắc Kinh, lãnh đạo Hoa Kỳ và Trung Quốc đạt một thỏa thuận được các con vẹt Dân Chủ và bọn "ôm cây", các nhóm bảo vệ môi sinh, đánh giá là mang ý nghĩa thời đại: hai bên đồng ý về nhu cầu tiết giảm khí thải để bảo vệ địa cầu khỏi nạn nhiệt hoá trong thế kỷ này. Giới bình luận đểu cáng thì nói rằng "vào chi tiết mới ra chuyện độc", nhưng ít ra Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình đã có dịp cười toe trước ống kính về một thành quả biểu kiến. Còn lại là sự trống vắng.

Bài này bàn về chuyện lấp đầy khoảng trống đó.

Ngay từ nhiệm kỳ đầu, vào đầu Tháng Giêng 2009, Chính quyền Obama đã đánh giá sai quan hệ Mỹ-Hoa, khi Ngoại trưởng tân nhậm Hillary Clinton tới Bắc Kinh khẳng định rằng không để chuyện nhân quyền chi phối việc làm ăn giữa hai nước. Nhân đó bà kêu gọi các đấng con trời tiếp tục mua trái phiếu Mỹ, tức là tiếp tục cho Mỹ vay tiền. Clinton chẳng hiểu rằng Bắc Kinh có tiền mà không gửi qua Mỹ thì làm gì cho đồng tiền khỏi mất giá?

Hai năm sau, cũng qua ngòi bút Clinton và ý kiến của ban tham mưu trong Bộ Ngoại giao, Chính quyền Obama nói đến việc "chuyển trục" về Đông Á, làm các nước Á Châu nức lòng tin tưởng. Nhưng Chú Cuội chỉ múa với Chị Hằng được một con trăng, màn chuyển trục hay "pivot" được sửa thành "tái quân bình". Rồi để đó từ năm 2012.

Không, trước đà bành trướng của Bắc Kinh khiến các nước Á Châu lo ngại, năm 2012, Chính quyền Obama còn mời Trung Quốc tham dự cuộc thao dượt quân sự RIMPAC với 22 quốc gia trong vành cung Á châu Thái bình dương, lần đầu tiên kể từ năm 1971. Cũng hợp lý thôi: không mời em vào chơi để phơi của quý thì làm sao biết của quý của em nó quý đến cỡ nào!

Hãy nói về chuyện sinh tử hơn vậy.

Từ hai chục năm nay, qua bốn nhiệm kỳ của hai Tổng thống cả Dân Chủ lẫn Cộng Hoà, lãnh đạo Hoa Kỳ đều theo đuổi một chánh sách có tính chất lưỡng đảng - và hai mặt. Mặt tích cực là nên kết ước với Trung Quốc, cứ hợp tác làm ăn để cường quốc mới nổi này trở thành đối tác biết điều và cùng Hoa Kỳ gánh vác thiên hạ sự từ hai bờ biển Thái bình. Nhưng đồng thời cũng phải có ý phòng thủ nếu Bắc Kinh lại chẳng biết điều mà chơi bạo. Đó là mặt kia.

Chánh sách đó từ thời Bill Clinton mới cho Trung Quốc quy chế "tối huệ quốc" rồi được Quốc hội Cộng Hoà nâng cấp thành "quan hệ mậu dịch bình thường và thường trực" để mở đường cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ cuối năm 2001 và vươn lên thành một thế lực kinh tế trong vùng. Nhưng cũng Chính quyền Clinton vào Tháng Ba năm 1996 đã gửi hai hàng không mẫu hạm vào Eo biển Đài Loan khi Bắc Kinh bắn hỏa tiễn qua đầu đảo quốc này trong lúc dân chúng lần đầu tiên đi bầu Tổng thống theo thể thức phổ thông đầu phiếu.

Xin nhắc lại: lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm mà dân Tầu trực tiếp đi bầu lãnh tụ nhưng Bắc Kinh lại không ưa một tiền lệ nguy hiểm như vậy và tìm cách phá bĩnh nên mới phóng hỏa tiễn qua không phận Đài Loan để hăm dọa. Cho tới khi Mỹ gửi chiến hạm vào làm nguội cái hỏa khí trên đầu Thiên tử đỏ!

Ngay từ đây rồi, một viên tướng của Bắc Kinh đã giở giọng hỗn khi hỏi một nhà ngoại giao Mỹ: quý quốc có thể hy sinh Los Angeles hay San Francisco để bảo vệ Đài Loan không? Lối suy nghĩ ấy cho thấy rằng hai chục năm sau là ngày nay, Hoa Kỳ cần duyệt lại chánh sách hai mặt kết ước và phòng thủ với Trung Quốc. Vì phần kết ước thì có lợi cho Trung Quốc, khía cạnh phòng thủ có tính chất dương cương thì chưa có tác dụng thuyết phục.

Hai chục năm sau, lãnh đạo Bắc Kinh không biết điều hơn. Bên trong còn tập trung quyền lực và gia tăng chà đạp nhân quyền. Với bên ngoài thì uy hiếp lân bang, trong khi không che giấu tham vọng quân sự là kiểm soát vùng Tây Thái bình dương được gọi là "quyền lợi cốt lõi" Lý luận ngoại giao thì đầy chất mị dân: "Á châu là của người Á" - không phải của Mỹ. Mà người Á ở đây là "thiên hạ" ngàn đời dưới sự lãnh đạo của Thiên triều. Về mặt quân sự đang tiến hành thì đó là chiến lược ngăn cản chiến hạm  Hoa Kỳ đi vào vùng biển mà Trung Quốc gọi là của mình.

Sự thật này đã càng tỏ lộ trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống George W. Bush, khi Mỹ lún sâu vào trận chiến chống khủng bố toàn cầu và bận rộn với hai chiến trường nóng là Afghanistan và Iraq. Vì vậy, người ta chờ đợi là qua triều đại Obama, từ đầu năm 2009, lãnh đạo Hoa Kỳ phải có chánh sách mới.

Quả nhiên là mới - và lạ. Hoa Kỳ tiếp tục kết ước và còn ra sức hòa dịu với Bắc Kinh để Tổng thống rộng tay cải tạo nước Mỹ ở bên trong. Khi Trung Quốc tỏ vẻ hung hăng thì Obama nói đến việc chuyển trục cho bảnh, rồi cho cái trục xoay trong chân không. Khi Ngoại trưởng Cliton tới Bắc Kinh mời chào trái phiếu của Mỹ thì cũng là lúc ngân sách Hoa Kỳ bị bội chi tới đáy. Vài năm sau, khi Hoa Kỳ hăm dọa sẽ đưa 60% phương tiện hải quân vào biển Thái bình thì cũng là lúc ngân sách quốc phòng bị cắt.

Chẳng ai ngạc nhiên là Bắc Kinh nhân dịp mở rộng khu vực kiểm soát phòng không ADIZ, thè cái lưỡi bò đòi liếm lung tung và tung phương tiện vào không gian điện toán để xục xạo bí mật an ninh và kinh tế của Hoa Kỳ. Sáu năm vừa qua đã thấy quan hệ Mỹ-Hoa trở nên tồi tệ hơn và nước Mỹ mất dần sự khả tín. Đồng minh không tin mà đối thủ cũng chẳng sợ.

Nhưng may là Hoa Kỳ có nền dân chủ và sau khi mua hớ những lời hứa nhảm thì dân Mỹ cũng có thể sửa sai bằng lá phiếu. Trong cuộc bầu cử tuần qua, họ mạnh tay trao lại quyền kiểm soát cho đảng Cộng Hoà tại Quốc hội. Và trong hai năm tới, Hành pháp Obama rơi vào cảnh "vịt què"....

Hiến pháp Hoa Kỳ giới hạn quyền Tổng thống bằng các định chế bên trong như Quốc hội hay Tối cao Pháp viện. Khi lâm vào thế yếu và muốn để lại danh tiếng cho đời thì một Tổng thống Mỹ vịt què chỉ có thể tìm kiếm thành quả về đối ngoại - qua một bản hiệp định về khí hậu chẳng hạn! Nhưng với đảng Cộng Hoà đa số tại Thượng viện, quyền phê chuẩn hay nhượng bộ cũng lọt khỏi tay đảng Dân Chủ. Và sau cuộc bầu cử 2014, dân Mỹ còn có tổng tuyển cử vào năm 2016.

Trong hai năm tới, phe Cộng Hoà sẽ rà soát và xiết lại những nhượng bộ đã qua và vì viễn ảnh bầu cử Tổng thống năm 2016, phải vạch ra một đối sách khác với Trung Quốc. Hai năm đó cũng là giai đoạn khó khăn cho lãnh tụ Tập Cận Bình khi phải cải cách kinh tế ở nhà, với đà tăng trưởng giảm sút chưa từng thấy từ mấy chục năm nay, trong khi đồng Mỹ kim cứ vùn vụt lên giá.

Bối cảnh đó khiến chúng ta lần lượt xét lại việc Trung Quốc và Hoa Kỳ tái lập cái thế quân bình trên vùng biển Thái bình dương trước sự thẩm xét của các nước Á châu. Và chỉ nên coi dự án cải thiện khí hậu như một điệu vũ cho vui.

Một cảnh múa đôi huê dạng.

Viếng Marx



Hùng Tâm / Người Việt 141112
"Hồ Sơ Người-Việt"

Từ Bá Linh 89 Đến Thành Đô 90

 * Hình ảnh lịch sử Tháng 11 năm 1989 khi bức tường Berlin bị đập tan tành *


Một phần tư thế kỷ sau khi bức tường Bá Linh bị đập, dường như địa cầu lại xoay về chốn cũ.

Các nước Đông Âu có thể được giải phóng khỏi hai tai ách là chủ nghĩa cộng sản và sự thống trị của nước Nga, nhưng cái trục của tội ác trên đại lục Âu Á là Đế quốc Nga và Trung Quốc thì vẫn nằm dưới sự cai trị của hai lãnh tụ tập quyền là Vladimir Putin và Tập Cận Bình. Vì sao vậy?

"Hồ Sơ Người-Việt" xin đi sâu hơn thời sự để tìm ra giải đáp đôi khi có lợi... cho Việt Nam.


Chủ Nghĩa Marx Tiêu Vong?


Trước hết, việc bức tường chia đôi thành phố Berlin bị dân chúng đập nát vào ngày chín Tráng 11 năm 1989 để nước Đức được thống nhất dưới chế độ dân chủ và thoát khỏi vòng Nga thuộc thực tế đánh dấu sự tiêu vong của chủ nghĩa Marx, hay Marxism. Một thế hệ sau, là ngày nay, nhiều người không còn nhớ, và giới trẻ thì chẳng thể ngờ, rằng đã có một thời mà chủ nghĩa này khống chế tư duy của một phần nhân loại - và đem lại niềm mơ ước cho nhiều dân tộc.

Karl Marx, ít ra vào thời trẻ, không chỉ mô tả sự vận hành của xã hội con người một cách có vẻ khoa học mà còn đưa ra những lời tiên báo đầy hấp dẫn về tương lai nhân loại. Trong lời tiên báo ngụy danh là khách quan và khoa học, Marx còn châm thêm yếu tố luân lý. Thực hiện những tiên tri của Marx trở thành một đòi hỏi đạo đức.

Tuổi trẻ ở nhiều nơi trên thế giới bị mê hoặc bởi lý luận vừa khoa học vừa đạo lý ấy. Trong số này, có một thanh niên lưu manh láu cá là Nguyễn Tất Thành.

Và ở ngoài vòng toàn trị của hệ thống Xô viết, các nước Âu châu và nhiều xứ khác đã từ chủ nghĩa Marx mà đề cao tính chất tiến bộ (nội dung của khoa học) và công bằng (nội dung của đạo đức) của phong trào tự xưng là "Tân Tả" mà thực chất là cực tả. Khuynh hướng này tự cho là cách mạng và tiến bộ hơn chủ trương thiên tả cổ điển (Cựu Tả) của phong trào Đệ nhị Quốc tế (đảng Xã hội hay Lao động trong các nước dân chủ).

Áp dụng lý luận cách mạng của Lenin, Liên bang Xô viết và cả Trung Cộng đã cổ võ và yểm trợ phong trào Tân Tả ấy. Họ khích động và còn góp phần huấn luyện tuổi trẻ trong các xứ dân chủ (gọi là tư bản) theo đuổi giấc mơ cách mạng bằng hành động quá khích, kể cả khủng bố, bắt cóc và phá hoại. Ngày nay, nhiều người không còn nhớ hiện tượng đó và quên các nhóm khủng bố như Lữ Đoàn Đỏ, Con Đường Sáng, Chủ nghĩa "Mao-ít".... Họa may thì còn nhớ Khờme Đỏ!


Tuổi Trẻ Là Giai Cấp Tiên Tiến


Ngoài tính chất ý thức hệ - phần đóng góp của Marx, Lenin và Stalin (và Mao Trạch Đông sau này) - người ta còn thấy một đặc tính khá Âu châu của hiện tượng. Đó là sự tôn sùng tuổi trẻ.

Tinh thần duy lý Âu châu khiến nhiều người cho rằng theo mới là tiến bộ, và họ chấp nhận một định đề không thể bàn cãi: trẻ là có giá trị hơn già. Trên ba chục tuổi thì chỉ là đồ bỏ! Giấc mơ thông tục của nhiều người trung niên, là có việc làm, mua nhà, tậu xe, để có gia đình con cái, bị tuổi trẻ cho là phản động, tiểu tư sản, trưởng giả và tầm thường.

Tuổi trẻ đương nhiên đồng nghĩa với cách mạng!

Trở thành một giai cấp mới, họ ôm giấc mơ cách mạng vượt xa khuôn khổ đấu tranh giai cấp của Marx. Họ tấn công sự già nua lạc hậu của xã hội người lớn. Nhận thức của nhiều người, kể cả trong các thành phố Việt Nam, về cuộc chiến tại Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi trào lưu đó từ Âu châu. Và được Hà Nội tận tình khai thác. Những con rối của "Lực lượng Thứ ba" múa may tại Sàigon cũng xuất phát từ hiện tượng này.

Ngày nay, nhiều người chẳng còn nhớ rằng đấy là một mớ hỗn độn và mâu thuẫn của chủ nghĩa Marx, của tuổi trẻ tiến bộ, của tinh thần chống Mỹ, của nghiệp vụ KGB. Và cũng quên rằng đã có thời nguời ta ý luận hoà bình chỉ thành hình qua bạo động trong các nước dân chủ. Trong các nước theo chủ nghĩa Marx thì không thể có nghịch lý đó.

Nói cho phũ phàng, tuổi trẻ đã được thổi phồng và bị kẻ gian lợi dụng.


Chủ Nghĩa Mác-Lê Cấp Cứu

Với nhiều người, việc bức tường Bá Linh sụp đổ đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa Marx.

Nhưng người lạc quan về xu hướng dân chủ tất yếu – một quy luật khách quan cũng tất định như lý luận của Marx - lại chẳng thấy rằng phong trào Tân Tả năm xưa vẫn tồn tại. Những kẻ tự xưng là cách mạng đó cho rằng chế độ Xô viết đi ngược với lý luận của Marx, đã phản bội chủ nghĩa cộng sản, chứ chủ nghĩa này vẫn có giá trị.

Nhiều người mới tinh vi hóa lý luận của Marx qua chủ nghĩa Mác-Lenin và cách tổ chức lại kinh tế và xã hội theo kiểu độc tài rất xứng tài Stalin.

Thí dụ như sau vụ khủng hoảng Thiên An Môn và sau khi bức tường Bá Linh tan rã, Bắc Kinh vuốt nhọn giải pháp cứu vãn chủ nghĩa cộng sản bằng kinh tế thị trường mà thực chất là cứu vãn quyền độc tài của một đảng tự xưng là cộng sản. Họ cho rằng vụ bức tường Bá Linh chỉ là tai nạn xuất phát từ sai lầm của Michael Gorbachev. Chứ hình như là Marx vẫn có lý!

Việt Nam học tấm gương đó của Trung Quốc mà rơi vào hố thẳm của một chủ nghĩa khác.

Sau biến cố Bá Linh 89, nhiều nhà tư tưởng cho rằng trào lưu dân chủ toàn cầu là quy luật chung của nhân loại. Họ quên một động lực tiềm ẩn vẫn còn chi phối chánh sách của nhiều quốc gia. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc được đề cao để bảo vệ chủ nghĩa đế quốc. Hai cái trục tội ác ở đại lục Âu-Á cũng là nơi phát huy chủ nghĩa đế quốc đó, tại Liên bang Nga và Trung Quốc.


Chủ Nghĩa Đế Quốc Nga Hồi Sinh


Khi nhớ lại bức tường đổ, chúng ta phải trở về nguyên thủy, từ Liên Xô đến Trung Cộng.

Không có Lenin thì chủ nghĩa Marx chỉ là một chuỗi lý luận hàm hồ và phản khoa học. Lenin khai triển lý luận về chuyên chính vô sản bằng những tư tưởng toàn trị và hoàn thành cách mạng vô sản ở nơi mà Mark không ngờ tới, tại nước Nga. Nhưng người tiêu diệt cái lý tưởng hay ảo tưởng của Marx chính là Stalin, một lãnh tụ mà Mao cho là duy nhất đáng kính trọng.

Stalin không tiến hành đấu tranh giai cấp như Marx dự báo mà khuynh đảo cả đảng cách mạng lẫn dân Nga và nhiều sắc tộc khác. Sau đó, Mao cũng chẳng làm khác tại Trung Quốc. Việc xây dựng "con người Xô viết" là dự tưởng điên khùng cho nên về sau chữ gọi "Homo Sovieticus" mới trở thành lời châm biếm. "Con người mới xã hội chủ nghĩa" của Hồ Chí Minh là một sao bản của sự điên khùng này.

Sau khi Krushchev giải trừ ảnh hưởng của Stalin - với hậu quả dội vào Trung Quốc rồi miền Bắc Việt Nam – ông ta cũng muốn xây dựng lại "chủ nghĩa cộng sản đích thực" không có màu sắc Stalin, mà thất bại và Liên Xô tụt hậu. Các lãnh tụ đã lật đổ Krushchev như Leonid Brezhnev, Alexei Kosygin hay Nikolai Podgorny chẳng làm gì hơn là chứng tỏ khả năng tồn tại dưới chế độ Stalin. Lãnh đạo lâu nhất (18 năm) sau ba chục năm hắc ám của Stalin, Brezhnev chỉ lo củng cố quyền lực hơn là canh tân nước Nga và chế độ mới lụn bại vô phương cứu vãn.

Từ biến cố Bá Linh 89, sau khi Liên Xô tan rã, Boris Yeltsin không xây dựng được dân chủ mà cũng chẳng hiện đại hóa xứ sở cho tới khi trao quyền cho Vladimir Putin. Trong 15 năm cầm quyền, Putin ưu tiên củng cố quyền lực và tìm ra một động lực khác. Không phải chủ nghĩa Marx đã phá sản hoặc chưa bao giờ là "hiện thực", mà là chủ nghĩa Đại Nga, với đặc tính tôn giáo là Chính thống giáo, đặc tình sắc tộc là dân Nga la tư da trắng và đặc tính chính trị là tập quyền.

Nghỉa là sau chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa dân tộc cũng biện minh cho độc tài.



Chủ Nghĩa Đại Hán Tái Xuất Hiện


Ở cực bên kia, Đặng Tiểu Bình có viễn kiến và bản lãnh hơn Brezhnev của Nga.

Ông ta không chỉ hài lòng với việc ba lần "thăm chuồng bò" – là bị cải tạo - mà vẫn tồn tại dưới chế độ Mao. Đặng làm cách mạng thật - nhưng ngược với lý luận của Marx - và xây dựng chế độ với phương pháp của Lenin và Stalin. Hậu duệ của ông, các thế hệ Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình ngày nay đã tiếp tục việc đó, ngày một tinh vi hơn, với nhiều phương tiện hơn trước.

Nhưng trên đỉnh của sự phục hưng sau 150 năm lụn bại, các lãnh tụ của Bắc Kinh tìm lại truyền thống cũ, là ưu thế "bất khả tư nghị", không thể cãi bàn, của chủ nghĩa Đại Hán. Cách mạng kiểu Marx là sự lỗi thời, nhưng phương pháp cộng sản là khí cụ hiện đại để phát huy sức mạnh của Hán tộc. Còn khẩu hiệu "bốn phương vô sản là nhà" chỉ là sản phẩm xuất cảng, mà chỉ xuất cảng cho Việt Nam. Nói cho đúng hơn là chỉ bán cho Ba Đình, cho đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi điểm lại biến cố Bá Linh 89, người Việt chúng ta không nên quên vài sự kiện.

Sau khi Gorbachev tiến hành cải cách glasnost và perestroika để cứu chế độ, có bốn lãnh tụ Đông Âu chống lại nỗ lực này. Họ bị Gorbachev gọi là "Bè lũ bốn tên". Cũng tứ nhân bang! Trong số đó, Erick Honecker của Đông Đức là nhân vật bảo thủ nhất. Ba người kia là Nicolae Ceaucescu của Romania, Gustav Husak của Tiệp Khắc và Todor Zhikov của Bulgaria.

Khi dân Đông Đức bắt đầu biểu tình vào mùa Thu 1989, cũng lại là một "Cách mạng mùa Thu, và thậm chí rượt đuổi Honecker, thì cũng là lúc Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đang thăm nước Đức tiên tiến của xã hội chủ nghĩa. Ông ta giật mình về biến cố cực kỳ bất ngờ này.

Sự hốt hoảng rồi tuyệt vọng của một lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam mới dẫn tới Hội nghị Thành Đô vào năm 1990. Nghĩa là lãnh đạo Cộng sản Việt Nam tìm chỗ tựa là Trung Cộng để rồi rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa Đại Hán. Và mở ra thời Bắc thuộc mới, với màu sắc Cộng sản.


__________________________

Kết luận ở đây là gì


Sau khi mê hoặc thế giới không cộng sản, chủ nghĩa Marx là sự hàm hồ đã tiêu vong cùng gạch vụn của bức tường Bá Linh. Nhưng nhiều phương pháp gian ác của các nước cộng sản thì vẫn tồn tại. Phương pháp đó mới độc địa hơn những lý luận của Marx.

Việt Nam chẳng đóng góp gì cho sự nghiệp quốc tế đó. Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự cóp nhặt nhảm nhí. Khi lãnh đạo Cộng sản Việt Nam tiếp tục con đường sai lầm của Marx thì xứ sở tất nhiên tụt hậu.

Một hậu quả của việc bức tường Bá Linh sụp đổ năm 1989 là Việt Nam càng thêm lệ thuộc Trung Quốc. Chỉ vì lãnh đạo Hà Nội muốn bảo vệ một ý thức hệ lỗi thời....

Còn gì bất ngờ hơn sự phi lý này? 

Thứ Năm, tháng 11 13, 2014

Á Châu Trước Hai Viễn Kiến Đông Tây

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 141112
Diễn đàn Kinh tế

Viễn kiến của Bắc Kinh có thể là ác mộng cho Á châu


 
* Tổng thống Barack Obama cùng Chủ tịch Tập Cận Bình tại Thượng đỉnh APEC 2014, ngày 10 Tháng 11 - Ảnh Reuters *













Tại thượng đỉnh APEC của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á Châu Thái Bình Dương năm nay các nước Á Châu thấy hai cường quốc ở hai bờ Thái Bình Dương đề nghị hai viễn kiến có vẻ tương đồng mà lại đối nghịch. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về những lợi hại của hai đề nghị này cho các nước Á Châu. Xin quý vị theo dõi cách Vũ Hoàng đặt câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.  

Kinh tế hay an ninh, chính trị? 


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, đằng sau ngôn từ ngoại giao của lãnh đạo 21 quốc gia trong khu vực Á Châu Thái Bình Dương khi họ gặp nhau tại Hội nghị cấp cao là Thượng đỉnh APEC ở Bắc Kinh, mọi người đều thấy các nước Á Châu đang được hai cường quốc ở hai bờ Đông Tây của Thái Bình Dương là Hoa Kỳ và Trung Quốc mời chào vào hai dự án hội nhập kinh tế. Kỳ này, xin đề nghị ông phân tích cho hai đề nghị có vẻ là kinh tế đó mà thực chất vẫn liên hệ đến cả lĩnh vực an ninh và chính trị của các nước trong khu vực.  

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng về bối cảnh sâu xa thì ta cần nhớ lại vài sự kiện trước khi đi vào hai viễn kiến Mỹ-Tầu được Hoa Kỳ và Trung Quốc chiêu dụ các nước châu Á.
- Trước hết, các nước đều có thể đồng ý với nhau rằng tự do thương mại theo quy luật thị trường là có lợi cho đôi bên trong việc giao dịch mua bán và đầu tư với nhau. Tuy nhiên, đi vào áp dụng thì từng nước phải đồng ý về quy tắc tự do đồng đều qua tiến trình đàm phán. Lý tưởng tự do mậu dịch toàn cầu dẫn tới sự hình thành của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO mà về sau cả Trung Quốc và Việt Nam đều gia nhập. Nhưng thực tế của thương thảo về quyền lợi và tương nhượng chung khiến vòng đàm phán gọi là Doha của WTO, được đề xướng từ Tháng 10 năm 2001, vẫn bế tắc sau 13 năm. Vì thế, các nước mới tìm qua ngả thương thuyết tay đôi hay giữa từng nhóm quốc gia trong từng khu vực với nhau rồi mở dần cho các nước khác tham dự.

Mọi dự án hợp tác hay hội nhập kinh tế đều bao gồm cả khía cạnh an ninh vì các thành viên buôn bán với nhau đều có xu hướng là đối tác kinh tế sẽ dễ là đồng minh về an ninh và chiến lược. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thưa ông có phải đấy là bối cảnh của sự ra đời của sáng kiến TPP không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là từ 10 năm trước, vào năm 2005, một nhóm nhỏ các nước có vị trí địa dư nằm trong vành cung Á Châu Thái Bình Dương đồng ý quy tắc tự do buôn bán theo chủ trương giảm thuế suất nhập nội và hạn ngạch xuất nhập khẩu đến tối đa để có một khu vực tự do mậu dịch. Sau đó, từ năm 2008, Hoa Kỳ là quốc gia có thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới mới tham dự và mở rộng sáng kiến này. Về nội dung thì có tính chất hội nhập cao hơn để các thành viên trở thành đối tác về kinh tế lẫn chiến lược. Về phạm vi thì mời nhiều nước khác cùng tham gia, quan trọng nhất chính là Nhật Bản, mà quan trọng hơn nữa là không mời Trung Quốc. Tinh thần hợp tác ở đây là ngần ấy thành viên lớn nhỏ phải cùng đồng ý với một quyết định thì mới có giá trị.

- Sau mấy chục vòng đàm phán, Hiệp định TPP chưa thành hình như Chính quyền Barack Obama đã yêu cầu từ hai năm trước. Một phần cũng do phản ứng bảo hộ mậu dịch ngay trong nội bộ nước Mỹ, xuất phát từ cánh tả của đảng Dân Chủ. Phần kia là phản ứng bảo vệ của Nhật, khi họ cân nhắc sự lợi hại của việc mua bán xe hơi với nhập khẩu nông sản và lương thực chẳng hạn. Thực tế thì các nước, và nhất là nhiều thành phần tại Mỹ, cứ chú ý đến chuyện áo cơm mắm muối mà quên hẳn khía cạnh chiến lược kia là sự bành trướng của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Trong khi đó, Trung Quốc chẳng ngồi yên mà cũng đã có nỗ lực mở rộng hợp tác với các nước nên ngày nay lãnh đạo Bắc Kinh mới đề nghị một lộ trình hội nhập để thành lập một khu vực tự do mậu dịch trong vùng Á Châu Thái Bình Dương. Thưa ông, diễn tiến việc đó là như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin được nhắc lại rằng khi ba bốn nước sơ khởi, là Chile, Singapore và New Zealand rồi Brunei, đàm phán việc hợp tác và dẫn tới sự hình thành của sáng kiến TPP thì từ năm 2004, Nhật cũng có đề nghị tương tự là lập ra một khu vực tự do mậu dịch cấp vùng.


000_Hkg10116388.jpg
Hình minh họa chụp tại Bắc Kinh ngày 08/11/2014.


- Nhưng chính Trung Quốc mới thúc đẩy sáng kiến đó với 10 nước trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á là ASEAN để tiến tới sự hình thành của diễn đàn ASEAN + 3 là thêm Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn. Tiếp theo thì họ mở ra diễn đàn ASEAN + 6 là mời thêm Ấn Độ, Úc và New Zealand. Sáng kiến ASEAN + 6 là nền tảng của đề nghị gọi là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện trong Khu vực, gọi tắt là RCEP, được đưa ra lần đầu vào năm 2012 tại Thượng đỉnh của các nước ASEAN ở Cambodia, với triển vọng thành hình vào năm 2015.

- Sáng kiến RCEP do Trung Quốc đưa ra mới là nguyên ủy của dự án đàm phán về Hiệp định FTAAP gọi là Thương mại Tự do Á Châu Thái Bình Dương mà Chủ tịch Tập Cận Bình vừa nhắc lại và vẽ ra lộ trình sẽ cùng các nước hoàn tất vào năm 2025, là 10 năm sau tiêu chí của Hiệp định Đối tác Toàn diện RCEP....

Vũ Hoàng: Khi ông nhắc đến hội nghị cấp cao của ASEAN tại Phnom Penh vào năm 2012 đó thì thính giả của chúng ta cũng nhớ đến việc quốc gia đăng cai tổ chức hội nghị này vào năm đó là xứ Cam Bốt đã bác bỏ việc các nước Đông Nam Á đề cập tới hồ sơ an ninh tại Biển Đông để khỏi gây mâu thuẫn với Trung Quốc. Có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ông nhớ sự kiện đó là chí lý vì mọi đồng tiền đều có hai mặt. Mọi dự án hợp tác hay hội nhập kinh tế đều bao gồm cả khía cạnh an ninh vì các thành viên buôn bán với nhau đều có xu hướng là đối tác kinh tế sẽ dễ là đồng minh về an ninh và chiến lược. Nếu Hoa Kỳ mở ra sáng kiến TPP mà không có Trung Quốc thì Bắc Kinh cũng có sáng kiến FTAAP giữa 16 quốc gia sản xuất ra 40% sản lượnh của thế giới mà không có Hoa Kỳ.

 

Mục tiêu của Mỹ và Tầu?

   

Hoa Kỳ tôn trọng quy tắc tự do kinh tế và coi trọng quy luật thị trường, với hệ thống luật lệ rõ ràng và là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới dù kinh tế không lệ thuộc vào ngoại thương như Trung Quốc. Đấy là một ưu thế khách quan. Nguyễn-Xuân Nghĩa


Vũ Hoàng: Nhìn cách khác và chúng ta trở lại chủ điểm của chương trình, phải chăng các nước Á Châu được Hoa Kỳ và Trung Quốc mời vào hai kế hoạch hợp tác kinh tế khác biệt và thậm chí đối nghịch nữa? Hai cường quốc này nhắm vào những mục tiêu gì và các nước Á Châu nên cân nhắc ra sao trước sự mời chào của Hoa Kỳ và Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi nhắc lại diễn tiến từ chục năm trước thì ta thấy ra hai viễn kiến gần như hai cực đối nghịch của Mỹ và Tầu ở hai đầu Thái Bình Dương. Các nước Á Châu phải cân nhắc nhiều mặt lợi hại về kinh tế lẫn an ninh trong viễn ảnh năm mười năm tới chứ không thể chỉ nghĩ đến chuyện mua bán với ai thì có lợi! Nói về mục tiêu của từng cường quốc Mỹ Hoa khi chiêu dụ các nước Á Châu, tôi nghĩ rằng ta nên thấy ra vài khác biệt sau đây .

- Hoa Kỳ tôn trọng quy tắc tự do kinh tế và coi trọng quy luật thị trường, với hệ thống luật lệ rõ ràng và là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới dù kinh tế không lệ thuộc vào ngoại thương như Trung Quốc. Đấy là một ưu thế khách quan. Trung Quốc có dân số cao nhất và lần đầu tiên trong lịch sử xứ này, lệ thuộc rất nhiều vào việc trao đổi buôn bán với thiên hạ để phát triển xứ sở. Nhờ vậy, các nước có thể tìm ra mối lợi khi làm ăn với thị trường Hoa Lục mà không thể quên chủ ý "phân công lao động" của Bắc Kinh, đó là bảo đảm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu cho một xứ đói ăn, khát dầu và đang cần tiếp nhận hoặc thậm chí ăn cắp công nghệ cao của thế giới.



obama-tap-622

Tổng thống Mỹ Barack Obama (bên trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong một cuộc họp báo chung tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 12 tháng 11 năm 2014.


Vũ Hoàng: Ông có thể nào nêu vài thí dụ về chú ý này của Bắc Kinh không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh ve vãn một quốc gia có nhiều tài nguyên khoáng sản như Úc, thậm chí đã từng gây sức ép với doanh nghiệp Úc như vụ Rio Tinto năm kia, để bảo đảm nguồn cung cấp lâu dài với giá rẻ. Trong khi đó họ cũng ráo riết tìm cách ký kết hiệp định tự do mậu dịch với Nam Hàn, là xứ không có tài nguyên mà đầy chất xám và sản phẩm công nghệ cao.

- Mục tiêu kinh tế là để tranh thủ hai quốc gia có các sản phẩm và dịch vụ mà Bắc Kinh rất cần. Nhưng mục tiêu an ninh thì cũng để trấn an nước Úc khỏi lo sợ và hợp tác quân sự với Hoa Kỳ hoặc tham gia bảo vệ an toàn trên vùng biển Đông Nam Á là cửa ngõ thông thương của nước Úc. Với Nam Hàn thì mục tiêu an ninh cũng là kéo Nam Hàn về phía mình hầu giảm thiểu ảnh hưởng của một cường quốc kinh tế và quân sự mà họ e ngại nhất tại Đông Á là Nhật Bản.

Vũ Hoàng: Vì thời lượng có hạn, chúng ta phải đi vào đoạn kết. Ông nghĩ sao về sự chọn lựa của các nước Á Châu trước hai viễn kiến hay dụng ý đó của Hoa Kỳ và Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên, tôi xin nhắc lại rằng các nước Châu Á cần cái nhìn dài hạn và toàn diện về quyền lợi và sự an toàn trước sức hút của hai cực ở hai bờ Thái Bình Dương. Thứ hai, Trung Quốc có rất nhiều nhược điểm nội tại về kinh tế và xã hội cho nên nay mai có thể bị khủng hoảng và đấy là vấn đề cho Đông Á. Thứ ba, Trung Quốc ít tôn trọng cam kết và luật lệ mà cũng chẳng che giấu mục tiêu chiến lược về quân sự trên vùng biển từ Thái Bình Dương qua tới Ấn Độ dương. Trong khi đó, Hoa Kỳ là siêu cường ở xa, chẳng có tham vọng thôn tính mấy xứ Đông Nam hay Đông Bắc Á, nhưng có khả năng bảo vệ quân sự trên vùng biển và trong vài chục năm tới vẫn là lực đối trọng trước đà bành trướng của Trung Quốc tại Đông Á. Sau cùng, Hoa Kỳ là một xứ dân chủ, lãnh đạo phải quan tâm đến dư luận và có thể bị thay thế qua bầu cử công khai minh bạch nên khó thi hành loại âm mưu mờ ám và cứ phải công khai hóa tiến trình quyết định của mình, thí dụ như qua từng đợt đàm phán về Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, khi nhắc đến chuyện bầu cử tại Mỹ vừa qua, các nước Á Châu nên kết luận ra sao và so sánh thế nào với Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đảng Cộng Hoà thắng lớn tại Quốc hội sẽ giải tỏa những cản trở của xu hướng bảo hộ mậu dịch trong đảng Dân Chủ cho nên tạo cơ hội cho ông Obama khai thông nhiều chướng ngại mậu dịch, nhất là với Nhật Bản trong dự án TPP. Vì vậy, Hiệp định TPP sớm có hy vọng thành hình trước Hiệp định FTAAP của Tầu. Thứ hai, đảng Cộng Hòa có xu hướng nghi ngờ Trung Quốc về an ninh nên sẽ gây sức ép với Chính quyền Obama để có những quyết định chuyển trục thật về Đông Á thay vì cứ nói vu vơ mà chẳng làm gì kể từ ba năm qua.

- Sau cùng, nếu so sánh thì lãnh đạo mới của Trung Quốc cứ nói tới giấc mộng Trung Hoa mà thực tế vẫn củng cố quyền lực và bành trướng ảnh hưởng ra ngoài. Kế hoạch mà ông Tập Cận Bình gọi là xây dựng lại "Con Đường Tơ Lụa" mở rộng trên đại lục và đại dương, từ Indonesia qua Ấn Độ vào Trung Á, có hàm ý quân sự để xác định lại sức mạnh của Trung Quốc tại Đông Á. Vì thế viễn kiến của Bắc Kinh có thể là ác mộng Châu Á.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Thứ Ba, tháng 11 11, 2014

Hiệp Định Tự Do Mậu Dịch, "Vũ Khí" của Mỹ và Tầu


Thanh Hà & Nguyễn-Xuân Nghĩa Ngày 141111

Các nước Á Châu trước sự mời chào của Hoa Kỳ và Trung Quốc  

Hiệp định tự do mậu dịch,


* Tổng thống Mỹ, Barack Obama đứng sau chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình 
tại thượng đỉnh APEC 2014. Ảnh Reuters ngày 11/11/2014
 
 
Các nước trong vùng Châu Á Thái Bình Dương đang đứng trước sự chọn lựa giữa hai sáng kiến thành lập khu vực tự do mậu dịch của Washington và Bắc Kinh. Hiệp định TPP của Mỹ và FTAAP của Trung Quốc bao hàm cả vế kinh tế, thương mại lẫn chiến lược, an ninh. Vấn đề đặt ra đối Châu Á : Mỹ thì ở xa Trung Quốc thì gần.

Hiệp định tự do mậu dịch, «vũ khí» để Mỹ và Trung Quốc tranh giành ảnh hưởng với khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Tại thượng đỉnh Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương APEC tổ chức ở Bắc Kinh, Hoa Kỳ và Trung Quốc chạy đua tranh giành ảnh hưởng với khu vực qua hai dự án thành lập khu vực tự do mậu dịch rộng lớn.

Tham gia Hiệp định Đối tác Chiến lược Xuyên Thái bình dương, gọi tắt là TPP, do Hoa Kỳ vận động với 11 quốc gia trong đó có Nhật Bản mà không có Trung Quốc hay ngả vào vòng tay Bắc Kinh với Khu Vực Thương Mại Tự Do Châu Á Thái Bình Dương FTAAP ?

Dự án thành lập khu vực tự do mậu dịch FTAAP của Trung Quốc bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á trong hiệp hội ASEAN, cộng thêm 6 quốc gia khác ở Châu Á là Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, New Zealand và đương nhiên là Trung Quốc. Bắc Kinh đương nhiên mời Hoa Kỳ đứng ngoài vòng của dự án FTAAP.

Cụ thể hơn Trung Quốc đề nghị những gì với các đối tác Châu Á qua dự án này? Đâu là những ý đồ của lãnh đạo Bắc Kinh? Dự án nào có lợi nhiều hơn đối với các nước Á châu? Đó là những câu hỏi chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lần lượt trả lời.


TPP hay FTAAP ?


TPP thoạt đầu là sáng kiến do Brunei, Chi Lê, New Zealand và Singapore đề xướng vào năm 2005 để cưỡng lại áp lực của các quốc gia lớn trong khu vực. Cả bốn đều là những chú lùn về chính trị lẫn thương mại trong vùng Châu Á Thái Bình Dương. Thế rồi bốn năm sau đó, Hoa Kỳ nhập cuộc, lôi kéo theo nhiều quốc gia khác như Úc, Malaysia, Peru, Việt Nam, rồi Canada, Mêhicô và sau chót hết là Nhật Bản. Tuy không nói ra nhưng Washington muốn biến TPP thành một công cụ để kềm tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc vào lúc Bắc Kinh đang tiến lại gần các quốc gia Đông Nam Á và cuốn hút khối ASEAN vào quỹ đạo của mình qua một loạt các thỏa thuận tự do mậu dịch.


Một khi hoàn tất, TPP trở thành khu vực kinh tế hơn 790 triệu dân, đóng góp 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu. Các chuyên gia Mỹ xem TPP là "hiệp định thương mại của thế kỷ XXI" và sẽ là vế kinh tế trong chính sách "xoay trục về châu Á" của tổng thống Obama bên cạnh vế quân sự qua hàng loạt các thỏa thuận giữa Washington với các đối tác như Philippines, Úc và kể cả với Việt Nam hay Ấn Độ.

Trước mắt, tham vọng đóng một vai trò then chốt toàn diện – từ kinh tế đến ngoại giao, chiến lược –tại Châu Á Thái Bình Dương của Hoa Kỳ qua hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương còn vấp phải nhiều trở ngại. Bên cạnh những bất đồng về quyền lợi kinh tế, thương mại, Washington chủ yếu chưa thuyết phục được các đối tác Á châu nghiêng hẳn về phía mình. Bởi các đối tác của Mỹ vẫn bị giằng co giữa hai siêu cường kinh tế của thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Cụ thể nhất là trường hợp của Nhật Bản. Tokyo đã đợi đến tháng 11/2011 mới gia tham gia đàm phán TPP cho dù Tokyo từ trước tới nay vẫn khẳng định Nhật Bản là "cánh tay phải của Mỹ tại châu Á".


 
Trung tâm hội nghị APEC tại Bắc Kinh REUTERS/Jason Lee
 

Nhìn sang góc bên kia của đấu trường thì Bắc Kinh từ tháng 11/2012 tại thượng đỉnh Đông Á ở Cam Bốt đã đề xuất sáng kiến thành lập Hiệp Đinh Đối Tác Kinh Tế Toàn Diện Khu Vực – RCEP bao gồm 10 thành viên của ASEAN với 6 quốc gia mà Hiệp Hội Đông Nam Á đã ký kết hiệp định tự do mậu dịch. Sáu nước đó là Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand.

Hàn Quốc và New Zealand hiện không tham gia hiệp ước Xuyên Thái Bình Dương của Mỹ. Bắc Kinh đặc biệt chiếu cố Hàn Quốc do Seoul là một đồng minh truyền thống của Washington, và đang có tranh chấp chủ quyền biển đảo với Nhật Bản. Lôi kéo được Hàn Quốc vào vòng ảnh hưởng của mình là một thắng lợi lớn của Trung Quốc không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, thương mại mà cả về phương diện ngoại giao và địa chính trị. Không phải tình cờ mà trước khi thượng đỉnh Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương khai mạc, Trung Quốc và Hàn Quốc đã chính thức ký kết hiệp định tự do mậu dịch song phương.

Dù sao đi chăng nữa hiệp định RCEP liên quan tới một nửa dân số trên hành tinh và 1/3 tổng trao đổi mậu dịch toàn cầu. Nhưng chiến lược chiêu dụ các quốc gia trong vùng Châu Á Thái Bình Dương của Bắc Kinh không dừng lại ở đó. Trung Quốc đưa ra một kế hoạch rộng lớn hơn, bao gồm cả Mêhicô, Peru, và nhất là Nga trong khuôn khổ hiệp định FTAAP Khu Vực Thương Mại Tự Do Châu Á Thái Bình Dương.

Dự án TPP do Hoa Kỳ đề xướng càng gặp trở ngại thì kế hoạch FTAAP của Trung Quốc càng có cơ may thu hút các đối tác châu Á.

Khác biệt giữa TPP và FTAAP

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết cả hai sáng kiến của Hoa Kỳ và Trung Quốc đều xuất phát từ châu Á, sau đó được hai cường quốc đối nghịch trong khu vực này khai thác để vừa mở rộng ảnh hưởng của mình vừa ngăn ngừa ảnh hương của đối phương (…)

Phía Bắc Kinh khởi đi từ Hiệp hội 10 quốc gia Đông Nam Á - ASEAN -  để cùng với mình lập ra một khu vực tự do mậu dịch chung. Khu vực đó từng bước mời thêm Nhật, Hàn Ấn Độ, Úc và New Zealand tham gia. Dĩ nhiên là với vai trò trọng yếu của Trung Quốc. Bắc Kinh có dự kiến lớn là mở ra kỷ nguyên phát triển Đông Á với Trung Quốc là trung tâm để thiết lập mạng lưới an ninh và kinh tế dưới cái dạng của "Con Đường Tơ Lụa" ngày xưa trải rộng trên biển và trong đất liền, từ Indonesia của Đông Nam Á qua đến Trung Á. Để thực hiện dự kiến, Bắc Kinh tung tiền mua chuộc các nước Á châu qua đầu tư và mậu dịch. Giờ đây, Bắc Kinh đề nghị Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện của Khu vực trải rộng từ Úc châu về tới Trung Quốc. Tham gia dự án này, các nước Á châu sẽ có lợi thế là buôn bán với thị trường đông dân nhất.

Phía Mỹ thì khai triển sáng kiến Xuyên Thái bình dương TPP nhưng bất nhất vì mâu thuẫn bên trong khi đảng Dân Chủ và các nghiệp đoàn muốn duy trì chế độ bảo hộ mậu dịch và chưa khắc phục được các dị biệt quá lớn với một đối tác quan trọng là Nhật Bản. Việc đảng Cộng Hoà vừa thắng lớn tại Quốc hội có thể khai thông được bế tắc này về mậu dịch và chú ý hơn đến an ninh.

Dụng ý của Trung Quốc?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Trung Quốc công khai thừa nhận muốn Bắc Kinh trở lại vị trí trung ương của khu vực Châu Á Thái Bình Dương kể cả về mặt kinh tế lẫn quân sự. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh muốn gạt Mỹ ra khỏi khu vực này. Ngoài ra, những quốc gia nào đi theo Trung Quốc thì sẽ có lợi về kinh tế và sẽ được Bắc Kinh che chở, bảo đảm về an ninh.

Tuy nhiên các nước Đông Nam Á và Đông Á, đứng đầu là Nhật Bản thì đã không tin vào những hứa hẹn của Trung Quốc, nhất là với những động thái của Trung Quốc ở Biển Đông.

Vấn đề thứ nhì là tuy Bắc Kinh có tham vọng lớn lao như vậy nhưng Trung Quốc có thế mà không có lực. Bản thân Trung Quốc trong nội bộ cũng còn rất nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết. Ngoài một số khó khăn kinh tế, Trung Quốc còn phải đối mặt với vấn đề hội nhập với những sắc tộc …

Thế rồi vừa qua, vấn đề dấy lên ở Hồng Kông cũng đã làm nhiều nước trong vùng phải suy nghĩ. Ở phía bên kia, cho dù Hoa Kỳ là một ông khổng lồ còn đang ngủ quên, nhưng không ai lo ngại, Mỹ tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở nơi này hay nơi kia. Đồng thời thì Hoa Kỳ vẫn có một sức mạnh quân sự với khả năng đảm bảo an ninh cả khu vực Đông Á trước đà bành trướng của Trung Quốc. 

Lợi và hại khi đi theo Mỹ hay theo Trung Quốc

Nguyễn Xuân Nghĩa: Đương nhiên các nước Đông Á không thể quyết định trong hai ngày thượng đỉnh APEC là họ sẽ tham gia vào khu vực tự do mậu dịch TPP hay FTAAP. Vấn đề không thể có giải đáp trong ngắn hạn mà là bài toán của năm, mười năm tới.

Vả lại Trung Quốc muốn trở lại với quy trình trong quá khứ của Liên bang Xô Viết : phân công lao động. Bắc Kinh muốn mở rộng giao thương với các quốc gia trong vùng để bổ sung cho những yếu kém của bản thân kinh tế Trung Quốc. Thí dụ như Trung Quốc chủ trương mua rấ nhiều nguyên, nhiên vật liệu để phát triển kinh tế của chính mình. Thế rồi bán lại cho các đối tác thương mại do Trung Quốc sản xuất, tạo la một sự lệ thuộc vào hàng hóa của Trung Quốc. Vì thế các nền kinh tế trong vùng sẽ bị Bắc Kinh khuynh đảo, kiểm soát.

Tương tự như Liên Xô trước kia có mối liên hệ với các nước trong khối COMECON ở Trung và Đông Âu theo kiểu phân công lao động có lợi cho Moscow. Ngược lại phía Hoa Kỳ có chủ trương tự do kinh tế và làm gì có lợi cho nước Mỹ thì họ làm. Kết luận là tham gia dự án với Mỹ thì có lợi và an toàn hơn. Muốn vậy, các nước Á châu, từ Nhật Bản đến Nam Hàn, Úc, và cả Ấn Độ, cần gây sức ép với Mỹ về mối nguy của Trung Quốc cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Việc hăm dọa Mỹ là mình sẽ đi với Trung Quốc có thể nằm trong toan tính đó.