Thứ Ba, tháng 1 26, 2016

Vẫn Còn Lạc Quan Về Kinh Tế Trung Quốc?



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người-Việt ngày 160125
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

 
Giải phẫu một chuyện ba sàm về kinh tế chính trị học….  

* Ngu chẳng nhường ai: cỗ xe vẫn lăn bánh mà! *



Sau khi bị thị trường cổ phiếu Trung Quốc cho cái tát như trời giáng vào buổi đầu năm, nhiều chuyên gia về kinh tế Trung Quốc tiếp tục điệp khúc quen thuộc từ cả chục năm: “Những gì xảy ra thật ra không đến nỗi tệ, hoặc bất ngờ. Mà lãnh đạo Bắc Kinh thì vẫn thừa khả năng và công cụ đối phó. Vì vậy, chưa nên thất vọng về tương lai Trung Quốc hay về tài sản đầu tư của quý vị vào thị trường Hoa lục”….

Bài viết này sẽ giải phẫu lý luận ba sàm và hàm hồ đó. Với một biểu tượng của… năm Thân mà rất Mỹ, là “Monkey Business”. Nôm na là trò khỉ!

Nhưng trước hết, xin quý độc giả kiên nhẫn tìm hiểu tiếp chuỗi lý luận rất khỉ này: 1/ mọi quốc gia có mức lợi tức tương tự như Trung Quốc đều phải qua một thời kỳ tăng trưởng chậm hơn; 2/ và khi chuyển hướng từ chiến lược đầu tư và xuất cảng sang hình thái tiêu thụ, như lãnh đạo Bắc Kinh đã sáng suốt đề ra, thì sinh hoạt kinh tế phải trải qua nhiều bất trắc dễ hiểu; 3/ nhưng Trung Quốc còn hơn vậy vì đang chuyển từ công nghiệp ráp chế lên dịch vụ, nên sự bất trắc cũng là bình thường; 4/ vả lại, lãnh đạo xứ này còn nhiều tài nguyên và khí cụ đối phó vì dư thanh khoản, gánh công trái còn thấp và lãi suất còn có thể hạ; 5/ mà nhà nước cũng có thể tạm thời áp dụng chế độ kiểm soát tư bản, kiềm chế hối đoái và giải tư các tập đoàn kinh tế quốc doanh; 6/ huống hồ các hộ gia đình đầu tư rất ít vào thị trường cổ phiểu cho nên những mất mát vừa qua không gây hậu quả lớn cho sinh hoạt kinh tế; v.v. và v.v….

Kết luận của giới lạc quan Mê Tầu là “chuyện không có gì mà ầm ĩ”, và “ngày mai trời lại sáng!” Quả thật ngày mai trời lại sáng ở nơi nào đó trên mặt địa cầu, nhưng cái đầu của kẻ Mê Tầu thì vẫn tối thui.

***

Kinh tế Trung Quốc có một vấn đề cực kỳ nguy ngập mà bị nhiều người bỏ qua, đó là khối nợ quá lớn được ào ạt bơm ra từ năm 2009 và thổi lên những trái bóng đầu cơ. Những người Mê Tầu cũng có biết đến trái bóng tín dụng này, nhưng khỏa lấp bằng một số liệu khác, rằng kinh tế Mỹ cũng mắc nợ và gánh công trái của chính quyền liên bang đã vượt 18 ngàn tỷ đô la, cao hơn Tổng sản lượng GDP. Sự ngụy biện này che giấu một sự dốt nát: Hoa Kỳ có đồng nội tệ là ngoại tệ dự trữ phổ biến nhất thế giới, điều chưa thể có cho đồng Nhân dân tệ! Trong sòng bạc quốc tế, nhà cái có thể thoái mái in tiền trả nợ cho các nhà con và nhà nào cũng ôm tiền Mỹ về làm tài sản vững giá nhất. Nhà nước Bắc Kinh thì chưa mà vẫn chưa chừa cái tật đi vay.

Có vay thì có trả, quy luật đạo đức này là một chân lý kinh tế. Nhưng với kinh tế Trung Quốc thì làm sao trả khi tiền đi vay lại sinh lời không đủ để hoàn thành nghĩa vụ hoàn trái? Sinh lời không đủ vì dồn vào các dự án không có hiệu năng, chỉ sản nhập chứ không sản xuất.

Với núi nợ đó, kinh tế của Trung Quốc chỉ có hy vọng cải sửa nếu đà tăng trưởng của tín dụng bắt đầu giảm dần, tức là còn tăng mà chậm hơn. Và đà tăng trưởng của vay mượn phải giảm mạnh hơn đà tăng trưởng sản xuất, đo lường ở mệnh giá của GDP, là chuyện khó đo khó đếm! Sau đấy, việc cải sửa chỉ có hy vọng thành công nếu đà gia tăng vay mượn vĩnh viễn thấp hơn đà tăng trưởng kinh tế. Chuyện khó xảy ra trong viễn cảnh dài của năm bảy năm tới.

Nhưng, các chuyên gia Mê Tầu, của Tây phương và Trung Quốc, không nhìn ra chuyện ấy, lại còn đánh lạc hướng: mỗi khi thấy mức tăng trưởng sản xuất giảm sút, từ chỉ tiêu 7% chỉ còn là 6,9%, thì lại ngợi ca khả năng cải cách và chuyển hướng của Bắc Kinh. Và mỗi khi thấy tín dụng gia tăng qua biện pháp kích thích thì lại báo trước, rằng nhờ kinh tế Trung Quốc mà thế giới sẽ tránh được một vụ Tổng suy trầm nữa! Nghĩa là đỏ đen chẵn lẻ gì thì Bắc Kinh cũng thắng! 

Làm sao truyền thông có thể tường thuật chuyện quá rắc ấy cho tỏ tường? Ấn tượng còn lại là dù sao Trung Quốc vẫn là cường quốc kinh tế có trên ba ngàn tỷ đô la dự trữ ngoại tệ để vượt qua mọi phong ba bão táp!

***

Sự thật cứng đầu của kinh tế chính trị học là lãnh đạo Trung Quốc phải đắn đo cân nhắc và chọn lựa một trong ba hậu quả của chiến lược sai lầm đã qua: 1/ bị thất nghiệp cao hơn, 2/ hoặc mắc nợ nhiều hơn, 3/ hoặc phải tái phân lợi tức cho các địa phương hay thành phần quần chúng nghèo đói. Nhiều phần thì lãnh tụ sẽ lãnh cả ba tụ.

Bài này sẽ cố giải thích bài toán chuyên môn ấy, xin độc giả thông cảm.

Chiến lược kinh tế Trung Quốc nhắm vào mục tiêu toàn dụng, để nhờ đảng và nhà nước mà ai cũng có việc làm và nạn thất nghiệp không gây động loạn. Vì vậy, họ lấy đầu tư làm lực đẩy và sản xuất ào ạt thì xuất cảng. Trong thế giới đó, các doanh nghiệp có chức năng xã hội của sở lao động tìm việc làm cho muôn dân. Lời lỗ là chuyện không đáng kể nên lỗ hơn lời và hết tiền thì đi vay để lại có công tác sản xuất cho dân số rất đông. Ba chục năm sau, trò chơi ấy hết công hiệu và đà tăng trưởng giảm sút thì sẽ đẩy lên nạn thất nghiệp.

Thất nghiệp là vấn đề xã hội có hậu quả chính trị cho một chế độ tự xưng là “xã hội chủ nghĩa”. Bây giờ, làm sao “phân bố” cái nạn thất nghiệp tất yếu này? Câu trả lời là theo tiêu chuẩn an toàn chính trị cho chế độ.

Hơn 100 triệu “dân công” không có hộ khẩu mà mất việc thì có thể lặng lẽ về quê sống nhờ gia đình đã mất hết đất đai ruộng vườn? Họ là con sâu cái kiến nên không làm trung ương mảy may xúc động, nhưng lại làm các đảng bộ địa phương lo sợ vì động loạn từ dưới nổi lên. Ngoài dân công, còn có bộ đội được phục viên hay bị giải ngũ. Họ cũng là thành phần mất việc mà có súng. Vì vậy, cuối năm qua các doanh nghiệp nhà nước vừa được chỉ thị ưu tiên tuyển dụng các giải phóng quân vừa được Quân đội Nhân dân giải phóng về quê.

Làm ăn thua lỗ mà còn tuyển thêm người vô dụng thì làm sao kiếm ra tiền bỏ túi hay trả nợ?

Nói về nợ nần thì câu hỏi là ai nợ ai? Đa số ai ai đó đều nợ các ngân hàng nhà nước, kể cả ngân hàng chui của tay chân nhà nước. Khách nợ là doanh nghiệp, là các cơ sở đầu tư do địa phương tự động thành lập để huy động tiền thực hiện các dự án đầu tư có chức năng tạo ra việc làm, dù chỉ sản nhập chứ không sản xuất. Nếu kinh tế sa sút thì người người đều được khuyến khich vay thêm, để đạp cỗ xe hai bánh cho khỏi đổ. Hậu quả là người ta lại chất thêm một núi nợ dưới chân một núi nợ sắp sụp đổ.

Hậu quả thứ ba là nhu cầu tái phân lợi tức, một ưu tiên của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Để tránh động loạn xã hội và bất ổn chính trị, họ Tập đang tập trung quyền lực về trung ương, vào trong tay mình, và đòi các đảng bộ địa phuơng cùng san sẻ gánh nặng tài chánh. Nơi nào giàu có thì chia bớt cho các địa phương hay hộ gia đình nghèo khốn để nâng mức tiêu thụ nội địa. Hoặc bán bớt tài sản để trả nợ. Chiến dịch diệt trừ tham nhũng cũng nằm trong chiều hướng thanh lọc và gây áp lực để tái phân phối lợi tức. Nhưng các nhóm lợi ich từ trung ương tới địa phương, từ các tập đoàn kinh tế nhà nước đến các tỉnh trù phú miền Đông, dễ gì lại chấp nhận tinh thần và biện pháp xã hội chủ nghĩa này?

Họ tẩu tán tài sản hoặc cấu kết cùng nhau để bảo vệ thành quả cách mạng!

Thành thử, lãnh đạo Bắc Kinh đang đối diện với biện pháp kinh tế đau lòng (thất nghiệp và nợ nần) hay biện pháp chính trị nguy hiểm (lấy của nhà giàu cho nhà nghèo). Và đắn đo mãi thì sẽ gặp cả ba hậu quả.

Kinh tế chính trị học Trung Quốc là như vậy, mà các chuyên gia Mê Tầu vẫn chưa hiểu ra. Nên họ cứ om xòm đánh trống ếch và mời chào thiên hạ bước vào trò khỉ! Trong khi các doanh nghiệp Mỹ đang rần rần tháo chạy. 


Chủ Nhật, tháng 1 24, 2016

Việt Nam: Cuộc Chiến tại Cornell

Nhã Ca - Việt Báo Xuân Bính Thân 2016

Khi nước Mỹ tỉnh giấc 

image004 




















* Poster của phong trào phản chiến tại Cornell * 


Nha Ca 
* Ngày 27-10-2015, là cuộc họp mặt tại Đại học Cornell. Trưa nói chuyện tại Rockerfeller Hall: Sean Fear của chương trình “Voices on Vietnam” giới thiệu các diễn giả Olga Dror, Nhã Ca. Chiều ăn tối, xem phim, sinh hoạt tại Kahin Center: Giáo sư Keith Taylor và các bạn sinh viên thực hiện chương trình Voices on Vietnam đón khách. Từ trái, hàng đầu: Yến Vũ, Nhã Ca, Olga Dror. Tiếp theo: Giáo sư Keith Taylor, Trần Dạ Từ, Thanh Mai. Hàng thứ ba: Sean Fear, Vũ Minh Hoàng, Alex Thái Võ. *





Nhã Ca nói chuyện tại Cornell & UCI


Không phải Tổng Thống Mỹ hay vua Tầu. Chính cái gọi là “cuộc chiến tại Cornell” đã đẩy nước Mỹ tới chỗ phải bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho cộng sản thôn tính.

Nhưng, đã tới lúc lịch sử được nghiêm túc nhìn lại. Sự thật về chiến tranh Việt Nam, sau nhiều năm bị khuất lấp, đang được nói lên. Và “Giải Khăn Sô Cho Huế” là cuốn sách đầu tiên từ phía miền Nam đã đến được với người đọc anh ngữ: “Mourning Headband for Hue,” công trình nghiên cứu, dịch thuật của Giáo sư Olga Dror, xuất bản bởi Indiana University Press, được đón nhận rộng rãi.
Với sự khích lệ từ các đại học hàng đầu, Mourning Headband for Hue đã trở thành sách tham khảo cho các lớp học về lịch sử chiến tranh Việt Nam và vừa thắng giải Sách Trong Năm (2014 INDIEF Book of the Year Awards Winner) do Hiệp hội thư viện và nhà sách tại Hoa Kỳ trao tặng.

Cùng với cuốn sách, biến cố Tết Mậu Thân 1968 lại trở thành đề tài được bàn cãi tại các đại học Hoa Kỳ, tác giả Nhã Ca và dịch giả, nhà nghiên cứu lịch sử Olga Dror đã được lắng nghe.


Ngay từ mùng 7 Tết Ất Mùi, ngày 25 tháng Hai năm 2015, Giáo sư Olga Dror từ Đại học Texas A&M và Nhã Ca từ Việt Báo, California đã có dịp cùng tới nói chuyện tại Đại Học Berkeley. Đây là lần đầu tiên, hình ảnh và sự thật về cuộc tàn sát Tết Mậu Thân tại Huế được mang tới các Đại Học tại Hoa Kỳ.

Tiếp theo, ngày 27 Tháng Mười, Giáo sư Olga Dror và tác giả “Mourning Headband for Hue” được sự đón tiếp nồng hậu tại Đại Học Cornell ở Ithaca, New York. Buổi trưa, nói chuyện tại phòng họp Rockefeller. Chiều cùng ngày, là chương trình ăn tối, xem phim và sinh hoạt tại Kahin Center, tòa nhà mang tên Giáo sư George Kahin, người dẫn đạo phong trào phản chiến tại Mỹ năm xưa.


Nha Ca 0227-10-2015, họp mặt tại Đại học Cornell. Trưa, nói chuyện về “Mourning Headband for Hue” Chiều, chiếu phim Land of Sorrows dựng lại cảnh Mậu Thân tại Huế. Sau khi xem phim, Vũ Minh Hoàng của chương trình “Voices on Vietnam” giới thiệu Nhã Ca trả lời các câu hỏi.


Bài nói chuyện của Nhã Ca tại Đại Học Cornell ngày 27 tháng Mười 2015

Thưa quí vị giáo sư và các bạn sinh viên,

Chúng tôi vừa được các bạn tại Cornell đón tới đây chiều tối hôm qua. Sáng nay, lần đầu trong đời, tôi biết Ithaca.

Cảnh vật và con người. Tuyệt vời!

Kính chào Ithaca mùa thu.
Kính chào Cornell 150 năm.
Kính chào quí vị và các bạn.

Tôi đến đây với lòng ngưỡng mộ, niềm tin đặt vào sức sống của sự hiểu biết, và niềm vui được gặp gỡ chia xẻ, cùng hướng về tương lai. Nhưng phải thú thật là ngay khi được các bạn tại Cornell kêu tới, tôi không thể không nhớ, những điều từng thiêu đốt ruột gan từ 50 năm trước.

Ngày ấy, năm 1965, khi các bạn sinh viên tràn ngập Baily Hall, tôi thấy lòng mình sôi sục với Cornell. Rất đúng, phải phản đối chiến tranh.

Năm 1967, khi sinh viên tuần hành phản đối Ngũ Giác Đài, tôi nhớ mình xúc động khi theo dõi tin tức. Cùng lúc với các chiến binh Hoa Kỳ được đưa vào cuộc chiến, Việt Nam đã thành đề tài cho một cuộc chiến khác ngay trong lòng nước Mỹ: Cuộc chiến tại Cornell.

Nhưng thực tế chiến trường và sân trường khác nhau. Chiến tranh leo thang. Miền Bắc đưa quân vào miền Nam. Đêm giao thừa tết Mậu Thân 1968, - đúng lúc đã có lệnh ngưng bắn trong ngày tết truyền thống, như các phe lâm chiến từng thỏa thuận và tôn trọng nhiều năm trước- phía cộng sản mở cuộc tổng tấn công. Các bản tin chiến thắng cùng thơ nhạc tuyên truyền soạn sẵn được phát thanh từ Hà Nội.

Và thành phố Huế bị biến thành địa ngục.

Bom đạn, xương máu có loại âm thanh khác với mọi lý thuyết hay lý lẽ về nó. Là kẻ sống sót từ địa ngục Huế Tết Mậu Thân, tôi viết “Giải Khăn Sô cho Huế.” Chỉ là một bút ký chạy loạn kiểu có sao kể vậy, viết khi thấy như có tiếng kêu hay con mắt oan ức đuổi theo mình dục dã.
Trận chiến Tết 1968 đã thành khúc quanh của cuộc chiến. Những ngày ấy, khúc quanh của “Việt Nam: Cuộc chiến tại Cornell” là việc sinh viên chiếm Barton Hall và phong trào phản chiến lan rộng khắp nước Mỹ. Hai khúc quanh ấy bị lẫn lộn, ngộ nhận đưa tới nhiều quyết định và kết cuộc đau lòng.
“Chiến tranh Việt Nam đã thuộc về lịch sử,” vị Tổng Thống Hoa Kỳ 40 năm trước nói vậy. Và việc giảng dạy về cuộc chiến tại các đại học Hoa Kỳ được tiến hành dựa trên cách nhìn của phong trào phản chiến. Cách nhìn một thời ấy đã được thời gian và thực tế cho thấy là bất cập. Trong lịch sử Hoa Kỳ, Việt Nam từng được coi là cuộc chiến dài nhất, gây nhiều tranh cãi nhất. Cuộc chiến ấy có cái bóng dài hơn là chính nó. Đó là trận chiến tại Huế năm 1968. Hôm nay, 47 năm sau, cái bóng ấy trở lại Cornell. Giáo sư Olga Dror là người vừa mang nó trở lại, bằng cuốn sách “Mourning Headband for Hue”.

Chúng ta biết “Mourning Headband for Huế” không chỉ là một cuốn sách dịch. Đây là kết quả sự kiểm nghiệm nghiêm túc của một nhà nghiên cứu khi nhìn lại lịch sử. Tại Hoa Kỳ, ngay từ thời còn chiến tranh, mọi cuốn sách từ Việt Nam được phiên dịch, xuất bản cho người Mỹ đọc, đều đến từ miền Bắc Cộng sản. Tất cả sách vở miền Nam - tiếng nói của người dân miền Nam thời Nam Bắc phân tranh - bị dìm vào thinh lặng, chỉ vì chúng không vừa vặn với cái khung cố định từ nửa thế kỷ trước tại Mỹ. “Mourning Headband for Huế” và Nhã Ca là cuốn sách và người viết đầu tiên từ phía miền Nam được chọn để nghiên cứu, giới thiệu. Giáo sư Olga Dror không chỉ là dịch giả. Bà là tác giả toàn bộ công trình nghiên cứu này.

Quyết định về “Mourning Headband for Huế” tự nó cũng đã là một khởi đầu khác thường, không phải tại Hoa Kỳ mà là từ đất Nga. Chuyện là thế này: Cô Olga gốc Do Thái được sinh ra và lớn lên tại Liên Bang Xô Viết. Bà nội và bố mẹ cô từng kể nhiều chuyện phải trải qua thời chiến tranh thế giới ở Saint Peterbourg. Từng biết thế nào là Cộng sản, Olga đã rời khỏi đất Nga khi xứ này còn là một siêu cường. Chế độ Xô Viết sụp đổ năm 1991. Mười một năm sau, khi đã là người Mỹ và là nhà nghiên cứu về văn hóa lịch sử Việt Nam của Đại học Cornell, Giáo sư Olga Dror được mời dự một hội thảo tại Moscow về “Những Vấn Đề Trong Nghiên Cứu Nga-Việt.” Olga có trong tay cuốn sách nhỏ tôi viết từ địa ngục Huế Tết Mậu Thân, và chọn đề tài thuyết trình là “Giải Khăn Sô cho Huế và trận chiến Tết 1968”.

Lập tức, diễn giả được bảo là chỉ có thể nói mọi cuộc tàn sát đều là “tội ác đế quốc Mỹ”. Mọi lý lẽ khác bị dập tắt. Moscow năm 2012 không khác thời Xô Viết. Vẫn chỉ là “cái khung đóng sẵn được tự cho là đúng của cộng sản,” Olga viết. Đó là lúc cô nhớ thân phận người dân trong chiến tranh.

Và thấy hơn bao giờ, phải làm cho tiếng nói của người dân Huế được lắng nghe.”

Năm 2012 chính là lúc “Mourning Headband for Huế” được quyết định thành sách và tôi nhận thư đầu tiên từ Giáo sư Olga. Chúng tôi không hề quen biết trước. Ba năm thư từ, đã coi nhau là bạn, nhưng chưa từng gặp gỡ. Tôi không biết gì về chuyện cuốn sách cũ mình viết từng đi qua nước Nga. Mãi tới cuối tháng Hai năm nay, khi sách đã in xong, chúng tôi mới có dịp gặp nhau lần đầu ở đại học Berkeley.

Mourning Headband for Huế, theo Olga, là “cái nhìn của người dân miền Nam trong chiến tranh, không phải cách nhìn của người lính, chính trị gia hay bình luận gia. Có thể thấy đây là cuốn sách chống Mỹ, khi nó nói lên sự bất lực của một dân tộc bị những toan tính địa chính trị của các đại cường đẩy vào cảnh xâu xé. Olga viết và nhẹ nhàng nhắc lại điều cô từng nói từ ba năm trước tại thủ đô nước Nga, rằng “nó được mang đến không để dành chỗ thay thế ai, mà chỉ để cùng hiểu biết tốt hơn khi nhìn lại một quá khứ đã rơi vào thinh lặng hay chỉ mở ra với những lỗ tai thù hận.”

Là một trong những người viết văn tự do tại miền Nam từng bị các học giả cộng sản chụp cho cái mũ là “những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa”, tôi hiểu sự thôi thúc mà Giáo sư Olga cảm thấy từ nước Nga, trước “cái khung đóng sẵn” kiểu cộng sản”. Điều khó hiểu hơn, với tôi, là chuyện “cái khung đóng sẵn” ấy đã diễn ra ở ngay trên đất Mỹ.

Đúng là bản thân tôi từng chạnh lòng, khi thấy chuyện hàng ngàn dân Huế bị tàn sát hồi Tết Mậu Thân từng bị một vị học giả từ Cornell thời phản chiến phủi đi như phủi bụi. Ông ta viết, đó chỉ là sản phẩm do CIA dựng lên để “biện hộ cho chủ nghĩa đế quốc.”

Cũng không chỉ một số cá nhân chạnh lòng, mà là hàng triệu người từng thực sự đau lòng trong những dằn vặt hậu chiến của cái được gọi là “hội chứng Việt Nam”. Những cựu chiến binh Mỹ trở về từ chiến trường bị ghẻ lạnh. Mọi thành phần quân dân chính Việt Nam Cộng Hòa bị miệt thị. Đó là thời kỳ việc giảng dạy về chiến tranh Việt Nam được soạn thảo dựa theo “cái khung có sẵn” do phong trào phản chiến đề ra từ những năm sáu mươi. Tại nhiều trường học, các vị thầy dạy môn sử thường trả lời mọi nghi ngờ của học trò bằng cách chỉ vào cuốn sách xác nhận là “Sách nói!”

Nhưng lịch sử cũng như sự sống không chịu nằm yên trong cái khung đóng sẵn. Hơn 10 năm trước đây, Giáo sư Keith W. Taylor, nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Việt Nam mà chúng tôi ngưỡng mộ, đã chỉ ra là các định đề của phong trào phản chiến chỉ là mảnh vụn ý thức hệ một thời được chắp vá thiếu căn bản luận lý. Ông chính thức lên tiếng và thay đổi cách giảng dạy về chiến tranh Việt Nam. Tờ Việt Báo do chúng tôi chủ trương tại California được ông cho phép ấn hành bản dịch Việt ngữ. Xin cám ơn Giáo sư Taylor.

Các bạn sinh viên thân mến,

Cũng mùa thu Ithaca, tại đây năm ngoái, đã có ngày kỷ niệm 50 Năm Cuộc Chiến tại Cornell, 2014 – 1964.” Các cựu sinh viên thời ấy đã về lại chốn cũ, gặp nhau cùng ôn lại kỷ niệm một thời. Người quá tuổi về hưu như chúng tôi thường hướng về dĩ vãng. Nhưng, với các bạn, mùa thu Ithaca hôm nay, Cornell hôm nay, như cuộc họp mặt này, việc chiêm nghiệm quá khứ chỉ là để sửa soạn hành trang lên đường vào tương lai.

Năm 1940, hàng ngàn thường dân và quân đội Ba Lan đã bị tàn sát tại khu rừng Katyn, theo lệnh Staline. Phải mất tới 50 năm, nhà nước Xô Viết thời ông Gorbachev mới chịu nhìn nhận sự thật. Giáo sư Olga, khi giới thiệu “Mourning Headband for Hue,” đã lưu ý chuyện này và nói thêm, “Sự thật về trận chiến Huế Tết Mậu Thân, giống như nhiều biến cố lịch sử còn bị che khuất bởi đủ loại khói mù, có thể là đề tài cho “một cuốn sử tương lai.”

Cuốn sử tương lai ấy, như Giáo sư Olga vừa nói, là việc đang chờ các bạn trẻ. Chính các bạn sẽ xua tan khói mù, trả lại sự thật cho lịch sử.

Thời xưa, các triều đình lãnh chúa phương tây hay vua chúa phương đông, đều có quan chép sử. Sách sử họ viết ra để vẽ phấn thoa son đúng kiểu vua chúa muốn. Thời nay, các chủ nghĩa độc tôn, các chế độ độc tài cũng đầy loại sách sử tương tự xuất hiện bẳng nhiều kiểu cách khác. Chữ nghĩa biện giải có vẻ tối tân hơn. Lý tưởng rao giảng có vẻ hấp dẫn hơn. Kết quả là loại sử sách độc quyền, độc tôn này đã một thời lừa mị được nhiều bậc thức giả tự cho là họ có lý tưởng.

Nhưng đã tới lúc chính lịch sử lên tiếng.

Với sự bùng nổ của truyền thông từ cuối thế kỷ trước, mọi loại màn tre màn sắt đều đã thành vô hiệu. Từ đó đến nay, vận tốc đường truyền internet đã khác. Thời đại đã khác. Thế giới đã khác. Cái cell phone, cái lap top trong tay bạn đã khác, và còn tiếc tục khác.

Bầu trời Ithaca hôm nay, cuộc gặp gỡ với các bạn ở Cornell hôm nay cho tôi niềm tin vào sức sống của sự hiểu biết, niềm tin vào trang sử tương lai mà các bạn sẽ viết.

Từ đống tro tàn của cuộc chiến là miền Nam Việt Nam, nơi sách vở văn học bị thiêu hủy và nhà văn đi tù, tôi cảm kích việc Giáo sư Olga, khi chọn “Mourning Headband for Hue” để nghiên cứu, đã không quên trích dẫn thơ và giới thiệu chúng tôi trước hết như những người làm thơ. Xin tặng các bạn thứ thơ mà chúng tôi gìn giữ. Bài thơ, đoạn thơ dài, gom vào một câu chính: “Hãy tin sự khôn ngoan của nhân loại.”

Vâng. Tôi tin sự khôn ngoan của nhân loại và tin vào nước Mỹ. Tôi tin ở sức sống của sự hiểu biết, như tin vào tự do.

Kính mừng Cornell 150 năm. Cám ơn ban tổ chức “Voices on Vietnam”.

Kính chào quí vị./.


1 UCI_Nha20-11-2015, nói chuyện tại UC Irvine. Hình: Nhã Ca trả lời câu hỏi của sinh viên. Giáo sư Trí Trần điều hợp buổi trò truyện.

Nhã Ca nói chuyện tại UC Irvine
Sau UC Bekeley và Cornell, ngày 20-11-2015, Nhã Ca đã có buổi nói chuyện với sinh viên tại UCI, đúng thời điểm đánh dấu 15 năm UCI có chương trình học về văn hóa Việt Nam.

“Nghe các bạn sinh viên tại UCI vừa cùng nhau đọc “Truyện Cho Những Tình Nhân”, một truyện ngắn Nhã Ca viết từ… 47 năm trước và mong gặp tác giả, tôi rất cảm kích. Do đó mà có mặt tại đây.” Nhã Ca nói. 

Với đề tài là một truyện tình thơ mộng mà tan nát trong hoàn cảnh địa ngục của Huế Tết Mậu Thân 1968, Nhã Ca đã trả lời mọi câu hỏi của các em sinh viên. Lời cuối của buổi trò truyện, Nhã Ca nói “Khi viết loạt truyện này, dù trong cảnh đau thương, tang tóc, tôi vẫn luôn tin vào lòng yêu thương, sự ăn ở tử tế, và tin vào tương lai của Huế. Hôm nay, trong khi chúng ta trò truyện tại đây, Huế vẫn còn bị trấn áp bởi bạo lực, dối trá. 

Với Huế, với Việt Nam, từ Tết Mậu Thân 1968 tới Tết Bính Thân 2016 sắp tới, là tròn bốn con giáp. Đúng 48 năm. Mong các em cầu nguyện cho Huế và những tình nhân như Phan, như Diễm tại Huế hôm nay và ngày mai được an bình, tự do.

DSC03460Tiếp theo, chụp hình với sinh viên trong lớp học về văn hóa Việt Nam.

Thị Trường Dân Chủ



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 160122


Khi thị trường bỏ phiếu là cổ phiếu Bắc Kinh xanh lè….


 * Xanh xanh đỏ đỏ cho em nhỏ nó mừng! *



Trước khi vào bài, xin có một chi tiết về chế độ xưng danh cách mạng tại Trung Quốc, là lấy màu đỏ làm biểu tượng anh hùng; khi giá sụt thì thị trường bật màu xanh thay vì màu đỏ như thiên hạ….


Những biến động tuần qua trên thị trường chứng khoán xanh đỏ của thế giới là cơ hội cho chúng ta… nhìn lại mình.

Không phải là ai cũng “chơi stock” - là có tiền đầu tư vào thị trường này và trực tiếp hay gián tiếp lấy quyết định về việc mua vào hay bán ra cổ phiếu của một doanh nghiệp yết giá trên thị trường. Mà nếu như có thì cũng chẳng đọc bài này để lấy quyết định mua hay bán! Nhưng hầu hết đều bị thị trường chi phối – mà có khi không biết. Rất nhiều yếu tố liên quan đến cuộc sống hay mức sống của chúng ta xuất phát từ thị trường chứng khoán: tiền thuế, hưu bổng, thậm chí giá hàng hóa và lương thực đều có thể bị ảnh hưởng….

Bây giờ, hãy nói về biến động của tuần qua.

Thị trường Á Châu mở cửa sớm nhất, và lập tức sụt giá nặng hôm Thứ Ba 19, khi Cục Thống kê Quốc gia của Quốc vụ viện Bắc Kinh công bố mức tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong năm ngoái là 6,9% và khi giá dầu thô sụt dưới 30 đô la một thùng. Nhưng ngay sau đó, các thị trường trên thế giới đều tăng giá nhẹ vì người ta kết luận là Chính quyền Bắc Kinh sẽ bơm tiền kích thích kinh tế sau khi đà tăng trưởng sụt tới mức thấp nhất kể từ 25 năm nay. Quả nhiên là Bắc Kinh có bơm thêm một ngach số tương đương với 91 tỷ Mỹ kim. Trong khi ấy, dầu thô vẫn rớt giá.

Qua ngày Thứ Tư 20, thế giới bàng hoàng khi các thị trường chứng khoán đồng loạt sụt giá. Ở nơi huyên náo nhất là thị trường New York, chỉ số DJIA (Dow Jones Industrial Average) sụt 560 điểm trước khi ngưng ở - 250 điểm, mất 1,6%. Tính từ đầu năm đến hôm đó thì mất 9,5%. Các chỉ số tiêu biểu hơn như S&P 500 hoặc Russell 200 cũng tương tự. Tức là sau nửa ngày hồ hởi với viễn ảnh Bắc Kinh bơm tiền cứu nguy kinh tế, nhiều nhà đầu tư đã giật mình bỏ chạy.

Thế rồi trong hai ngày cuối tuần, các thị trường đều lại lên giá vì thấy dầu thô lên khỏi ngưỡng 30 và nhiều ngân hàng trung ương đều hạ quyết tâm bơm tiền kích thích kinh tế, dù cho lãi suất tại nhiều nơi đã nằm dưới sàn, và không còn chỗ hạ….

Có hai yếu tố được giới quan sát nêu ra về những biến động này là 1) tình hình kinh tế sa sút tại Trung Quốc và 2) giá dầu sụt mạnh.

Điều này cho thấy sự hàm hồ của “giới quan sát”: sau khi lạc quan quá lâu về Trung Quốc, từ năm ngoái đa số đều đồng ý rằng kinh tế xứ này sẽ trôi vào một thời kỳ khó khăn kéo dài. Còn giá dầu? Nó sụt từ năm ngoái và không thiếu chuyên gia đã báo trước là sẽ xê xích giữa biên độ 20-40 trong nhiều năm. Thế thì vì sao giới đầu tư lại hốt hoảng bán tháo rồi hồ hởi sảng?

Vì không mấy lạc quan về viễn ảnh kinh tế Hoa Kỳ hay toàn cầu trong năm nay?

Về kinh tế Hoa Kỳ, nếu chịu khó theo dõi mà không bị Chính quyền Barack Obama và truyền thông cánh tả bị mắt, người ta đã thấy tình hình năm 2015 không được khả quan và qua năm 2016 thì còn nhiều bấp bênh. Sau sáu năm phục hồi rất chậm kể từ Tháng Bảy 2009 với hàng loạt quyết định tăng chi khiến gánh công trái liên bang đã vọt từ 10 ngàn tỷ lên quá 18 ngàn tỷ (tăng 86%) lẫn ba lần bơm ra hơn bốn ngàn tỷ qua biện pháp “quantitative easing”, kinh tế Hoa Kỳ vẫn còn èo uột và chỉ hơn được hai khối Âu Châu và Nhật Bản.

Về kinh tế toàn cầu thì tình hình 2015 cũng chẳng khá hơn, với đà tăng trưởng thấp nhất kể từ vụ Tổng suy trầm 2008-2009. Cả chục quốc gia sống nhờ xuất cảng nay đang điêu đứng, đứng đầu là Trung Quốc, Liên bang Nga và Saudi Arabia, ba xứ khét tiếng độc tài. Và tiền Mỹ quả rẻ bơm ra quá nhiều đã thổi lên trái bóng nợ nần trong các quốc gia “đang phát triển”. Đã phát triển hay đang phát triển gì cũng đều vất vả.

Điểm lại như vậy ta mới thấy vụ sụt giá chứng khoán tuần này, hay qua hơn hai tuần đầu năm, chẳng có gì đáng ngạc nhiên! Khi ấy, người ta mới trở lại câu hỏi: thị trường chứng khoán vận hành ra sao, dựa trên những quy luật gì mà lại giật mình vì chuyện không đáng giật rồi lạc quan khi có tin là nhà nước sẽ bơm tiền kích thích?

Chúng ta phải lạc đề mà trở lại một phát minh rất xa xưa của Âu Châu.

Để giải quyết nhu cầu kinh tế cho mục tiêu kinh doanh là kiếm lời, dân Âu Châu lập ra các đơn vị sản xuất gọi là doanh nghiệp hay công ty, có khi khởi sự bằng gia đình, sau mới mở ra ngoài.  Doanh giới bỏ tiền vào công ty và chấp nhận tình trạng lời ăn lỗ chịu trong những tính toán về sản xuất và mua bán của mình. Rồi Âu Châu tiến xa hơn vậy là cải thiện luật lệ để có loại công ty nặc danh, với nhà đầu tư là người chủ vô danh và tách rời khỏi người quản trị. Sau đấy, Âu Châu còn có loại công ty trách nhiệm hữu hạn, là nơi mà người chủ chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn số vốn bỏ vào công ty thôi, chứ tài sản riêng của họ vẫn được bảo tồn. Nhờ vậy mà nhà đầu tư có thể vào nhiều cửa. Nếu mong kiếm lời trong viễn ảnh dài thì là đầu tư, nếu muốn có lời nhanh mà cũng bị rủi ro lớn thì gọi là đầu cơ.

Khoản “vốn” đầu tư ấy là các “cổ phần” được người chủ nặc danh mua bán trên thị trường chứng khoán, dưới hình thức cổ phiếu, mà ta gọi là “stock”.

Nhà đầu tư mà mua cổ phần và trở thành “cổ đông” là hùn vốn vào việc kinh doanh này. Giá cổ phần lên hay xuống là do kỳ vọng về doanh lợi sẽ được chia dưới dạng “cổ tức”, tức là tùy vào khả năng quản trị của giới điều hành và vào khung cảnh kinh doanh của thị trường.

Nhưng, sự đời còn phức tạp hơn vậy vì nhà đầu tư cũng có lời khi giá cổ phiếu tăng so với giá mua vào. Mà giá tăng hay giảm không nhất thiết liên quan đến mức doanh lợi chưa có, hay đến tài năng quản trị của giới điều hành. Có mấy ai trong chúng ta biết về cơ cấu tổ chức của các công ty như GE, Apple hay Nestlé, mà vẫn có thể mua bán cổ phiếu của các doanh nghiệp này. Giá cả ấy tùy thuộc vào loại yếu tố vô hình là “ấn tượng” của các nhà đầu tư khác.

Nếu tin là giá sẽ tăng, trên cơ sở của những thông tin xác thực hay mơ hồ, thậm chí hàm hồ, có khi tách biệt với mức lời và khả năng của giới điều hành, người ta cũng làm thị trường lên giá. Và lôi kéo theo phản ứng của người khác. Phản ứng “bày đàn” của đám đông hết là chuyện kinh tế quốc dân hay kinh doanh của công ty, mà là tâm lý xã hội học mở ra toàn cầu!

Viết lại cho rõ: thị trường chứng khoán vận hành vì nhiều yếu tố quá phức tạp và đôi khi phi lý. Vụ thị trường hốt hoảng sụt giá hôm Thứ Tư 20 vì loại thông tin đã cũ (Tầu và dầu đều thê thảm!) là một thí dụ của sự phi lý. Đấy là sự phi lý rất hợp lý khi đám đông bỗng giật mình nghĩ lại.

Nhưng sự thật lại còn ly kỳ hơn thế.

Sau hơn hai trăm năm, chủ nghĩa tư bản bất ngờ dẫn đến một hiện tượng lạ, là thị trường chứng khoán không vận hành theo lối “quả đầu” (“quả” là ít) của một số nhỏ các nhân vật thần thế trên doanh trường, như Rothschild, Rockefeller, Ford, Dassault, mà ngày nay cũng chẳng hoàn toàn nằm trong vòng tính toán của các đại gia tỷ phú như Warren Buffet, Jeff Bezos hay Larry Page. Nhiều tỷ phú đã mất bạc tỷ trên thị trường quái ác này.

Thị trường lại càng không lên xuống theo quyết định của Ngân hàng Trung ương xứ nay hay Bộ Tài chánh của nước nọ mà còn tác dụng ngược vào chánh sách tiền tệ hay tài chánh của những quốc gia tiên tiến nhất.

Nó biến hóa vô lường, phi lý và là kết quả của một hiện tượng xin tạm gọi là “dân chủ hóa”.

Thị trường là nơi mà quy luật dân chủ thực tế vận hành khiến đám đông vô danh và có khi vô tâm lại làm giá cả thăng giáng khá bất ngờ. Sau đó mới có “giới quan sát” bình luận, gỉải thích và hợp lý hóa sự thăng trầm ấy, mà nhiều khi giải thích sai. Làm sao giải thích cho đúng cả triệu phản ứng tâm lý trên cơ sở của những ấn tượng mơ hồ hoặc những thông tin tức thời?

Chuyện kỳ lạ ấy mới dẫn ta về…. Bắc Kinh!

Trong môi trường toàn cầu hóa quá phức tạp, thị trường hay cả tỷ người chơi stock ở khắp nơi, có thể ngồi xổm lên nghị quyết của đảng hay phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình. Và coi quyết định can thiệp của lãnh đạo kinh tế Trung Quốc là trò cười về hối đoái hay cổ phiếu.  Một cách rất dân chủ, thị trường bỏ phiếu theo kiểu của mình và gây ra loại phản ứng bầy đàn mà Bắc Kinh gọi là “phản động”.

Rồi mặt mày xanh lè như khỉ ăn phải ớt!