Thứ Bảy, tháng 2 13, 2016

Đắm Mà Chưa Chìm



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 160213


Khi dàn hợp xướng không thể đẩy lui sóng dữ 


* Hình ảnh ban nhạc trên con tầu Titanic *


Hôm Thứ Ba mùng chín, sáu Ngoại trưởng Âu Châu đã “tìm về La Mã”, xưa kia là kinh đô của một đế quốc huy hoàng. Ngày nay, đấy là Roma, thủ đô của nước Ý đang nghiêng xuống biển.

Vì dư luận Mỹ còn nhìn vào cái rốn của cuộc tranh cử Tổng thống nên ít chú ý đến bữa tiệc của đại diện sáu nước thành viên nguyên thủy của Liên Hiệp Âu Châu, là Đức, Pháp, Ý, Hòa Lan, Bỉ và Luxembourg mà xưa kia ta gọi là Lục Xâm Bảo. Họ tìm cách cứu vãn cơ đồ như một con tầu đắm. Khi Thủ tướng Ý là Matteo Renzi trả lời phỏng vấn hệ thống truyền thông kinh doanh Bloomberg của Hoa Kỳ, có lẽ ông đã tóm lược tình hình một cách cô đọng nhất: “Liên Âu cũng tựa như dàn nhạc đang tấu nhạc trên con tầu Titanic.”

Cô đọng mà vẫn lạc điệu!

Khi du thuyền Titanic bị nạn và bắt đầu chìm trong một đêm giá lạnh, dàn nhạc trên tầu chào đón tử thần bằng âm thanh. Họ không hốt hoảng mà lạnh lùng chấp nhận số phận, và tấu nhạc để tiễn đưa mọi người. Còn dàn “lục âm” của sáu nước Liên Âu ngày nay thì phủ nhận định mệnh, tin rằng tiếng nhạc sẽ nâng con tầu khỏi vòng xoáy và đưa mọi người đến chốn an lành.

Tiếng nhạc của họ qua bản thông cáo chung về tình hình Liên Âu có hai giai điệu chính là di dân và khủng bố. Dàn nhạc không nhìn thấy ba bốn vòng xoáy đang đe dọa con tầu Âu Châu:

Một là tình hình kinh tế quá bi đát của các nước miền Nam, như Hy Lạp, Tây Ban Nha với thất nghiệp cỡ 20%, và mới nhất mà nặng nhất về tài chánh và ngân hàng là Ý Đại Lợi. Hai là cơ chế Liên Âu chưa có khả năng phối hợp chánh sách để giải quyết vụ khủng hoảng kinh tế nổi lên từ năm 2010. Ba là chẳng ai nhìn thấy nhiều hậu quả xã hội đang dội lên từ tình trạng kinh tế sa sút và lại bị chấn động vì nạn di dân lẫn khủng bố. Bốn là sáu quốc gia cốt lõi của Âu Châu lại gác qua một bên những thách đố đang xảy ra ở vòng ngoại vi.

Khi đọc kỹ, hay nghe kỹ, các ý kiến từ bản thông cáo chung của dàn “lục âm” với chủ âm là “cải cách Liên Âu”, ta phải kết luận rằng sáu quốc gia sáng lập viên Liên Âu  đề nghị củng cố và hội nhập hệ thống cốt lõi của sáu nước. Và thả nổi cho các nước kia tự do tìm đường thoát hiểm. Nói nôm na là trên sân thượng, dàn hợp xướng cứ tấu nhạc cho vui, trong khi ở các tầng dưới, đang mấp mé chìm xuống nước, thì thiên hạ đã tìm xuồng tháo chạy!

“Thiên hạ” đây có thể là nước Anh, thành viên của Liên Âu nhưng nằm ngoài hệ thống tự do di chuyển của Hiệp ước Schengen. Cuối năm nay hay đầu năm tới, Anh sẽ tổ chức trưng cầu dân ý để quyết định về điều kiện “đi” hay “ở” trong khối Liên Âu. Thiên hạ đây cũng có thể là các nước Đông Âu xưa kia nằm trong quỹ đạo Xô viết nay rất ngại là lại trôi vào sức hút của Liên bang Nga. Mà vì ở vòng ngoài của địa dư, họ cũng bị chấn động nặng nhất vì làn sóng nạn dân đang dập vào biên giới. Các nước này cũng có một cốt lõi khác là “Nhóm Visegrad” gồm Ba Lan, Cộng hòa Tiệp, Slovakia, Hung Gia Lợi cùng Slovakia. Họ thất vọng về đối sách của Âu Châu trước đà bành trướng của Liên bang Nga.

Khi ấy, ta thấy ra một sự thật là cốt lõi Liên Âu chỉ xác nhận một phần của các vấn đề thực tế mà chưa thấy vì sao từng nước lại gia nhập dự án Âu Châu - như mua vé vào con tầu Titanic.

Dân Hy Lạp muốn tham gia vì tưởng sẽ có lợi ích kinh tế, mua vé boong dưới mà ngự boong trên với tấm nệm rất êm của kinh tế Đức. Dân Ba Lan thì coi chuyến du hành là một cách rời xa mối nguy của Đế quốc Nga vì từ nay sẽ có láng giềng đông đảo hùng cường. Người Hòa Lan thì mơ bảo vệ mức sống vương giả và lại có tiếng nói rất mạnh trong toàn cõi Âu Châu. Nước Pháp cũng không khác: có cái thế mạnh hơn cái lực kinh tế nhờ quan hệ khắng khít với nước Đức, nền kinh tế cốt lõi của cốt lõi.

Bây giờ, khi con tầu nghiêng ngả, sáu nước tiên phong trong dự án hội nhập Âu Châu có thể quyết định là sẽ hội nhập chặt chẽ hơn để bảo vệ hệ thống trung ương và cho các nước kia được ad libitum, tự do tấu nhạc theo cảm hứng. Rất hợp lý mà chẳng hợp tình.

Chuyện không hợp tình thứ nhất là hệ thống tiền tệ thống nhất của 19 thành viên - khối Euro - với vai trò quan trọng của Ngân hàng Trung ương Âu châu ECB và những cái phao cứu hộ cứu sinh. Sáu nước cốt lõi có thể khiến ECB ưu tiên giải quyết khó khăn bên trong và có chánh sách dị biệt với các nước nằm ở vòng ngoài. Các quốc gia này, không chỉ có Hy Lạp, có thể càng muốn ra khỏi khối Euro. Đồng Euro sẽ thành đồng sứt.

Chuyện không hợp tình kia thuộc về địa dư: như nước Ý dài ngoằng với phân nửa miền Bắc đã kỹ nghệ hóa và hội nhập vào cốt lõi Âu Châu, mà miền Nam thì còn nghèo trên Địa Trung Hải, với hoàn cảnh khó khăn y hệt như các nước miền Nam Âu Châu là Hy Lạp hay Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Và từ Địa Trung Hải, Ý cũng ở gần làn sóng nạn dân. Trong năm 2016 này – không, trong vài tuần tới thôi – chúng ta sẽ thấy các thị trường quốc tế tri hô về vụ khủng hoảng tài chánh tại Ý với hậu quả lan rộng vào các ngân hàng chủ nợ của Âu Châu. Hãy tưởng tượng là nước lạnh đã lên tới boong trên! Cứu hay không cứu sẽ là câu hỏi không dễ có giải đáp.

Chuyện không hợp tình thứ ba, là cốt lõi của cốt lõi nước Đức sẽ lâm thế kẹt.

Có lợi nhất nhờ hệ thống Euro để duy trì khả năng xuất cảng rất cao - quá cao - Đức cần thị trường rộng lớn của cả khối Âu Châu, bây giờ cái khối toàn mỹ ấy có khi bị chia làm ba bốn mảng và xứ nào cũng trông đợi vào tinh thần hào sảng rộng chi của kinh tế Đức. Dù có là đại gia, Đức cũng không thể cáng đáng nổi trách nhiệm ấy và nạn nhân sẽ là Thủ tướng Angela Merkel. Bà vẫn còn hy vọng lãnh đạo vì đối lập quá yếu, nhưng chẳng vì vậy mà tránh nổi những sóng gió trên chính trường.

Sau Merkel sẽ là đại loạn, cho cả nước Đức, lẫn các nước cốt lõi, lẫn vòng ngoại vi đang nhìn qua bốn phương tứ hướng.

Bài này tính nói về nhạc và nghĩ đến Ludwig van Beethoven với bản Hợp xướng số 3 có tên là “Eroica”. Rất hùng tráng với hào khí Âu Châu tỏa sáng từ nước Đức. Nhưng hành âm thứ hai của tác phẩm  lại có tên là Marcia Funebre. Dịch làm sao đây? Khúc tống táng?




Thứ Năm, tháng 2 11, 2016

Hiệu Ứng Giá Dầu

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160210
"Diễn đàn Kinh tế"


Vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị...


063_480337043.jpg
* Khai thác dầu tại Monterey Shale, California với kỹ thuật fracking hôm 24/3/2014.
 AFP photo * 



Dầu thô là sản phẩm chiến lược trong ý nghĩa là loại nhiên liệu cần thiết cho nền công nghiệp của các nước trên thế giới và ai làm chủ nguồn năng lượng này thì có thể chi phối nhiều quốc gia khác. Nhưng từ hơn một năm qua, giá dầu sụt mạnh đã lại gây hậu quả ngược là làm các nước bán dầu và các doanh nghiệp sản xuất bị điêu đứng. Bước vào năm Bính Thân, tiết mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiệu ứng của dầu thô khi giá dầu sụt mạnh và gây biến động cho các thị trường chứng khoán trên thế giới. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam nêu vấn đề với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do.

“Hiệu ứng thịnh vượng ngược”

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Hôm nay là chương trình kinh tế đầu năm của chúng ta, Nguyên Lam mong là ông đã vừa cùng gia đình ăn một cái Tết Bính Thân vui vẻ. Khi chuẩn bị đề tài kỳ này là hiệu ứng của giá dầu, Nguyên Lam tìm lại các chương trình trước vẫn được đài lưu trữ và nhớ rằng cách nay đúng một năm, trong chương trình ngày Thứ Tư 11 Tháng Hai năm 2015, ông có phân tích nguyên nhân của việc dầu thô sụt giá và khi ấy giá dầu còn ở khỏang 65 đô la một thùng ông đưa ra dự báo rằng giá có thể sụt nữa và di động trong biên độ từ hai chục đến năm chục đô la một thùng mà thôi. Ngày nay, giá đầu đã chạm mức 30 đồng và mỗi lần sụt dưới ngưỡng đó thì các thị trường cổ phiếu đều tuột giá. Ông cũng có nêu ra rằng giá đầu chỉ là một dấu hiệu của tình hình sinh hoạt kinh tế và dầu thô mà sụt giá thì đấy là triệu chứng đáng ngại cho viễn ảnh kinh tế trước mắt. Quả là từ đầu năm dương lịch, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu không mấy khả quan nhưng kỳ này chúng ta sẽ tìm hiểu riêng về hậu quả của nạn dầu thô sụt giá. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Với giá dầu bị mất 70% và sẽ còn mất nữa, hiệu ứng bất lợi cho các nước bán dầu sẽ lây lan và gây ra nguy cơ “giảm phát” là sản lượng kinh tế suy giảm, hàng họ bán rẻ mà vẫn ế và thất nghiệp sẽ tăng. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng nói về bối cảnh thì chúng ta có thể đang chứng kiến một chuyển động lớn, trăm năm mới có một lần. Khi dầu thô là nguồn năng lượng chính cho công nghiệp cách nay trăm năm thì xứ nào hay doanh nghiệp nào có dầu thì tưởng như là làm chủ thế giới. Cách nay nửa thế kỷ thì có lúc thiên hạ hốt hỏang báo động rằng sinh hoạt kinh tế hủy hoại môi sinh, thế giới sẽ đói ăn và thiếu dầu. Ngày nay, tình hình xảy ra trái ngược với dầu thô dư thừa và gây hậu qủa chưa ai lường được nên ta sẽ khởi sự từ một giác độ khác.

Thứ nhất, cuộc cách mạng về kỹ thuật gạn đá phiến ra dầu, tạm gọi là fracking, đảo lộn thế cung cầu với Hoa Kỳ và cả Canada trở thành hai nhả sản xuất mới và tăng số cung cho thế giới. Thứ hai, từ biến động năm 2008, kinh tế thế giới vẫn chưa khả quan và lại có dấu hiệu suy trầm từ Trung Quốc nên số cầu về dầu khí không tăng mà giảm. Thứ ba, kinh tế của Trung Quốc đã hạ cánh rồi và sẽ sa sút trong nhiều năm tới, và khi số cung tăng vọt mà số cầu vẫn đình trệ thì giá dầu phải sụt. 

- Thứ tư, cùng với cuộc cách mạng kỹ thuật về dầu khí, nhân loại cũng ra sức tìm các nguồn năng lượng “sạch” như quang năng là ánh mặt trời hay phong năng là sức gió, nên dầu thô, khí đốt và than đá hết còn vị trí nhu yếu như trước, và vì vậy giá dầu sẽ còn giảm nữa.


Nguyên Lam: Ông Nghĩa vừa tóm lược một bối cảnh rất rộng của hồ sơ dầu khí với kết luận hợp lý là giá dầu sẽ còn giảm. Khi ấy, ai mua dầu thì có lợi và ai bán dầu thì bị thiệt hại, nhưng thưa ông, nếu cân nhắc lợi và hại thì hậu quả sau cùng là gì? Giả dụ như Nguyên Lam có thể mua xăng với giá rẻ hơn, đấy là cái lợi, nhờ đó có thêm tiền mua thứ khác và kích thích sản xuất ở khu vực khác, nhưng giới sản xuất xăng dầu thì bị thiệt hại vì tài sản của họ mất giá và cũng có thể giảm đầu tư vào ngành khác. Trong cái chuỗi liên hệ rắc rối ấy thì người ta dựa vào những yếu tố nào để suy tính?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin khởi đi từ tổng thể với vài con số đơn giản để mình cùng tính.

- Từ giữa năm 2014 thì giá dầu ở khoảng 100 đô la một thùng, nay chỉ còn 30 đô la, coi như mất 70%. Tổng số trữ lượng về dầu của thế giới đã được xác định thì ở khỏang một ngàn 700 tỷ thùng. Khi dầu mất giá 70% thì kho dầu toàn cầu coi như mất giá khoảng 120 ngàn tỷ đô la, tính cho tròn thì hơn gấp 10 sản lượng kinh tế của nước Mỹ, bằng 500 lần sản lượng của Việt Nam hay 200 lần tài sản của vài doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Con số ấy cho thấy kích thước của vấn đề. Dù biết rằng lượng dầu ấy vẫn còn nằm dưới đất và chỉ có giá khi đào lên khai thác và bán ra, nhưng trong sổ sách hay đầu óc của các quốc gia hay các doanh nghiệp làm chủ lượng tài sản này thì người ta phải thấy là mình bị nghèo đi mất 70%. Khi ấy, chúng ta nghĩ tới khái niệm gọi là “hiệu ứng thịnh vượng ngược” để dự đoán về hậu quả.


000_Was1633010-622.jpg

Một trạm xăng của BP Amoco ở Fairfax, Virginia, Hoa Kỳ (ảnh minh họa chụp trước đây).

Nguyên Lam: Ông nói đến khái niệm hay phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng ngược”, thưa ông, đấy là cái gì vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tôi thấy mình giàu hơn thì tự nhiên tôi nghĩ đến việc xài tiền này cho các nhu cầu trước đây mình muốn mà không thỏa mãn được. Thí dụ như mua một cái xe lớn hơn hay một ngôi nhà sang hơn. Từ đó, quyết định chi tiêu phụ trội của tôi có thể kích thích sản xuất cho doanh nghiệp và đấy là phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng”, cơ sở của các tính toán và dự đoán kinh tế của giới hữu trách. Ngược lại, khi thấy mình bị nghèo đi thì tất nhiên là phải thu vén chi tiêu, tạm đình chỉ những gì muốn làm. Doanh nghiệp dầu khí đang khai thác các giếng dầu bị mất giá thì phải tiết giảm đầu tư, có khi sa thải nhân viên và gây hậu quả bất lợi cho kinh tế. Một quốc gia bán dầu ra như Liên bang Nga hay Saudi Arabia cũng thế, bị thất thâu ngân sách vì dầu thô sụt giá và không thể duy trì các chương trình phúc lợi xã hội như trước và hậu quả bất lợi sẽ lan rộng ra khỏi lĩnh vực năng lượng qua kinh tế và xã hội. Đấy là hiện tượng “hiệu ứng thịnh vượng ngược” hay “hiệu ứng nghèo túng”. Với giá dầu bị mất 70% và sẽ còn mất nữa, hiệu ứng bất lợi cho các nước bán dầu sẽ lây lan và gây ra nguy cơ “giảm phát” là sản lượng kinh tế suy giảm, hàng họ bán rẻ mà vẫn ế và thất nghiệp sẽ tăng.

 

Biến cố trăm năm mới thấy một lần


Nguyên Lam: Ông vừa nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong cuộc cách mạng về kỹ thuật khai thác dầu thô và khí đốt khiến số cung trên thế giới tăng mạnh, làm sụt giá dầu trong bối cảnh trì trệ của kinh tế thế giới. Khi dầu sụt giá như vậy thì vì sao các công ty không giảm mức sản xuất để hãm số cung?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhờ cuộc cách mạng kỹ thuật mà Hoa Kỳ đã vọt lên thành quốc gia sản xuất nhiều dầu nhất thế giới và giảm hẳn số dầu nhập khẩu nên càng làm thế giới bị ứ dầu. Khi ấy, các tiểu bang có giếng dầu lớn nhất như Texas, Oklahoma hay North Dakota đã thành đầu máy kinh tế. Các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa lao vào lĩnh vực sản xuất dầu với kỹ thuật mới cũng tuyển dụng nhiều nhân công nhất và khai thác cả ngàn giếng dầu loại bỏ túi ở mọi nơi và góp phần làm giảm nạn thất nghiệp tại Mỹ. Nhưng từ giữa năm 2014, tình hình hết còn khả quan như trước và ngày càng khó khăn hơn vì dầu thô sụt giá khiến nhiều giếng bị tạm đóng cửa và ngân sách nhiều tiểu bang như North Dakota bị hao hụt nặng chẳng khác gì tình hình Liên bang Nga hay Á Rập Saudi hoặc Venezuela.

Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đi vay thay vì chủ yếu bỏ vốn để khai thác dầu. Khi giá sụt thì họ vẫn có nhu cầu thanh toán các khoản nợ đáo hạn nên vẫn cứ phải bơm thêm dầu và bán lỗ để có tiền mặt hầu còn trả nợ. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Sang câu hỏi vì sao nhà sản xuất không giảm số cung để giá khỏi sụt thì ta gặp một vấn đề kế toán tài chính. Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đi vay thay vì chủ yếu bỏ vốn để khai thác dầu. Khi giá sụt thì họ vẫn có nhu cầu thanh toán các khoản nợ đáo hạn nên vẫn cứ phải bơm thêm dầu và bán lỗ để có tiền mặt hầu còn trả nợ trên thị trường trái phiếu hay cho các ngân hàng. Và động thái tuyệt vọng ấy lại càng làm dầu hạ giá trong một vòng luẩn quẩn đáng ngại! Mà không chỉ có doanh nghiệp, nhiều quốc gia cũng gặp cảnh ngặt nghèo ấy khi đi vay quá trớn.

Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì phải chăng các doanh nghiệp khai thác dầu lao vào một cuộc chơi nguy hiểm vì đi vay tiền để áp dụng một kỹ thuật tân kỳ làm tăng sản lượng và giảm phí tổn sản xuất cho tới khi dầu thô sụt giá quá mạnh thì họ phải tiếp tục bơm dầu trả nợ dù có bị lỗ. Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ thì tình hình của các nước sản xuất coi bộ cũng ít quả quan mà còn có vẻ nguy ngập, thí dụ như xứ Á Rập Xaou-đi và các nước trong Hiệp hội OPEC của 14 quốc gia xuất khẩu dầu thô. Ông nghĩ sao về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang chứng kiến một biến cố gọi là trăm năm mới thấy một lần. 

- Cùng nhiều nước bán dầu trong Vịnh Á Rập, Saudi Arabia có chiến lược độc đáo là không giảm sản lượng để giữ giá mà cứ tiếp tục bán thêm để giá sụt mạnh làm các doanh nghiệp Mỹ lỗ vốn và đóng cửa, là điều có xảy ra. Khối Á Rập này, như Saudi, Kuweit và các tiểu vương quốc, có nhiều dầu và dự trữ ngoại tệ dồi dào nên mới theo đuổi việc ấy, chứ các thành viên khác của tổ chức OPEC, như Venezulea thì bị khốn đốn nặng. Cuối tuần qua thì rạn nứt bùng nổ trong nhóm OPEC và tổ chức này hết còn thế lực làm giá như hơn 40 năm trước mà còn bị nguy cơ tan rã.

- Cũng về hiệu ứng của giá dầu, ta không quên là Iran đang nuôi hy vọng bán dầu từ một triệu rưỡi đến ba triệu một ngày sau khi hết bị quốc tế cấm vận để có thu nhập cải thiện kinh tế, nhưng sẽ lại tăng số cung. Là đối thủ chính trị của Iran, Saudi Arabia càng không muốn giảm sản lượng trong mục tiêu làm dầu thô sụt giá nữa hầu Iran không chiếm được lợi thế kinh tế. Ta không nên quên vai trò võ khí của dầu thô và Hoàng gia Saudi đang sử dụng võ khí ấy để gây khó cho Iran, cho Liên bang Nga và các doanh nghiệp Mỹ.

Nguyên Lam: Khi nói đến hoàn cảnh thuận lợi hơn cho các nước mua dầu thì chúng ta phải nhớ tới Trung Quốc là một nước cũng sản xuất dầu thô nhưng vẫn phải mua thêm cho đủ yêu cầu tiêu thụ quá lớn với hiệu suất rất kém. Thưa ông, nếu nói về hậu quả của việc dầu thô xuống giá thì kinh tế Trung Quốc được lợi những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc có lợi nhờ hóa đơn mua dầu được rẻ hơn trước, nhưng tự thân thì đã có quá nhiều vấn đề nên kết cuộc thì chẳng có gì khả quan hơn. Tôi xin vắn tắt như thế này: Trung Quốc là nơi mà mỗi tuần lại có nhiều tin xấu về kinh tế và tình hình tiếp tục suy đồi hơn với nạn đồng bạc mất giá, thất nghiệp tăng, tư bản tẩu tán ra ngoài, dự trữ ngoại tệ sẽ hao hụt bình quân chừng hơn 100 tỷ đô la một tháng - trong năm nay có thể mất thêm khoảng hơn một ngàn tỷ. Vì vậy, bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị. Trong hoàn cảnh đó số cầu về dầu thô càng giảm và giá dầu sẽ càng hạ.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Thứ Ba, tháng 2 09, 2016

Tippi Hedren, Bà Mẹ Đỡ Đầu Việt Nam Nail



Kiều Chinh - Việt Báo Xuân Bính Thân 2016

Nhớ chuyện xưa, và tri ân "Bà Mẹ của Ngành Nail Việt Nam tại Hoa Kỳ"    


 * Kiều Chinh và Tippi Hedren, bạn chân tình và ân nhân của ngành Nail Việt Nam - Ảnh O.C. Register *



Đánh dấu 30 năm người Việt tị nạn, Việt Báo Xuân Ất Dậu 2005 có bài của chủ biên Nguyễn Xuân Nghĩa phỏng vấn nữ tài tử Tippi Hedren tại Hollywood.
 
Là Phó Chủ Tịch Hội Thiện Nguyện “Food for the Hungry,” cùng với chủ tịch hội là Tiến sĩ Larry Ward, Tippi đã tổ chức trại Hope năm 1975, đón 5.000 Việt di tản tới miền Bắc Cali, mở lớp học nghề Nail đầu tiên, giúp chị em tị nạn tìm việc.

Thời người Việt ào ạt vượt biên tìm tự do, Dr. Larry Ward lo lập những trạm tiếp cứu ở Thái Lan giúp người vượt biên đường bộ. Trong khi ấy, Tippy Hedren trực tiếp điều hành con tầu Akuna, 18 tháng tuần hành biển Đông để cấp cứu thuyền nhân Việt.

Nhiều người Việt đã được cứu mạng trên bộ, trên biển. Nhiều người từng thành công trong lãnh vực y tế, điện toán, hoặc ngành nail có thể đã chịu ơn Larry và Tippi. Tiến sĩ Larry Ward đã qua đời năm 2003, nay chỉ còn lại Tippi Hedren.

Sau 40 mươi năm tị nạn, cộng đồng Việt đứng vững, người Việt đã chiếm phân nửa thị phần ngành Nail tại Bắc Mỹ. Tippi đã hơn 80 tuổi. Báo xuân Việt Báo năm nay trân trọng giới thiệu bài viết của Kiều Chinh về câu chuyện được kể khi vinh danh Tippi Hedren, bà mẹ đỡ đầu ngành Nail của người Việt tại Hoa Kỳ.

* * *


Từ năm 1965, thời chiến tranh Việt Nam, nhiều nghệ sĩ từ Hollywood tới Saigon thăm viếng ủy lạo tinh thần binh sĩ Mỹ ngoài chiến trường. Họ đi theo chương trình USO Tour và một số đã tới với KC Talk Show trên truyền hình như Danny Kaye, Johnny Grant the Hank Snow Band, Glenn Ford, Diane McBain, Tippi Hedren…

Mười năm sau, cuối Tháng Tư 1975, mấy ngày trước khi Saigon đổi chủ, tôi ra đi trên chuyến bay sau cùng rời phi trường Tân Sơn Nhất.

Nền Cộng Hòa tại miền Nam đang hấp hối. Thông hành ngoại giao do chính phủ VNCH cấp bị coi là vô giá trị, không nước nào chịu cho nhập cảnh. Cũng không nước nào chịu nhận đơn xin tị nạn của người Việt khi tình hình chưa dứt khoát. Cách duy nhất khi đã lên máy bay là phải... bay vòng vòng để chờ.

Tay trắng, sau mấy ngày vất vưởng, máy bay đáp xuống phi trường Toronto đúng 6 giờ chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975. Và Kiều Chinh trở thành người tỵ nạn Việt Nam đầu tiên tại Toronto, Canada, một xứ sở an bình.

Tháng Tư, trời Bắc Mỹ vẫn còn lạnh. Tới Sở Xã Hội - "Welcome House"- để lãnh một áo manteau cũ và được trợ cấp 75 dollars, sau đó đi tìm việc làm. Người thư ký sở xã hội hỏi:

- What is your professional skill? (Nghề chuyên môn của bà là gì?)

- I am an actress. (Tôi là diễn viên điện ảnh)

- We are not doing casting here (Chúng tôi không tuyển lựa tài tử ở đây), người thư ký nói. Sau đó, bà ta bảo nhìn lên bảng danh sách những việc làm đang cần người, cái nào đã đánh dấu X tức là việc đã có người nhận.

Trên bảng thấy chỉ còn dòng chữ cuối chưa có dấu X và việc làm là: "Cleaning after the chicken." (Làm sạch chuồng gà).

Tôi nhận việc làm này với mức lương tối thiểu hai dollars một giờ.

Dậy sớm từ năm giờ sáng, đi xe lửa ra ngoại ô Salboro. Tới nơi, nhân viên trại gà phát cho đôi giày boot cao su cao tới đầu gối, áo mưa dầy, băng bịt miệng và chỉ ra nơi để kéo vòi nước. Không phải thứ vòi nước nhẹ nhàng như vòi cao su tưới ở nhà, mà là vòi to, nặng như vòi của xe chữa cháy! Khi bật nước lên, sức phản hồi của nước mạnh mạnh tới mức có thể xô ngã mình, phải luôn cố gắng mà đứng vững.

Bắt đầu làm việc lúc sáu giờ sáng khi gà mới mở mắt. Bật vòi nước, vác ống nước trên vai và tay cầm ống nước xịt… cứ thế đi, đi xa hàng dặm, mùi phân gà xông lên đến chóng mặt.
Sau những ngày vất vả làm công việc của một người "cleaning after the chicken" trong một trại gà mênh mông ở xa thành phố Salboro, Canada, sức khỏe không cho phép tiếp tục công việc trong "thế giới gà" này. Tôi quyết định dùng trọn số tiền kiếm được trong mấy ngày làm sạch chuồng gà để gọi điện thoại long distance sang Mỹ cầu cứu với mấy người quen.

Gọi người thứ nhất: Burt Reynold, nam diễn viên đóng phim với tôi trong "Operation CIA", không gặp. Người thứ hai: Glenn Ford, không nói chuyện được. Người thứ ba, William Holden, bà vợ trả lời, "Chúng tôi đã ly dị nhau rồi, bà có thể kiếm Bill (Willian) qua Agent, đây là điện thoại. Gọi Agent cho biết William Holden đang đi săn bắn (hunting) ở Châu Âu một tháng nữa mới về.

Chỉ còn 15 dollars cuối cùng, tôi đánh liều gọi một người mà tôi chỉ được gặp có một lần cách đây 10 năm: Tippi Hedren.

Đường dây bên kia vọng lên:

- Tippi đây, Ai đó?

Tôi luống cuống, nước mắt trào ra:

- Tippi, Kiều Chinh, Kiều Chinh đây, Saigon, Việt Nam còn nhớ không?

- Nhớ, nhớ. O My God. Chinh đang ở đâu?

- Không nói tiếp được, tôi hết tiền, xin gọi lại số này.
"Đừng khóc. Đừng khóc, Tippi gọi lại và cho biết sẽ thu xếp mọi chuyện OK."

Hai ngày sau, tôi nhận được điện tín của Tippi, kèm thư và vé máy bay của tổ chức "Food for Hungry" mời diễn viên Kiều Chinh qua Mỹ, dự Lễ Khánh Thành trại Hope Village ở Sacramento, Trung Tâm Tiếp Cư đầu tiên dành cho người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ.

Tới phi trường Sacramento, trời đã tối, lạnh. Tippi đứng đợi tôi. Ôm nhau, mừng mừng, tủi tủi, cả hai chúng tôi cùng khóc trong tay nhau. Tippi hỏi baggage đâu, tôi lắc đầu, chỉ có thế này thôi, một túi vải nhỏ trên vai!

Tippi đưa tôi về trại Hope Village.

Nơi đây, trước là một bệnh viện lớn chiếm trọn ngọn đồi vắng vẻ xa dân cư. Năm 1975, khu bệnh viện bỏ trống, được biến thành trại tiếp đón hơn 500 gia đình Việt Nam đầu tiên định cư tại California. Trại do tổ chức thiện nguyện Food for the Hungry điều hành, President là Doctor Larry Ward và Tippi Hedren là Vice President.

Ngủ qua đêm, sáng hôm sau Chủ Nhật, lễ khánh thành Hope Village được tổ chức với sự tham dự của cả ngàn người Việt lần đầu thành dân tị nạn tại Mỹ.
Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào cờ trang trọng. Sau những ngày tan tác, đây là lần đầu tôi thấy lại quốc kỳ Việt Nam trên đất Mỹ. Nhạc trỗi quốc thiều. Lá cờ vàng ba sọc đỏ được kéo lên từ từ. Mọi người đứng lên hát theo nhạc. Một số đứng nghiêm, giơ tay chào theo kiểu nhà binh dù họ mặc thường phục. Đó là những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã lìa xa đồng đội. Trong tiếng hát quốc ca vào lúc bắt đầu phần đời lưu vong, có lúc tôi thấy mọi người và chính mình đều khóc.

Sau lễ chào cờ, tôi được yêu cầu lên sân khấu - một bục gỗ dã chiến - để phát biểu chào đón đồng hương và cám ơn nước Mỹ, người Mỹ đã mở vòng tay đón chúng tôi tới mảnh đất này để nhận nơi đây là quê hương.

Tôi thấy có tướng Kỳ, tướng Chức, Trung tá Lê Xuân Vinh. Trong số những người quen biết, có nha sĩ Nguyễn Bá Khuê, nhà báo Đỗ Ngọc Yến, nhà văn nữ Trùng Dương…. Những ngày tại Hope Village, nhìn ra nhau, xiết tay nhau trong hoàn cảnh bơ vơ thật là những kỷ niệm khó quên.

Sau lễ khánh thành, tôi ở lại trại cùng Tippi, hàng ngày làm công việc tiếp tế bữa ăn, dọn dẹp trong bếp, phát chăn màn, quần áo, làm thông dịch viên, giúp điền giấy tờ, người này ơi, người kia gọi, bận rộn suốt ngày.

Sau khi rời trại Hope Village, Tippi đưa tôi về ở cùng nhà, hàng ngày lái xe đưa tôi đi lo giấy tờ để được ở lại Mỹ do Tippi trực tiếp bảo trợ. Khi đó, Melanie Griffith, con gái Tippi mới ra ở riêng với bạn trai tài tử Don Johnson và tôi chiếm phòng của Melanie. Tôi ở đó, mặc quần áo của Tippi, cũng chính Tippi lo cho tôi vào hội của Hội Điện Ảnh SAG (Screen Actor Guild), mang tôi đến những sinh hoạt hội hè để có thể quen biết làm việc ở Hollywood. Từ đây, một trong những việc làm đầu tiên của tôi với Hollywood là một vai trong TV show M.A.S.H, đồng diễn với nam tài tử Alan Alda.
Bao năm qua, Tippi luôn dành cho tôi tình thân quý như chị em ruột. Chúng tôi có mặt bên nhau bất kể đêm ngày, trong mọi cảnh buồn nhất, vui nhất. Khi Tippi nhận vinh dự đặt bàn tay vào ngôi sao trên vỉa hè đại lộ Hollywood "Walk of Fame" tôi được yêu cầu phát biểu. Sinh nhật 80 của Tippi do vợ chồng Melanie Griffith - Antonio Banderas tổ chức, tôi nói lời mừng. Khi Hollywood làm phim tài liệu về cuộc đời, sự nghiệp Tippi, tôi được yêu cầu dự phỏng vấn. Và hôm nay, khi ngành Nail Việt Mỹ cùng vinh danh Tippi, tôi vinh dự được kể lại chuyện 40 năm….

Hope Village ngày ấy chỉ là một trại tiếp cư. Hơn 5.000 người Việt tị nạn đầu tiên tại Hoa Kỳ đã tới đó, chỉ để chờ đợi các cơ quan, nhà thờ bảo lãnh. Tất cả rồi sẽ rời trại đi theo người bảo trợ, tản mát khắp nơi, đi đâu chưa biết.

Bà con ta ngày ấy nhiều người chưa thông thạo Anh ngữ. Trong các gia đình công nhân viên chức, nhiều bà chưa đi làm bao giờ, không quen nói tiếng Anh, cũng không biết công việc làm tại nước Mỹ ra sao. Trong những lúc thăm gặp, tôi được các chị em yêu cầu trình bày với Tippi nhiều lo âu, thắc mắc về nghề nghiệp
Qua những lần gặp gỡ ấy, Tippi nhiều lần khen phụ nữ Việt đảm đang, khéo thu vén mọi chuyện, giỏi chăm sóc con em. Từ đây, Tippi nảy ra ý định giúp các bà các cô đi làm nail. Sau đó, chính Tippi giúp tổ chức lớp học nghề Nail ngay trong trại. Người dạy là bà thợ làm nail quen biết của Tippi. Lớp học Nail đầu tiên này có 20 nữ học viên, sau đó được giúp thi lấy bằng hành nghề.

Từ đó, những học viên Nail xuất thân từ Hope Village đều kiếm được việc làm dễ dàng. Rồi cứ thế rủ nhau, số người Việt vào nghề nail ngày càng đông, càng mạnh. Các cơ sơ, cửa tiệm Nail khắp Bắc Mỹ, số đông do người Việt làm chủ. Phim ảnh, báo chí viết về lịch sử ngành nail gọi Tippi là Mother of the Vietnamese Nail Profession / Bà mẹ nghề Nail của người Việt.

Nhân kỷ niệm 40 năm di tản, chị Kim Dung cùng một số các chị trong nhóm làm nail đầu tiên, chị Thuần Lê, Ái Lan, Vũ Thị Anh, Đặng Chiêu Hy, Tôn Nữ Diệu, Nguyễn Thị My, Nguyễn Thị Bạch Yến, Từ Cát, Mỹ Hạnh… đã tổ chức một buổi Reunion / hội ngộ tại Nhật Báo Người Việt. Nhân dịp này, một số trại viên cũ của Hope Village 1975 cũng dự để cám ơn và vinh danh Tippi Hedren.
Ngày 23 tháng 9, 2015, tại Beverly Hill, tổ chức Beauty Changes Lives Foundation và CND / Creative Nail Design, công ty sản phẩm nail hàng đầu thế giới, đã tổ chức vinh danh Tippi Hedren, với sự tham dự đông đảo của ngành nail Việt-Mỹ.

Đặc biệt sau câu chuyện về Tippi, trong không khí xúc động, Bà Jan Arnold, Co-founder của công ty CND đã loan báo khởi sự một học bổng dành cho ngành Việt Nail mang tên “Tippi Hedren Nail Scholarship.” Quĩ học bổng chính thức được thành lập với ngân khoản đầu tiên do CND hiến tặng, 184.000 Mỹ kim. Một cuộc họp mặt lớn với ngành Nail Việt-Mỹ được dự trù tổ chức tại Las Vegas sẽ loan báo các bước tiến kế tiếp.

Chúc mừng ngành nail Việt thành công trên đất Mỹ.

Chúc mừng học bổng “CND -Tippi Hedren Nail.” Và trân trọng cám ơn người nghệ sĩ, nhà hoạt động nhân đạo, bà bảo trợ của tôi: Tippi Hedren, Viet-Nail-Godmother!

____
 

(Trích Xuân Việt Báo Tết Bính Thân 2016 - còn nhiều hình ảnh ý nghĩa, chí có trên báo Xuân!)

Thứ Năm, tháng 2 04, 2016

Kinh tế Việt Nam sau Đại hội 12

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160203
Diễn đàn Kinh tế 

Còn khoanh tay đợi đến Tháng Năm   
 
 
000_Hkg10249171-622.jpg
* Ảnh chụp hôm 25/1, bên ngoài Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, nơi diễn ra Đại hội 12 của Đảng cộng sản Việt Nam. AFP * 
 
 
 
 


Đại Hội Khóa XII của đảng Cộng Sản Việt Nam đã kết thúc với một số thay đổi về nhân sự có gây chú ý trong dư luận, nhưng thực chất lại chẳng thay đổi về đường lối kinh tế. Khi ấy, hai chức năng cầm đầu bộ máy nhà nước là Hội đồng Chính phủ và Quốc hội sẽ xử trí ra sao với những cam kết quốc tế đã được đàm phán từ nhiều năm qua dưới sự chỉ đạo của đảng?

Chết kẹt trong mâu thuẫn

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, Đại hội lần thứ XII đảng CSVN vừa chấm dứt tuần qua với nhiều thay đổi về thành phần nhân sự lãnh đạo nhưng, ngược với sự trông đợi của nhiều người, hình như chính sách kinh tế lại vẫn như cũ. Kỳ này, chương trình chuyên đề của chúng ta sẽ phân tích chuyện đó, và xin ông gợi ý cho cái hướng tìm hiểu.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trong thế giới mờ ám của quyền lực độc tôn trong tay một đảng thì ta chỉ có thể biết về những gì đảng muốn tiến hành qua các văn kiện của đảng. Trường hợp ở đây là Nghị quyết, với nhiều phạm trù hay khái niệm được nhắc đi nhắc lại như một câu thần chú.

Khi hiểu quy cách làm việc từ trong đảng tới các chức năng của bộ máy nhà nước là Quốc hội và Hội đồng Chính phủ rồi hệ thống hành chính công quyền thì ta biết rằng đảng viên cán bộ đều phải học tập nghị quyết cho đến khi có lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ mới vào Tháng Năm này. Rồi từ đấy mới đem nghị quyết vào đời sống kinh tế - và chết kẹt trong mâu thuẫn.

Phạm trù hay ngôn ngữ thần chú gồm hai vế là “kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” đã có khi người cộng sản nói tới đổi mới từ 30 năm trước và cứ năm năm lại nhắc đi nhắc lại, như lắc một cái chai rỗng. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyên Lam: Thưa ông, mâu thuẫn ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Mâu thuẫn ấy nằm trong bước đột phá thứ nhất do đảng đề ra, đó là “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ta để ý đến từ hoàn thiện vì nó hàm ý một cái gì đó đã hiện hữu mà người ta muốn làm cho tốt hơn. Quả thật, phạm trù hay ngôn ngữ thần chú gồm hai vế là “kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” đã có khi người cộng sản nói tới đổi mới từ 30 năm trước và cứ năm năm lại nhắc đi nhắc lại, như lắc một cái chai rỗng. Ngoài thì dán nhãn bên trong chẳng biết là gì.

Cho tới nay, chưa ai định nghĩa được hai vế đó cho rõ để đảng viên cán bộ khả dĩ chấp hành mà điều hướng kinh tế. Hai chục năm trước, tôi từng được nghe người lãnh đạo cao cấp nhất trong đảng rồi tới các chuyên gia có nhiệm vụ quản lý kinh tế nêu câu hỏi mà chẳng ai có giải đáp, thế nào là kinh tế thị trường, thế nào là xã hội chủ nghĩa?

Cùng lắm thì biết nhà nước có chức năng “quản lý” cái định hướng ấy. Tức là người ta đòi tài xế lái xe theo một tấm họa đồ trắng xóa và cứ vậy mà lao xe, rồi nói ta đi đúng hướng. Có cái gì rất siêu hiện thực trong trò chơi ngôn ngữ ấy và nó lại vừa được đưa vào một nghị quyết của thế kỷ 21.

Nguyên Lam: Hình như cách nay không lâu, đúng một tháng trước, ông nêu trước vấn đề là “chệch hướng hay tụt hậu?” Chẳng ai biết cái hướng ấy là gì thì làm sao biết được chệch hay không? Một cách cụ thể thì hình như xã hội chủ nghĩa ở vào thế đối lập mà có giá trị hơn kinh tế thị trường nên mới giữ vai trò định hướng. Thế thì tại sao phải đổi mới và áp dụng kinh tế thị trường?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Có thể là người ta nuôi tham vọng dùng kinh tế thị trường để xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân tiện củng cố quyền lãnh đạo của một đảng tự xưng xã hội chủ nghĩa. Kết quả thì kinh tế không phát triển vì luẩn quẩn trong mâu thuẫn tôi gọi là hình tròn bốn góc, mà hậu quả là đảng viên cán bộ có cơ hội bòn rút tài nguyên quốc gia và thành đại gia trọc phú. Câu thần chú là cái gốc của tham nhũng nên một Thủ tướng có 10 năm theo kinh tế thị trường cũng thành người đem lại nhiều đặc lợi nhất cho tay chân. Bây giờ, khi bộ máy nhân sự mới phải khai triển cái nghị quyết này thì làm sao mà thực hiện yêu cầu trái khoáy là hoàn thiện kinh tế thị trường, mà quyền sở hữu nhà nước vẫn chèn ép quyền sở hữu tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo?

Nguyên Lam: Theo như chúng ta hiểu thì hai hệ thống kinh tế, theo thị trường và theo xã hội chủ nghĩa, có những khác biệt khó dung hòa, tựa như lề trái lề phải của một con đường. Nếu chính phủ như người tài xế lái xe theo cách so sánh của ông thì nhiều phần sẽ lạng qua bên trái rồi bên mặt thì làm sao mà tiến và trong bối cảnh đầy bất trắc như hiện nay, làm sao mà tránh tai nạn, tức là khủng hoảng về kinh tế?



12 nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015.
12 nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP
 
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đấy là chuyện chúng ta sẽ thấy sau khi cũng đảng và nhà nước ấy đã có những cam kết với các nước khác là hội nhập nền kinh tế Việt Nam vào thị trường quốc tế. Một cách cụ thể thì Việt Nam đã mất bảy tám năm thương thuyết để gia nhập Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, vừa hoàn thành hiệp ước Tự do Thương mại với Liên hiệp Âu và gia nhập Khối Kinh tế chung của Hiệp hội ASEAN. Then chốt của những cam kết ấy là sự phát triển và sức cạnh tranh của hệ thống tư doanh, trong đó, tư nhân làm chủ các phương tiện sản xuất và quản lý kinh tế theo quy luật tự do của thị trường. Như vậy, làm sao Quốc hội và Hội đồng Chính phủ với nhân sự mới lại có thể đưa tư doanh vào thế cạnh tranh quốc tế mà vẫn đè nén tư doanh dưới chế độ công hữu dưới vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước?

Chúng ta cũng không quên là khi đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO mươi năm trước, giới chức Hà Nội tự cho là khôn vì yêu cầu quốc tế cho Việt Nam thời hạn khá dài, tới 15, 18 năm, để có kinh tế thị trường đích thực. Với Hiệp ước TPP cũng thế, Hà Nội xin triển hạn tùy ngành để trì hoãn cải cách mà không hiểu rằng cứ bơi trong vùng nước lợ thì làm sao ra tới đại dương? Đã vậy, nghị quyết đảng với hai vế mâu thuẫn sẽ tiếp tục kềm hãm việc cải cách đã cam kết cùng quốc tế, với hậu quả là kinh tế không phát triển, tư doanh không thể cạnh tranh thắng lợi mà hệ thống quản lý của nhà nước thì bất lực trước những xoay vần không thể tránh nổi của thị trường thế giới. Đáng lẽ kinh nghiệm quản lý tệ hại vừa qua của kinh tế Trung Quốc phải là bài học cảnh tỉnh cho mọi người.

Làm sao để tránh bất ổn và suy sụp kinh tế?

 

Nguyên Lam: Đã từng là chuyên gia tư vấn cho các nước đang phát triển, ông nghĩ sao về những việc mà Quốc hội và Chính phủ của Hà Nội nên làm ngay để tránh được những bất ổn và suy sụp kinh tế người ta đang thấy ra tại Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ là ta nên bước qua bên cạnh để thấy vấn đề của Việt Nam và cả Trung Quốc không chỉ là kinh tế: chúng ta đang chứng kiến một vụ khủng hoảng lãnh đạo.

Lãnh đạo Bắc Kinh đang loay hoay giữa hai yêu cầu đóng mở, vừa củng cố quyền lực đảng tại trung ương vừa mở ra thế giới bên ngoài, với các bài toán kinh tế tài chính nan giải. Họ dự tính áp dụng biện pháp kinh tế gọi là “trọng cung”, suppy-side, của trường phái kinh tế tự do mà vẫn xiết chặt quản lý; họ muốn tránh nạn tẩu tán tư bản mà cũng muốn đồng bạc trở thành ngoại tệ dự trữ phổ biến trong rổ ngoại tệ “Đặc Trích” của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF. Rốt cuộc thì sẽ áp dụng chế độ kiểm soát tư bản và từ bỏ giấc mơ Đặc Trích của đồng Nhân dân tệ! Khi các giấc mơ tan thành mây khói hay biến ra ác mộng thì lãnh đạo bị khủng hoảng. Nhưng đấy là cơ hội cho Việt Nam “thoát Tầu”, trước hết là về mặt tư duy, sau đó mới là chính sách.

Nguyên Lam: Xin đề nghị ông trình bày từng bước của việc “thoát Tầu” hay “thoát Trung” về tư duy và chính sách như ông vừa nói.

Khi Việt Nam có thực tâm cải cách thì còn hy vọng được quốc tế tiếp sức, nếu không, thiên hạ sẽ nhìn qua hướng khác và đầu tư vào nước khác. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta biết là trước Đại hội đảng tại Hà Nội, Bắc Kinh đã đóng chốt rất chặt qua chuyến thăm viếng Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ ngày 24 đến 27 Tháng 12. Dịp này, Quốc hội hai nước đã có những ký kết chưa công khai hóa, nhưng đấy là một vòng kim cô khác để bóp chết khả năng xoay trở của Việt Nam, vốn dĩ còn kẹt trong mâu thuẫn chúng ta vừa nói là kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Tuy nhiên, lãnh đạo Bắc Kinh cũng còn lúng túng với nhiều ưu tiên khác và đây là cơ hội cho hệ thống nhân sự mới tại Việt Nam tách dần ra khỏi bóng rợp Trung Quốc. Nếu nhìn theo hướng tích cực và chiến lược thì khủng hoảng lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc và Việt Nam lại là một cơ hội Thoát Tầu. Người ta nên chủ động thay đổi tư duy từ trên đầu xuống để khai thác cơ hội này thay vì sụp đổ cùng cả hệ thống trong những biến động kinh tế sắp tới. Chính lãnh đạo Bắc Kinh cũng đang suy nghĩ theo hướng đó để tránh khủng hoảng thì hà cớ chi ta cứ lao theo họ vào vực thẳm?

Nguyên Lam: Thưa ông, từng bước cụ thể thì những người sẽ lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ sắp tới có thể làm những gì và cần làm những gì để khai thác cơ hội ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, tôi thiển nghĩ rằng vì tiền đồ của Việt Nam hơn là vì những cam kết với quốc tế, hãy nhìn thẳng vào vấn đề và nói ra yêu cầu tách đảng ra khỏi bộ máy nhà nước. Nhà nước, gồm có Quốc hội và Chính phủ, từ nay sẽ chịu trách nhiệm với quốc dân hơn là với đảng vì đảng hành xử như một chi bộ của đảng Cộng sản Trung Quốc.

- Thật ra, yêu cầu này đã được quốc tế nêu lên từ khi Việt Nam đổi mới rồi được viện trợ để xây dựng bộ máy hành chính công quyền độc lập và hữu hiệu, nhưng Ban Tổ chức Cán bộ Trung ương do đảng chỉ đạo ở phía sau vẫn không muốn thực thi yêu cầu đó. Những ai trong hệ thống nhân sự mới mà nói ra điều này thì mới là có ý thức thoát Tầu.

- Thứ hai, do những cam kết có tính cách pháp chế với quốc tế, phải triệt để hoàn thiện không phải là thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa như cái nghị quyết mê sảng kia đề ra mà hoàn thiện hạ tầng cơ sở luật pháp để phát huy quyền sở hữu tư nhân trên quyền công hữu của nhà nước. Đấy là điều kiện tất yếu để giải phóng nội lực và tăng cường sức cạnh tranh theo trào lưu chung của thế giới.

- Trên nền tảng luật lệ ấy, phải ưu tiên cải cách và tư nhân hóa hệ thống doanh nghiệp nhà nước để có thêm tài nguyên cho công quỹ đang cạn kiệt và vận động viện trợ để phát triển khu vực kinh doanh của tư nhân. Người ta nói nhiều về tư nhân hóa hay xã hội hóa trong yêu cầu cải cách doanh nghiệp nhà nước mà chẳng làm gì. Đây là lúc nên làm và tạo ra bước đột phá. Việc phát triển tư doanh và cải cách doanh nghiệp nhà nước phải được tiến hành song song.

Nguyên Lam: Ông có nghĩ rằng các quyết định đột phá như vậy là lý tưởng mà cũng nan giải hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Dĩ nhiên là mọi người đều biết như vậy, nhưng tôi tin vào hai chuyện.

- Thứ nhất, kinh tế Việt Nam đang mấp mé khủng hoảng, nếu chẳng làm gì thì sẽ khủng hoảng. Tình hình thật chẳng khác gì 30 năm trước, khi có Đại hội Khóa VI vào năm 1986. Ngày nay Việt Nam đã tham gia TPP mà vẫn lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc, bị nhập siêu hơn 32 tỷ đô la từ phương Bắc hung đồ, chưa kể khoản tiểu ngạch lên tới gần 20 tỷ. Ngân sách Việt Nam bị bội chi quá lớn nên chỉ đủ trả nợ đáo hạn cho nước ngoài mà công trái của Việt Nam đã lên tới gần trăm tỷ, bình quân thì một người dân nợ một ngàn dù chẳng được gì! Vì ngân sách cạn kiệt và viện trợ ưu đãi theo kiểu ODA không còn thì Việt Nam sẽ khủng hoảng nếu không đổi mới thể chế. Khi Việt Nam có thực tâm cải cách thì còn hy vọng được quốc tế tiếp sức, nếu không, thiên hạ sẽ nhìn qua hướng khác và đầu tư vào nước khác.

- Chuyện thứ hai là Ban chấp hành Trung ương vừa có một lượng nhân sự đông đảo và khá trẻ, khá mới. Trong thành phần này cũng còn nhiều người dám nghĩ khác nếu có người dám chỉ ra. Nếu không thì cùng sụp đổ. Vì vậy, cách lượng định rủi ro và cân nhắc hơn thiệt đã có khác….

Nguyên Lam: Xin cảm ơn ông Nghĩa về bài phân tích này và mong rằng năm Thân sẽ mở ra một vận hội mới cho Việt Nam.