Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhã Ca Dải Khăn Sô cho Huế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhã Ca Dải Khăn Sô cho Huế. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, tháng 1 24, 2016

Việt Nam: Cuộc Chiến tại Cornell

Nhã Ca - Việt Báo Xuân Bính Thân 2016

Khi nước Mỹ tỉnh giấc 

image004 




















* Poster của phong trào phản chiến tại Cornell * 


Nha Ca 
* Ngày 27-10-2015, là cuộc họp mặt tại Đại học Cornell. Trưa nói chuyện tại Rockerfeller Hall: Sean Fear của chương trình “Voices on Vietnam” giới thiệu các diễn giả Olga Dror, Nhã Ca. Chiều ăn tối, xem phim, sinh hoạt tại Kahin Center: Giáo sư Keith Taylor và các bạn sinh viên thực hiện chương trình Voices on Vietnam đón khách. Từ trái, hàng đầu: Yến Vũ, Nhã Ca, Olga Dror. Tiếp theo: Giáo sư Keith Taylor, Trần Dạ Từ, Thanh Mai. Hàng thứ ba: Sean Fear, Vũ Minh Hoàng, Alex Thái Võ. *





Nhã Ca nói chuyện tại Cornell & UCI


Không phải Tổng Thống Mỹ hay vua Tầu. Chính cái gọi là “cuộc chiến tại Cornell” đã đẩy nước Mỹ tới chỗ phải bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho cộng sản thôn tính.

Nhưng, đã tới lúc lịch sử được nghiêm túc nhìn lại. Sự thật về chiến tranh Việt Nam, sau nhiều năm bị khuất lấp, đang được nói lên. Và “Giải Khăn Sô Cho Huế” là cuốn sách đầu tiên từ phía miền Nam đã đến được với người đọc anh ngữ: “Mourning Headband for Hue,” công trình nghiên cứu, dịch thuật của Giáo sư Olga Dror, xuất bản bởi Indiana University Press, được đón nhận rộng rãi.
Với sự khích lệ từ các đại học hàng đầu, Mourning Headband for Hue đã trở thành sách tham khảo cho các lớp học về lịch sử chiến tranh Việt Nam và vừa thắng giải Sách Trong Năm (2014 INDIEF Book of the Year Awards Winner) do Hiệp hội thư viện và nhà sách tại Hoa Kỳ trao tặng.

Cùng với cuốn sách, biến cố Tết Mậu Thân 1968 lại trở thành đề tài được bàn cãi tại các đại học Hoa Kỳ, tác giả Nhã Ca và dịch giả, nhà nghiên cứu lịch sử Olga Dror đã được lắng nghe.


Ngay từ mùng 7 Tết Ất Mùi, ngày 25 tháng Hai năm 2015, Giáo sư Olga Dror từ Đại học Texas A&M và Nhã Ca từ Việt Báo, California đã có dịp cùng tới nói chuyện tại Đại Học Berkeley. Đây là lần đầu tiên, hình ảnh và sự thật về cuộc tàn sát Tết Mậu Thân tại Huế được mang tới các Đại Học tại Hoa Kỳ.

Tiếp theo, ngày 27 Tháng Mười, Giáo sư Olga Dror và tác giả “Mourning Headband for Hue” được sự đón tiếp nồng hậu tại Đại Học Cornell ở Ithaca, New York. Buổi trưa, nói chuyện tại phòng họp Rockefeller. Chiều cùng ngày, là chương trình ăn tối, xem phim và sinh hoạt tại Kahin Center, tòa nhà mang tên Giáo sư George Kahin, người dẫn đạo phong trào phản chiến tại Mỹ năm xưa.


Nha Ca 0227-10-2015, họp mặt tại Đại học Cornell. Trưa, nói chuyện về “Mourning Headband for Hue” Chiều, chiếu phim Land of Sorrows dựng lại cảnh Mậu Thân tại Huế. Sau khi xem phim, Vũ Minh Hoàng của chương trình “Voices on Vietnam” giới thiệu Nhã Ca trả lời các câu hỏi.


Bài nói chuyện của Nhã Ca tại Đại Học Cornell ngày 27 tháng Mười 2015

Thưa quí vị giáo sư và các bạn sinh viên,

Chúng tôi vừa được các bạn tại Cornell đón tới đây chiều tối hôm qua. Sáng nay, lần đầu trong đời, tôi biết Ithaca.

Cảnh vật và con người. Tuyệt vời!

Kính chào Ithaca mùa thu.
Kính chào Cornell 150 năm.
Kính chào quí vị và các bạn.

Tôi đến đây với lòng ngưỡng mộ, niềm tin đặt vào sức sống của sự hiểu biết, và niềm vui được gặp gỡ chia xẻ, cùng hướng về tương lai. Nhưng phải thú thật là ngay khi được các bạn tại Cornell kêu tới, tôi không thể không nhớ, những điều từng thiêu đốt ruột gan từ 50 năm trước.

Ngày ấy, năm 1965, khi các bạn sinh viên tràn ngập Baily Hall, tôi thấy lòng mình sôi sục với Cornell. Rất đúng, phải phản đối chiến tranh.

Năm 1967, khi sinh viên tuần hành phản đối Ngũ Giác Đài, tôi nhớ mình xúc động khi theo dõi tin tức. Cùng lúc với các chiến binh Hoa Kỳ được đưa vào cuộc chiến, Việt Nam đã thành đề tài cho một cuộc chiến khác ngay trong lòng nước Mỹ: Cuộc chiến tại Cornell.

Nhưng thực tế chiến trường và sân trường khác nhau. Chiến tranh leo thang. Miền Bắc đưa quân vào miền Nam. Đêm giao thừa tết Mậu Thân 1968, - đúng lúc đã có lệnh ngưng bắn trong ngày tết truyền thống, như các phe lâm chiến từng thỏa thuận và tôn trọng nhiều năm trước- phía cộng sản mở cuộc tổng tấn công. Các bản tin chiến thắng cùng thơ nhạc tuyên truyền soạn sẵn được phát thanh từ Hà Nội.

Và thành phố Huế bị biến thành địa ngục.

Bom đạn, xương máu có loại âm thanh khác với mọi lý thuyết hay lý lẽ về nó. Là kẻ sống sót từ địa ngục Huế Tết Mậu Thân, tôi viết “Giải Khăn Sô cho Huế.” Chỉ là một bút ký chạy loạn kiểu có sao kể vậy, viết khi thấy như có tiếng kêu hay con mắt oan ức đuổi theo mình dục dã.
Trận chiến Tết 1968 đã thành khúc quanh của cuộc chiến. Những ngày ấy, khúc quanh của “Việt Nam: Cuộc chiến tại Cornell” là việc sinh viên chiếm Barton Hall và phong trào phản chiến lan rộng khắp nước Mỹ. Hai khúc quanh ấy bị lẫn lộn, ngộ nhận đưa tới nhiều quyết định và kết cuộc đau lòng.
“Chiến tranh Việt Nam đã thuộc về lịch sử,” vị Tổng Thống Hoa Kỳ 40 năm trước nói vậy. Và việc giảng dạy về cuộc chiến tại các đại học Hoa Kỳ được tiến hành dựa trên cách nhìn của phong trào phản chiến. Cách nhìn một thời ấy đã được thời gian và thực tế cho thấy là bất cập. Trong lịch sử Hoa Kỳ, Việt Nam từng được coi là cuộc chiến dài nhất, gây nhiều tranh cãi nhất. Cuộc chiến ấy có cái bóng dài hơn là chính nó. Đó là trận chiến tại Huế năm 1968. Hôm nay, 47 năm sau, cái bóng ấy trở lại Cornell. Giáo sư Olga Dror là người vừa mang nó trở lại, bằng cuốn sách “Mourning Headband for Hue”.

Chúng ta biết “Mourning Headband for Huế” không chỉ là một cuốn sách dịch. Đây là kết quả sự kiểm nghiệm nghiêm túc của một nhà nghiên cứu khi nhìn lại lịch sử. Tại Hoa Kỳ, ngay từ thời còn chiến tranh, mọi cuốn sách từ Việt Nam được phiên dịch, xuất bản cho người Mỹ đọc, đều đến từ miền Bắc Cộng sản. Tất cả sách vở miền Nam - tiếng nói của người dân miền Nam thời Nam Bắc phân tranh - bị dìm vào thinh lặng, chỉ vì chúng không vừa vặn với cái khung cố định từ nửa thế kỷ trước tại Mỹ. “Mourning Headband for Huế” và Nhã Ca là cuốn sách và người viết đầu tiên từ phía miền Nam được chọn để nghiên cứu, giới thiệu. Giáo sư Olga Dror không chỉ là dịch giả. Bà là tác giả toàn bộ công trình nghiên cứu này.

Quyết định về “Mourning Headband for Huế” tự nó cũng đã là một khởi đầu khác thường, không phải tại Hoa Kỳ mà là từ đất Nga. Chuyện là thế này: Cô Olga gốc Do Thái được sinh ra và lớn lên tại Liên Bang Xô Viết. Bà nội và bố mẹ cô từng kể nhiều chuyện phải trải qua thời chiến tranh thế giới ở Saint Peterbourg. Từng biết thế nào là Cộng sản, Olga đã rời khỏi đất Nga khi xứ này còn là một siêu cường. Chế độ Xô Viết sụp đổ năm 1991. Mười một năm sau, khi đã là người Mỹ và là nhà nghiên cứu về văn hóa lịch sử Việt Nam của Đại học Cornell, Giáo sư Olga Dror được mời dự một hội thảo tại Moscow về “Những Vấn Đề Trong Nghiên Cứu Nga-Việt.” Olga có trong tay cuốn sách nhỏ tôi viết từ địa ngục Huế Tết Mậu Thân, và chọn đề tài thuyết trình là “Giải Khăn Sô cho Huế và trận chiến Tết 1968”.

Lập tức, diễn giả được bảo là chỉ có thể nói mọi cuộc tàn sát đều là “tội ác đế quốc Mỹ”. Mọi lý lẽ khác bị dập tắt. Moscow năm 2012 không khác thời Xô Viết. Vẫn chỉ là “cái khung đóng sẵn được tự cho là đúng của cộng sản,” Olga viết. Đó là lúc cô nhớ thân phận người dân trong chiến tranh.

Và thấy hơn bao giờ, phải làm cho tiếng nói của người dân Huế được lắng nghe.”

Năm 2012 chính là lúc “Mourning Headband for Huế” được quyết định thành sách và tôi nhận thư đầu tiên từ Giáo sư Olga. Chúng tôi không hề quen biết trước. Ba năm thư từ, đã coi nhau là bạn, nhưng chưa từng gặp gỡ. Tôi không biết gì về chuyện cuốn sách cũ mình viết từng đi qua nước Nga. Mãi tới cuối tháng Hai năm nay, khi sách đã in xong, chúng tôi mới có dịp gặp nhau lần đầu ở đại học Berkeley.

Mourning Headband for Huế, theo Olga, là “cái nhìn của người dân miền Nam trong chiến tranh, không phải cách nhìn của người lính, chính trị gia hay bình luận gia. Có thể thấy đây là cuốn sách chống Mỹ, khi nó nói lên sự bất lực của một dân tộc bị những toan tính địa chính trị của các đại cường đẩy vào cảnh xâu xé. Olga viết và nhẹ nhàng nhắc lại điều cô từng nói từ ba năm trước tại thủ đô nước Nga, rằng “nó được mang đến không để dành chỗ thay thế ai, mà chỉ để cùng hiểu biết tốt hơn khi nhìn lại một quá khứ đã rơi vào thinh lặng hay chỉ mở ra với những lỗ tai thù hận.”

Là một trong những người viết văn tự do tại miền Nam từng bị các học giả cộng sản chụp cho cái mũ là “những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa”, tôi hiểu sự thôi thúc mà Giáo sư Olga cảm thấy từ nước Nga, trước “cái khung đóng sẵn” kiểu cộng sản”. Điều khó hiểu hơn, với tôi, là chuyện “cái khung đóng sẵn” ấy đã diễn ra ở ngay trên đất Mỹ.

Đúng là bản thân tôi từng chạnh lòng, khi thấy chuyện hàng ngàn dân Huế bị tàn sát hồi Tết Mậu Thân từng bị một vị học giả từ Cornell thời phản chiến phủi đi như phủi bụi. Ông ta viết, đó chỉ là sản phẩm do CIA dựng lên để “biện hộ cho chủ nghĩa đế quốc.”

Cũng không chỉ một số cá nhân chạnh lòng, mà là hàng triệu người từng thực sự đau lòng trong những dằn vặt hậu chiến của cái được gọi là “hội chứng Việt Nam”. Những cựu chiến binh Mỹ trở về từ chiến trường bị ghẻ lạnh. Mọi thành phần quân dân chính Việt Nam Cộng Hòa bị miệt thị. Đó là thời kỳ việc giảng dạy về chiến tranh Việt Nam được soạn thảo dựa theo “cái khung có sẵn” do phong trào phản chiến đề ra từ những năm sáu mươi. Tại nhiều trường học, các vị thầy dạy môn sử thường trả lời mọi nghi ngờ của học trò bằng cách chỉ vào cuốn sách xác nhận là “Sách nói!”

Nhưng lịch sử cũng như sự sống không chịu nằm yên trong cái khung đóng sẵn. Hơn 10 năm trước đây, Giáo sư Keith W. Taylor, nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Việt Nam mà chúng tôi ngưỡng mộ, đã chỉ ra là các định đề của phong trào phản chiến chỉ là mảnh vụn ý thức hệ một thời được chắp vá thiếu căn bản luận lý. Ông chính thức lên tiếng và thay đổi cách giảng dạy về chiến tranh Việt Nam. Tờ Việt Báo do chúng tôi chủ trương tại California được ông cho phép ấn hành bản dịch Việt ngữ. Xin cám ơn Giáo sư Taylor.

Các bạn sinh viên thân mến,

Cũng mùa thu Ithaca, tại đây năm ngoái, đã có ngày kỷ niệm 50 Năm Cuộc Chiến tại Cornell, 2014 – 1964.” Các cựu sinh viên thời ấy đã về lại chốn cũ, gặp nhau cùng ôn lại kỷ niệm một thời. Người quá tuổi về hưu như chúng tôi thường hướng về dĩ vãng. Nhưng, với các bạn, mùa thu Ithaca hôm nay, Cornell hôm nay, như cuộc họp mặt này, việc chiêm nghiệm quá khứ chỉ là để sửa soạn hành trang lên đường vào tương lai.

Năm 1940, hàng ngàn thường dân và quân đội Ba Lan đã bị tàn sát tại khu rừng Katyn, theo lệnh Staline. Phải mất tới 50 năm, nhà nước Xô Viết thời ông Gorbachev mới chịu nhìn nhận sự thật. Giáo sư Olga, khi giới thiệu “Mourning Headband for Hue,” đã lưu ý chuyện này và nói thêm, “Sự thật về trận chiến Huế Tết Mậu Thân, giống như nhiều biến cố lịch sử còn bị che khuất bởi đủ loại khói mù, có thể là đề tài cho “một cuốn sử tương lai.”

Cuốn sử tương lai ấy, như Giáo sư Olga vừa nói, là việc đang chờ các bạn trẻ. Chính các bạn sẽ xua tan khói mù, trả lại sự thật cho lịch sử.

Thời xưa, các triều đình lãnh chúa phương tây hay vua chúa phương đông, đều có quan chép sử. Sách sử họ viết ra để vẽ phấn thoa son đúng kiểu vua chúa muốn. Thời nay, các chủ nghĩa độc tôn, các chế độ độc tài cũng đầy loại sách sử tương tự xuất hiện bẳng nhiều kiểu cách khác. Chữ nghĩa biện giải có vẻ tối tân hơn. Lý tưởng rao giảng có vẻ hấp dẫn hơn. Kết quả là loại sử sách độc quyền, độc tôn này đã một thời lừa mị được nhiều bậc thức giả tự cho là họ có lý tưởng.

Nhưng đã tới lúc chính lịch sử lên tiếng.

Với sự bùng nổ của truyền thông từ cuối thế kỷ trước, mọi loại màn tre màn sắt đều đã thành vô hiệu. Từ đó đến nay, vận tốc đường truyền internet đã khác. Thời đại đã khác. Thế giới đã khác. Cái cell phone, cái lap top trong tay bạn đã khác, và còn tiếc tục khác.

Bầu trời Ithaca hôm nay, cuộc gặp gỡ với các bạn ở Cornell hôm nay cho tôi niềm tin vào sức sống của sự hiểu biết, niềm tin vào trang sử tương lai mà các bạn sẽ viết.

Từ đống tro tàn của cuộc chiến là miền Nam Việt Nam, nơi sách vở văn học bị thiêu hủy và nhà văn đi tù, tôi cảm kích việc Giáo sư Olga, khi chọn “Mourning Headband for Hue” để nghiên cứu, đã không quên trích dẫn thơ và giới thiệu chúng tôi trước hết như những người làm thơ. Xin tặng các bạn thứ thơ mà chúng tôi gìn giữ. Bài thơ, đoạn thơ dài, gom vào một câu chính: “Hãy tin sự khôn ngoan của nhân loại.”

Vâng. Tôi tin sự khôn ngoan của nhân loại và tin vào nước Mỹ. Tôi tin ở sức sống của sự hiểu biết, như tin vào tự do.

Kính mừng Cornell 150 năm. Cám ơn ban tổ chức “Voices on Vietnam”.

Kính chào quí vị./.


1 UCI_Nha20-11-2015, nói chuyện tại UC Irvine. Hình: Nhã Ca trả lời câu hỏi của sinh viên. Giáo sư Trí Trần điều hợp buổi trò truyện.

Nhã Ca nói chuyện tại UC Irvine
Sau UC Bekeley và Cornell, ngày 20-11-2015, Nhã Ca đã có buổi nói chuyện với sinh viên tại UCI, đúng thời điểm đánh dấu 15 năm UCI có chương trình học về văn hóa Việt Nam.

“Nghe các bạn sinh viên tại UCI vừa cùng nhau đọc “Truyện Cho Những Tình Nhân”, một truyện ngắn Nhã Ca viết từ… 47 năm trước và mong gặp tác giả, tôi rất cảm kích. Do đó mà có mặt tại đây.” Nhã Ca nói. 

Với đề tài là một truyện tình thơ mộng mà tan nát trong hoàn cảnh địa ngục của Huế Tết Mậu Thân 1968, Nhã Ca đã trả lời mọi câu hỏi của các em sinh viên. Lời cuối của buổi trò truyện, Nhã Ca nói “Khi viết loạt truyện này, dù trong cảnh đau thương, tang tóc, tôi vẫn luôn tin vào lòng yêu thương, sự ăn ở tử tế, và tin vào tương lai của Huế. Hôm nay, trong khi chúng ta trò truyện tại đây, Huế vẫn còn bị trấn áp bởi bạo lực, dối trá. 

Với Huế, với Việt Nam, từ Tết Mậu Thân 1968 tới Tết Bính Thân 2016 sắp tới, là tròn bốn con giáp. Đúng 48 năm. Mong các em cầu nguyện cho Huế và những tình nhân như Phan, như Diễm tại Huế hôm nay và ngày mai được an bình, tự do.

DSC03460Tiếp theo, chụp hình với sinh viên trong lớp học về văn hóa Việt Nam.

Thứ Bảy, tháng 2 28, 2015

Tiếng Kêu Tết Mậu Thân Huế 1968



Nhã Ca - Đại học UC Berkeley Ngày 150225


Những người Huế từng bị tàn sát Tết Mậu Thân xứng đáng được tưởng niệm.















* Từ trái, Giáo sư Olgar Dror của phân khoa Lịch Sử tại Đại học Texas A&M University, đồng thời là dịch giả sách “Mourning Headband for Huế” đang thuyết trình về trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, với hình ảnh những hầm chôn người tại Huế xuất hiện trên màn hình. Trên bàn thuyết trình là Giáo sư Peter Zinoman của Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á thuộc Đại học U.C. Berkeley và nhà văn Nhã Ca, tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế tại Huế”. *
 


Kính chào quí vị,

Hôm nay, với người Việt chúng tôi, vẫn còn là ngày Tết. Mùng Bảy Tết. Xin chúc tết theo truyền thống Việt Nam: “Kính chúc tất cả quí vị một năm mới Ất Mùi an lành.”

Và xin cám ơn UC Berkely. Cám ơnm Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á; Cám ơn Giáo sư Peter Zinoman và quí vị trong ban tổ chức.

Giáo sư Olga Dror, nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn hoá lịch sử Việt Nam, đã trình bầy đầy đủ về biến cố Tết Mậu Thân và "Giải Khăn Sô cho Huế." Cám ơn Olga.

Thưa quí vị và các bạn,

Là người viết văn thường viết khi một mình, tôi chỉ quen viết, không quen nói. Sẽ không bao giờ có thể là diễn giả. Bài nói chuyện này được viết trước. Tôi viết tiếng Việt và nói bằng "văn viết".


Tiếng Kêu Tết Mậu Thân

Hình như mỗi người đều có cuốn lịch riêng của mình, trong nhà hoặc trong đầu. Tôi biết mỗi tờ lịch có câu chuyện của nó, cả chuyện hôm qua, hôm nay, lẫn ngày mai. Câu chuyện của từng tờ lịch trong cuốn lịch chung được gọi là lịch sử.

Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến dài nhất của lịch sử Hoa Kỳ trong thế kỷ 20. Cuộc chiến ấy có cái bóng dài hơn là chính nó. Đó là cái bóng của trận tổng tấn công Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968, do phía cộng sản thực hiện. Với những hầm chôn người và hàng ngàn thường dân Huế bị tàn sát, cái bóng oan khiên ấy ngày càng được nối dài. Dài hơn một trận đánh. Dài hơn cả cuộc chiến. Chưa biết đến bao giờ mới ngừng.

Là người sống sót từ trận chiến Tết Mậu Thân, tôi viết "Giải Khăn Sô cho Huế". Đây không phải tiểu thuyết hư cấu. Cũng chẳng phải văn chương thơ phú. Chỉ là chuyện thật, chuyện chạy bom chạy đạn. Chuyện mình, chuyện người. Mắt thấy tai nghe. Có sao viết vậy. Chỉ là những mảnh vỡ của một thành phố tan tác trong cảnh hỗn mang giữa máu lửa, chết chóc. Giáo sư Olga Dror gọi chúng là những "hình ảnh tức thì" của cuộc sống bị hủy hoại và vỡ nát. Bà "nghe" thấy tiếng nói từ loại hình ảnh này.

Là một trí thức Do Thái được sinh ra và lớn lên tại Nga từ thời Sô Viết, bà Olga đã rời khỏi đất nước này khi Liên Bang Xô Viết còn là một siêu cường. Hơn 10 năm sau khi chế độ Xô Viết đã sụp đổ, Giáo sư Olga Dror có dịp trở lại nước Nga. Năm 2012, trong một cuộc hội thảo về kinh nghiệm quan hệ giữa nước Nga và Việt Nam tổ chức tại Moscow, Olga thuyết trình về đề tài "Trận chiến Tết Mậu Thân tại Việt Nam và cuốn sách Giải Khăn Sô cho Huế." Nhưng nước Nga hậu Xô Viết vẫn không hề khác 25 năm trước. Thái độ của cuộc hội thảo với đề tài này là chỉ có thể đề cập tới "tội lỗi của phía Mỹ" trong trận chiến. Mọi lý lẽ khác bị dập tắt.

Olga kể là sau đó, ngay chính trên đất Nga chứ không phải đâu khác, bà thấy mình quyết tâm hơn bao giờ hết, trong việc phải bảo vệ thứ tiếng nói từng bị vùi dập trong chiến tranh. Olga còn cho biết nguồn sức mạnh khích lệ bà trong quyết tâm này là những chuyện mà ông bà nội của bà đã phải chịu đựng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến tại thành phố St. Petersburg.

Năm 2012 là lúc người dịch và người viết "Giải Khăn Sô cho Huế" bắt đầu liên lạc làm việc với nhau. Nhưng khi sự việc trên đây xẩy ra, tôi không hề biết gì. Khi đó chúng tôi chưa quen nhau. Tôi không biết cuốn sách "Giải Khăn Sô cho Huế" đã cùng đi với Olga tới nước Nga ra sao. Chỉ biết Olga Dror là vị học giả uyên bác, người viết về Bà Chúa Liễu Hạnh của Việt Nam, một công trình nghiên cứu mà chúng tôi khâm phục. Ba năm liên lạc thư từ cùng làm việc, đã coi nhau là bạn, nhưng chỉ khi công việc đã xong, cầm cuốn sách anh ngữ trên tay, đọc bài của Olga, tôi mới biết chuyện này.

Điều mà Giáo sư Olga tìm thấy trong cuốn sách Giải Khăn Sô cho Huế, là "tiếng nói của người dân trong chiến tranh." Bà nói cuốn sách là cái nhìn cuộc chiến không qua cặp mắt của người lính hay chính trị gia, bình luận gia, mà qua cặp mắt của người dân không phe phái. Nó mô tả kinh nghiệm của những người dân bình thường.

Sau khi liệt kê đầy đủ và đối chiếu với các loại quan điểm khác nhau về trận chiến đã được nói lên từ nhiều phía, nhiều nơi, nhiều nước, Olga nhấn mạnh "Mourning Headband for Huế" là quan điểm, là tiếng nói đích thực của người dân miền Nam Việt Nam. Với nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam, tiếng nói này hoàn toàn bị cấm kỵ. Tác giả từng bị bắt bỏ tù, cuốn sách từng bị đóng đinh và cho tới nay vẫn tiếp tục cấm đoán. Ngay tại Hoa Kỳ, tiếng nói của người dân miền Nam cũng chưa từng được lắng nghe. Sách viết về chiến tranh Việt Nam hầu hết đều phát xuất từ miền Bắc Cộng Sản.

Olga cũng nói đọc Nhã Ca trong Giải Khăn Sô cho Huế, có khi người ta nghe tiếng la thất thanh, tiếng kêu gào tới mức không còn ra tiếng nữa. Tôi biết đó là tiếng kêu từ Huế Tết Mậu Thân. Tiếng kêu của người dân miền Nam trong cuộc chiến.

Hôm nay, lần đầu tiên. tiếng kêu ấy được mang đến U.C. Bekerley.

Nhờ buổi họp mặt này, hai chị em chúng tôi được gặp nhau lần đầu. Cuốn sách chúng ta có hôm nay không chỉ là bản dịch. Phần chính của sách là công trình nghiên cứu nghiêm túc của Giáo sư Olga về tiếng nói của người dân trong trận tấn công 1968. Giải Khăn Sô cho Huế và Nhã Ca, với hàng trăm chú giải chi tiết kèm theo bản Anh ngữ do Olga thực hiện, chỉ còn là đề tài của công trình nghiên cứu.

Tha lỗi cho tôi, Olga.

Tôi đã đẩy sang vai bạn phần lớn gánh nặng.

Bạn đã lãnh dùm việc nhìn lại toàn bộ trận chiến Tết Mậu Thân tại Huế. Bạn cũng đã giới thiệu quá đầy đủ về cuốn sách, tác giả và tác phẩm. Phần tôi, chỉ xin góp thêm chuyện bên lề, lan man không thứ tự. Bắt đầu bằng...

 
Ký ức một thời về chiến tranh, khủng bố

 
Tôi ra đời cùng lúc với cuộc Đại Chiến Thế Giới lần thứ hai. Huế thời đó còn là kinh đô của các ông vua triều Nguyễn, nhưng cả nước đã trở thành thuộc địa của Pháp.

Năm 1937, quân Nhật tiến chiếm nước Trung Hoa rồi tràn vào Việt Nam kéo theo bom đạn của thế chiến.

Từ thủa còn bé thơ, hai ba tuổi, tôi đã biết nếm mùi chiến tranh, bom đạn, nhà cửa bị đốt cháy, cả nhà phải chạy loạn, đi tản cư trên những chiếc ghe, người lớn chèo trối chết, thuận hoặc ngược dòng sông để lánh nạn.

Năm 5, 6 tuổi, có lần theo lũ trẻ chơi đùa trên sân đình làng quê, thấy một bãi máu nhuộm đỏ từ gốc cây sung, bọn trẻ chạy theo, lên thềm đình. Xác một người đàn ông bị cưa ra làm 3 khúc. Đầu treo trên cây, thân nằm giữa sân và tay chân sắp trên thềm đình. Người bị giết là một thợ rèn, hiền lành. Việt Minh giết.

Năm tôi 9 tuổi. Tại Huế, Việt Minh cướp chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị, con đường Nam Giao của Huế, nơi có nhiều vườn chùa êm ả bỗng dấy lên nhiều cảnh kinh hoàng. Lúc đó, tôi học ở một trường tiểu học tên là trường Nam Giao. Sáng sớm, mấy bạn trong xóm rủ nhau đi học, bọn con nít chúng tôi thường kinh hoàng la hét, khi thấy một cái đầu bị cắt đứt lìa từ cổ để trong một cái rổ tre với một miểng giấy ghi của Việt Minh lên án Việt gian. Có khi đầu lâu hay thân người, hay cánh tay, đùi chân đặt trên cái rá, cái thúng. Có người tứ chi bị cắt rời, thân bỏ vào bao bố, đầu để ra ngoài, hai con mắt mở trừng trừng, miệng còn dính máu đông, rất hãi hùng.

Nhưng rồi... có một lần, bạn tôi không la, không hét, không xô đẩy. Mà cũng như thấy xung quanh không hề có ai. Cũng không nhấc tay, dợm chân. Bạn đứng sững. Tuy còn là một đứa nhỏ, nhưng tôi biết "đứng như trời trồng" là lúc bạn đứng đó. Hai cái đầu được bày trên hai cái nón lá chính là ba và mẹ của bạn. Bạn ra sao lúc đó? Bạn cứ đứng vậy. Hai mắt bạn cũng trắng dã, trợn trừng như bốn con mắt không thể nhắm của ba mẹ bạn.

Tôi cũng đứng như vậy. Không nhấc nổi tay chân. Không mở miệng. Sau đó, người ta xua đuổi bọn con nít đi. Tôi lạc mất bạn.

Và rồi, Tết Mậu Thân 1968, chuyện tàn sát tập thể bằng cách chôn sống đã diễn ra tại Huế. Hàng ngàn dân Huế bị chôn ở Thành Nội, ở Gia Hội, ở Bãi Dâu, ở Phú Thứ, ở khe Đá Mài... Không chỉ trong núi trong rừng, nơi họ bị chôn còn là đất chùa, đất nhà thờ, đất trường học, và ngay tại vườn nhà.

Trong số những người bị chôn có chị Tâm Tuý, cô bạn trường Đồng Khánh của tôi. Khi xác được đào lên, thấy tóc mọc dài hơn, móng tay mọc dài hơn. Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống, như nhiều nạn nhân khác.

Trong cuộc hưu chiến đêm giao thừa mùng một tháng Giêng Tết Mậu Thân, nhằm ngày 29 tháng Giêng 1968, các đơn vị cộng quân - gồm cả quân chính qui Bắc Việt và dân quân địa phương - lặng lẽ tiến vào Huế, kiểm soát được khu Gia Hội trong 20 ngày. Chỉ trong thời gian ngắn ngủi này, có tới 473 người Huế bị chôn sống.

Tiếng kêu Tết Mậu Thân từ "Giải Khăn Sô cho Huế" mới chỉ là những ghi nhận đầu tiên. Còn hàng ngàn tiếng kêu khác bao năm qua vẫn liên tục cất lên, ngay trên đất Hoa Kỳ. Xin kể một trường hợp mà chính tôi biết rõ: Ông Võ Trang, 56 tuổi, cư dân San Diego, một kỹ sư điện đang làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ tại đây, hồi tưởng việc bố của ông được mời đi "họp" chỉ 2 ngày trước khi quân đội quốc gia tái chiếm thành phố Huế. Ngày ấy, ông còn là một thiếu niên 15 tuổi. Sau đây là đoạn trích do ông Võ Trang viết:

"Trong khi tôi đang ngồi cạo chiếc ghế xích đu cũ để sơn lại thì bỗng có người vỗ vai tôi và hỏi nhẹ "Em ơi! Có ba ở nhà không?" Tôi bàng hoàng quay lại. Hai người, một dân quân áo bà ba quần cụt, một chính quy với dép râu và quân phục, nón cối màu vàng. Tôi hỏi lại họ muốn kiếm ai thì họ nói tên ba tôi rõ ràng. Chị giúp việc mà gia đình tôi vừa thuê vài tháng trước đã mở cửa sau cho họ. Tôi vào kêu ba tôi trong hầm giã chiến. Hết đường chạy rồi! Phòng chỉ có một cửa ra vào thì họ đã đứng chận. Ba tôi mặt tái xanh và không nói gì nữa. Trong hầm còn có một người em trai của me tôi, là một cảnh sát viên, đã khuyên ba tôi nên đi ra để họ khỏi xông vào bắt thêm những người họ không dự định. Me tôi đưa thêm chiếc áo len cho cho ba tôi mặc vào. Người anh thứ hai của tôi chạy theo xin đi thế nhưng họ không cho. Hôm đó là ngày 19 âm lịch tháng Giêng năm Mậu-Thân...

"Khoảng hơn một tuần sau, các hầm chôn người tập thể nằm phía sân sau của trường Tiểu Học Gia Hội được phát hiện. Xác người khi được khai quật, tuy chưa bị rữa nhưng đã sưng phồng lên và bốc mùi.

"Cái thây người được kéo lên để nằm ngửa người trên một u đất, miệng há hốc, mặt đen xám và dính đầy đất, hình ảnh mà cả cuộc đời tôi không bao giờ quên. Đó là ba của tôi. Những chứng cớ không thể chối cãi. Chiếc áo có vẽ 4 cái đầu của ban nhạc "The Beatles" bên ngực trái, là chiếc áo độc nhất vô nhị của anh tôi mà ba tôi rất thích. Hai chiếc tất (vớ) thêu lủng lỗ mà anh em chúng tôi đều biết được chia đều vào 2 túi quần. Rõ ràng là dấu hiệu ba tôi để lại cho gia đình nhận diện. Tôi không biết ba tôi đã vật vã như thế nào vào giờ phút đó nhưng me tôi và các anh em tôi thì vẫn đau đớn cho đến bây giờ...".

Võ Trang cho biết trong số người bị chôn có cả cô gái 19 tuổi ở cách nhà ông 2 căn. Người anh là một cảnh sát viên vắng mặt nhưng có tên trong danh sách được mời, cô em thay thế anh "đi họp"!

Và kể thêm: "Thảm sát tập thể như thế này cũng đã xảy ra ở Sịa, vùng quê gần Huế, vào năm 1947. trước khi rút lui vì nghe tin quân Pháp sắp trở lại, cộng sản kêu gọi dân chúng đi đào hầm chống Pháp. Những hầm này thật ra chính là những hầm chôn tập thể chỉ trong vài ngày sau đó. Theo lời chú tôi kể lại họ đi bắt người cả ban ngày và ban đêm. Ông Cố Nội của tôi, đã 70 tuổi cũng đã bị bắt đi vào ngày 17 tháng 2 nhằm ngày 20 Tết Âm Lịch. Lúc đầu người ta phát giác xác anh TH., một nhân vật có võ được biết trong làng, chết bên vệ đường với nhiều vết chém, đứt cả bàn tay. Rồi lần theo vết máu người ta tìm đến những hầm chôn người tập thể trong đó có cả Ông Cố Nội của tôi và em của Ông. Những vết cắt cho thấy họ bị chặt đầu bằng mã tấu! (1).

Và Đêm Huế 1970. 

Hai năm sau trận chiến Mậu Thân, họp mặt ra mắt sách "Giải Khăn Sô cho Huế" lần đầu tại Sàigòn, với sự hiện diện của Hoà thượng Thích Trí Thủ, vị đại sư huynh của các nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam. Sau đó toàn bộ số thu từ cuốn sách được mang về trao tặng trường trung học Đồng Khánh và Đại học Y Khoa Huế. Chuyến đi Huế lần này có sự tham dự của Linh mục Cao văn Luận, viện trưởng sáng lập Đại học Huế, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, các nhạc sĩ Phạm Duy, Cung Tiến.

Tại Huế vào thời điểm này, dân chúng ngày ngày đang lùng kiếm đào bới các hầm chôn người do cộng quân để lại, thành phố đổ nát đầy tang tóc. Đêm Huế 1970 cho tôi những hình ảnh nhớ đời.

Một buổi chiều, với chiếc xe Volkswagen, chúng tôi sang Thành Nội. Đây là chiếc xe của ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick để lại trong chung cư y khoa sau khi bị cộng quân bắt đi. Ông bà cùng hai vị bác sĩ người Đức khác là Raimund Discher và Bác Sĩ Altekoester là bốn bác sĩ người Đức sang giúp trường Y khoa Huế từ 1960. Cả bốn vị đều đã bị cộng quân bắt đi xử bắn.

Tại Thành Nội, chúng tôi có buổi ăn tối với các bạn ở trường Âm Nhạc Huế. Đây là nơi trú đóng của cộng quân trong cuộc giao chiến. Trong khu vườn nhà trường, có con mương dẫn nước chạy qua. Lúc đứng ở sân, người vợ của anh bạn giám đốc trường nhạc chỉ tay vào cái mương, nói là sau khi Việt Cộng đã rút chạy, anh chị trở lại đây, thấy xác binh sĩ Việt Cộng nằm chết xếp lớp dày đặc trong con mương.

Người chết không còn oán thù, có một mâm cơm, một bát nhang bày ở đó.

Trên đường lái xe về, trong đêm Huế thê lương đâu đâu cũng thấy bầy bàn thờ nhang khói, chúng tôi có ngừng lại thăm một ngôi nhà có người cha người anh đã bị cộng sản chôn sống tại Gia Hội. Con em trong nhà mang áo xô gai, thay nhau cầm bó đuốc chạy quanh gốc cây trước nhà. Theo niềm tin của dân gian, những hồn chết oan không biết đường về nhà. Phải đốt đuốc hướng dẫn cho linh hồn lưu lạc biết đường mà trở về.

Có biết bao hồn oan trong trận chiến Huế Mậu Thân đang chờ ánh đuốc, cả hồn oan của những chiến binh miền Bắc bỏ xác trong mương nước thành nội.

Năm Ất Dậu, 1885, Pháp đã đưa quân vào Huế uy hiếp triều đình. Đêm 23 tháng 5 âm lịch, 30,000 quân Nam tấn công căn cứ Pháp tại Mang Cá nhưng bị đánh bại. Kinh thành thất thủ, đại thần Tôn Thất Thuyết phải mang Vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị mở phòng trào Cần Vương. Trong trận chiến này, hơn 1500 quân dân Huế bị tàn sát. Ngay từ năm Mậu Tuất tiếp theo, Huế lập Đàn Tưởng Niệm, xây thêm miếu Âm Hồn trong Thành Nội, hàng năm, đúng ngày giỗ, cả thành phố đều đốt nhang, làm lễ. Thực dân Pháp không cấm việc dân Huế tưởng niệm người chết. Cộng sản thì khác.

Huế Mậu Thân, số nạn nhân bị tàn sát nhiều gấp 5 lần, nhưng từ sau 1975, mọi đài tưởng niệm đều bị phá bỏ, dân chúng thì bị công an đến từng nhà truyền lệnh cấm tụ tập làm giỗ.
 
Hình ảnh bập bùng của những ngọn đuốc đêm Huế ấy bao năm vẫn chập chờn trong đầu tôi.

 Từ trái: Giáo sư Peter Zinoman giới thiệu tác giả Nhã Ca và dịch giả Olga Dror


Thưa quí vị,

Năm Ất Mùi 2015, bốn mươi năm sau chiến tranh Việt Nam cũng là dịp kỷ niệm 20 năm bang giao Việt Mỹ.

Lịch sử có ghi là hai năm trước khi Nội chiến Nam Bắc Mỹ kết thúc, tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln đã chỉ định "một ngày tủi nhục quốc gia" cho nước Mỹ. Trong ngày này ông đã kêu gọi cả nước nhận chung "tội lỗi của chúng ta" và cùng nhau xưng tội, cầu nguyện sự tha thứ.

"Ngày tủi nhục quốc gia" được công bố tại Mỹ là ngày 30 tháng 3 năm 1863. Đã hơn 150 năm. Nội chiến Hoa Kỳ chấm dứt vào vào tháng Tư năm 1865. Liên Bang nước Mỹ, với sự tôn trọng dành cho phía miền Nam - lá cờ miền Nam vẫn được treo, binh sĩ miền Nam vẫn giữ súng cá nhân, liệt sĩ Nam Bắc chung nghĩa trang, cả nước không có một cuộc diễn binh hay lễ hội mừng chiến thắng. Từ đó mà có được nước Mỹ ngày nay.

Sau Tết Ất Mùi, sang năm sẽ là Tết Bính Thân. Sắp thêm một năm Thân.

Chiến tranh Việt Nam, anh em một nhà bị đẩy tới chỗ giết nhau, thù hận nhau. Tháng Tư 1975 của Việt Nam - sau tháng Tư của nước Mỹ 110 năm - thêm cả triệu người miền Nam bị thủ tiêu, tù đày, chìm dưới đáy biển. Vậy mà cho tới nay, tại Việt Nam cũng như tại nhiều nơi, trong nhiều cái đầu, vẫn chưa thấy nghĩ lại.

Trong bài "Tựa Nhỏ: Viết Để Chịu Tội" mở đầu sách Giải Khăn Sô Cho Huế, tôi có viết rằng chính thế hệ chúng ta, thế hệ của tôi phải chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát Tết Mậu Thân cũng như cả cuộc nội chiến. Tầm nhìn thế hệ không phải phân biệt tả hữu, nam bắc. Sau đó là lời mời gọi cùng đứng trước bàn thờ ngày giỗ.

Khi viết lời tựa nhỏ cho bản in lần đầu "Giải Khăn Sô Cho Huế" vào năm 1969, tôi viết với niềm tin vào tương lai của Huế, tương lai Việt Nam.

Vào năm 2008, khi viết thêm ít dòng cho bản Việt ngữ của cuốn sách được tái bản ở Mỹ, tôi viết "Sẽ tới lúc phải có một bàn thờ chung, ngày giỗ chung tại quê hương, nơi từng biết thế nào là sự ăn ở tử tế, như từng biết thế nào là văn hóa, lịch sử."

Và hôm nay, tại đây, vẫn với nguyên vẹn niềm tin xưa, tôi tiếp tục chờ đợi.

Những người Huế từng bị tàn sát Tết Mậu Thân xứng đáng được tưởng niệm.

Các thế hệ tương lai tại Việt Nam xứng đáng được nghe, được nghĩ, được nói điều chân thật, được hưởng một đất nước lành lặn, sạch sẽ. Ngày ấy sẽ tới.

Kính chào và cám ơn quí vị.

Nhã Ca

(1) Bài “Xuân Này Nhớ Xuân Xưa” của tác giả Võ Trang, sách “Viết Về Nước Mỹ” 2009.

Bottom of Form

Bài trích từ Việt Báo số ra ngày 150228:

http://vietbao.com/a234271/47-nam-sau-vu-tan-sat-tet-mau-than-giai-khan-so-cho-hue-toi-uc-berkeley