Thứ Tư, tháng 2 20, 2013

Miến Điện giữa Trung Quốc và Ấn Độ

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 130220
"Diễn Đàn Kinh Tế"
 
"Chế độ độc tài đóng đai cả nước và trao trọn gói cho phường đạo tặc mà người dân chẳng thể phản đối..."
 
 
000_Del421078-305.jpg
* Thủ tướng Lào Bouasone Buphavanh (T), Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh (P) và Thủ tướng Myanmar Thein Sein cùng uống trà bên lề các Hội nghị Thượng đỉnh lãnh đạo các nước trong khối ASEAN tại Hà Nội ngày 29 tháng 10 năm 2010. AFP photo * 


Vì địa dư hình thể lẫn lịch sử, Miến Điện nằm giữa ảnh hưởng của hai nước láng giềng cực lớn là Trung Quốc và Ấn Độ. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về sự xoay trở của dân Miến để tự dân chủ hóa ở bên trong và đồng thời ứng xử với hai nước láng giềng ở bên ngoài. Chúng ta cùng theo dõi hồ sơ này qua cuộc trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

So sánh giữa Miến với Việt


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, kỳ này chúng ta thử phân tích yếu tố ý thức hệ trong quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và chú ý đến trường hợp Miến Điện, một nước đang tự chuyển hóa sang chế độ dân chủ ở bên trong, mà với bên ngoài thì phải xoay trở giữa hai nước láng giềng có nhiều ảnh hưởng là Trung Quốc và Ấn Độ. Như mọi khi, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh là từ kinh nghiệm đó của Miến Điện mà suy ngẫm ra cách xử thế của Việt Nam dưới một chế độ độc tài ở bên cạnh Trung Quốc. Ông nghĩ sao về đề nghị này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là ta có thể rút tỉa được nhiều điều bổ ích cho Việt Nam nhất là nếu thấy ra khó khăn muôn mặt của Miến Điện nếu so với hoàn cảnh của Việt Nam. Như thông lệ, chúng ta sẽ nói về bối cảnh trước để thấy ra từng bài toán cụ thể của Miến Điện và lối tính toán của các nước láng giềng.

- Về Miến Điện thì từ xa xưa, xứ này từng là cường quốc giàu mạnh của Đông Nam Á hơn hẳn nước Đại Việt của ta, nhưng rồi họ bị Đế quốc Anh cai trị từ năm 1886 đến 1948 – cũng tựa Việt Nam dưới chế độ thực dân Pháp. Di sản của Đế quốc Anh có nhiều mặt tiêu cực mà cũng có điều tích cực nhưng bài toán lớn nhất là sắc tộc đa số là dân Miến chỉ đảm nhiệm vai trò hành chính và chính trị, mà không được tham gia vào quân đội, vốn được người Anh trao cho các sắc dân thiểu số.

- Sau khi giành lại độc lập từ năm 1948, Miến Điện trở thành thịnh vượng nhất nhì Đông Nam Á và từng có công dân làm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc là ông U Thant, từ 1961 đến 1971. Nhưng họ gặp nhiều vấn đề an ninh bên trong để thống nhất lãnh thổ và hội nhập các sắc tộc vào một quốc gia. Thật ra, Việt Nam không gặp bài toán an ninh ấy, nhưng lại tự gây cho mình trong tiến trình đấu tranh giành lại độc lập và tụt hậu vào quỹ đạo Trung Quốc.

- Từ năm 1962, Miến Điện bị ách độc tài quân phiệt một phần cũng vì bản năng bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của dân Miến. Đã vậy, họ còn bị tai họa thứ nhì là chế độ độc tài ngả theo xã hội chủ nghĩa làm xứ sở bần cùng và rơi vào vòng tay Trung Quốc. Vì nạn độc tài, Miến Điện càng bị thế giới cô lập từ năm 1988 lại càng lệ thuộc hơn vào Trung Quốc.

- Ngày nay, cùng tiến trình dân chủ hóa, xứ này đang tìm lại một quan hệ đa diện và cân bằng hơn với các nước trong khi vẫn phải giải quyết bài toán an ninh vì gần phân nửa lãnh thổ tại miền Bắc và miền Đông hiện do các sắc tộc thiểu số chi phối trên vùng núi rừng hiểm trở tiếp giáp với Ấn Độ và Trung Quốc. Nói vắn tắt, hoàn cảnh của họ còn khó khăn gấp bội nếu so với Việt Nam.

Vũ Hoàng: Ông thường lấy địa dư hình thể làm cơ sở phân tích các bài toán cơ bản và lâu dài của từng cộng đồng quốc gia. Trường hợp của Miến Điện là thế nào nếu so sánh với Việt Nam?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Về địa dư lẫn văn hóa, Miến Điện mới thật là một nước Ấn-Hoa "Indochina" vì nằm giữa hai đại cường Á Châu là Ấn Độ và Trung Hoa, trên Vịnh Bengale nối liền Ấn Độ dương với Thái Bình dương qua eo biển Malacca là dòng hải lưu sinh tử cho cả Đông Nam Á. Trong lịch sử, Trung Hoa đời nhà Nguyên đã bành trướng vào xứ này khi vượt qua rặng núi Hoành Đoạn. Thời cận đại, Đế quốc Anh đẩy mạnh việc "Ấn hóa" xứ này để bảo vệ quyền lợi của họ tại Ấn Độ nên thương nhân người Ấn đã giữ vị trí trọng yếu trong kinh tế Miến Điện.

- Nhìn vào hiện tại, lãnh thổ Miến rộng gấp đôi mà với dân số chỉ bằng hai phần ba Việt Nam, ngày nay là 60 triệu người. Miến Điện là kho tài nguyên khoáng sản chưa khai thác hết gồm có dầu, khí, than, thiếc, đồng, uranium lẫn ngọc và gỗ quý cùng tiềm năng lớn về thủy điện nhờ địa dư đầy núi rừng và thác nước. Thời loạn mà ta có ngọc trong nhà thì rất dễ bị đạo tặc nhòm ngó!

- Cho nên địa dư hình thể ấy cũng bị nhiều tai ách. Thứ nhất, ngoài kho tài nguyên đáng chú ý, lãnh thổ Miến còn là ngả thông thương từ các tỉnh bị khóa trong lục địa Trung Quốc với Vịnh Bengale mà khỏi qua eo biển Malacca. Thứ hai, lãnh thổ Miến cũng giải quyết bài toán sinh tử cho Ấn Độ là khai thông và phát triển tám tiểu bang trên vùng Đông Bắc mà khỏi bị nghẽn ở hiểm lộ Siliguri rộng có 50 cây số giữa bang Tây Bengale của Ấn với xứ Bangladesh. Thứ ba, cả một khu vực rộng lớn ở miền Đông và miền Bắc của Miến còn là nơi sinh hoạt và hùng cứ của nhiều sắc tộc thiểu số được các lân bang yểm trợ để gây sức ép với chính quyền.

 

Trở ngại của Trung Quốc

000_Hkg8071354-250.jpg
Một cuộc biểu tình tại Yangon vào ngày 2 tháng 12 năm 2012 phản đối dự án mỏ đồng của Trung Quốc ở miền bắc Myanmar. AFP photo 


Vũ Hoàng: Nói về sức ép đó, thưa ông trước hết là từ Trung Quốc, Bắc Kinh muốn những gì và làm những gì tại Miến Điện?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Trung Quốc là những người thực dụng và cái gọi là ý thức hệ cộng sản chỉ là chiêu bài mà thôi, những ai hiểu lầm tại Hà Nội thì ráng mà chịu!

- Về động lực, Bắc Kinh nhìn ra hai mối lợi kinh tế từ Miến Điện là tài nguyên thiên nhiên có thể bổ sung cho sự khan hiếm của họ và là đường giao thông qua Ấn Độ dương sang đến Trung Đông và Đông hải. Về tính thực dụng thì Bắc Kinh đã từng cắt hẳn viện trợ cho các nhóm phiến quân Miến Điện theo hu xướng Mao Trạch Đông hay "Mao-ít", để bình thường hóa quan hệ với chế độ quân phiệt Miến, nhất là khi chế độ này bị thế giới tẩy chay.

- Ban đầu, khi bành trướng ảnh hưởng, Bắc Kinh tiến vào Miến Điện qua ba ngả. Đó là củng cố quan hệ với chế độ quân phiệt ở trung ương mà vẫn giao kết với các lực lượng thiểu số vốn đã có liên hệ lâu đời về văn hóa, sắc tộc và cả kinh tế với nhiều tỉnh của Trung Quốc. Và thứ ba là tiếp tục đối thoại với các tổ chức đối lập, kể cả Liên đoàn Dân chủ. Nhưng, từ hai chục năm nay, khi chế độ quân phiệt bị cô lập hóa thì họ hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc nên Bắc Kinh có thể đảm bảo quyền lợi của mình với một đối tác duy nhất là chính quyền độc tài ở thủ đô Naypyidaw. Đã đành rằng Bắc Kinh khỏi nói chuyện với xu hướng dân chủ tại Miến, họ cũng khỏi cần yểm trợ các nhóm võ trang thiểu số để gây khó cho chế độ quân phiệt.

Khi Miến Điện tiến vào một thể chế đa nguyên hơn với nhiều trung tâm có ảnh hưởng về chính trị thì Bắc Kinh lâm thế kẹt và họ cũng đang phải chuyển hướng. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thế rồi khi Miến Điện chuyển hóa từ hai năm nay thì tình hình thay đổi ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi Miến Điện tiến vào một thể chế đa nguyên hơn với nhiều trung tâm có ảnh hưởng về chính trị thì Bắc Kinh lâm thế kẹt và họ cũng đang phải chuyển hướng.

- Người ta có thể thấy ra nỗi khó của Trung Quốc khi hai dự án lớn của họ tại Miến Điện đã bị phản đối từ bên trong. Trước hết, dự án xây đập Myitsone tại bang Kachin ở vùng Đông Bắc bị chính quyền Miến đình chỉ từ Tháng Chín năm 2011 sau khi bị dân thiểu số Kachin, các nhóm bảo vệ môi sinh lẫn đối lập chính trị vận động phản bác, mỗi lực lượng vì một lý do riêng. Thứ hai là dự án liên doanh Hoa-Ấn cùng khai thác mỏ đồng Latpadaungtaung bị chống đối và bà Aung San Suu Kyi hiện đang là chủ tịch một ủy ban do Quốc hội lập ra để điều tra về dự án này.

- Xưa nay, Bắc Kinh nắm gọn chế độ quân phiệt nên dễ thao túng. Từ khi Miến Điện chuyển dần qua chế độ dân chủ thì Trung Quốc gặp trở ngại. Đây là ta chưa nói đến ảnh hưởng của quốc tế, của truyền thông hay các nước Anh, Mỹ, Nhật và Ấn Độ. Ra khỏi nạn độc tài, Miến Điện hết bị cô lập thì có nhiều cách ứng phó hơn trước để bảo vệ quyền lợi của mình.

 

Ảnh hưởng từ Ấn Độ

000_Del6169191-250.jpg
Chủ tịch Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ Miến Điện, bà Aung San Suu Kyi (P), bắt tay với Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Salman Khurshid trước một cuộc họp tại New Delhi vào ngày 15 Tháng 11 năm 2012. AFP photo  


Vũ Hoàng: Bước qua hoàn cảnh của Ấn Độ, thưa ông, chính quyền Ấn đã tác động như thế nào vào kinh tế Miến Điện?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta không quên là Ấn Độ có ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo từ đã lâu tại Miến Điện. Thời thuộc địa, ảnh hưởng đó được củng cố thêm về kinh tế với ba triệu dân Ấn đang làm ăn phát đạt ở nơi đây. Sau thời độc lập, Ấn Độ duy trì chế độ dân chủ đa nguyên trong một xã hội đa văn hoá và đa chủng tộc dù có bị khủng bố phá hoại. Chế độ ấy khiến Ấn Độ tôn trọng luật lệ và quan tâm đến dư luận chứ không ngang ngược như Trung Quốc. Nhưng hoàn cảnh ấy khiến họ bị trở ngại khi bành trướng ảnh hưởng, mà cũng có nhiều lợi thế khác ta rất cần chú ý.

- Sau khi từ bỏ chế độ tập trung quản lý để ngả theo kinh tế thị trường từ 20 năm nay, Ấn Độ phát triển khá nhanh và cũng cần tài nguyên và vị trí địa dư của Miến. Từ năm 2006 đến nay, họ xúc tiến rất nhiều dự án thủy điện, dầu thô, khí đốt và xây dựng hạ tầng vận chuyển tại đây, điển hình là dự án đa năng Kaladan, gọi tắt là KMMT, nối liền cảng Kolkata của Ấn với cảng Sittwee của Miến qua cảng Chittagong của xứ Bangladesh.

- Khởi công từ năm 2011, dự án quy mô này nhắm vào mục tiêu năng lượng lẫn vận tải, cả hàng hải lẫn lộ vận, nhưng qua nhiều giai đoạn khá phức tạp như vét bùn và tân trang hải cảng Sittwee của Miến, khai thông sông Kalamantan cho các giang thuyền và xây xa lộ, v.v... Dọc đường họ  bị Trung Quốc cạnh tranh và lấy mất nhiều công đoạn, kể cả trúng thầu dự án khí đốt tại trung tâm dầu khí lớn nhất của Miến để đưa khí đốt về Vân Nam thay vì qua Bangladesh về Ấn Độ....

Vũ Hoàng: Thưa ông, nếu có một tấm bản đồ thì ta thấy rằng Miến Điện tiếp giáp với hai nước đông dân nhất và có ảnh hưởng văn hóa sâu đậm nhất là Ấn Độ ở hướng Tây-Bắc và Trung Quốc ở hướng Đông-Bắc. Ngày nay, hai cường quốc này đang ráo riết cạnh tranh với nhau để bảo vệ quyền lợi kinh tế lẫn an ninh chiến lược của họ tại Miến Điện. Nếu Trung Quốc có thể chi phối và mua chuộc lãnh đạo Miến thì Ấn Độ lại bị bất lợi khi phải tôn trọng luật chơi quốc tế. Như vậy, đâu là lợi thế của Ấn Độ và nhất là của Miến Điện?

Ấn Độ có lợi thế quốc tế khi các nước khác cũng tìm vào Miến Điện theo nhịp độ dân chủ hóa của xứ này, như Nhật Bản, Thái Lan, Hoa Kỳ và các nước Âu Châu. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ấn Độ có lợi thế quốc tế khi các nước khác cũng tìm vào Miến Điện theo nhịp độ dân chủ hóa của xứ này, như Nhật Bản, Thái Lan, Hoa Kỳ và các nước Âu Châu. Lợi thế của Ấn mạnh hay yếu còn tùy vào khả năng cải thiện hạ tầng vận chuyển và kinh doanh của Ấn Độ và nhất là mối lo của nhiều quốc gia về sự bành trướng của Trung Quốc.

- Phần mình, lợi thế của Miến Điện chính là khả năng can thiệp và lên tiếng của người dân về những gì có lợi cho họ mà các nước khác không thể gạt qua một bên để chỉ ăn chia với thiểu số cầm quyền ở trên. Chuyện này gợi nhớ đến ngụ ngôn của Trang Tử trong bộ Nam Hoa Kinh.

Một ông phú hộ đó nhét hết của cải vào trong cái rương và đóng đai cho chặt ở bên ngoài. Khi kẻ trộm lẻn vào thì chỉ ôm lấy cái rương là được hết và còn thầm mừng là cái đai ấy không bị bung! Ý nghĩa của ngụ ngôn là chế độ độc tài đóng đai cả nước và trao trọn gói cho phường đạo tặc mà người dân chẳng thể phản đối gì được. Nếu người Việt được biết rõ về từng dự án của Trung Quốc tại Việt Nam thì may ra xứ này sẽ khá hơn Miến Điện. Chúng ta còn nhiều cơ hội tìm hiểu thêm về sự chuyển hóa của Miến Điện vì sẽ học được nhiều kinh nghiệm lắm....

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về phần phân tích và thí dụ rất thấm thía này.


Thứ Ba, tháng 2 19, 2013

Chiến Tranh Hối Đoái?


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 130217
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Một cuộc chiến không tiếng nổ, chỉ có tiếng tiền....

 * Úm ba la, ba ta cùng phá giá! *


Mở hàng hôm Thứ Hai 18, thị trường cổ phiếu Tokyo lên giá. 

Giới quan sát giải thích là nhờ hội nghị giới lãnh đạo tài chánh và ngân hàng của nhóm G-20 tại Nga đã không đả kích Nhật Bản là cố tình giảm giá đồng Yen để kích thích kinh tế. Cái tin nhỏ ấy cho thấy là từ một tuần nay, hai hội nghị liên tiếp của nhóm G-7 rồi G-20 đều trấn an thị trường tài chánh thế giới rằng các nước không lao vào một cuộc chiến hối đoái khi đua nhau giảm giá đồng bạc của họ.... Tuần qua, tờ Economist còn đi xa hơn. Rằng thế giới đừng sợ cuộc chiến giữa các đồng ngoại tệ, nên mừng về quyết định của Nhật Bản và Hoa Kỳ, và rằng Âu châu nên bắt chước việc đó....

Nhưng nếu không có lửa, vì sao có khói? Mà khói đã bốc lên từ khá lâu rồi!

Ngày 27 Tháng Chín năm 2010, Tổng trưởng Tài chánh xứ Brazil là kinh tế gia (gốc Ý) Guido Mantega đã báo động tại São Paulo. Rằng "chúng ta đang ở giữa một cuộc chiến hối đoái quốc tế khi các nước đều giảm giá đồng bạc. Điều ấy đe dọa sức cạnh tranh của chúng tôi".

Ta phải nhắc lại vụ này vì qua năm năm khốn khó, nhiều quốc gia tìm cách kích thích sản xuất và tiêu thụ để đẩy lui thất nghiệp và kéo nền kinh tế ra khỏi tình trạng suy trầm.

Vì biện pháp kích thích bằng tiền tệ - giảm lãi suất cho vay – không công hiệu, các nước áp dụng biện pháp ngân sách, là tăng chi. Mà chỉ gây thêm bội chi và phải vay mượn nhiều hơn chứ kinh tế vẫn đầy ra ý là ỳ ra đấy. Khi cả hai loại biện pháp cổ điển đều vô hiệu, người ta tung ra đòn bất thường hãn hữu, là "gia tăng mức lưu hoạt có định lượng" hay "quantitative easing", QE.

Trong một kỳ khác, ta sẽ tìm hiểu vì sao QE chỉ là biện pháp in tiền ảo để bơm vào kinh tế. Chuyện cần biết ở đây là ngần ấy trường hợp can thiệp đều chậm đạt kết quả mà dẫn tới hệ quả là làm đồng nội tệ mất giá so với các ngoại tệ khác. Khi đồng bạc giảm giá thì hàng xuất cảng ra ngoài sẽ thành rẻ hơn, dễ bán hơn, và nhập cảng lại đắt hơn: kết quả có lợi cho xuất cảng của mình mà bất lợi cho nhập cảng - tức là xuất cảng của xứ khác.

Hoàn cảnh ấy có kích thước quốc tế vì nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản và nhiều nước Âu Châu đã thực tế can thiệp vào thị trường hối đoái và mang tiếng là.... đánh võ Tầu. Vì cũng làm như Trung Quốc trong nhiều năm liền: duy trì hối suất thấp của đồng Nguyên (Nhân dân tệ hay Renminbi) để kích thích xuất cảng.

Xứ Brazil than phiền là họ bị cạnh tranh bất chính khi ngân hàng trung ương của các nước Âu-Mỹ-Nhật và thậm chí Nam Hàn hay Đài Loan đều can thiệp vào thị trường hối đoái để đua nhau phá giá đồng bạc. Chuyện chiến tranh hối đoái xuất phát từ đó.

Nó càng là đề tài nóng khi ông Shinzo Abe đắc cử Thủ tướng Nhật vào Tháng 12 vừa qua. Khi tranh cử, ông báo trước là sẽ quyết liệt đẩy nền kinh tế ra khỏi nạn suy trầm (recession), đình trệ (stagnation) và giảm phát (deflation) kéo dài từ hai chục năm nay. Ông trình bày chương trình ấy trong tinh thần quốc gia dân tộc, giữa bối cảnh tranh chấp và xung đột với Trung Quốc, và Abe thắng lớn.

Ông thay thế Thống đốc Ngân hàng Trung ương và đưa ra một kế hoạch kích thích lớn lao: định mức lạm phát cao gấp đôi, là 2% thay vì 1%, ào ạt tăng chi, cho Ngân hàng Trung ương bơm thêm tiền nhờ mua trái phiếu và các loại chứng khoán khác, cũng lại là QE. Kế hoạch này gồm cả biện pháp bán ra đồng Yen làm tiền Nhật thành rẻ hơn so với Mỹ kim, đồng Euro hoặc các ngoại tệ khác, nhờ đó chặn đà lên giá quá tai hại của đồng bạc và kích thích xuất cảng.

Chính là "hiệu ứng Abe" mới hâm nóng không khí chiến tranh lạnh giữa các nước trong lãnh vực hối đoái và gây ra cuộc tranh luận hiện nay là có chiến tranh giữa các đồng bạc hay không.

Khi thất hùng kinh tế của thế giới là nhóm G-7 (Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ý, Canada) tìm cách hạ hỏa với lối nói nước đôi trong kỳ họp ngày 12, rồi nhóm G-20 gồm 20 nền kinh tế có sản lượng tổng cộng là 90% tổng sản lượng toàn cầu, lên tiếng trấn an trong hai ngày hội họp 14-15, người ta muốn tránh cái nạn đạp lên đầu nhau để thoát hiểm. Ra điều là các nước có phối hợp với nhau, chứ không gây ra tình trạng "đèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ".

Sự thật lại không lạc quan như vậy. Lại còn phức tạp hơn nữa nếu ta vạch ra chiến tuyến giữa các nước công nghiệp hóa với các nước đang phát triển.

Sự thật không lạc quan vì đã có nhiều trường hợp chủ động phá giá khi can thiệp vào thị trường hối đoái. Như Hoa Kỳ vào ngày 15 Tháng Tám năm 1971 khi Richard Nixon thả nổi đồng bạc và áp đặt 10% phụ phí trên hàng nhập cảng, hoặc như quyết định vào Tháng Chín năm 1985 của năm nước tại "hội nghị Plaza" nhằm giảm giá Mỹ kim – và gây tai họa sau đó cho Nhật Bản. Dù đến sau, Trung Quốc cũng chẳng là ngoại lệ với chế độ hối đoái lệch lạc hiện nay của mình.

Sự thật còn phức tạp hơn nữa khi các nước đang phát triển đã biết thân biết phận mà thủ rất kín với khối dự trữ ngoại tệ rất dầy. Việt Nam chưa lên tới trình độ này!

Sau vụ khủng hoảng Đông Á 1997-1998, các nước  nín thở gom vốn ngoại tệ để phòng ngừa rủi ro. Trong vòng 15 năm, từ 1995 đến 2010, lượng tư bản toàn cầu đã từ Tây phương "chảy về Đông" với khối dự trữ ngoại tệ của các nước đang  phát triển vượt xa các nước công nghiệp hoá. Một phần là nhờ sức năng động của các nước tân hưng khi họ ráo riết xuất cảng và ghim lấy ngoại tệ. Phần kia là – như ngày nay – nhờ các nước công nghiệp hóa đều hạ lãi suất tới sàn để kích thích kinh tế.

Khi đạt xuất siêu và có cái nệm dự trữ ngoại tệ khá dầy, đồng bạc của các nước đang phát triển lên giá và gây bất lợi cho sức cạnh tranh của họ, đấy là nội dung lời than của Brazil. Đã vậy, các nước Âu-Mỹ-Nhật đều giảm giá đồng bạc để tìm lợi thế xuất cảng sau khi thất bại trong các biện pháp kích thích kinh tế cố hữu, kể cả và nhất là biện pháp tăng chi để kích cầu và lại đi vay....

Rắc rối hơn thế, chuyện "chiến tranh hối đoái" còn che giấu một thực tế khác, là sức cạnh tranh suy yếu của các nước đã phát triển khi bị các nước tân hưng qua mặt.

Thí dụ điển hình là trận chiến Hàn-Nhật, giữa các doanh nghiệp Nam Hàn và Nhật Bản, một trận chiến không gây tiếng nổ.

Mấy chục năm trước, các tổ hợp Nhật về đồ gia dụng điện tử (như Sony, Pioneer, Hitachi hay Sharp) hoặc xe hơi (như Toyota, Nissan hay Honda) đều là đại gia toàn cầu. Còn doanh nghiệp Đại Hàn như Samsung, LG hoặc Daewoo, Huyndai, KIA, chỉ bán ra loại hàng rẻ mạt và mau nát.

Sau đó, Samsung đã qua mặt Sony từ năm 2005, và ngay nay hãng Sharp thì mấp mé phá sản, Hitachi chạy ra ngoài rìa và Hyundai cùng KIA đã chen chân với Toyota và Honda, Nissan. Một lý do là nhờ đồng Won của Nam Hàn đã sụt giá so với đồng Yen. Nhưng sức cạnh tranh vượt bậc này còn đến từ yếu tố khác hơn là lợi thế hối đoái: Samsung đang gậm vào trái táo Apple của Hoa Kỳ! Nếu xứ Brazil cũng có sức cạnh tranh ấy của Nam Hàn, chưa chắc họ đã than vãn về chuyện phá giá bất chính....

Và thực tế thì tình trạnh toàn cầu đều phá giá để tìm lợi thế xuất cảng là điều cũng vô vọng và bất khả như xuất cảng lên Hỏa tinh. Vì bài viết có hạn lượng là khoảng 1.500 chữ nên xin dành cho một kỳ sau vấn đề định giá đồng bạc nếu so với... vàng.

Hấp dẫn và nhức tim lắm.

Thứ Hai, tháng 2 18, 2013

Trung Lưu tại Trung Quốc

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 130215

Cạn dòng trung lưu, đảng bơi trên cát....


 * Sức kéo của một thành phần trung lưu đông đảo tại Trung Quốc - ngoài ven biển *


Sau Đại hội 18, lãnh đạo Trung Quốc phải giải quyết một vấn đề xã hội có nguyên nhân kinh tế.

Đó là tình trạng bất mãn và động loạn tại nhiều nơi vì hố sâu giàu nghèo mở rộng giữa những hình ảnh khó chấp nhận được của nạn tham ô và cường hào ác bá. Nguyên nhân kinh tế của hiện tượng này là chiến lược phát triển nhờ xuất cảng bằng mọi giá, bất kể tới hiệu năng và mức lời của doanh nghiệp.

Ba chục năm sau, chiến lược ấy đã đi hết sự vận hành của nó và lãnh đạo phải thay đổi...

Từ nhiều năm nay, Bắc Kinh thấy ra nhược điểm của chiến lược này, một phần vì thị trường xuất cảng vào các nước công nghiệp hóa đã giảm sút nặng. Phần kia là sự khác biệt quá lớn về lợi tức lẫn nhận thức giữa các tỉnh duyên hải được giàng vào các thị trường bên ngoài và các tỉnh lạc hậu bị khóa trong nội địa.

Về xã hội, khi hoạt động sản xuất cho xuất cảng còn thịnh đạt, lực lượng lao động từ bên trong đã lũ lượt "Đông tiến" để tìm việc ở vùng duyên hải bên ngoài. Số "dân công" này lên tới 250 triệu người trong tổng số 800 triệu lao động. Khi thế giới bị "tổng suy trầm" 2008-2009 và chậm hồi phục từ đó đến nay, khoảng 160 triệu người của lực lượng dân công ấy mất việc làm, lợi tức sút giảm và trở thành vấn đề cho các tỉnh và trung ương. Tình trạng gọi là "ổn định chính trị" từ hai chục năm qua, sau vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989, đang bị đe dọa.

Vì chế độ hộ khẩu vẫn được duy trì, thành phần dân công này không có hộ khẩu ở những nơi họ tạm trú và sinh con đẻ cái từ cả chục năm nay. Giờ đây, họ rơi vào hoàn cảnh bấp bênh khi mất việc làm và lợi tức. Lực lượng lao động còn lại cũng không chấp nhận mức lương quá thấp, nhất là khi dân số bắt đầu lão hóa và nhiều doanh nghiệp kiếm không ra người. Thợ thuyền đình công, đòi tăng lương và bào mỏng mức lời của doanh nghiệp.

Từ những lý do trên, lãnh đạo Trung Quốc phải chuyển hướng, lấy đầu tư và tiêu thụ nội địa làm lực đẩy, chứ không thể trông cậy vào xuất cảng như xưa.

Trong bối cảnh đó, hai nhân vật lãnh đạo chính phủ là Thủ tướng Ôn Gia Bảo và người sẽ kế nhiệm vào tháng tới là Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường đều liên tục nói đến tầm quan trọng của việc đô thị hóa để đem lại ổn định bền vững và việc nâng cao mức sống của dân nghèo ở thôn quê để đẩy lui nạn bất công xã hội.

Chúng ta nên lui về để nhìn sự thể trên toàn cảnh và trong trường kỳ....

Tại Hoa Kỳ, người ta cứ nói đến sự kiện tiêu thụ đã chiếm đến 72% Tổng sản lượng và nạn vay tiền mua xắm mới gây ra tai họa kinh tế. Rồi giải pháp tăng chi để kích thích lại gây thêm bội chi khiến tư nhân trả nợ chừng nào thì nhà nước lại vay thêm chừng đó. Trung Quốc gặp vấn đề trái ngược.

Sức tiêu thụ của các hộ gia đình Trung Quốc đã sụt tới mức thấp nhất trong các nền kinh tế lớn của thế giới. Hiện nay vỏn vẹn chỉ có 37% Tổng sản lượng so với 57% của Ấn Độ, của Đức hay Indonesia, hoặc 53% của Nam Hàn và 60% của Nhật. Cũng nên nhớ lại là từ nhiều thập niên trước, hai xứ sau cùng này đã từng lấy xuất cảng làm đầu máy tăng trưởng nhưng không khi nào tiêu thụ lại sụt dưới 50% của Tổng sản lượng. Họ không quên chân lý là dân có giàu thì nước mới mạnh!

Trong khi đó, Trung Quốc lại bơi ngược dòng.

Trong sáu năm đầu của thế kỷ 21, từ 47% tổng sản lượng, tiêu thụ đã sụt tới 35% và xuất cảng đã tăng từ 23% lên 39%. Đấy là lúc xảy ra tạn tổng suy trầm từ đầu năm 2008 với hậu quả là xuất cảng giảm sút nên chính quyền ào ạt bơm tiền kích thích kinh tế, tổng cộng là hơn bốn ngàn tỷ đô la trong các năm 2008-2010, đa số là cho các dự án xây dựng hạ tầng và gia cư. Nhờ vậy, kinh tế Trung Quốc đã qua mặt Nhật Bản vào năm 2010.

Nhưng tiêu thụ vẫn không tăng và chỉ ở khoảng một phần ba của Tổng sản lượng.

Nếu "lãnh đạo là tiên liệu" thì vì sao chính quyền Bắc Kinh lại tiên liệu kém như vậy?

Thật ra, từ cả chục năm trước họ lấy một quyết định có vẻ hợp lý. Chiến lược xuất cảng bằng mọi giá đem lại mối lợi trước mắt là chính quyền đạt xuất siêu và thu về một lượng ngoại tệ khổng lồ để có thể khuynh đảo thế giới. Và nhân công tại các tỉnh duyên hải có thêm tiền tiết kiệm gửi vào ngân hàng, đa số là của nhà nước, để còn lo cho ngày trở về già trong một xã hội không có mạng lưới an sinh đủ dày đủ chắc.

Khu vực chế biến cho xuất cảng tại vùng duyên hải còn tạo thêm việc làm và thu hút nguồn nhân công dư đôi từ các tỉnh bên trong. Vì là nhân công dư dôi và không có hộ khẩu, lực lượng dân công này đành chịu lương thấp, đem lại lợi thế cạnh tranh về ngoại thương và biến Trung Quốc thành trung tâm chế biến toàn cầu!

Nói cho phũ phàng, chiến lược này vắt sức lao động của người dân để tạo ra thế lực quốc tế cho nhà nước, cho nên nếu sức tiêu thụ của dân chúng có giảm thì cũng chẳng là vấn đề cho lãnh đạo.

Nhưng cơn chấn động toàn cầu từ năm năm vừa qua khiến cho xứ nào cũng tìm cách gia tăng xuất cảng, giảm thiểu nhập cảng nên càng muốn cạnh tranh thì Bắc Kinh càng ép người dân cho đến khi họ hết đất lùi và bắt đầu phản ứng. Đấy là lúc đảng và nhà nước Trung Quốc thấy là phải chuyển hướng và tìm một chiến lược khác hơn là trông cậy vào xuất cảng. Phải cho người dân có tiền để sức tiêu thụ của họ sẽ thay thế cho xuất cảng.

Nhưng Bắc Kinh lại gặp một nan đề khác.

Một đàng, chính quyền trung ương công nhận là muốn nâng mức tiêu thụ của thị trường nội địa thì phải chấp nhận tăng lương và trấn an giới tiêu thụ qua việc cải cách chế độ an sinh, y tế, gia cư và giáo dục để họ dám đem tiền ra tiêu xài. Hôm mùng năm vừa qua, Quốc vụ viện (Hội đồng Chính phủ) Bắc Kinh đã quyết định tăng mức lương tối thiểu của công nhân các tỉnh thêm 40% là trong tinh thần đó.

Mặt kia của bài toán là ai sẽ thanh toán các khoản chi phí phụ trội này?

Nếu doanh nghiệp và các tỉnh phải tăng lương và cải thiện chế độ an sinh cho người dân để nâng mức tiêu thụ nội địa thì nhiều công ty và cả chính quyền hàng tỉnh sẽ vỡ nợ và lập tức gây ra thất nghiệp. Chưa thấy nạn thất nghiệp đáng sợ ấy, lãnh đạo đã gặp sức cản rất mạnh của nhiều đảng bộ địa phương và nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước. Hệ thống quốc doanh này là lãnh địa của nhiều phe nhóm có thế lực rất cao và cưỡng chống thay đổi vì không muốn thu hẹp quyền lợi của họ khi phải cưu mang gánh nặng xã hội cho lực lượng lao động ở dưới.

Kết cuộc thì ba chục năm sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, Trung Quốc đã có trăm triệu đại gia trở thành triệu phú nhưng chưa có một thành phần trung lưu. Muốn phá vỡ hệ thống độc quyền của doanh nghiệp nhà nước, từ công nghiệp qua ngân hàng, để giải tỏa các hoạt động sản xuất, tín dụng và an sinh cho người dân được dễ thở hơn thì trung ương bị cản trở về chánh sách.

Đã thế, dù đảng có thành công trong trận đấu nội bộ này, như cho tăng lương và mở rộng mạng lưới an sinh, họ vẫn đụng vào một thực tế văn hóa: người dân nói chung chưa dám rộng tay tiêu xài và thật ra chưa thấy lạc quan về tương lai nên vẫn cố thắt lưng buộc bụng.

Kết cuộc thì khái niệm "trung lưu" không là một con số thống kê về lợi tức mà là một nếp sống. Trung lưu là một lối suy tư còn quá mới trong một xã hội đã từng dại dột đề cao giai cấp vô sản và nghi ngờ bọn tiểu tư sản. Chỉ có một thiểu số đại gia thì phe phẩy tiêu xài như Mỹ, còn hơn Mỹ.

Đó là đám con ông cháu cha của một đảng xưng danh xã hội chủ nghĩa.



Thứ Năm, tháng 2 14, 2013

Nhược Điểm Kinh Tế Của Việt Nam

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 130214
"Diễn Đàn Kinh Tế"

Lãnh đạo ngần ngại cải cách và không chịu trưởng thành 


* RFA photo - Một khu chợ vỉa hè ở Hà Nội *


Sau một cái Tết khá ảm đạm, dân Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế trong năm con rắn. Nhưng đâu là vấn đề, đâu là giải pháp và ai có trách nhiệm giải quyết? 

 

Thực trạng

Vũ Hoàng: Xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình phát thanh đầu tiên của mục Diễn đàn Kinh tế vào năm Quý Tỵ. Thưa ông, dù nhiều người còn nghỉ Tết tại Việt Nam, sinh hoạt lễ lạt năm nay có vẻ kém khởi sắc và mối lo về kinh tế sẽ lại sớm trở về ám ảnh mọi người. Trong chương trình đầu tiên của năm con rắn, xin đề nghị ông phân tích các vấn đề gì ông đánh giá là quan trọng nhất cho nền kinh tế của Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, tôi xin được kính chào quý thính giả gần xa của chúng ta, nhất là ở tại Việt Nam.
Về câu hỏi của ông, tôi xin nhắc tới một cuộc khảo sát của Ngân hàng Thế giới với sự tham gia của giới hữu trách tại Việt Nam, được thực hiện năm ngoái nhưng vẫn có giá trị khá biểu hiện về tâm tư của người dân ở trong nước. Kết quả khảo sát đã được Ngân hàng Thế giới phổ biến năm ngoái và nhắc lại trong báo cáo cuối năm 2012 về kinh tế Việt Nam.

- Số là khi được hỏi về ba loại vấn đề họ cho là đáng lo nhất của Việt Nam, những người được thăm dò ý kiến nêu ra nhận định đáng chú ý. Trong 10 vấn đề được xem là đáng quan tâm nhất, chỉ có ba vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế. Đó là, đứng hạng nhất, vật giá gia tăng, với 44% cho là đáng lo nhất. Hai vấn đề kinh tế kia đứng chín và hạng 10 ở cuối bảng, đó là lợi tức và việc làm. Bảy vấn đề còn lại được nhiều người cho là đáng lo nhất đều ở ngoài lĩnh vực thuần túy kinh tế, mà thuộc trách nhiệm của nhà nước. Theo thứ tự từ cao đến thấp là 1) tai nạn giao thông, 2) vệ sinh thực phẩm, 3) tội ác xã hội, 4) tham nhũng, 5) ô nhiễm môi sinh, 6) phẩm chất của dịch vụ y tế, và 7) phẩm chất của giáo dục. Tôi xin được nêu vài nhận xét về cuộc khảo sát này.

Vũ Hoàng: Chúng tôi cũng hơi ngạc nhiên về cuộc khảo sát ấy, ông nhận xét thấy như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người lạc quan chỉ nhìn thấy ly nước đã đầy một nửa mà không nói đến cái phần nửa vơi, thì cho là trong năm 2011 và đầu năm 2012, tình hình kinh tế đã có cải thiện nên người dân chỉ chú ý đến ba loại vấn đề thuộc kinh tế, còn lại là bảy vấn đề thuộc về xã hội! Riêng về chuyện đáng lo nhất của họ là vật giá gia tăng thì ta nhớ lạm phát đã hoành hành mạnh và lên tới đỉnh cao là 23% vào giữa năm 2011 nên đầu năm 2012 mới là vấn đề đáng ngại, chứ ngày nay thì người ta có thể còn lạc quan hơn thế dù sự thật sẽ không hẳn tốt đẹp như vậy!

- Và bước sang bảy loại vấn đề xã hội mà nhiều người cho là đáng ngại nhất như tôi vừa nhắc lại ở trên, ta thấy trật tự và an toàn xã hội là những mối bận tâm thiết thực trước mắt. Điều này có thể hiểu được. Nhưng đáng chú ý hơn thế là loại vấn đề cơ bản mà lâu dài, như ô nhiễm môi sinh hay giáo dục bất cập thì lại có mức quan tâm thấp hơn. Và then chốt hơn vậy, an ninh quốc gia và an toàn lãnh thổ của Việt Nam lại không được nhắc đến. Vì sao lại như vậy?

- Tôi lại nhớ đến cuộc khảo sát của một cơ quan Pháp vào năm kia, khi cho thấy người Việt Nam thuộc loại lạc quan nhất thế giới! Ta có thể nêu câu hỏi về cách thức tiến hành khảo sát và giá trị biểu trưng của dân số mẫu, hoặc về hiện tượng tâm lý khá phổ biến của xã hội loài người, là chối từ thực tế khi thực tế ấy đã thay đổi, một hiện tượng xuất phát đầu tiên từ lãnh đạo rồi mới thấm xuống người dân. Bây giờ chúng ta mới trở lại đề tài của mình, là các vấn đề kinh tế của Việt Nam. Tôi xin được phép nói về chuyện gần rồi mới đến chuyện sâu xa trong cốt tủy.

 

Viễn ảnh 

Hang-tet_banh-keo-250.jpg
Bánh đậu xanh bán vào dịp tết tại một siêu thị ở Hà Nội. RFA photo     


Vũ Hoàng: Nói về chuyện gần và viễn ảnh kinh tế của năm con rắn, ông thấy ra những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việt Nam lệ thuộc vào thị trường quốc tế, và nếu xét theo hai tiêu chuẩn quan trọng là tỷ trọng của ngoại thương trong tổng sản lượng kinh tế và khối tiền tệ lưu hành so với tỷ số dự trữ ngân hàng, Việt Nam bị lệ thuộc nặng nhất khu vực Á châu Thái bình dương. Vậy mà năm nay thị trường quốc tế chưa khởi sắc sau năm năm èo uột và dù các nước đang phát triển tại Đông Á có hy vọng tăng trưởng khá nhất, tình hình chung của kinh tế toàn cầu vẫn chưa sáng sủa nên viễn ảnh kinh tế của Việt Nam vẫn là tăng trưởng thấp.

- Xét vào chi tiết, năm qua, đà tăng trưởng sa sút có dấu hiệu đáng ngại nhất là trong khu vực chế biến vì không chỉ tăng trưởng chậm hơn mà còn thụt lùi. Và suy thoái nặng nhất là từ doanh nghiệp nhà nước. Nhưng hậu quả trầm trọng hơn thế là có tới 10 vạn doanh nghiệp tư nhân đã phá sản hoặc ngưng hoạt động, không trả thuế. Nghĩa là thất nghiệp sẽ là vấn đề. Vậy mà cuộc khảo sát mà ta vừa nói đến lại cho thấy chỉ có 15% những người được thăm dò ý kiến cho là đáng quan tâm, tức là vấn đề ít được chú ý nhất. Phải chăng, đấy là hiện tượng chối bỏ thực tế?

Vũ Hoàng: Ông chú ý đến hoàn cảnh bi quan của khu vực chế biến mà ta cũng biết là về cơ bản, Việt Nam đi vào công nghiệp hóa qua việc làm gia công để xuất khẩu ra ngoài. Nếu khu vực chế biến ấy lại sa sút thì hiển nhiên là ngoài nguy cơ thất nghiệp, ta còn thấy ra đà sút kém về ngành ráp chế cho xuất khẩu. Có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa:
- Thưa đáng ngẫm hơn thế là năm qua, Việt Nam lại đạt mức xuất khẩu cao bất ngờ mà không chỉ nhờ bán dầu thô và dầu thô lại có giá. Nhìn sâu hơn vào cơ cấu của số hàng bán ra ngoài, ta thấy ra nhiều vấn đề như mặt trái của bức tranh màu hồng.

- Thứ nhất, về nông sản và lương thực như cà phê hay gạo thì lượng có tăng mà giá không tăng nên mối lợi thật ra chỉ là tương đối. Quan trọng và đau buồn hơn vậy là Việt Nam xuất khẩu gạo rất mạnh và có thể vượt qua Thái Lan mà nông dân lại không được hưởng kết quả vì nguồn lợi lại nằm trong tay các công ty thu mua và xuất cảng, thuộc khu vực nhà nước.

Vũ Hoàng: Ông nêu ra nhận xét đáng chú ý và phản ảnh sự ưu lo của nhiều người khi nói đến số phận nông dân Việt Nam, ngoài cái nạn bị cướp đất mà không được bồi thường thoả đáng.
Từ hai năm nay, người ta đã nói yêu cầu cải tổ doanh nghiệp nhà nước mà chưa thấy làm việc gì cụ thể trong thực tế, có thể là vì những mắc mứu về quyền lợi ở trên cùng. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa Việt Nam có thể vượt Thái Lan để thành nước xuất khẩu gạo số một mà nông gia vẫn bị thiệt ở gốc trong khi các cơ sở của nhà nước ở ngọn thì chiếm lợi thế.

- Thứ hai, về cơ cấu, sức xuất khẩu mạnh nhất là từ ngành chế biến áo quần, giày dép và đồ gỗ hay cơ phận điện tử như máy tính, điện thoại. Nhưng loại sản phẩm hạ đẳng và thâm dụng nhân công vì cần nhiều lao động như áo quần giày dép hay đồ gỗ, lại tùy thuộc vào nhập lượng mua từ bên ngoài nên trị giá đóng góp của Việt Nam thật ra chưa cao. Tức là ta vẫn làm gia công cho thiên hạ và muốn bán nhiều thì phải mua nhiều và lệ thuộc vào sức mua của thiên hạ.

- Thứ ba, loại sản phẩm gọi là cao kỹ, vì đòi hỏi kỹ thuật cao, như linh kiện điện tử hay phụ tùng điện thoại vẫn chỉ là gia công mà ít khả năng chuyển giao công nghệ tỏa rộng cho cả xã hội để doanh nghiệp Việt Nam cũng học được nghề mà bước lên trình độ sản xuất có giá trị đóng góp cao hơn. Nôm na thì mình vẫn chỉ là khâu phụ, kiếm tiền ít hơn và còn chịu thiệt khi thiên hạ tìm ra nguồn cung cấp rẻ hơn.

- Đã vậy và đây là vấn đề đáng quan ngại cho những ai làm chính sách là trong đà gia tăng của xuất khẩu nhờ bắp thịt hơn trí não, loại doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại quốc lại chiếm đa số. Về kim ngạch, khu vực nội địa chỉ được có hơn 37%, và trong khu vực này, ta kể cả dầu khí nằm trong tay các tập đoàn nhà nước, chứ tư doanh nội địa thì còn yếu. Xét cho kỹ hơn, ta còn thấy ra một vấn đề khác là dù xuất khẩu của các doanh nghiệp nói chung có tăng thì phần của doanh nghiệp nhà nước lại giảm! Đây là loại vấn đề nằm trong cơ cấu kinh tế và chính trị.

- Dù được coi là khu vực chủ đạo về kinh tế nên được ưu tiên nâng đỡ, doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam ít hiệu năng, kém sức cạnh tranh, là con nợ như con nghiện và trở thành hang ổ của tham nhũng. Từ hai năm nay, người ta đã nói yêu cầu cải tổ doanh nghiệp nhà nước mà chưa thấy làm việc gì cụ thể trong thực tế, có thể là vì những mắc mứu về quyền lợi ở trên cùng.

 

Trách nhiệm thuộc về ai    

000_Hkg8119375-250.jpg
Phòng giao dịch chứng khoán Sacombank ảm đạm hôm 20/12/2012. AFP photo
 
 
Vũ Hoàng: Đó là về lĩnh vực sản xuất, chứ trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng thì các chuyên gia kinh tế tại Việt Nam cũng đang báo động về sự yếu kém và những khoản nợ sẽ mất mà chẳng ai biết là bao nhiêu và ai sẽ chịu thiệt. Ông nghĩ sao về tình trạng này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tạm lấy cơ thể học mà so sánh thì ta có thể nghĩ tới tập đoàn nhà nước như bộ xương sống vì chính quyền muốn vậy. Nó không cân bằng và thiếu sức chịu đựng. Còn tư doanh thì cũng tựa như bắp thịt để tạo ra sự chuyển động trong sinh hoạt và hệ thống ngân hàng là bộ phận tuần hoàn có chức năng bơm máu cho cơ thể. Hệ tuần hoàn ấy bị ô nhiễm vì các khoản nợ xấu, khó đòi nên sẽ mất. Mà khi nó chỉ bơm máu cho cơ sở nào có quan hệ tốt thì đấy là một vấn đề.

- Vì hậu quả là ngày nay nhiều doanh nghiệp bị thiếu máu vì vay không được nên lâm vào cảnh gọi là chết lâm sàng. Trong khi ấy vì ngân hàng lại bơm tiền vào nghiệp vụ đầu cơ về cổ phiếu và bất động sản nên mới bị gánh nợ xấu và gieo họa cho cả nền kinh tế. Nhưng toàn bộ vấn đề của cơ thể suy nhược này nằm tại bộ não, nằm trong hệ thống chính trị vì đã để xảy ra tình trạng nguy ngập này mà không chịu cải sửa.

Vũ Hoàng: Vì thời lượng có hạn, chúng ta sẽ quay trở lại bộ máu tuần hoàn là tiền bạc của nền kinh tế Việt Nam, nhưng tạm tổng kết cho chương trình hôm nay, ông nghĩ loại vấn đề nào mới là trầm trọng nhất?
Trách nhiệm thuộc về chính quyền, là cơ chế vốn dĩ đã biết vì được quốc tế khuyến cáo từ 20 năm nay về những gì cần cải tổ. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vừa qua, chúng ta đã có năm chương trình liên tiếp về các yếu tố đem lại sự thịnh vượng cho các quốc gia và về những vấn đề gây ra sự nghèo khốn. Câu kết luận của hôm nay là dân Việt Nam vẫn còn nghèo và nếu xét theo tiêu chuẩn của quốc tế để đánh giá mức độ nghèo khốn thì thật ra còn nghèo hơn người ta thường nghĩ. Và sau hai thập niên bất cập với quá nhiều vấn đề mà tiết mục chuyên đề này đã phân tích từ 16 năm qua, kể từ Tết Đinh Sửu 1997, việc giải quyết nạn nghèo đòi ấy thật ra sẽ khó khăn hơn trong giai đoạn tới và nếu không khéo thì Việt Nam còn tụt lui vào hố sâu nghèo khổ của năm xưa. Trách nhiệm thuộc về chính quyền, là cơ chế vốn dĩ đã biết vì được quốc tế khuyến cáo từ 20 năm nay về những gì cần cải tổ. Cơ chế này ngần ngại cải cách và không chịu trưởng thành vì chỉ lo cho sự tồn tại của chính nó, với cái giá là người khác phải trả.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi đầu năm.

Thứ Ba, tháng 2 12, 2013

Rồng Rắn Lên Mây



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt 130211
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Có cây thì lúc lắc, có nhà lại điểm binh....

 * Trẻ em và trò chơi rồng rắn *


Chẳng lẽ câu đồng dao của con trẻ nước ta ngày xưa lại ứng vào chuyện đời nay của thế giới?


Mở đầu năm Thìn 2012, người ta vẫn bán tín bán nghi về những xoay vần của thế giới sau bốn năm đánh vật với nền kinh tế èo uột. Thói thường, chúng ta khó chấp nhận được rằng trật tự cũ đã đổi và những cố gắng bảo vệ nguyên trạng đều thất bại. Một năm sau, là khi bước vào năm Tỵ 2013, ta có thể thấy rõ hơn rằng ngàn dâu xanh ngắt đã đổi màu xanh dương. Một chu kỳ 20 năm vừa dứt.

Hai chục năm sau khi Liên bang Xô viết tan rã, thế giới đang chuyển qua một thời kỳ khác và cứ vài ba tháng thì cái khác xưa đã trở thành rõ nét hơn. Xin bắt đầu từ "Cựu Thế Giới" là Âu Châu.

Việc Liên Xô tan rã đánh dấu một biến cố lớn là sau 500 năm khuynh đảo thế giới, từ 1492 đến 1991, các đại cường Âu Châu đều trở thành cường quốc hạng nhì. Vụ khủng hoảng Âu Châu, từ khối Euro qua 27 nước Liên Âu, chỉ có thể tạm thời gìn giữ được sự liên hiệp hay thống nhất chứ không khắc phục được nhược điểm căn bản trong cơ cấu chính trị và kinh tế.

Về chính trị, Anh quốc có thể tổ chức trưng cầu dân ý trong vài năm tới để quyết định xem có còn nằm trong cơ chế Liên Âu hay không. Về kinh tế, Âu Châu sẽ sống với bất ổn xã hội trong nạn thất nghiệp cao và tự giằng xé giữa hai hướng chấn chỉnh chi thu hay kích thích sản xuất. Hậu quả kinh tế chính trị sẽ là hội nhập nhiều hơn hay xé chiếu ngồi riêng? Câu hỏi ấy sẽ ám ảnh mọi người dân Âu Châu trong năm Quý Tỵ này khi các nước thảo luận về ngân sách đa niên cho các tài khóa từ 2014 đến 2020. Đồng Euro có thể vẫn tồn tại, với cái giá là những rạn nứt sâu hơn của Liên Âu.

Bước ra ngoài Âu Châu, ta còn thấy ra một nghịch lý nữa.

Pháp phải đưa quân can thiệp vào một thuộc địa cũ tại vùng Tây Phi nghèo khổ là Mali, nhưng cần đến sự hợp tác của các đại cường Âu Châu và Bắc Mỹ. Lý do của chuyện Mali là những mảnh vụn từ khối Á Rập Hồi giáo.

Sau Thế chiến II, các nước Á Rập Hồi giáo đã thay thế chính quyền thực dân với loại chế độ độc tài hơn mà vẫn được cả hai khối yểm trợ trong thời Chiến tranh lạnh. Nhưng khối Á Rập Hồi giáo này suy yếu dần vì xu hướng Hồi giáo cực đoan, bùng nổ mạnh sau khi Liên Xô tan rã. Ngày nay họ còn gặp áp lực mới nổi của trào lưu dân chủ, xuất phát cũng từ các nước Tây phương năm xưa mang tiếng là thực dân.

Cuộc chạy đua tay ba giữa khủng bố cực đoan, dân chủ ôn hòa và phản ứng sinh tồn của các chế độ độc tài đang trở thành vấn đề của khối Hồi giáo trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay. Những gì xảy ra từ hai năm qua tại Tunisia, Libya, Egypt và Syria không cho phép người ta lạc quan. Đấy là một khó khăn lớn của phong trào dân chủ theo tư tưởng đa nguyên và thế tục.

Nhất là khi các nước Tây phương sẽ bó tay, và Hoa Kỳ trao trả trách nhiệm cho các nước Hồi giáo chứ không mạnh bạo can dự như đã từng làm trong 10 năm đầu sau khi bị khủng bố tấn công. Nhiều người tin rằng Hoa Kỳ đã nhìn ra một ưu tiên khác, là khu vực Đông Á.

Tại đây, cường quốc mới nổi là Trung Quốc cũng vừa có lãnh đạo mới. Họ phải chuyển từ chiến lược xuất cảng về tăng trưởng nội địa, với hai bài toán là động loạn xã hội gia tăng trong khi thành phần trung lưu chưa đủ giàu đủ mạnh để tạo ra số cầu thay thế cho sự sa sút của xuất cảng. Mà dân số thì đã bắt đầu lão hóa. Vì vậy, thế hệ lãnh đạo thứ năm sẽ thường xuyên phản ứng với xáo trộn nội bộ.

Đã vậy, Trung Quốc lại mơ chuyện rồng rắn lên mây vì tin rằng đang có thế lực của nền kinh tế nhất nhì thế giới, với khả năng quân sự mạnh chưa từng thấy.

Tranh chấp chủ quyền và năng lượng với các lân bang sẽ chỉ tăng chứ khó giảm với rủi ro xung đột cao. Lãnh đạo tin là biểu dương sức mạnh quân sự với lập trường ngoại giao cứng rắn sẽ xoa dịu được sự bất mãn của dân chúng ở nhà. Nhưng thái độ ấy lại khiến các lân bang suy nghĩ về chọn lựa trước mắt: trước một Trung Quốc quá hung hăng, nên tiếp tục hợp tác kinh tế với Bắc Kinh cho sự thịnh vượng chung, hay phải liên thủ với nhau cho an ninh của Đông Á?

Tình trạng lão hóa dân số, lương bổng gia tăng và nhu cầu chuyển sức tăng trưởng vào các tỉnh nội địa nằm sâu bên trong Trung Quốc còn khiến giới đầu tư quốc tế nghĩ đến những nơi đầu tư có lợi hơn. Việt Nam, Miến Điện hay Bangladesh, Mexico? Đấy cũng là bài toán khác cho lãnh đạo Bắc Kinh sau hai chục năm làm nguồn cung cấp hàng chế biến rất rẻ cho cả thế giới nhờ nhân công dồi dào.

Trong ngần ấy chọn lựa, Hoa Kỳ lại giữ vị trí bản lề, như cái trục của cả khu vực Đông Á.

Ở bên trong, nan đề chấn chỉnh chi thu để giảm mức nợ nần, hay tìm đà tăng trưởng cao hơn để giảm thất nghiệp, đang là mối quan tâm ưu tiên của người dân và giới lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ sau năm năm ứng xử với bài toán mới, kể từ 2008. Nhưng bất ổn của thế giới bên ngoài – có cây thì lúc lắc và sẽ đổ, có nhà thì tính chuyện điểm binh – khiến Hoa Kỳ không thể không đảm nhiệm một vai trò trọng yếu hơn trong khu vực.

Cuộc tranh luận về cắt giảm ngân sách, kể cả ngân sách quốc phòng, hay tăng cường hợp tác quân sự với các nước Đông Á, kể cả Việt Nam, là đề tài đáng theo dõi.

Trong hoàn cảnh đó, việc Nhật Bản sẽ lặng lẽ tái võ trang, các nước trong Hiệp hội ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN sẽ hội nhập nhiều hơn và hợp tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, đang tạo ra một chuyển động mới. Hãy nhớ lại, 20 năm trước, chính Philippines muốn Mỹ tháo gỡ hai căn cứ quân sự Clark Field và Subic Bay vì tưởng rằng Chiến tranh lạnh đã hết....

Người ta cứ định kỳ nói đến sự tiêu vong của chủ nghĩa tư bản hoặc hồi mạt vận của nước Mỹ. Sau 10 năm sấn sổ lao vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo cực đoan rồi bỗng dưng phát giác rằng mình mắc nợ quá nhiều, Hoa Kỳ đang tái phối trí lại ưu tiên và thật sự cũng thay đổi theo thời thế. Chuyện khủng bố Hồi giáo, các nước Hồi giáo phải dần dần cáng đáng lấy. Mối đe dọa của Trung Quốc cũng thế: các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á sẽ gánh phần chính, với phương tiện quân sự mua của Hoa Kỳ, một quốc gia đang ôn tồn khuyên giải các nước là nên tự chế.

Trong thế giới đổi thay rất mạnh, Mỹ vẫn ung dung giữ vai chủ động - với nét khiêm cung nhũn nhặn hơn! Tha hồ thầy đuổi?


_______________________

"Chỉ Có Tại Nước Mỹ": Vì nội dung nhức đầu, từ nay mục "Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài" sẽ có "mưỡi hậu" trăm chữ về chuyện chỉ có tại nước Mỹ, để mua vui cũng được một vài phút giây:

Chánh án James Walther tại Ohio ra phán quyết là trong năm năm, Asim Taylor không được phép có con. Lý do là đẻ con phứa phựa mà không nuôi. Đương sự mới chỉ 35 tuổi, nhưng mắc nợ bốn phụ nữ 96 ngàn đô la tiền cấp dưỡng cho các đứa con của chàng. Luật sư của Asim Taylor phàn nàn rằng toà án xâm phạm quyền hiến định của công dân khi vào tới giường ngủ của thân chủ mình. Khó tin mà có thật!