Thứ Tư, tháng 6 20, 2012

Sự Sụp Đổ Của Các Huyền Thoại

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120620


Nguyên ngân sâu xa có thể là những tín điều sai lầm được dựng thành huyền thoại.... 




* AFP - Một biểu tượng khổng lồ của đồng tiền chung Châu Âu 
bên ngoài trụ sở của Ngân hàng Trung ương châu Âu tại Frankfurt *


Sau bốn năm đầy biến động kinh tế, thời sự tuần qua cũng lại đầy những biến động chính trị với chuyện bầu cử ở một số quốc gia và kết thúc với hội nghị cấp lãnh đạo của nhóm G-20 mà không có kết quả. Diễn đàn Kinh tế duyệt lại tình hình chung để tìm ra một số kết luận sau đây.
  

Sự hình thành của các huyền thoại


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Tuần qua, vừa theo dõi xong kết quả bầu cử tại Hy Lạp, Pháp và Egypt, thì dư luận lại chú ý đến hội nghị thượng đỉnh của nhóm G-20 tại Mexico với lãnh đạo của 20 quốc gia có nền kinh tế đứng đầu thế giới. Không khí chung của ngần ấy biến cố vẫn là sự bất trắc trước quá nhiều khó khăn kinh tế của các nước. Thưa ông, giữa cơn giông bão nổi lên từ bốn năm nay, liệu ta có thể rút tỉa được bài học nào không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là khi tình hình chung còn có nhiều bất trắc thì người ta rất khó rút tỉa những kết luận có giá trị cho lâu dài. Nhưng thật ra những bất trắc hiện nay có nhiều nguyên nhân sâu xa nên mình vẫn có thể tìm ra một số bài học hữu ích cho tương lai, và đấy sẽ là đề tài trao đổi tuần này. Bản thân tôi thì chú ý nhất đến sự sụp đổ của một số huyền thoại, là chuyện không có thật mà được nhiều người tin là có thật và cứ loan truyền. Trước hết, tôi xin đi ngược thời gian để khởi sự từ Thượng đỉnh G-20 tại Los Cabos của xứ Mexico.

...Sau đó, nhóm G-7 này mời thêm Liên bang Nga tham dự thành nhóm G-8 dù Nga chưa có nền kinh tế xứng đáng đứng hàng thứ tám của địa cầu. Thượng đỉnh hàng năm của nhóm G-7 hay G-8 này trở thành phù du vì chẳng giải quyết được vấn đề kinh tế của thế giới.
ông Nguyễn Xuân Nghĩa
- Chúng ta nhớ là từ năm 1975 trở về sau, người ta cứ tin rằng bảy cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới, là nhóm G-7 gồm có Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Ý và Nhật, có thể hợp tác để cùng giải quyết các vấn đề của toàn cầu. Ngày nay, năm trong bảy nước đó đang gặp vấn đề kinh tế mà chưa giải quyết nổi, đó là Nhật Bản, Pháp, Ý, Anh và Hoa Kỳ. Trong số này, Hoa Kỳ có tiềm lực cao nhất mà chưa thể đưa ra định hướng giải quyết cho các nước chỉ vì còn quá nhiều vấn đề trong nội bộ. Sau đó, nhóm G-7 này mời thêm Liên bang Nga tham dự thành nhóm G-8 dù Nga chưa có nền kinh tế xứng đáng đứng hàng thứ tám của địa cầu. Thượng đỉnh hàng năm của nhóm G-7 hay G-8 này trở thành phù du vì chẳng giải quyết được vấn đề kinh tế của thế giới. Sau đó, từ mươi năm nay, người ta lại đề cao một nhóm quốc gia khác, gọi là BRICS.

Vũ Hoàng: Thưa ông, nhóm BRICS này là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đó là tên của bốn nền kinh tế gọi là đang phát triển, gồm có Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, và sau cùng thì gượng ép đưa Cộng hoà Nam Phi vào thành nước thứ năm. Các quốc gia này ở nhiều khu vực địa dư khác nhau và tưởng rằng sẽ là thế lực kinh tế có thể đào thải nhóm công nghiệp hoá Tây phương, hay nhóm G-7. Đấy cũng là huyền thoại vì mấy xứ này không có chủ trương thống nhất, trừ cái ảo giác là truất phế vị trí kinh tế của Hoa Kỳ hay đồng đô la Mỹ. Ngày nay, các nền kinh tế này, đứng đầu là Trung Quốc và Ấn Độ lại có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng ở bên trong và thật ra chưa có khả năng chi phối được thế giới như người ta đã tưởng lầm. Từ đó, ta bước qua cái huyền thoại G-20 của tuần này.  


Một cửa hàng bán giày bị phá do người dân phản đối lệnh Thắt lưng buộc bụng do chính phủ ban hành. Ảnh chụp hôm 13/2/2012. AFP
Một cửa hàng bán giày bị phá do người dân phản đối lệnh Thắt lưng buộc bụng do chính phủ ban hành. Ảnh chụp hôm 13/2/2012. AFP


Vũ Hoàng: Nhóm G-20 này là gì, thưa ông, họ xuất phát từ đâu và ai bầu ra?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ hai chục năm trước, người ta nói đến kỷ nguyên của các nền kinh tế đang lên và lần đầu họ gặp nhau là năm 1999, sau vụ khủng hoảng Đông Á trong các năm 97-98. Tinh thần chung vào lúc đó chưa có gì là chính thức cả mà cũng chẳng có tiêu chuẩn rõ ràng.  

...thứ nhất sức nặng kinh tế, thứ nhì là khả năng hợp tác và chấp hành chính sách kinh tế chung và thứ ba là ảnh hưởng tỏa rộng của hệ thống tài chính và ngân hàng của từng nước. Loại tiêu chuẩn đó mới khiến sự tham gia và phối hợp giữa các nền kinh tế này quả thật là có ảnh hưởng đến toàn cầu.
ông Nguyễn Xuân Nghĩa 
- Năm 2008, khi khủng hoảng tài chính bùng nổ, Tổng thống Mỹ thời đó là ông Geroge W. Bush mới đề nghị việc lãnh đạo của nhóm G-20 này có hội nghị hàng năm, gọi là thượng đỉnh. Thành phần gồm có Liên hiệp Âu châu và 19 quốc gia dẫn đầu kinh tế thế giới là Argentina, Úc, Brazil, Canada, Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nam Hàn, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi, Nga, Mexico, Turkey và Á Rập Saudi.

 - Nếu xét về tiêu chuẩn tham gia thì người ta cần nhắc đến thứ nhất sức nặng kinh tế, thứ nhì là khả năng hợp tác và chấp hành chính sách kinh tế chung và thứ ba là ảnh hưởng tỏa rộng của hệ thống tài chính và ngân hàng của từng nước. Loại tiêu chuẩn đó mới khiến sự tham gia và phối hợp giữa các nền kinh tế này quả thật là có ảnh hưởng đến toàn cầu. Nhưng nếu áp dụng các tiêu chuẩn ấy thì có nhiều nước thật ra không đáng có mặt trong nhóm G-20, thí dụ như Liên bang Nga, Argentina hay Mexico. Vì thành phần cơ cấu bất toàn ấy mà nhóm G-20 chẳng có thể đề nghị hay chấp hành một số quyết định chung và tuyên bố chung của họ thật ra chẳng có kết quả gì cụ thể, cho đến một Thượng đỉnh khác.

Muốn làm kinh tế, hãy học kế toán


Vũ Hoàng: Bây giờ, chúng ta trở lại chuyện bầu cử vào ngày Chủ Nhật vừa qua tại một số quốc gia. Ông đánh giá thế nào về kết quả đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là cuộc bầu cử Tổng thống tại xứ Egypt hay Ai Cập. Với sự sụp đổ của hai chế độ độc tài tại Tunisie và Egypt đầu năm ngoái, người ta cứ nói đến mùa Xuân Á Rập hay phong trào dân chủ tất yếu trong khối Hồi giáo. Sự thật lại chẳng lạc quan như vậy tại Egypt vì các tướng lãnh trong quân đội đã thay thế Tổng thống Hosni Mubarak chứ vẫn bảo vệ chế độ cũ. Phong trào dân chủ như dư luận mơ ước thật ra đã đại bại và cử tri phải chọn hoặc là xu hướng Hồi giáo khá cực đoan hoặc là một nhân vật của chính quyền Mubarak ngày xưa. Và  bài toán kinh tế trong đó có nạn thất nghiệp của giới trẻ thì vẫn nguyên vẹn. Nếu xét đến tình hình hỗn loạn của Libya hay cực kỳ bi thảm của Syria thì mùa Xuân Á Rập vẫn chưa có. Đã thế, lập trường của Liên bang Nga và Trung Quốc là cố bênh vực chế độ độc tài sắt máu tại Syria càng cho thấy kết quả đáng thất vọng của Thượng đỉnh G-20 vừa qua.

Hai nhà lãnh Nga và Trung Quốc tổng thống Putin và chủ tịch Hồ Cẩm Đào
Hai nhà lãnh Nga và Trung Quốc tổng thống Putin và chủ tịch Hồ Cẩm Đào. AFP 

...Trở lại Âu châu thì hai cuộc bầu cử tại Hy Lạp và Pháp thật ra không giải quyết nổi vụ khủng hoảng tài chính của khối Euro mà còn gây thêm chia rẽ giữa các nước về ưu tiên của giải pháp cứu nguy
ông Nguyễn Xuân Nghĩa
- Trở lại Âu châu thì hai cuộc bầu cử tại Hy Lạp và Pháp thật ra không giải quyết nổi vụ khủng hoảng tài chính của khối Euro mà còn gây thêm chia rẽ giữa các nước về ưu tiên của giải pháp cứu nguy. Đó là nên chấp nhận khắc khổ và giảm chi ngân sách như chủ trương của Đức hay là nên thúc đẩy tăng trưởng qua việc tăng chi như chủ trương của Pháp. Thật ra, Âu châu càng có bầu cử thì càng khó tìm ra đồng thuận vì xứ nào cũng lo cho ưu tiên của quốc gia làm cho cơ chế Âu châu càng khủng hoảng và cứ tiếp tục tăng chi bằng tiền bạc của xứ khác. Huyền thoại ở đây là không có thống nhất về chính trị và chính sách mà lại thống nhất về tiền tệ, với hậu quả là để bảo vệ sự thống nhất của khối Euro người ta càng gây thêm vấn đề và khó tiến tới thống nhất về chính trị. Trong khi đó, sau Hy Lạp thì khủng hoảng sẽ lan vào hai nền kinh tế đứng hạng bốn và hạng ba của khối Euro là Tây Ban Nha và Ý.

Vũ Hoàng: Ông cho rằng Tây Ban Nha sẽ là nước đang bị nguy cơ vỡ nợ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu xét đến phân lời rất cao là hơn 7% khi Tây Ban Nha cần vay tiền thì ta thấy ngay là các thị trường tài chính đã dự đoán một kịch bản bi quan cho xứ này.

- Cũng nhân vụ khủng hoảng tài chính và sự sụp đổ sắp xảy ra của các ngân hàng Tây Ban Nha, người ta có thể rút tỉa được một bài học nóng hổi cho Việt Nam. Trong một giai đoạn khá lâu, Tây Ban Nha hồ hởi vay tiền và cho vay để thổi lên trái bóng đầu cơ về địa ốc còn lớn hơn trái bóng Hoa Kỳ nếu so sánh kích thước với tổng sản lượng. Khi tình hình bắt đầu suy sụp từ năm 2009 thì Tây Ban Nha còn bày ra những phương pháp kế toán sáng tạo để che giấu thực tế nguy ngập bên dưới. Cụ thể là phương pháp ước tính và trích xuất ngân quỹ dự phòng rủi ro gọi là "dynamic provisioning". Sự thật là họ không có đủ dự phòng khi các khoản nợ khó đòi và sẽ mất lại còn cao hơn những con số biểu kiến về kế toán. Chuyện ấy khiến chúng ta phải trở về trường hợp Việt Nam.

Vũ Hoàng: Chúng tôi đoán là ông muốn nói đến bản tin xuất phát từ ngân hàng trung ương của Việt Nam theo đó thì tính đến cuối Tháng Tư số nợ có rủi ro bị mất của các ngân hàng Việt Nam lên tới 4,14% tổng số dư nợ và tương đương với hơn năm tỷ đô la. Có phải như vậy không?

... cách đây khá lâu rồi, khi một thính giả của chúng ta ở trong nước liên lạc để hỏi ý kiến về môn học kinh tế nào là hữu ích nhất, tôi đã trả lời... sang bên cạnh. Đó là nên học về kế toán! Lý do là nếu không có phương pháp kế toán xác thực thì chẳng ai có thể biết được tình hình thực tế về kinh tế hay kinh doanh và sẽ bị tai biến bất ngờ.
ông Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa:
- Thưa rằng cách đây khá lâu rồi, khi một thính giả của chúng ta ở trong nước liên lạc để hỏi ý kiến về môn học kinh tế nào là hữu ích nhất, tôi đã trả lời... sang bên cạnh. Đó là nên học về kế toán! Lý do là nếu không có phương pháp kế toán xác thực thì chẳng ai có thể biết được tình hình thực tế về kinh tế hay kinh doanh và sẽ bị tai biến bất ngờ. Chuyện ấy đã xảy ra tại Hy Lạp, Tây Ban Nha và đang xảy ra tại Việt Nam.


Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia.
Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia. RFA  



- Riêng trong lĩnh vực ngân hàng, trước hết, người ta phải có luật lệ minh bạch về cách bút ghi sổ sách tài chính là thu vào bao nhiêu, từ đâu và với phí tổn ra sao, để cho vay ra bao nhiêu, cho những ai, theo điều kiện gì? Vì chế độ kinh tế và chính trị mờ ám tại Việt Nam, nhiều ngân hàng có quan hệ thần thế với giới chức lãnh đạo đã có thể vi phạm những luật lệ cơ bản đó mà không sợ trách nhiệm về tài chính hay pháp lý vì được bao che và bảo vệ.

- Khi tình hình kinh doanh sa sút vì kinh tế suy trầm với đà tăng trưởng chậm hơn, việc thu hồi nợ nần tất nhiên là có vấn đề, tức là rủi ro mất nợ gia tăng. Nhưng các ngân hàng có thể áp dụng nhiều thủ thuật kế toán, thí dụ như đảo nợ, là vẫn cho vay ra để khách nợ trả lại khoản nợ bị trễ hạn với kết quả kế toán là làm giảm tỷ lệ nợ thối, nợ không sinh lời và sẽ mất. Vì thế, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam mà chỉ có 4% số tín dụng cấp phát là một con số thiểu khả tín, không tin được. Nhưng câu chuyện nó không nằm ở đó. Mối nguy ở đây là chính các cơ quan có trách nhiệm về kiểm tra, thí dụ như ngân hàng trung ương, cũng chẳng biết nổi là số nợ xấu nó lên tới mức nào. Chúng ta đã thấy trường hợp đó xảy ra tại Tây Ban Nha hay cả Trung Quốc, nên một vụ sụp đổ của các ngân hàng là chuyện có xác suất rất cao.

... giả dụ Điện Lực của Việt Nam, có thể lập ra một ngân hàng cổ phần có danh nghĩa là tư doanh mà thực chất là cơ quan kinh tài cho Điện Lực tức là cho một ông lớn trong Bộ Chính trị có thẩm quyền về tập đoàn này. Khi viện trợ kỹ thuật, cơ quan của quốc tế có thể đề nghị cải cách, như cải thiện nghiệp vụ kế toán, nhưng các khuyến cáo này vẫn bị quăng vào ngăn kéo vì đụng tới quyền lợi của các đại gia ở trên
ông Nguyễn Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thưa ông, trong nhiều chương trình trước đây và mới nhất là đề tài tuần qua khi phân tích việc cải tổ lãi suất ngân hàng tại Trung Quốc, ông nói đến nỗi khó khăn của giới hữu trách là thẩm định trị giá hay ngạch số của tài sản, như đất đai hay cổ phiếu, và của các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn. Vấn đề ở đây là từ bao năm nay, Việt Nam và cả Trung Quốc trước đó đều đã được quốc tế viện trợ về tài chính và nhất là kỹ thuật để cải tiến khả năng kiểm kê hay thẩm định sổ sách kế toán, trong đó có cả kế toán của các ngân hàng. Thế thì vì sao lại có tình trạng mù mờ về nợ nần đến nỗi khủng hoảng có thể bùng nổ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi lại xin nói về một huyền thoại khác đang sụp đổ.

- Cách nay đúng 15 năm, Ngân hàng Thế giới đã ngợi ca phép lạ kinh tế của các nước tân hưng Đông Á mà không ngờ là mùng hai Tháng Bảy năm 1997, khủng hoảng ngoại hối đã bùng nổ tại Thái Lan rồi lan rộng thành khủng hoảng kinh tế cho toàn khối Đông Á với năm nước bị nặng nhất, kể cả Nam Hàn. Đó là một chuyện mà ta không nên quên về sự lạc quan vô lối.

- Nói đến việc gần hơn để có lời giải đáp cho câu hỏi của ông, một định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới, hay cơ quan tài trợ của họ là Công ty IFC, vẫn có dự án viện trợ kỹ thuật, thí dụ như viện trợ cho các ngân hàng, tiếng là để phát triển tư doanh và tạo ra một sân chơi bình đẳng và lành mạnh cho các tác nhân kinh tế. Sự thật thì các dự án này đều gây tốn kém và nằm trong ngân sách viện trợ cho các nước mà vẫn có thể bị trở ngại trong thực tế. Trở ngại chính nằm trong lĩnh vực chính trị.

- Một tập đoàn kinh tế của nhà nước, giả dụ như Điện Lực của Việt Nam, có thể lập ra một ngân hàng cổ phần có danh nghĩa là tư doanh mà thực chất là cơ quan kinh tài cho Điện Lực tức là cho một ông lớn trong Bộ Chính trị có thẩm quyền về tập đoàn này. Khi viện trợ kỹ thuật, cơ quan của quốc tế có thể đề nghị cải cách, như cải thiện nghiệp vụ kế toán, nhưng các khuyến cáo này vẫn bị quăng vào ngăn kéo vì đụng tới quyền lợi của các đại gia ở trên.

- Các chuyên gia tư vấn của quốc tế đều biết như vậy mà chẳng làm gì được. Họ nhận thù lao rồi đi về, ở trên thì vẫn báo cáo thành tích là đã hoàn tất ngần ấy dự án viện trợ cho Việt Nam. Mọi người đều vui vẻ với thành tích đó và định chế viện trợ thì không muốn gây vấn đề về ngoại giao hay chính trị. Cho tới khi khủng hoảng bùng nổ thì lại có chuyên gia tư vấn đi qua nghiên cứu và đề nghị cải cách nữa. Đấy cũng là một huyền thoại khác về viện trợ và cải cách mà nếu quốc gia thọ nhận không nhìn thấy quyền lợi đích thực của người dân thì mọi người trong cuộc đều vui vẻ vỗ tay cho tới ngày khủng hoảng mà họ gọi là bất ngờ. Bao nhiêu chuyện đang xảy ra thật ra chẳng có gì là bất ngờ, cái bất ngờ là sự tồn tại quá lâu của nhiều huyền thoại.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn khá đặc biệt này.

Thứ Ba, tháng 6 19, 2012

Hoa Kỳ, Luật Chơi và Luật Biển

Nguyễn-Xuân Nghĩa -  Người Việt Ngày 120618
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"
  
Vì sao nước Mỹ chưa công nhận UNCLOS?


 * Trái đất hình tròn - Đường giao lưu nhìn trên Bắc Cực - Ải Tây-Bắc ở bên trái *



Từ năm năm nay, chính trường Mỹ đã có cuộc tranh luận ít nổi sóng: nên hay không tham gia Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển UNCLOS? Hồ sơ này đang được hâm nóng.

Tuần qua đã có sáu tướng Mỹ ủng hộ việc phê chuẩn UNCLOS, tương tự quan điểm của Ngoại trưởng Hillary Clinton trước Ủy ban Ngoại giao Thượng viện vào Tháng Năm. Nhích qua một bên thì ta biết thêm là tuần qua, xứ Na Uy bị Trung Quốc gây áp lực để làm quan sát viên thường trực của một tổ chức có tên là Hội đồng Bắc Băng dương, Artic Council.

Mấy chuyện ấy, hay nạn nhiệt hoá địa cầu, hoặc kim loại hiếm có thể khai thác dưới đáy biển, v.v... đều liên quan đến UNCLOS, United Nations Convention on the Law of the Sea..

Được đề xướng từ năm 1973, hoàn chỉnh năm 1982 sau ba lần cải thiện trong 10 năm và có 60 nước tham gia, Công ước hay Hiệp ước UNCLOS có hiệu lực từ cuối năm 1994. Cho đến nay, 161 nước và Liên hiệp Âu châu đã ký kết và phê chuẩn. Còn 16 quốc gia đã ký mà chưa phê và 18 nước chưa ký, trong đó có Mỹ, dù tham dự đàm phán từ đầu và góp phần điều chỉnh từ 1990 đến 1994 cho hợp ý. Hoa Kỳ thực tế chấp nhận văn kiện này như một cơ sở của thông lệ quốc tế về luật pháp, nhưng Quốc hội không phê chuẩn.

Đây là loại hồ sơ phức tạp của quốc tế mà cũng phản ảnh lập trường độc đáo của Hoa Kỳ nên đáng được liếc qua khi ta nhìn nước Mỹ từ bên ngoài.



***


Tháng Năm 2007, Tổng thống George W. Bush chính thức yêu cầu Thượng viện Hoa Kỳ công nhận UNCLOS mà không thành. Trước đó hai tháng, Chủ tịch Ủy ban Hỗn hợp về Hải dương của chính quyền cũng khuyến cáo rằng đây là "một ưu tiên cho quốc gia" mà cũng chẳng xong. Ông này là nhân vật Dân Chủ ôn hoà, nguyên Đổng lý Văn phòng của Tổng thống Bill Clinton, nay là Tổng trưởng Quốc phòng sau khi làm Giám đốc Trung ương Tình báo CIA, Leon Panetta.

Trên đại thể, đa số các nhân vật có thẩm quyền thuộc cả hai đảng đều yêu cầu chấp nhận một quy ước quốc tế đã được nhiều quốc gia kể cả nước Mỹ đàm phán từ mấy chục năm nay. Vì sao nên công nhận? Mỗi nhóm hậu thuẫn lại có một số lý do riêng.

Giới chức quân sự và Bộ Quốc phòng thì ủng hộ vì lý do an ninh. Có súng rồi thì nên có luật lệ vẫn hơn. Để bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển và ngoài mặt biển, Hoa Kỳ cần khuôn khổ pháp lý ổn định hơn thông lệ quốc tế - mà nhiều quốc gia có thể ngang nhiên thay đổi. Và mặc nhiên cản trở hoạt động quân sự và tình báo của Hoa Kỳ ở ngoài khơi, trên không gian hay dưới đáy biển: Trung Quốc đã ký và phê chuẩn Hiệp ước Luật biển mà vẫn sáng tạo ra yêu cầu về "quyền lợi cốt lõi" như đường lưỡi bò chín khúc gọi là "cửu đoạn tuyến" ngoài Đông hải!

Rất nhặm lệ trong tính toán, doanh giới Mỹ thì cho là Công ước đã vạch ra một khu vực quyền lợi của Mỹ rộng nhất thế giới, còn hơn diện tích của 48 tiểu bang liền lạc trong lục địa (hai tiểu bang kia là Alaska và Hawaii). Các tiểu bang duyên hải còn có chủ quyền trên kho tài nguyên nằm dưới đáy biển ngoài thềm lục địa. Nhờ đó doanh nghiệp có thể xin chứng chỉ khai thác với cơ chế có thẩm quyền của Công ước là Cơ quan Quản lý Đáy biển Quốc tế ISA (International Seabed Authority).

Người thiên về giải pháp ngoại giao để khai thông các tranh chấp quốc tế thì đề cao ưu thế của Công ước là diễn đàn giải quyết là Tòa án Quốc tế cho Luật biển (International Tribunal for the Law of the Sea – ITLOS).

Sau cùng, có ảnh hưởng mạnh bên Dân Chủ là các tổ chức bảo vệ môi sinh. Quan điểm của họ là Mỹ đã có luật lệ chặt chẽ về môi sinh để gìn giữ tài nguyên hải dương, thế giới thì chưa. Công ước Luật biển là nền móng quốc tế để đặt ra tiêu chuẩn khai thác an toàn hơn cho nhân loại.

Thế thì vì sao Công ước này vẫn bị chống?


***


Người ta cho là có 36 trong số 47 Nghị sĩ Cộng Hoà trong Thượng viện Khoá 112 ngày nay vẫn ngăn việc đưa văn kiện ra biểu quyết trước khoáng đại. Sự thật nó rắc rối hơn vậy vì sự chống đối đã có từ cả chục năm nay và vì rất nhiều lý do sau hàng loạt những vụ điều trần khá chuyên môn trước các ủy ban hữu trách của cả Thượng viện lẫn Hạ viện.

Về nguyên tắc, thỏa ước quốc tế là con dao hai lưỡi. Nếu đạt lợi ích thì cũng có ràng buộc đôi khi đi ngược với luật lệ quốc gia - chuyện Euro là một nhắc nhở. Quốc gia phải chấp hành luật lệ của quốc tế. Vì đặc tính đó, các nước nghèo/yếu thường dựa vào cơ chế quốc tế để có tiếng nói mạnh của tập thể. Các cường quốc thì ngần ngại hơn. Đại gia không dại gì mà chơi với tiểu tốt.

Là siêu cường, Hoa Kỳ thường do dự giữa hai ngả. Một là cứ gia nhập mà tìm cách cải tiến và bảo vệ quyền lợi từ bên trong cơ chế quốc tế. Hai là cứ đứng ngoài, như quan điểm của Chính quyền Ronald Reagan, phe bảo thủ và khuynh hướng tự do tuyệt đối - libertarian.

Ngày nay, Liên Âu ủng hộ Công ước vì chủ yếu quan tâm đến môi sinh, chứ Hoa Kỳ thì nhìn vụ này từ nhiều giác độ hơn, trong đó cũng có chuyện bất ngờ của môi sinh.

Về quyền lợi, Công ước có Khoản IX và điều 82 bên trong quy định việc phân phối hoa hồng khai thác dầu khí dưới thềm lục địa – ngoài phạm vi 200 hải lý của vùng Đặc quyền Kinh tế EEZ – cho các nước bị khóa trong lục địa. Thi hành nghĩa vụ thu nhận và chia lại khoản tiền đó là Cơ quan ISA.

Dù là quốc gia viện trợ nhiều nhất cho các nước nghèo, Mỹ không kiểm soát được quyền chi thu của ISA. Mà cũng chẳng biết là nộp bao nhiêu mới đủ. Một lý do chống đối với nhiều câu hỏi về thẩm quyền của cơ quan ISA, hay điều 82! Khai triển chuyện này thì cần một bài khác vì giấy mực có hạn.

Cũng về quyền lợi, Công ước thật ra vô dụng vì theo luật lệ quốc tế và chính sách lẫn thuyền thống lâu đời thì Hoa Kỳ có thẩm quyền và quy cách đàm phán với các lân bang hay tổ hợp dầu khí về việc khai thác tài nguyên ngoài thềm lục địa. Thí dụ là các khế ước tô tá – leasing – ngoài Vịnh Mễ Tây Cơ.

Khi tham gia Công ước, Hoa Kỳ còn có thể bị các nước kiện liên hồi về mọi chuyện ngoài hải dương, bị lôi vào nhiều trận xa luân chiến bất tận và tốn kém. Hoa Kỳ không tham dự Toà án Hình sự Quốc tế cũng vì lý do đó. Mà khi đã có phán quyết từ một trong bốn pháp đình của Công ước thì Mỹ không thể kháng án và Toà án Mỹ phải thi hành.

Một trong các lý do hay lý cớ để bị kiện chính là nạn nhiệt hóa địa cầu - mà nhiều quốc gia cho là do Hoa Kỳ gây ra. Chuyện ấy khiến chúng ta nhìn tới Bắc Cực.

Hoặc từ Bắc Cực nhìn xuống.


 Bản đồ của tạp chí The Economist minh diễn những triển vọng trên Bắc Cực

Dù khoa học chưa là cơ sở pháp lý về nguyên do của hiện tượng khí hậu bị hâm nóng, người ta vẫn nghiệm thấy sự kiện băng tuyết tan dần trên Bắc Băng dương. Băng tan thì "thềm lục địa" của nhiều nước quanh Bắc Cực lại mở rộng. Bên dưới là tài nguyên có thể khai thác, bên trên là các dòng giao lưu sẽ sử dụng được.

Công ước UNCLOS và các cơ chế hữu trách chưa giải quyết thỏa đáng việc khai thác và phân chia tài nguyên dưới tầng băng đá. Chung quanh, có tám nước liên hệ, là Nga, Mỹ, Canada, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Cộng Hoà Băng Đảo Iceland và Greenland. Ta hiểu vì sao Trung Quốc muốn có mặt trong Hội đồng Bắc Băng dương. Và bật cười về mối lợi của Mỹ khi mua Alaska của Nga vào thế kỷ 19, với giá rất bèo là chưa tới năm đô la một cây số vuông!

Đã thế, từ nay thế giới sẽ có đường thông thương giữa Thái bình dương với Đại Tây dương mà khỏi qua hai kênh đào Suez và Panama.

Sau nhiều thế kỷ mơ ước, từ nay việc nối liền Âu châu với các tiểu bang miền Tây của Mỹ có thể tiết kiệm được gần 8.000 ngàn cây số bằng cách đi qua ngả Tây-Bắc của Canada. Yếu tố vận chuyển qua Northwest Passage này mới hâm nóng hồ sơ Luật biển. Và có thể thay đổi luật chơi của nước Mỹ với Luật biển UNCLOS.

Chúng ta quen nhìn thế giới qua tấm bản đồ, trên mặt phẳng. Nhìn từ Hoa Kỳ thì địa cầu vốn hình tròn - và chính trị biết xoay.

Thứ Bảy, tháng 6 16, 2012

Mỗi Ngày Chảy Một Tỷ

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 120615

Sau Hy Lạp, Tây Ban Nha Sẽ Là Ý Đại Lợi...




Ngày 17 này, người ta sẽ biết Hy Lạp có bầu nổi một chính quyền mới để giải quyết vụ khủng hoảng tài chánh hay không trong khi mỗi ngày lại xuất huyết mất một tỷ. Mà dù có thì cũng vô ích vì khủng hoảng đã lan qua Tây Ban Nha. Ngay trong trường hợp Tây Ban Nha, và ngược với sự lạc quan của các thị trường, số tiền 100 tỷ Euro đưa ra để cấp cứu cũng chẳng có kết quả. Người ta nên chờ đợi một trận cuồng phong sẽ ập vào nền kinh tế đứng hạng thứ ba của Âu Châu, là nước Ý....

Trước hết, ngân khoản 100 tỷ Euro – tương đương với 125 tỷ Mỹ kim - thật ra không đủ cấp cứu Tây Ban Nha.

Kinh tế xứ này bị bội chi quá 10% của Tổng sản lượng, thất nghiệp đến 24%, và 50% riêng cho giới trẻ, thị trường địa ốc sẽ còn mất thêm chừng 35% trị giá sau khi bong bóng đầu cơ đã bể. Xứ này sẽ cần tiền và trả giá rất đắt để đi vay và cần nhiều hơn 100 tỷ. Ngân khoản này chỉ dùng để đắp vốn và chuộc nợ cho hệ thống ngân hàng – tư doanh – chứ chưa giải quyết một tai ách còn nặng hơn. Đó là gánh công trái của khu vực nhà nước, với ảnh hưởng chính trị sẽ ăn sâu vào xã hội vì đụng tới mức bội chi ngân sách quốc gia.

Khi phải thương thuyết việc cấp cứu, Chính quyền Madrid của Thủ tướng Mariano Rajoy đã bắt bí các nước Âu Châu.

Có nền kinh tế hạng thứ tư của khối Euro, nếu Tây Ban Nha vỡ nợ, Âu Châu sẽ thiệt mất 500 tỷ Euro, và sau đó còn mất 700 tỷ cho nước Ý, vì vậy, 100 tỷ cho Tây Ban Nha thật ra vẫn còn ít! Chính là lập trường đó của Madrid mới khiến cho xứ Ireland (Ái Nhĩ Lan) điên tiết vì họ không được những điều kiện cấp cứu hào hiệp và vô điều kiện như vậy.

Cơ chế kinh tế, tài chánh và chính trị Âu Châu, với tập chi phiếu rất dày của Cộng hoà Liên bang Đức, không thể cáng đáng nổi việc tung tiền chuộc nợ ngần ấy quốc gia, từ Hy Lạp tới Ái Nhĩ Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Người ta đã thử nghiệm ngần ấy giải pháp, và mỗi lần tốn vài trăm tỷ, mà không có kết quả: các ngân hàng bị rút tiền ký thác; các nước không phát hành nổi công khố phiếu, tức là đi vay, trên thị trường trái phiếu; Liên hiệp Âu châu, Ngân hàng Trung ương Âu châu ECB và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đã nhảy vào với mấy trăm tỷ cho xứ này xứ khác; giới đầu tư trái phiếu đã bị gọt đầu, mất vốn với khoản ngoại trái của các nước lâm nạn....

Trong khi ấy, có Ý Đại Lợi đang chờ sóng đánh vào bờ.


Là một đại gia của khối Euro, kinh tế Ý Đại Lợi không có tăng trưởng từ khi gia nhập hệ thống tiền tệ thống nhất và còn suy sụp nặng kể từ năm 2008. Trong 10 năm qua, kinh tế Ý bị suy trầm bốn lần, lần thứ tư là hiện nay, ở mức độ nặng nhất. Duy nhất có gia tăng chính là gánh nợ, và không chỉ phải vay nhiều hơn, xứ này còn trả tiền lời cao hơn và bị rơi vào "bẫy xập công trái".

Nguyên do sâu xa của sự suy bại và bị trôi vào cái bẫy nợ là vì kinh tế không có khả năng cạnh tranh.

Nếu so sánh với kinh tế Đức, sản lượng kỹ nghệ sa sút và năng suất yếu kém khiến Ý chỉ có thể phá giá đồng bạc, là chuyện bất khả khi đã gia nhập khối Euro và xài đồng bạc chung. Không có giải pháp phá giá, Ý chỉ còn ngả đi vay và nếu so với phân lời trái phiếu của Đức thì phải chịu một cái giá đắt hơn 30%. Đấy cũng là mức độ "phá giá" nếu nước Ý dùng đồng Lira của mình thay vì đồng Euro.

Thành thử, chìm sâu dưới bài toán tài chánh hay vay mượn rắc rối này là một sự thật kinh tế và xã hội: năng suất lao động, hoặc phí tổn lao động để gia tăng cùng một đơn vị sản xuất. Ý tốn nhiều tiền hơn và phải đi vay đắt hơn để bảo vệ "thành quả" của công nhân và hệ thống nghiệp đoàn. Nếu áp dụng cách phân tách này cho các nền kinh tế lâm nạn, kể cả nước Pháp, chúng ta có thể thấy ra một quy luật chung: khả năng cạnh tranh suy giảm.

Nói cách khác và nhớ đến trường hợp Hoa Kỳ, chính sách bao cấp về kinh tế và trợ cấp xã hội cũng là một tốn kém và có cái giá phải trả. Người ta chỉ nhìn thấy phần "được" mà không chấp nhận trả giá cho chánh sách đó.

Từ ba năm nay, người ta tranh luận về sự hữu ích của hệ thống Euro cho kinh tế Đức. Quả thật, kinh tế xứ này tùy thuộc vào xuất cảng đến 40% và có lợi lớn nhờ bán hàng cho các nước trong khối Euro. Vì vậy, Đức phải tìm cách cấp cứu hệ thống tiền tệ này. Nhưng, một sự thật khác mà các nước lâm nạn, hoặc đang đòi ăn vạ, lại chẳng chịu nhìn ra: dân Đức chấp nhận kỷ luật chi thu và có hy sinh để đạt năng suất cao hơn.

Chính quyền của Thủ tướng Angela Merkel đang bị cử tri ở nhà chất vấn là mình sẽ còn tốn bao nhiêu tiền nữa để cứu đồng Euro?

Cùng với Chính quyền phe tả của Pháp, nhiều nước Âu Châu thì dựa trên trào lưu tâm lý chung của cử tri mà gây sức ép để Đức chọn ưu tiên kích thích tăng trưởng chứ không chỉ đòi các nước giảm chi và chấp nhận khắc khổ. Họ đặt sai vấn đề, vẫn rơi vào chủ trương mị dân cố hữu, chứ không dám giải quyết vấn đề thật: là có làm có hưởng nhưng chỉ hưởng trong phạm vi năng suất.

Với viễn ảnh đen tối là sau Hy Lạp, Tây Ban Nha, đến lượt kinh tế Ý Đại Lợi sẽ trôi vào khủng hoảng thì người ta có hy vọng gì về một giải pháp cho Âu Châu?

Trong ba năm vừa qua, Liên hiệp Âu châu cứ lùi dần trước áp lực của thực tế. Lần cuối cùng là mùng bảy vừa qua khi chấp nhận 100 tỷ Euro, vô điều kiện, để cấp cứu hệ thống ngân hàng Tây Ban Nha. Quyết định ấy không gây phản ứng chính trị - ngoại trừ sự bất mãn của Ái Nhĩ Lan – nên tạo ra ảo tưởng ổn định mặc dù chẳng giải quyết căn nguyên của vấn đề.

Vì quyền lợi của Đức, Chính quyền Angela Merkel cần cứu vãn hệ thống Euro và thực tế thì có bị Tây Ban Nha bắt bí. Nhưng biện pháp cứu vãn với 100 tỷ Euro vẫn chưa là giải pháp vì Đức hay các cơ chế Âu châu vẫn không có thẩm quyền pháp lý để áp đặt kỷ luật cho các ngân hàng hay chính quyền lâm nạn. Thay vì giải pháp trục xuất các nước vô kỷ luật với hậu quả tai hại cho cả khối Euro và hệ thống Liên Âu, Đức đã chọn con đường dễ dãi - và tiếp tục nuôi dưỡng nguy cơ khủng hoảng. Vì vậy, sau Tây Ban Nha sẽ là nước Ý.

Hiển nhiên là lãnh đạo Âu châu có thấy ra nguy cơ đó.

Bốn nhân vật then chốt của cơ chế tập thể này, là Chủ tịch Hội đồng Âu châu, Chủ tịch Ủy ban Âu châu, Chủ tịch khối Euro và Thống đốc Ngân hàng Trung ương Âu châu đã soạn thảo một kế hoạch ổn định tài chánh. Kế hoạch đòi hỏi các nước phải chấp nhận kỷ luật chi thu, tiến tới quân bình ngân sách và muốn như vậy phải gia tăng quyền hạn chính trị - quyền kiểm soát ngân sách – cho một cơ chế siêu quốc gia, của Âu châu.

Ai cũng có thể nghĩ rằng đây là giải pháp tương đối thỏa đáng hơn cả vì sẽ giới hạn bội chi và thu hẹp khả năng đi vay của các nước vô trách nhiệm.

Nhưng vấn đề thật lại không nằm trong chuyện bội chi và đi vay. Nạn tăng chi bừa phứa và đi vay quá sức trả chỉ là hậu quả của cả chánh sách kinh tế và chính trị của các nước nằm ở ven biên, Ái Nhĩ Lan trong vùng cực Bắc và các nước miền Nam. Liên Âu chỉ có thể đẩy lui khủng hoảng và giải quyết vấn đề tận căn nguyên nếu có thẩm quyền quyết định về chánh sách kinh tế của các nước.

Nghĩa là tiến tới một chế độ liên bang chứ không dật dờ ở vào hoàn cảnh hiện nay của một "confederation", là khi các thành viên vẫn duy trì được chủ quyền quốc gia và chỉ nhượng lại cho cơ chế Âu châu một số khả năng nhất định, trong những lãnh vực nhất định.

Bài toán chính trị đó đụng vào cốt lõi của nền dân chủ Âu châu. Người dân có quyền quyết định về ngân sách quốc gia, qua các đại diện do họ bầu lên. Nếu Âu châu tiến tới cơ chế liên bang, y như Hoa Kỳ, liệu người dân Âu châu có chấp nhận cho một dàn công chức quốc tế ngồi đâu đó ở Bruxelles, Strasbourg hay Frankfurt, quyết định về thuế suất và mức trợ cấp phúc lợi của mình không?

Nếu họ không đồng ý chấp hành sau khi chính quyền của họ đã đạt thỏa thuận và cam kết tôn trọng rồi bị thất cử - chuyện dài Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi, Pháp – thì cơ chế Âu châu có quyền can thiệp hay chăng? Gửi quân đội hay công an thuế vụ đi tróc nã khách nợ hay dẹp biểu tình?

Thời lập quốc, Hoa Kỳ đã do dự giữa hai giải pháp thấp và cao, Confederation và Federation, và đã phải đổ máu trong trận Nội chiến để chọn giải pháp liên bang khi phe Confederation ở miền Nam bị đánh bại. Âu châu ngày nay không muốn và không thể thử nghiệm giải pháp đắt đỏ này.

Cho nên vẫn lanh quanh như kiến bò miệng chén. Và chờ bệnh truyền nhiễm lây lan.


Thứ Tư, tháng 6 13, 2012

Cải Tổ Lãi Suất Tại Trung Quốc

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa
Diễn đàn Kinh tế RFA - Ngày 120613

Thu tiền ký thác của dân để nuôi béo doanh nghiệp nhà nước




* RFA photo - Bảng lãi suất tiết kiệm ngân hàng SeABank tại Hà Nội hôm 11/6/2012 *


Ngày mùng bảy vừa qua, Trung Quốc đã cắt lãi suất ngân hàng để kích thích nền kinh tế có dấu hiệu trì trệ. Biện pháp đó được ban hành khi lãnh đạo kinh tế xứ này đang nói đến yêu cầu cải tổ hệ thống lãi suất của các ngân hàng để có một nền tảng tài chính lành mạnh hơn. Thật ra, việc hạ lãi suất vừa qua chỉ là phản ứng hốt hoảng chứ chưa là một bước cần thiết về cải cách như chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa trình bày trong tiết mục Diễn đàn Kinh tế kỳ này.

 

Trung Quốc  và Việt Nam là ngoại lệ


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, sau mấy tháng đầu năm có dấu hiệu lạc quan cho kinh tế toàn cầu, tình hình Tháng Năm bỗng lại có nhiều bất trắc khiến hàng loạt quốc gia cùng tung ra biện pháp kích thích kinh tế, trong đó có Trung Quốc và cả Việt Nam. Hôm Thứ Năm mùng bảy vừa qua, và là lần đầu tiên kể từ năm 2008, Trung Quốc giảm lãi suất huy động và tài trợ của các ngân hàng. Vì Bắc Kinh ban hành quyết định này khi đang nói đến yêu cầu cải tổ chế độ lãi suất ngân hàng, chúng ta cần tìm hiểu về sự yếu kém sâu xa của hệ thống ngân hàng Trung Quốc, với những liên tưởng tất yếu về trường hợp Việt Nam. Trước tiên, xin đề nghị ông trình bày cho bối cảnh của vấn đề.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Về bối cảnh, tôi xin được nhắc lại nguyên tắc vận hành của ngân hàng nói chung. Ngân hàng có chức năng ta gọi là "trung gian chuyển hóa tài chính", là huy động tiền bạc dư dôi trong kinh tế thành tiền ký thác và dùng một phần tiền đó tài trợ các sinh hoạt kinh tế dưới hình thức tín dụng. Khi huy động vốn như vậy, ngân hàng trả tiền lời cho người có tiền ký thác tính theo lãi suất ký thác. Khi cấp phát tín dụng thì ngân hàng thu tiền lời tính theo lãi suất tín dụng. Sai biệt giữa hai loại lãi suất tín dụng và ký thác là nền tảng của doanh lợi ngân hàng.

- Từ các ngân hàng mà nhìn ra ngoài thì lượng tín dụng cấp phát cho kinh tế có thể lên xuống, nhiều hay ít là qua hai yếu tố cơ bản. Thứ nhất là tỷ lệ của số tiền cho vay ra căn cứ trên số ký thác đã thu vào vì ngân hàng không thể tài trợ tất cả số tiền đã huy động được mà giữ một phần làm dự trữ để đáp ứng yêu cầu rút tiền ký thác của các trương chủ. Yếu tố thứ hai là lãi suất, vốn dĩ có chức năng điều tiết lưu lượng tiền bạc thu vào hay bơm ra. Chẳng hạn như nếu muốn bơm tiền kích thích sinh hoạt kinh tế thì người ta có thể giảm lãi suất tín dụng.

- Về kinh tế, khi cần quyết định về lượng tiền lưu hành nhiều hay ít, người ta có thể điều chỉnh mức dự trữ của ký thác, thí dụ như thu vào 100 đồng thì chỉ được cho vay ra 75 đồng thôi, và có thể khuyến khích việc gửi tiền vào ngân hàng nhờ lãi suất ký thác cao hơn, hoặc khuyến khích việc tiêu thụ và sản xuất nhờ lãi suất tín dụng thấp hơn. Những tính toán của nhà nước về điều tiết kinh tế như vậy chính là cơ sở cho các ngân hàng tính toán về kinh doanh.

Vũ Hoàng: Đó là nguyên tắc chung được áp dụng phổ biến cho các ngân hàng trên thế giới. Trường hợp của Trung Quốc thì sao mà người ta nói đến việc cải tổ chế độ lãi suất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc là một ngoại lệ quái đản mà Việt Nam lại học theo vì cùng một định hướng chính trị. Hôm 22 tháng trước, một giới chức Bắc Kinh nói tới yêu cầu cải tổ chế độ lãi suất hầu cho ngân hàng nhiều quyền hạn quyết định hơn để nâng cao hiệu năng chuyển hóa tài chính và khả năng cạnh tranh để phục vụ khách hàng. Sở dĩ có chuyện cải tổ vì các ngân hàng của xứ này bị kiểm soát chặt chẽ để làm công cụ cho chính sách kinh tế của nhà nước thôi chứ không để kiếm lời, với hậu quả là những lệch lạc và lãng phí tài nguyên.



VIETCOMBANK.-250.jpg
Chi nhánh ngân hàng Vietcombank Hà Nội hôm 11/6/2012. RFA photo   



Vũ Hoàng: Xin đề nghị ông mô tả hệ thống kiểm soát đó vì có thể giúp thính giả của chúng ta suy luận ra hoàn cảnh của các ngân hàng Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trên đại thể, các ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam không có quyền quyết định về kinh doanh với chế độ lãi suất được nhà nước kiểm soát. Hệ thống ngân hàng của hai xứ này còn nằm dưới sự khống chế của ngân hàng quốc doanh, vốn được ưu đãi nhờ quy chế riêng. Bây giờ, ta nói về lượng tiền thu vào và bơm ra nhìn từ hai giác độ ký thác và tín dụng.

Trên đại thể, các ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam không có quyền quyết định về kinh doanh với chế độ lãi suất được nhà nước kiểm soát.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Về tiết kiệm hay ký thác, sự quái tại Trung Quốc nằm trong chế độ kinh tế và xã hội xứ này. Chính sách mỗi hộ một con khiến đại đa số người trung niên ở vào tuổi năng động đều có tứ thân phụ mẫu trong nhà, là cha mẹ bên nội và bên ngoại. Một người đi làm là có bốn người cao niên ở nhà với yêu cầu về y tế, gia cư và hưu liễm rất cao mà vì xã hội chưa có đầy đủ những dịch vụ đó nên ai cũng phải tiết kiệm tiền bạc để phòng ngừa. Kết quả là Trung Quốc có mức tiết kiệm rất cao, đôi khi lên tới 50% lợi tức chứ không chỉ từ 30 đến 40% như các xã hội Á châu khác.

- Do chế độ lãi suất có kiểm soát, người có tiền tiết kiệm phải ký thác vào ngân hàng với lãi suất rất thấp, thực tế còn thấp hơn lạm phát, tức là lãi suất âm. Đó là hoàn cảnh chung của 300 triệu người sinh sống trong khu vực gọi là khá giả nhất tại miền Đông. 

- Về tín dụng tức là cho vay ra thì các ngân hàng thu nguồn tiền đó thì làm gì? Coi như khỏi trả tiền lời nhờ lãi suất ký thác quá thấp, các ngân hàng lại chủ yếu bơm tiền vào doanh nghiệp của nhà nước vì đấy là chính sách. Thành phần trung lưu khá giả và có quan hệ tốt với quan chức mà muốn kiếm lời cao hơn từ khoản tiết kiệm của họ thì có thể đem tiền vào nghiệp vụ đầu tư bất động sản và vì vậy càng thổi lên bong bóng đầu cơ.

 

Ngân hàng Nhà nước đổ tiền vào Doanh nghiệp Nhà nước

 

Vũ Hoàng: Ông vừa nhắc đến một chi tiết khiến thính giả Việt Nam rất quan tâm. Đó là các ngân hàng chủ yếu là của nhà nước lại ưu tiên trút tiền vào các doanh nghiệp cũng của nhà nước. Tức là ngân hàng và doanh nghiệp của nhà nước huy động tiết kiệm của dân chúng với lãi suất thấp để đưa vào những dự án đôi khi mà thường khi thì có giá trị kinh tế rất thấp. 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng từ một hiện tượng chung này, ta thấy ra hai chuyện. 

- Thứ nhất là sự bất công vì lấy tiền của dân với giá rất bèo mà người dân chẳng còn lối thoát nào khác. Thứ hai là sự bất lực khi doanh nghiệp nhà nước có nguồn tiền rẻ, không bị cạnh tranh nên cứ hay trút tiền vào nơi nào có lợi cho các đảng viên cán bộ mà bất kể tới giá trị kinh tế của dự án. Chế độ quái đản ấy mới giải thích vì sao mà hệ thống doanh nghiệp nhà nước có hiệu suất đầu tư rất kém nếu so với tư doanh mà vẫn tồn tại và lại còn được bảo vệ.

- Lý do chính trị ở đây là cầm đầu các doanh nghiệp hay ngân hàng của nhà nước lại là loại đảng viên cao cấp được ban Tổ chức Trung ương bố trí và cất nhắc vì các tiêu chuẩn ngoài kinh tế. Họ có thể là chủ tịch tổng giám đốc doanh nghiệp hay ngân hàng, thứ trưởng hay giám đốc cơ quan nhà nước có khi là chủ quản của doanh các nghiệp kia mà chỉ chịu trách nhiệm với đảng chứ không với quốc dân về quyết định của họ. Những vụ tai tiếng vang rền tại Trung Quốc và Việt Nam cho thấy điều ấy.

Doanh nghiệp nhà nước có nguồn tiền rẻ, không bị cạnh tranh nên cứ hay trút tiền vào nơi nào có lợi cho các đảng viên cán bộ mà bất kể tới giá trị kinh tế của dự án.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Vũ Hoàng: Chúng ta bước qua phần thứ hai là về yêu cầu cải tổ chế độ lãi suất. Thưa ông, có phải là lãnh đạo Bắc Kinh và Hà Nội thấy ra nhược điểm của chế độ kinh tế và chính trị này nên Trung Quốc nói đến cải tổ lãi suất và Việt Nam nói đến tái cấu trúc hệ thống ngân hàng? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việt Nam thì nói cho vui thôi, hãy nghe lời phát biểu của lãnh đạo đảng thì ta biết. 

- Còn Trung Quốc có yêu cầu khách quan về kinh tế là phải nâng cao sức tiêu thụ của thị trường nội địa làm lực đẩy cho sản xuất thay vì chỉ trông cậy vào đầu tư và xuất khẩu. Về kinh tế thì vậy, về chính trị thì lãnh đạo xứ này cũng thấy ra nguy cơ động loạn xã hội trước sự bất mãn của dân chúng. Việc cải tổ chế độ lãi suất ngân hàng có thể đáp ứng hai yêu cầu kinh tế và chính trị đó.

- Chiều hướng cải tổ là các ngân hàng được nhiều quyền hạn kinh doanh hơn, như nâng lãi suất ký thác hầu huy động thêm tiết kiệm và trả tiền lời nhiều hơn thì cũng nâng cao lợi tức và khả năng tiêu thụ nội địa. Khi phải trả tiền lời cho khách ký thác theo sát với thực giá của thị trường, ngân hàng sẽ thận trọng hơn trong nghiệp vụ tài trợ tín dụng để tránh rủi ro vỡ nợ. Khi có nhiều quyền hạn về cạnh tranh qua khí cụ lãi suất, ngân hàng sẽ cải tiến khả năng kinh doanh và nhất là khả năng phục vụ khách hàng. Ngân hàng nào mà được dân chúng tin cậy và gửi tiền ký thác nhiều hơn thì sẽ rộng vốn kinh doanh và kiếm lời cao hơn.

Vũ Hoàng: Nhưng thưa ông, hiển nhiên là vì có trở ngại nên Bắc Kinh vẫn chưa tiến hành được chủ trương đó. Đâu là những trở ngại cho kế hoạch cải tổ này?



VP-BANK-1-200.jpg
Bảng niêm yết lãi suất tiết kiệm tại ngân hàng VP-Bank hôm 11/6/2012. RFA photo    



Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh đang phải chuyển hướng sau 30 năm phát triển theo chiến lược cũ mà họ biết là không còn tác dụng nữa. Khi chuyển hướng trong lĩnh vực ngân hàng thì hàng loạt kết quả sau đây có thể xảy ra: khu vực xuất khẩu hết ưu tiên, doanh nghiệp nhà nước mất ưu thế, tư doanh được khuyến khích và ngân hàng sẽ chăm lo khách hàng nhiều hơn.

- Hậu quả là hết được ưu đãi bằng lãi suất quá rẻ thì nhiều doanh nghiệp nhà nước có khi phá sản, thất nghiệp nhất thời gia tăng vì tư doanh chưa kịp thu hút nguồn nhân lực bị sa thải, và nhiều ngân hàng nhà nước mất vốn vì không đòi được nợ từ các doanh nghiệp nhà nước. Nói cách khác, việc cải cách sẽ lại gây ra một số biến động xã hội mà lãnh đạo muốn tránh.

- Thứ hai, việc cải cách còn triệt tiêu đặc lợi và đặc quyền của nhiều đảng viên cao cấp nên họ càng viện dẫn nguy cơ biến động xã hội để trì hoãn hoặc phá hoại nỗ lực cải cách. Đã thế, Trung Quốc đang ở giữa giai đoạn chuyển giao quyền lực của Đại hội 18 nên ngần ấy vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị cùng tác động vào tiến trình quyết định khiến lãnh đạo thêm lúng túng. Thật ra, Việt Nam cũng gặp các vấn đề tương tự cho nên chỉ có thể cải cách ngân hàng hay doanh nghiệp khi dám cải cách về chính trị, là chuyện chưa có nên càng dễ gặp rủi ro.

Vũ Hoàng: Trong bối cảnh đó, mình mới nói đến quyết định cắt giảm lãi suất vừa qua. Đấy là một bước đầu của cả tiến trình cải cách ngân hàng hay mới chỉ là phản ứng kích thích kinh tế?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Biện pháp vừa qua của Bắc Kinh gồm có hai phần. 

- Thứ nhất là cắt 25 điểm tức là 0,25% hai loại lãi suất tín dụng và ký thác ngân hàng có hạn kỳ một năm. Thứ hai là nâng định mức ký thác lên 10 điểm, từ 100 lên 110% và hạ định mức cho vay từ 90% xuống 80%. Kết quả là của thủ thuật này là hạ lãi suất cho vay mà không nâng lãi suất ký thác có hạn kỳ lâu hơn một năm, nghĩa là chỉ bơm thêm tiền vào kinh tế chứ không khuyến khích tiết kiệm bằng lãi suất ký thác cao hơn cho các trương mục hay tài khoản tiết kiệm trên một năm.

- Chi tiết chuyên môn ở đây là Bắc Kinh có thấy ký thác ngân hàng bị sút giảm, gần tới 90 tỷ đô la trong Tháng Tư vừa qua, nên nói là nâng lãi suất ký thác thêm 25 điểm để mời khách ký thác trở về, nhưng lại chỉ trả tiền lời cao hơn cho loại ký thác ngắn hạn dưới một năm mà thôi.

- Trên cơ sở đó ta có thể kết luận rằng lãnh đạo Bắc Kinh có dấu hiệu hốt hoảng và lại áp dụng bài bản năm 2008 là bơm thêm tín dụng để kích thích kinh tế với hậu quả tương tự là sẽ lại gây ra lạm phát chứ chưa hẳn là khởi sự cải tổ chế độ lãi suất như họ đã mong muốn hay trù tính.

Vũ Hoàng: Cũng về chuyên môn, nếu so sánh với yêu cầu cải cách chế độ lãi suất thì thưa ông biện pháp ngắn hạn vừa rồi có đặc tính gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin trở lại nguyên tắc kinh doanh ngân hàng ta đã trình bày trong phần mở đầu. 

- Ngân hàng kiếm lới nhờ sai biệt giữa lãi suất tín dụng và lãi suất ký thác. Khoảng sai biệt lãi suất ấy ảnh hưởng tới 80% mức lời của ngân hàng. Cho nên nếu có tự do về lãi suất, các ngân hàng có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trong khi vẫn phải đảm bảo là dân ký thác phải có lời nhờ lãi suất cao hơn đà mất giá của đồng bạc vì nạn lạm phát. Đối chiếu với yêu cầu đó thì biện pháp tăng lãi suất ký thác ngắn hạn và giảm lãi suất tín dụng lại thực tế thu hẹp mức sai biệt lãi suất. Tức là thu hẹp khả năng sinh lời của ngân hàng, nhằm kích thích kinh tế, chứ không đáp ứng yêu cầu huy động thêm ký thác và trả tiền lời cao hơn cho người tiết kiệm.

- Lãnh đạo Bắc Kinh đã trù tính giảm đà tăng trưởng xuống mức 7,5% trong năm nay để còn chuyển hướng cải tổ cơ chế như Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đã quyết định năm ngoái và Quốc hội đã chấp hành từ Tháng Ba vừa qua. Thế rồi, họ lại hốt hoảng khi thấy kinh tế trì trệ và lật đật tung ra biện pháp lãi suất để kích thích kinh tế, với hiệu quả thật ra rất thấp như chúng ta đã thấy năm 2008 và sẽ thấy sau này, nên họ sẽ còn phải kích thích nữa. Trong khi đó, nhu cầu cải tổ cơ chế và cải cách hệ thống lãi suất vẫn bị đẩy lui trong thực tế. Việt Nam cũng đang gặp các vấn đề tương tự, với hậu quả còn khó khăn gấp bội.

Vũ Hoàng: Xin trân trọng cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa.


Thứ Ba, tháng 6 12, 2012

Giao Dịch Ngoại Hối Trực Tiếp Nhật Bản-Trung Quốc

Thanh Hà & Nguyễn Xuân Nghĩa - RFI Ngày 120612
TẠP CHÍ KINH TẾ 
Trong 15 ngoại tệ thông dụng nhất vẫn chưa có đồng Nguyên của Trung Quốc





Kể từ ngày 01/06/2012 Trung Quốc và Nhật Bản bắt đầu trực tiếp trao đổi ngoại tệ mà không cần thông qua trung gian của đồng đô la Mỹ. Đây là một biện pháp cho phép tăng cường trao đổi mậu dịch hai chiều và mở rộng vai trò của đơn vị tiền tệ Trung Quốc trên trường quốc tế.

Giao dịch và mua bán trực tiếp bằng đồng nhân dân tệ và đồng yen một mặt cho phép cả Nhật Bản lẫn Trung Quốc cùng giảm bớt mức độ lệ thuộc vào tỷ giá của đồng đô la Mỹ. Nếu vì một lý do nào đó đồng đô la bị mất giá, dự trữ ngoại tệ của nhiều nước trong vùng châu Á, mà đứng đầu là của Nhật và Trung Quốc qua đó cũng sẽ giảm theo. Hiện tại Trung Quốc và Nhật Bản là hai nguồn dự trữ ngoại tệ lớn nhất và nhì của thế giới. Ngược lại, trong trường hợp giá đồng đô la tăng cao, thì hàng xuất khẩu của Nhật và Trung Quốc sẽ tăng giá, qua đó mất sức «hấp dẫn» do đồng yen và nhân dân tệ được cột chặt vào đô la. Đó là mục tiêu đầu tiên đã thúc đẩy thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và đồng nhiệm Nhật Bản, Yoshihiko Noda, vào tháng 12/2011 thông báo việc hai nước nhanh chóng tiến tới việc mở rộng hợp tác tài chính và tiền tệ song phương.

Lợi thế thứ hai là, các bên sẽ giảm được những chi phí giao dịch trung gian qua đồng đô la của Mỹ. Thí dụ cụ thể đã được bộ trưởng tài chính Nhật nêu lên là Tokyo có thể tiết kiệm được khoảng 850 tỷ yen, tương đương với 8 tỷ đô la, một khi đồng nhân dân tệ và yen được hoán chuyển trực tiếp, các khoản bảo hiểm về cách biệt hối đoái sẽ giảm bớt đáng kể.

Ưu điểm thứ ba của việc trao đổi trực tiếp giữa hai đơn vị tiền tệ của nền kinh tế đứng thứ nhì và thứ ba trên thế giới là trong tương lai, Trung Quốc sẽ bắt buộc phải nới lỏng hệ thống hối đoái để phù hợp với luật cung cầu của thị trường. Nói cách khác, đây là một cách gián tiếp để Nhật Bản gia tăng sức ép lên hệ thống tiền tệ của Trung Quốc. Bởi vì đồng nhân dân tệ hiện bị coi là một công cụ để Trung Quốc tiếp sức cho khu vực xuất khẩu. Nhưng trong tương lai khi đồng yen của Nhật và nhân dân tệ của Trung Quốc được định giá theo quy luật cung cầu của thị trường thì tự nó, đồng tiền của Trung Quốc sẽ được tăng giá so với hiện nay.

Đây có thể sẽ là điều có lợi cho các tập đoàn lớn của Nhật và cũng là những nhà vô địch về xuất khẩu như Toyota hay Sony.

Tokyo là đối tác thương mại quan trọng thứ tư của Bắc Kinh sau Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ và Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASSEAN. Trong khi đó Trung Quốc à đối tác thương mại hàng đầu của Nhật: tổng trao đổi mậu dịch hai chiều trong năm 2011 lên tới 350 tỷ đô la, tăng gấp ba lần so với ở vào đầu những năm 2000. Trong 11 tháng đầu năm ngoái Nhật Bản xuất khẩu tới 136 tỷ đô la sang Trung Quốc và nhập vào 153 tỷ đô la. Nhập siêu của Nhật đối với bạn hàng Trung Quốc tăng lên đáng kể so với năm 2010.

Theo bộ Thương mại Nhật thì hiện có tới 60% các khoản trao đổi mậu dịch song phương được tính bằng đô la và cho tới nay, chỉ có chưa tới 1% tổng trao đổi mậu dịch hai chiều trên tổng số 350 tỷ đô la được thanh toán trực tiếp bằng đồng nhân dân tệ.

Về phần Bắc Kinh, Trung Quốc đang sử dụng chiến lược «dùng một mũi tên trúng hai đích». Ngân hàng trung ương nước này nhấn mạnh đến việc «thúc đẩy trao đổi mậu dịch, đầu tư, hợp tác tài chính và kinh tế hai chiều». Nhưng mục tiêu chính của Bắc Kinh có lẽ là để từng bước để «quốc tế hóa đồng nhân dân tệ» và qua đó làm giảm thế độc quyền của đồng đô la.

Theo nguồn tin từ Tân Hoa Xã, cho đến cuối năm 2011 mới chỉ có hơn 9% tổng kim ngạch mậu dịch của Trung Quốc được thanh toán bằng đồng nhân dân tệ. Để so sánh thì tỷ lệ này đã được tăng đáng kể so với hồi năm 2010. Bởi vì Trung Quốc đã lần lượt thỏa thuận với nhiều nước Đông Nam Á – gần đây nhất là Thái Lan để dùng đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trực tiếp.

Kể từ đầu tháng 7/2009 đơn vị tiền tệ của Trung Quốc mới chỉ bắt đầu được sử dụng để thanh toán giữa một bên là các tập đoàn ở Bắc Kinh,Thượng Hải và 4 tỉnh tại Quảng Đông và bên kia là các đối tác Hồng Kông, Macau và ASEAN. Nhưng chỉ một năm sau đó thì việc sử dụng đồng nhân dân tệ đã được mở rộng ra hơn. Đó là lý do giải thích vì sao tổng kim ngạch mậu dịch của Trung Quốc được thanh toán bằng nhân dân tệ đang từ 0,7% nhảy vọt lên thành 9% vào cuối 2011.

Tuy nhiên việc mở rộng tầm mức quốc tế của đồng tiền quốc gia cũng sẽ đặt ra nhiều thách thức đối với bản thân chính quyền Bắc Kinh. Thách thức đầu tiên là Trung Quốc sẽ mất dần khả năng kiểm soát đồng nhân tệ. Nguy cơ thứ hai là đồng tiền Trung Quốc có chiều hướng tăng giá dần theo luật chơi của thị trường.

Trả lời phỏng vấn ban Việt ngữ RFI chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa từ Hoa Kỳ trước khi phân tích về những ý đồ chính trị của cả Tokyo lẫn Bắc Kinh nhắc lại về nguyên tắc của việc chuyển đổi ngoại tệ trực tiếp giữa hai quốc gia:


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Khi buôn bán với nhau, giả dụ như Nhật bán hàng cho Trung Quốc họ lấy về đồng nhân dân tệ của Trung Quốc mà doanh nghiệp Nhật có thể dùng để mua hàng của Trung Quốc. Nhưng trong quan hệ giữa hai nước, có hai vấn đề đặt ra.

Thứ nhất, Nhật có chế độ hối đoái tự do, là để đồng Yen lên hay xuống giá so với ngoại tệ khác theo quy luật cung cầu. Trong khi ấyTrung Quốc vẫn kiểm soát hối đoái và định giá đồng bạc theo một hối suất tính bằng đô la Mỹ, như một đô la ăn 6 đồng 36 trong một biên độ giao dịch trên dưới 1% giá chính thức được Trung Quốc công bố mỗi ngày.

Vấn đề thứ hai là cả hai nước cũng như nhiều xứ Á châu khác vẫn dùng đô la Mỹ làm đơn vị thanh toán luồng giao dịch song phương của họ. Cho nên mua bán gì với nhau cũng phải đổi qua đô la, rồi trả lệ phí và chịu thêm yếu tố rủi ro ngoại hối là tỷ giá đồng bạc của mình có thể lên xuống so với tiền Mỹ. Đó là về nguyên tắc. Bây giờ, hai nước đã thoả thuận là từ nay sẽ giao hoán hay đổi chác trực tiếp hai đồng nội tệ của mình chứ không dùng đô la làm trung gian nữa.

Số là do đề nghị của Thủ tướng Nhật khi thăm viếng Bắc Kinh vào tháng 12/2011, lãnh đạo hai xứ đã lấy một quyết định được đôi bên nghiên cứu và áp dụng rất nhanh. Cụ thể thì Nhật Bản vẫn thả nổi hối suất từ đồng yen qua đồng nhân dân tệ được xê dịch theo quy luật cung cầu của luồng trao đổi giữa hai nước. Nhưng nếu Nhật bán nhiều hơn mua thì đồng yen sẽ lên giá so với đồng nhân dân tệ. Phía Trung Quốc thì ấn định tỷ giá là 8,0686 đồng nhân dân tệ ăn 100 đồng yen, để giá cả xê xích trong biên độ giao dịch là 3% so với giá định ra mỗi ngày, tức là một biên độ dù sao cũng rộng hơn tỷ giá so với Mỹ kim. Nơi giao dịch là hai thị trường Thượng Hải và Tokyo.

RFI: Thưa anh, mục tiêu của hai nước này là gì khi thiết lập chế độ giao hoán trực tiếp đó? Có phải là để tiện dụng và đỡ phí tổn khi đôi bên phải đổi qua tiền Mỹ rồi mới thanh toán cho nhau? Hay là để giảm bớt sự lệ thuộc vào đồng Mỹ kim khiến tiền Nhật và tiền Trung Quốc sẽ thành loại ngoại tệ có khả năng giao dịch phổ biến hơn trên thế giới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nhu cầu tiện dụng là số một, nhu cầu số hai là tiết kiệm một năm chừng hai ba tỷ vì trao đổi chéo qua tiền Mỹ. Nhìn về dài hạn thì phía Nhật Bản thúc đẩy việc đó vì muốn đồng Yen trở lại vị trí của một ngoại tệ quốc tế và tăng cường vai trò của thị trường Tokyo khi so với các thị trường New York, London hay Hong Kong và Singapore tại châu Á. Phần mình, nhu cầu quan trọng nhất của Trung Quốc tất nhiên là để củng cố vị thế đồng nhân dân tệ và giảm dần sự lệ thuộc vào đồng đô la Mỹ.

Chúng ta không quên rằng trong một ngày 24 tiếng, tức là không bao giờ dứt, các nước trên thế giới trao đổi với nhau một lượng ngoại tệ tương đương với gần bốn ngàn tỷ Mỹ kim. Trong số này, có đến 85% là mua hay bán Mỹ kim, rồi 39% là mua hay bán đồng Euro, hạng thứ ba, tới 19% là giao dịch của đồng Yen, v.v... với số tổng cộng là 200%. Nhưng trong 15 loại ngoại tệ thông dụng nhất thì vẫn chưa có đồng nhân dân tệ còn được gọi là Yuan, Trung Quốc. Việc hai nền kinh tế lớn nhất châu Á trực tiếp giao dịch ngoại tệ với nhau cũng là một cách nâng cao vị trí của đồng bạc và thế giá của quốc gia.

RFI: Nhưng thưa anh, hiển nhiên thì cũng để giảm ảnh hưởng của đồng đô la và nhất là trong bối cảnh đầy bất trắc của đồng Euro hiện nay. Thế phía Hoa Kỳ phản ứng ra sao về chuyện đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: -Tất nhiên là chính thức hoan hô mà kín đáo theo dõi với sự thú vị.

Thứ nhất, Hoa Kỳ không thể cản được nỗ lực của các nước Á châu từ 12 năm nay là tiến dần đến chế độ giao dịch hối đoái với nhau chứ không để bị đồng Mỹ kim chi phối nữa. Chúng ta sẽ có dịp trở lại đề tài này và cả hệ thống giao dịch ngoại tệ gọi là "currency swap" giữa Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á là ASEAN với ba cường quốc kinh tế Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật và Nam Hàn.

Tháng Năm vừa rồi, nhóm ASEAN+3 này vừa quyết định nâng gấp đôi số ngoại tệ dự phòng, tương đương với 240 tỷ đô la, mà 80% phần đóng góp của ba nước Đông Bắc Á. Nhưng nếu so với luồng giao dịch ngoại tệ cực lớn mỗi ngày là gần 4.000 tỷ đô la tiền mặt trên thế giới, với vị trí tương đối vẫn còn rất mạnh của Mỹ kim thì Hoa Kỳ chưa lo là đồng bạc sẽ bị truất phế. Và nếu so với cả ngàn tỷ Euro mà các nước Âu châu đã phải tung ra cấp cứu từ ba năm nay thì ngân khoản 240 tỷ của Á châu thật ra vẫn còn rất nhỏ. Nôm na là Á châu vẫn chưa thể tách rời và vượt qua các nước Tây phương như họ vẫn mơ ước.

Thứ hai, khi muốn thành một loại ngoại tệ phổ biến có thể dùng thanh toán nghiệp vụ giao dịch giữa các nước với nhau, Bắc Kinh bắt buộc phải nới dần chế độ kiểm soát hối đoái và tư bản, tức là cho phép trao đổi và chuyển ngân tư bản tự do hơn. Đó là lý do khiến Hoa Kỳ kín đáo theo dõi với sự thích thú. Thật ra, còn rất lâu Trung Quốc mới ra khỏi chế độ kiểm soát rất nhiêu khê hiện nay và dù có ổ định bên trong để bung ra rất mạnh thì cũng chưa thể đe dọa vị trí của Mỹ kim.

Sau cùng, việc giao dịch trực tiếp giữa Nhật Bản và Trung Quốc cũng là một sức ép phụ trội từ phía Tokyo khiến Bắc Kinh càng phải giải tỏa hệ thống kiểm soát của mình. Nói chung, nước nào cũng phải nghĩ đến quyền lợi riêng của mình và dù có tăng cường giao dịch với nhau thì họ không quên rằng bạn hàng lớn nhất vẫn là Hoa Kỳ và trong hoàn cảnh hiện nay, nỗi lo của họ chính là Mỹ kim lên giá khi các ngoại tệ kia đều gặp khó khăn và sẽ còn bị biến động rất mạnh.

RFI: Xin cảm ơn anh Nguyễn-Xuân Nghĩa đã trả lời từ California, Hoa Kỳ.


Bi Hài Kịch Mở Màn

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120611
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Chuyện khó tin từ cái nôi của nền dân chủ Tây phương - và cái giỏ nợ của Âu Châu....




Mấy ngàn năm trước, nếu thế giới đã có truyền thông báo chí thì Hy Lạp là nơi xuất phát loại tin có thể làm thay đổi bộ mặt địa cầu. Cái nôi của văn minh Tây phương chứ hèn mọn gì đâu? Mấy ngàn năm sau, tin tức Hy Lạp cũng có thể làm thay đổi kích thước của đồng Euro, sự cáo chung của một kế hoạch hoang tưởng - và ảnh hưởng đến bầu cử Hoa Kỳ.

Mà tin tức đó là gì?

***


Ngày 17 này, Hy Lạp sẽ có bầu cử Quốc hội để tìm ra một chính quyền có thể phần nào thi hành một giải pháp kinh tế hầu cứu vãn đồng Euro của 17 quốc gia trước khi mọi sự đều tanh bành quanh Địa Trung Hải. Đấy là lúc người ta mục kích một hài kịch ba màn.

Màn một, nghiệp đoàn công chức chuẩn bị tổng đình công vào hai ngày 16, 17. Ai sẽ đếm phiếu đây? Màn hai, cả hai đảng lớn ở hai phe tả hữu, PASOK và Tân Dân Chủ đều quay trong chân không và gây nhiều chuyển động không khí mà chưa "nhất trí" về một chương trình cứu nguy sau ba năm xoay trở với mấy trăm tỷ Euro được hút vào thổi ra như gió vào nhà trống.

Màn ba là một cuộc tranh luận nghị trường hôm mùng bảy giữa bảy chính đảng Hy Lạp, một cuộc tranh luận có thể làm các nền dân chủ phải độn thổ.

Ngồi bên lãnh tụ đảng Cộng sản, lãnh tụ cực hữu "Bình minh Nạm vàng" Golden Dawn xoay qua đấu khẩu. Họ tạt nước vào mặt nhau, và cuối cùng lãnh tụ nạm vàng tới tấp đánh lãnh tụ Cộng sản không với một bông hồng đỏ mà bằng nắm đấm. Quý độc giả có chán chuyện kinh tế nhức đầu thì vào đây tìm một chút thư giãn; http://www.rt.com/news/greek-politician-slaps-rival-278/

Hai ngày sau, Tây Ban Nha có tin vui giữa cơn tuyệt vọng: Liên Âu sẽ châm thêm 100 tỷ Euro, khoảng 125 tỷ Mỹ kim, để cấp vốn cho các ngân hàng đang bị nguy cơ phá sản.

Đấy là lúc tờ El Mundo lại tiết lộ một tin còn vui hơn nữa. Thủ tướng Mauricio Rajoy bấm máy gửi text cho Tổng trưởng Tài chánh của mình: Tây Ban Nha không là một xứ Phi châu lạc hậu nên hãy cứ lỳ, Liên Âu sẽ phải cứu.

Cường quốc kinh tế thứ tư của khối Euro, sau Đức, Pháp và Ý, xứ Tây Ban Nha đang gây sức ép để được cấp cứu 500 tỷ, trước khi Ý sẽ đòi 700 tỷ. Nếu không, cả khối Euro sẽ sụp đổ!

Các nước Âu Châu đang bắt bí nhau và quốc gia chủ chi là nước Đức bị đẩy vào chân tường. Kết quả bầu cử Quốc hội Pháp hôm 11, với phe tả đạt thắng lợi ở vòng đầu, khiến Chính quyền của Thủ tướng Angela Merkel tại Đức càng bị cô lập. Không thể đòi hỏi các nước thi hành chánh sách kinh tế khắc khổ, Đức sẽ tiếp tục chi, ít ra là một phần tư ngân khoản cấp cứu tài chánh cho các nước ven biên....

Một phần tư của hơn 4.000 tỷ Euro, hay 5.000 tỷ Mỹ kim, là một con số thuộc về khái niệm khoa học không gian. Chúng ta sẽ dẫn nhau lên đó.

Nhưng hài kích vui nhất là qua ngày Thứ Hai 11, khi các thị trường tài chánh Á Châu rồi Âu Châu mở cửa, người ta chào mừng thành quả trăm tỷ của Tây Ban Nha, như hồ hởi thổi lên cái bánh men. Rồi xẹp như bánh tráng.



***


Xin hãy trở về Hy Lạp.

Vì ở sát bản lề Đông-Tây của cả đại lục Âu-Á, xứ này là nước Đông phương nhất của nền văn minh Tây phương, mà cũng là một thành viên ở cực Nam của cả khối Tây Âu. Như trong một bi kịch Hy Lạp, nghịch lý ấy cũng là một định mệnh.

Hy Lạp phát minh ra quy ước dân chủ mà đại bại trong các cuộc chiến dai dẳng với sắc tộc Ba Tư và Thổ, rồi xoay trở giữa hai gọng kìm độc tài và dân chủ. Độc tài như chế độ quân phiệt cách nay ba bốn chục năm. Hay dân chủ như qua ba đời lãnh đạo của "dòng Papandreous". Chúng ta không nói về Bắc Hàn Cộng sản mà về Hy Lạp.

Thủ tướng sau cùng của xứ này, George Papandreous, là cháu nội của George Papandreous kia, người đã rất hoành tráng lập ra đảng "George Papandreous", tiền thân của đảng PASOK ngày nay (Pan Hellenic Socialist Movement). Dù thuộc cánh tả bao cấp đảng PASOK vẫn thoải mái kết giao với các lãnh tụ khét tiếng độc tài của khối Á Rập. Như Muammar Gaddafi của Libya hay Hafez al Assad của Syria, thân phụ của Tổng thống đồ tể ngày nay là Bashar al Assad....

Đấy là chuyện chính trị.

Chuyện kinh tế là chế độ bao cấp này mới gây ra khủng hoảng vì xài quá khả năng và khủng hoảng càng khiến thất nghiệp lan rộng, tác động mạnh nhất vào giới trẻ và làm nảy sinh phản ứng quá khích. Phía cực tả thì có đảng SYRIZA, bên cực hữu là đảng Golden Dawn.

Vì ở vào bản lề Đông-Tây và bên mé bờ chuyên chế, Hy Lạp có thể bắt bí Âu Châu và Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh để được chu cấp an toàn. Lại ở biên vực miền Nam, Hy Lạp có quyền trông đợi vào sức mạnh kinh tế của các nước thuộc "cốt lõi" Âu châu, từ Đức, Hoà Lan lên tới các quốc gia cần cù và kỷ luật của miền Bắc.

Trong ba chục năm liền được Âu Châu bơm tiền cứu giúp, Hy Lạp đã có thể cải cách kinh tế và chấp hành kỷ luật khả dĩ hiện đại hóa xứ sở. Nhưng tội gì?

Đảng PASOK dùng công quỹ nuôi dưỡng bộ máy chính trị của mình. Doanh gia Hy Lạp thì trôi vào chủ nghĩa tư bản thân tộc, kiếm lời nhờ quan hệ với chính trường hơn là cải tiến khả năng cạnh tranh và phát triển khu vực chế biến của một nước công nghiệp. Hiện tượng ấy mới dẫn đến tệ nạn cạo sửa thống kê để đạt tiêu chuẩn gia nhập khối Euro vào năm 2001.

Ngày nay, cả Hy Lạp lẫn Tây Ban Nha và đứng ngay phía sau là Ý Đại Lợi đều biết rằng nếu họ ra khỏi khối Euro thì Liên Âu có thể tan rã. Vì vậy, các nước Liên Âu kia sẽ phải kề vai gánh vác một của nợ chung cho đến ngày giải ảo.


***


Hãy trở lại con số. Sau một ngàn tỷ Euro được tung ra từ khi Hy Lạp thành thật khai báo là bị bội chi gấp bốn cái định mức 3% của Liên Âu, người ta cần thêm ngàn tỷ nữa và trước sau sẽ mất khoảng bốn ngàn tỷ Euro. Mà ngàn tỷ là bao nhiêu?

Nói đến một tỷ, là một ngàn triệu, người trần mắt thịt như chúng ta khó mường tượng ra con số này lớn cỡ nào. Bây giờ, người ta khơi khơi nói đến ngàn tỷ, là triệu triệu, thì mình rơi vào cõi trừu tượng. Về thời gian, muốn đếm một ngàn tỷ giây thì mình mất 32 ngàn năm, bằng cả chiều dài của nhân loại. Nhưng về không gian thì ngàn tỷ chỉ là một chữ ký trên đạo luật ngân sách. Hay số bội chi của ngân sách Hoa Kỳ trong kịch bản lạc quan nhất. Bài này xin miễn nói về chuyện Hà Nội hay gánh nợ của Vinashine, Vinalines, v.v.... vì nếu phải đếm tới triệu tỷ thì sẽ hết giờ!

Khi đọc báo, chúng ta thiếu chữ để dịch.

Million rồi Billion, từ một triệu lên một tỷ thì còn ú ớ được. Tới Trillion là ngàn tỷ thì vã mồ hôi. Với cái đà này, con cháu chúng ta sẽ tung hứng những chữ như Quadrillion, là một triệu tỷ, hay Quintillion là số 10 lũy thừa 18 nếu tính theo kiểu Mỹ, hoặc lũy thừa 36 tính theo kiểu Âu Châu.

Câu chuyện có kích thước khoa học giả tưởng này xuất phát từ một chân lý đơn giản: nếu người dân không biết đạp thắng thì lãnh đạo chính trị sễ dẫn mình lên tới cõi ảo đó bằng những quyết định công chi mà chẳng ai kiểm soát được. Và con cháu, chắt chút chít gì đó sẽ có ngày phải thanh toán, nếu như mọi sự yên bình. Mà mọi sự sẽ khó yên bình.

Hy Lạp là nước đang phơi ra sự thật phũ phàng đó. Chuyện đáng nói là hiệu ứng Âu Châu có thể khiến kinh tế Mỹ lại suy trầm. Chúng ta hiểu vì sao mà Tổng thống Barack Obama cực kỳ bức xúc vì những gì đang xảy ra ở bên kia Đại Tây dương: cử tri Mỹ nào có nhớ đến Hy Lạp khi đi bỏ phiếu?


Thứ Sáu, tháng 6 08, 2012

An Ninh Trên Thiên Đình


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 120607
 
Trung Quốc Phải Cải Cách Kinh Tế, Cải Tổ Chính Trị, Và Trước Hết, Kiện Toàn An Ninh!...




Hôm mùng năm Tháng Sáu, khi giới chức Hoa Kỳ xác nhận rằng một thủ lãnh al-Qaeda bị hạ sát vào sáng mùng bốn tại vùng Tây-Bắc của Pakistan, ta chẳng nên vội tin. Trong thế giới hư ảo đó, ta cần đoán thừa, rằng Yabu Yahya al-Libi, nhân vật số hai, có thể còn sống và lời xác nhận nhắm vào chuyện khác: đầu não al-Qaeda hoặc chính al-Libi phải lên tiếng hay ra tay phủ nhận - và để lộ thêm tông tích.

Trong thế giới hư hư thực thực của an ninh tình báo, xin tạm ghi nhớ quy luật: "thắng thì im... bại thì lặng!"

"Im" để còn khai thác thành quả, vốn dĩ là ưu tiên cao hơn trò khoe mẽ - trừ phi sắp có bầu cử (như vụ tờ New York Times vừa được ai đó cho tin về thắng lợi tình báo của Mỹ làm Nghị sĩ John McCain đòi mở cuộc điều tra trong khi tòa Bạch Ốc thì chối đây đẩy)! Và "lặng" để còn giảm thiểu tổn thất rồi nhân đó bày ra một đòn mới.

Dẫn nhập như vậy rồi thì xin ngó qua hướng khác, về Thiên đình Trung Quốc:

Cuối Tháng Năm, tờ Oriental Daily xuất bản tại Hong Kong cho biết là một nhân viên tình báo Trung Quốc đã bị tình báo Hoa Kỳ lột ngược, làm việc cho Mỹ từ nhiều năm nay và vừa mới bị bắt vào đầu năm 2012. Mùng một Tháng Sáu, thông tấn xã Reuters xác nhận chuyện ấy với vài chi tiết mới. Tờ Oriental Daily là nhật báo loại nghệ thuật giải trí, mà lại nhảy vào lãnh vực chính trị và cho biết viên bí thư của một Thứ trưởng Trung Quốc đã rơi vào mỹ nhân kế.

Tay Thứ trưởng này lại thuộc Quốc gia An toàn Bộ, hay Bộ Quốc An, cơ chế chuyên trách về an ninh, tình báo và phản gián của Trung Quốc!

Cơ quan ghê sợ này có hai Thứ trưởng. Một là về nghiệp vụ, phụ trách chín cục khác nhau về an ninh và tình báo. Người kia là về hành chánh, mà cũng điều khiển cả ngành giáo dục tư tưởng trong đó có trường ngoại ngữ và phân khoa bang giao quốc tế của Đại học Bắc Kinh. Thứ trưởng nào đã bị gài nội tuyến ngay dưới nách?

Áp dụng quy luật "thắng im bại lặng" thì ta có thể kết luận rằng trong vụ này, Mỹ thắng, Tầu thua. Mà vẫn bán tín bán nghi. Cho đến khi Bộ Ngoại giao Mỹ bỗng dưng quyết định bãi bỏ, ít ra đòi tái xét, các chiếu khán đã cấp cho mọi giáo chức Trung Quốc trong các Viện Khổng học đang hoạt động tại Hoa Kỳ!

Đâu là khói đâu là lửa thì người phàm chúng ta khó biết được....

Nhưng, nếu chịu khó theo dõi sau khi tự gột bỏ thói quen tự Hán hóa của nhiều người Việt, thì ta đều biết rằng các Viện Khổng học đang mọc như nấm ở mọi nơi thật ra là trung tâm kiều vận, địch vận và trạm tình báo hải ngoại của Bắc Kinh. Nếu nhờ nội tuyến trong Bộ Quốc An mà Hoa Kỳ biết được một phần danh tánh của điệp viên Trung Quốc trên đất Mỹ, thì quyết định về chiếu khán là một cách giải đòn, rà soát lại hoặc gây thêm hồ nghi trong hệ thống tình báo Trung Quốc.

Chuyện ấy chỉ xác nhận một sự thật là đôi bên đều biết nghệ thuật "dụng gián" đã thấy viết trong Binh pháp Tôn Tử. Chẳng có gì lạ. Lâu lâu mới thấy nổi lên vài tai nạn khi một phần sự thật được phanh phui.

Nhưng khi đọc lại tin ấy thì những cái đầu có sạn tự nhiên phải hỏi: vì sao lúc này?

Đầu năm nay là khi đã xảy ra những sự biến Vương Lập Quân, Bạc Hy Lai, Cốc Khai Lai, và trên cùng là Chu Vĩnh Khang. Họ Chu có thể đã đỡ đầu cho Bạc Hy Lai tiến vào Thường vụ Bộ Chính Trị để nhắm vào cái ghế cao nhất của cơ chế tối cao này, làm Tổng bí thư đảng, tức là tính đảo chánh lãnh tụ sắp lên là Tập Cận Bình.

Mà Chu Vĩnh Khang là trùm an ninh và cảnh sát của Trung Quốc. Là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính Trị, họ Chu làm Trưởng ban Chính Pháp Trung ương, cơ quan tối cao của Trung ương đảng có chức năng chỉ huy cả hai bộ Công An (Nội Vụ) và Quốc An.

Nhưng tin tức sau đó cho biết là Chu Vĩnh Khang được tạm êm ghế cho đến Đại hội 18 vào cuối năm nay. Vì dù sao cũng phải về hưu.

Vụ một viên thư ký riêng của một Thứ trưởng Bộ Quốc An đã sa lưới sau nhiều năm hợp tác với tình báo Hoa Kỳ lại xảy ra khi bộ máy an ninh của Trung Quốc đang có biến. Đâu là nhân, đâu là quả thì đành... xem thày bói. Chỉ nghe thầy nói rằng Chu Vĩnh Khang coi bộ cùng lúc gặp quá nhiều hung tinh đắc địa!

Khi suy ngược lên trên, vấn đề e chừng là còn rắc rối hơn vậy.

Đây không chỉ là một vụ tranh chấp nhân sự, với Hồ Cẩm Đào cùng Ôn Gia Bảo đã thỏa thuận với người sẽ lên thay họ Hồ sau Đại hội 18, là Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, để Chu Vĩnh Khang được hạ cánh an toàn hầu khỏi làm lòng người thêm phân tán. Vấn đề cũng chẳng phải là ai sẽ lên thay Chu Vĩnh Khang làm Trưởng ban Chính Pháp Trung ương. Liệu có là Lưu Diên Đông, Ủy viên Quốc vụ viện và là phụ nữ duy nhất trong Bộ Chính trị, như thiên hạ đang đồn hay chăng?

Vấn đề là bộ máy an ninh Trung Quốc đang lung lay và cần cải tổ lại từ trên thượng tầng. Người cầm đầu bộ máy đó đã chểnh mảng trong công vụ, lại có âm mưu chính trị riêng tư, để cho bộ máy bị địch xâm nhập!

Vốn dĩ đa nghi còn hơn Tào Tung – còn hơn cha Tào Tháo – lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay mới thấy lúng túng.

Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Ôn Gia Bảo thì muốn giảm đà tăng trưởng để cải cách cơ chế kinh tế cho quân bình hơn thì đang bị kẹt vì đà tăng trưởng giảm nặng hơn dự tính. Ông cũng chủ trương phải cải tổ về chính trị và còn trực tiếp báo động về nguy cơ khủng hoảng theo kiểu Cách mạng Văn hoá - mà Bạc Hy Lai manh nha tiến hành.

Vụ Bạc Hy Lai bị cách chức là cơ hội tăng cường cải tổ chính trị hầu đẩy lui áp lực của phe bảo thủ xưng danh "Tân Tả". Bên trong có những sĩ quan thuộc "Bạc phái" và "Thái tử đảng" như hai tướng Lưu Nguyên và Trương Hải Dương. Hiện là Chính ủy Tổng cục Hậu cần, Lưu Nguyên là con trai Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ, nạn nhân của Cách mạng Văn hoá thời Mao. Còn Trương Hải Dương, con trai của tướng Trương Chấn thời xưa, hiện là ngôi sao sáng của quân chủng Đệ nhị Pháo Binh, phụ trách hỏa tiễn và võ khí nguyên tử.

Vậy mà trong vụ Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang, cả hai sĩ quan cao cấp này lại được tạm xá. Cho nên việc cải cách như Ôn Gia Bảo đề nghị vẫn còn bị trở ngại.

Mười năm mới có một lần, Đại hội đảng sắp tới là lúc thay bậc đổi ngôi và còn chuyển hướng phát triển, với rất nhiều nguy cơ động loạn ở bên trong. Đúng lúc đó, bộ máy an ninh lại bị rung rinh vì cả ta lẫn địch! 

Cho nên, hãy cứ theo dõi vì sẽ còn nhiều chuyện lạ từ Thiên đình....