Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế sử của Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế sử của Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, tháng 4 16, 2016

Trung Quốc Kinh Tế Sử



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 160416


Hổ Mọc Cánh…  Bay Vào Cõi Bốn Không


 * Chết mẹ! Coi vậy mà không phải vậy sao? *


Hôm 13 Tháng Tư vừa qua, các thị trường tài chánh từ Á sang Âu đều hồ hởi, trong hai ngày liền đã lên giá hơn 3% tại Đức và 6% tại Nhật, nhờ một con số do Cục Thống kê Quốc gia của Bắc Kinh công bố: quy ra toàn năm, xuất cảng của Trung Quốc đã tăng 11,5%. Sau chín tháng sa sút liên tục, mức gia tăng ấy được thông tấn xã Reuters đánh giá là “blistering”.

Cực kỳ ngoạn mục về tầm nhìn cụt ngủn:

Như mọi chuyện về Trung Quốc ngày xưa hay Trung Cộng ngày nay, thiên hạ cứ ngó vào một tấm hình mà tưởng là xem cuốn phim! Trước khi nói về cuốn phim (loại trường thiên, vì vậy mới có hai bài liền vào tuần trước trên cột báo này), xin coi lại tấm hình về tình hình xuất cảng trong có một tháng, nhất là một tháng sau Tết Con Khỉ, khi bá tánh được nghỉ ngơi hơi dài để san sẻ việc làm cho người khác!


Một Tấm Hình Hơn Nghìn Chữ?


Cùng kỳ này năm ngoái, ta biết số xuất cảng Tháng Ba 2015 của Trung Cộng quy ra toàn năm đã giảm 15% so với Tháng Ba  2014, vì vậy nếu Tháng Ba 2016 mà có tăng được 11,5% thì đâu đó vận hụt đầu đuôi! Cứ cho con số ấy là đúng – chuyện đáng ngờ về thống kê Bắc Kinh – ta có thể hỏi vì sao xuất cảng lại tăng? Vì hạ giá và bán rẻ? Và bán không lời mà còn lỗ?

Số liệu ấy chẳng cho biết gì về mức lời lỗ nhưng nếu nhìn sâu hơn một con số, ta nhớ là Trung Cộng đang ráo riết bán tháo thép ế, năm ngoái xuất cảng thép chỉ sau Nhật Bản, làm các nước Âu Châu kêu trời và cho là họ bán rẻ từ 20 đến 50% thực giá. Xuất cảng tăng nhờ phá giá thì càng bán càng lỗ và mức gia tăng ấy cho thấy tình hình trầm trọng hơn thiên hạ nghĩ! Mà sở dĩ ta chẳng biết gì về mức lời lỗ vì Bắc Kinh không muốn thị trường nhìn ra cái hố đen của mình.

Cũng từ thống kê của Bắc Kinh, bản tin Reuters xoáy vào một chi tiết tích cực khác – chữ tích cực này thì phải “trừ bì”, là đếm lại – rằng số nhập cảng có giảm mà chỉ giảm có 7,6% thôi so với những dự đoán trước đó. Diễn nôm là tình hình chưa đến nỗi nào. Đấy là chuyện “may quá, ly nước đã đầy được một nửa”, hoặc “may quá, ly nước mới chỉ vơi có một nửa!”

Trong cõi mờ ảo của quản lý kinh tế với màu sắc Trung Cộng, người ta biết xứ này bị nạn sản xuất thừa đến nổi phải thải người như Bắc Kinh thông báo từ cuối năm ngoái – mà thải đi đâu và làm gì để khỏi biểu tình thì chưa ai rõ.

Hiện nay, kinh tế Trung Cộng còn nhiều thương phẩm chất đống như đồng và quặng sắt, nên lẽ ra lượng nhập cảng phải giảm mạnh hơn. Nếu họ tiếp tục nhập vào những kim loại ấy thì phải chăng là để kích thích khu vực xây cất? Nghĩa là vẫn cất lên nhà ma chỉ để công nhân ngành xây dựng còn có việc làm, hầu giảm nguy cơ động loạn xã hội? Đâm ra cả thế giới đang bám víu vào hy vọng là kinh tế Trung Cộng sẽ hạ cánh nhẹ nhàng, soft landing, chứ không hạ cánh nặng nề hay hạ cánh tan tành!

Sự thật thì nền kinh tế này đang hạ cánh, và viễn ảnh “vượt mặt Hoa Kỳ” chỉ là chuyện viển vông…. Và hậu quả của chuyện hạ cánh không còn là bài toán kinh tế mà là an ninh chính trị.

Cho nên cuốn phim về kinh tế Trung Cộng không sáng lên nhờ số liệu xuất nhập cảng của một tháng từ một tấm ảnh có đặc tính mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm. Bây giờ, xin lại hồi thị, nhìn ngược về sau, để xem tư bản nhà nước của Bắc Kinh xoay vần với kinh tế thị trường ra sao, khi Đặng Tiểu Bình chuyển sang từ trần.



Cải Cách Doanh Nghiệp Để Củng Cố Tư Bản Nhà Nước


Sau chuyến “Nam tuần” năm 1992 của họ Đặng để huy động lãnh đạo và các tỉnh không vì vụ Thiên An Môn 1989 mà từ bỏ cải cách, quy luật thị trường đã lại quật ngược với nạn lạm phát, bội chi ngân sách và thiếu hụt chi phó, nôm na là cán cân ngoại tệ bị thiếu tư bản. Vì vậy mới có một đợt cải cách nữa vào các năm 1993-1994. Chúng ta xem tiếp cuốn phim từ đoạn này….

Chế độ tìm cách hạ nhiệt kinh tế để đẩy lui lạm phát và chấn chỉnh chi thu hầu giảm khiếm hụt ngân sách và chi phó, nói theo người Hà Nội đời nay là thiếu hụt cán cân vãng lai. Bắc Kinh bắt các ngân hàng hãm nguồn tín dụng, đòi các tỉnh nộp số thu nhập cho ngân sách trung ương và triệt để phá giá đồng Nguyên nhằm kích thích xuất cảng.

Nhưng trong cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa vẫn lù lù những con khủng long là các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu năng, bị thua lỗ và ế ẩm.

Khi ấy, tức là 20 năm về trước, giới hữu trách trong Chính quyền Giang Trạch Dân và Lý Bằng đã có cuộc tranh luận. Nhà nước có nên uống liều thuốc đắng là giải tư – ngược với đầu tư – bằng cách bán các doanh nghiệp ấy cho tư nhân hay không? Nhờ sự cố vấn kỳ lạ của Ngân hảng Thế giới - ta còn trở lại chuyện gian manh này vì đó vẫn là thời sự - Bắc Kinh không tư nhân hóa mà cổ phần hóa. Có hai họ Chu lập công trong giai đoạn này.

Chu Tiểu là Chu Tiểu Xuyên, sinh năm 1948, nay là Thống đốc Ngân hàng Trung ương có mỹ danh là Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, People’s Bank of China. Chu Đại là Chu Dung Cơ, sinh năm 1928, khi ấy là Thống đốc Ngân hàng Trung ương rồi Phó Thủ tướng và lên làm Thủ tướng từ năm 1998.

Là một chuyên gia ngân hàng, năm 1993, Chu Tiểu Xuyên được Ngân hàng Thế giới và cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF khuyên ngược là nên cải cách để củng cố hệ thống doanh nghiệp nhà nước làm rường cột kinh tế cho chế độ. Đấy là lời khuyên ngược – và kín – vì tôn chỉ của hai định chế quốc tế này là phát huy kinh tế thị trường và phát triển tư doanh chứ không là củng cố hệ thống quản lý của nhà nước với xí nghiệp quốc doanh giữ vai trò chủ đạo.

Hai thầy trò họ Chu tiến hành khuyến cáo ấy.

Họ mạnh tay cải cách doanh nghiệp, sa thải công nhân viên dư dôi trong khu vực quốc doanh, khỏang 35 triệu người, nhưng kiện toàn tập đoàn kinh tế nhà nước thành quả đấm thép của tư bản Bắc Kinh. Khi ấy, như khi này, thế giới ngợi ca biện pháp táo bạo của Chu Dung Cơ mà không thấy hai ba chuyện ngược đời. Sau vụ Thiên an môn, Trung Cộng bị ba khối kinh tế Âu-Mỹ-Nhật trừng phạt kinh tế nhưng hai định chế tài chánh quốc tế vẫn kín đáo giúp Bắc Kinh tăng cường khả năng quản lý của nhà nước với các tập đoàn còn lớn mạnh hơn các chaebols của tư doanh Nam Hàn.

Ngày nay, các tập đoàn ấy là mũi nhọn của Bắc Kinh và hiện diện trong danh mục Fortune Global 500 của 500 xí nghiệp lớn nhất thế giới! Nhưng dù có được ông trời cố vấn, Trung Quốc vẫn không ra khỏi sự dằn xóc của thị trường. Từ năm 1999 đến 2000, kinh tế xứ này lại nóng máy với lượng đầu tư quá lớn, nhồi theo là hiệu ứng của vụ khủng hoảng Đông Á 1997-1998 khiến các ngân hàng chất lên một núi nợ không sinh lời và sẽ mất.

Bắc Kinh bèn lập ra bốn công ty quản lý tài sản với nhiệm vụ mua lại các khoản nợ xấu của bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất (Bank of China, China Construction Bank, Industrial and Commercial Bank of China và Agricultural Bank of China). Bắc Kinh tốn 200 tỷ đô la cho việc giải phẫu  thẩm mỹ ấy và ngày nay bốn ngân hàng ấy đang là đại gia toàn cầu.

Tư bản nhà nước vẫn được củng cố và tăng cường. Nhân đó, tay chân và thân tộc của nhà nước đã thành tỷ phú. Những tiết lộ gần đây từ văn phòng luật sư Mossack-Fonseca của xứ Panama chỉ xác nhận chiều hướng ấy mà thôi. Nhưng lãnh đạo Trung Quốc vẫn gặp may, cứ như Hổ Mọc Cánh.


Chắp Cánh WTO Bay Vào Cõi Bốn Không


Nhờ sự ưu ái đặc biệt của Chính quyền Bill Clinton trước khi mãn nhiệm, bước vào Thế kỷ 21, năm 2001, Trung Cộng được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO - World Trade Organization). Nhưng Quốc hội Hoa Kỳ thận trọng lập ra một Hội đồng Giám sát Quan hệ Kinh tế và Chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc (US-China Economic and Security Review Commission để theo dõi tình hình giữa hai nước, về cả an ninh lẫn kinh tế.

Từ đấy, xuất cảng của xứ này tăng vọt và đa số ngoại tệ thu về trong quỹ dự trữ được Bắc Kinh gửi qua Mỹ khi đầu tư vào Công khố phiếu Hoa Kỳ. Được tiếng là chủ nợ của Mỹ, làm lãi suất giảm tại Hoa Kỳ càng kích thích tiêu thụ và nhập cảng… Đấy là khi thế hệ thứ tư lên lãnh đạo sau các thế hệ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, đó là thời của Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc và Ôn Gia Bảo, kể từ năm 2002….


Mười năm sau khi hai Chu được Ngân hàng Thế giới tiếp sức, Bắc Kinh còn có sự hỗ trở của tay Kinh tế trưởng của định chế này, là Justin Lim, hay Lâm Nghị Phu.

Y như viên sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ là Edward C. Lin vừa bị điều tra vì làm gián điệp cho Bắc Kinh, Justin Lim cũng sinh tại Đài Loan (năm 1952). Nhưng sau khi tốt nghiệp trường Quốc lập Chính trị tại Đài Bắc, Đại úy Lâm Nghị Phu lại vượt biển theo phò Trung Cộng, học kinh tế tại Bắc Đại (Đại học Bắc Kinh), rồi qua Mỹ lấy bằng Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Chicago và trở về làm tư vấn kinh tế cho Trung Cộng. Justin Lim trở thành Kinh tế trưởng và Phó Chủ tịch của Ngân hàng Thế giới từ năm 2008 tới 2012, để từ đấy là công trình sư của chiến lược kinh tế Bắc Kinh. Chiến lược ấy có khác với chủ trương của Ngân hàng Thế giới và nhắm vào việc gây vốn cho tư bản nhà nước Bắc Kinh có thể vượt mặt Hoa Kỳ. 

Dù gì thì tư bản chủ nghĩa cũng thắng, với màu sắc Trung Cộng.

Nhưng với ngần ấy lợi thế, như Bạch Hổ ngộ Phi Liêm, nền kinh tế phi cầm phi thú ấy vẫn lao vào bế tắc. Người nhận ra chuyện ấy chẳng là ai khác hơn Tổng lý Quốc vụ viện Ôn Gia Bảo. Sau năm năm ngồi ghế Thủ tướng, ông đã phát giác cái lẽ “Tứ Bất” của kinh tế Trung Cộng: không cân đối, không phối hợp, không công bằng và không bền vững.

Khi ấy, cả Hồ Cẩm Đào lẫn Ôn Gia Bảo đều nói tới nhu cầu cải cách về chính trị để giải quyết ách tắc về kinh tế. Mà không xong, vì khủng hoảng và Tổng suy trầm toàn cầu bùng nổ vào năm 2008 khiến Trung Cộng phải tiếp tục lao vào cái chốn bốn không. Cho tới ngày nay….

---

Vì số trang số chữ có hạn, lại xin hẹn kỳ tới để viết về bài toán ngày nay của Tập Cận Bình trong loạt tổng kết về kinh tế sử của Trung Cộng giữa hai ngả thị trường và tư bản.

Thứ Bảy, tháng 4 09, 2016

Từ Mao Đến Đặng – Những Bước Ngập Ngừng



Nguyễn-Xuân Nghĩa Việt Báo Ngày 160409

Và Té Ngửa Ngã Xấp Vì Kinh Tế Trị Trường   


* Nhà máy luyện kim ngoài đồng: chỉ tiêu là vượt Mỹ *


Trước hai mối nguy xuất phát từ Trung Quốc ngày nay – nền kinh tế bên trong trôi vào chu kỳ suy trầm với hậu quả lan rộng ra ngoài, và bộ máy quân sự ngang ngược đang uy hiếp các lân bang tại Đông Hải – người khó dự đoán được chuyện cát hung của tương lai. Nhưng nếu nhìn lại lịch sử, thật xa, có lẽ ta thấy ra chuyện sau cũng là chuyện xưa, là đã từng thấy. Vì vậy mới có bài kinh tế sử, khi lịch sử và kinh tế nhồi làm một…. Sau bài hôm qua, đây là phần thứ hai.

Sau bài “Kinh Tế Sử Của Trung Quốc - Lẽ cường nhược của các Đấng Con Trời”, ta có thể kết luận khái quát rằng kinh tế thị trường đã xuất hiện rất sớm và mọi quốc gia đều có nhu cầu tích lũy một số vốn, là “tư bản”, làm lực đẩy cho kinh tế. Từ các xã hội lấy nông nghiệp làm nền tảng, là hoàn cảnh chung của mọi nước ở mọi nơi, nguồn tư bản ấy chỉ xuất phát từ canh nông, từ sức lao động của nông dân. Tìm ra nguồn vốn ấy qua buôn bán trong ổn định xã hội là một bài toán kinh tế chính trị học. Mục tiêu vẫn là kỹ nghệ hóa hay công nghiệp hóa.

Thiết lập một nhà máy thường lâu hơn là canh tác một vụ mùa và đòi hỏi phương tiện và thời gian đầu tư. Đầu tư chính là việc sử dụng nguồn vốn tư bản ấy để có sản lượng trị giá cao hơn

Bên cạnh đó, việc giao thương cũng đem lại hai nguồn lợi khác. Một là tài nguyên vật chất, như bạc trong lịch sử Trung Quốc khi giao dịch với Âu Châu và có bạc thỏi xuất phát từ Mỹ Châu. Hai là kiến năng về tổ chức và sản xuất, gồm có kiến thức là biết và khả năng là biết làm. So với Âu Châu và Nhật Bản, Trung Quốc chậm học kiến năng và bị các nước khuất phục dù trước đó không lâu, kinh tế xứ này vào đời Minh Thanh đã trù phú hơn Âu Châu và dĩ nhiên là hơn Nhật Bản, một quốc gia quần đảo có rất ít tài nguyên.

Bây giờ, sau khi chiến thắng tại Hoa lục và lập ra Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, từ nay xin gọi là Trung Cộng cho đúng nghĩa, Mao Trạch Đông cũng muốn “gây vốn” để công nghiệp hóa mà khiến cả nước hóa dại….


Mao Trạch Đông Công Nghiệp Hóa Dại


Ngay sau khi chiếm được Hoa lục, Mao Trạch Đông lại hùa với Liên Xô lao vào Chiến tranh Cao Ly tử năm 1950 đến 1953. Đấy là khía cạnh Đông Á của Chiến tranh lạnh sau khi Liên Xô thôn tính Đông Âu. Hoa Kỳ miễn cưỡng nhập cuộc để bảo vệ Nam Hàn và cùng các đồng minh ban hành lệnh cấm vận là phong tỏa kinh tế Trung Cộng.

Trong hơn hai thập niên, Mao giải quyết lấy bài toán kinh tế và đề xướng việc “Xây dựng Xã hội Chủ nghĩa” theo hai hướng là 1/ quốc hữu hóa các doanh nghiệp tập trung ở đô thị và 2/ đoàn ngũ hóa nông dân qua chế độ hợp tác xã sau khi đã “cải cách ruộng đất” qua đấu tố và tàn sát. Mục đích vẫn là trưng thu nông nghiệp làm vốn để tiến hành công nghiệp hóa. Song song, ở khía cạnh chính trị, ông phát động nhiều chiến dịch liên tục để loại trừ mọi tư tưởng hay giải pháp khác nhằm tập trung quyền lực vào trong tay mình.

Sau thảm kịch cải cách ruộng đất, hiện tượng hóa dại đầu tiên của Mao trong ước mơ xây dựng tư bản là “Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại” (Đại Dược Tiến) kéo dài hơn ba năm với các Công xã Nhân dân là tổ chức kinh tế xã hội duy nhất được tồn tại trên cả nước. Mục tiêu kinh tế vẫn là vắt sức nông dân để gây vốn công nghiệp hóa: mọi làng xã đều thi đua lập ra các lò luyện kim bỏ túi. Kim loại ấy có phẩm chất tồi và không thể là nền tảng của hình thái kỹ nghệ nặng mà ông duy ý chí mơ tưởng qua kinh nghiệm Xô viết bên Nga. Hậu quả là nạn lãng phí tài nguyên và nhất là tiêu diệt mạng sống.

Từ cuối 1958 đến 1961 đã có khoảng 36 triệu người chết đói dù không bị mất mùa. Chữ “cơ hoang” diễn tả tình trạng bi thảm này.

Trong khi ấy, cũng vì là người có tham vọng, Mao Trạch Đông còn muốn tranh hùng với Liên Xô để xây dựng một cường quốc độc lập không lệ thuộc Moscow như xưa. Vì vậy, quan hệ Nga-Hoa đã suy đồi dần từ những năm 1966 trở về sau mà bên ngoài ít biết vì cả hai chế độ cộng sản độc tài đều kiểm soát thông tin và tư tưởng.

Ở bên trong, thất bại của tiến trình công nghiệp hóa bằng bao tử của nông dân khiến quyền lực của Mao bị các đồng chí nêu thành vấn đề.

Gác chuyện kinh tế qua một bên, từ năm 1967, Mao phát động cuộc Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản Vĩ Đại (Đại Văn Cách) để dùng quần chúng ngoài đảng tấn công vào thượng tầng đảng và loại bỏ mọi đối thủ trong đảng. Năm 1969 là cao điểm của cuộc vận động khi Hồng Vệ Binh phá tan cơ sở đảng và mọi phần tử chống Mao đều bị tiêu diệt, có khi bị bỏ đói đến chết như nhân vật số hai bên cạnh Mao là Lưu Thiếu Kỳ.

Sau khi mượn tay con nít giết kẻ thù trong đảng, Mao giải tán lực lượng Hồng Vệ Binh, cho về nông thôn để được nông dân “cải tạo”!

Nhưng cao điểm 1969 cũng là khi quan hệ Nga-Hoa tan vỡ và xung đột bùng nổ giữa Liên Xô và Trung Cộng. Đấy là khi Hoa Kỳ nghĩ cách nhập cuộc để khai thác mâu thuẫn Nga-Hoa hầu kết thúc cuộc chiến dai dẳng và tốn kém tại Việt Nam và gây tổn thất cho Liên Xô. Thật ra, nhu cầu thoát khỏi tình trạng bị cô lập và kiệt quệ kinh tế khiến chính là Mao đã mở ra hy vọng đó cho Chính quyền Richard Nixon.

Năm 1972, Nixon qua Tầu và lật qua một thời kỳ mới: quan hệ Mỹ-Hoa được cải tiến và giao dịch thương mại Hoa-Mỹ bắt đầu. Trung Cộng mon men trở lại với kinh tế thị trường!


Đặng Tiểu Bình Cải Cách Thị Trường Và Khai Phóng Tư Bản


Sau khi Mao tạ thế năm 1976, Đặng Tiểu Bình mất hai năm đấu tranh để củng cố quyền lực chính trị bên trong, chống cả phe thân Mao lẫn các phần tử bảo thủ trong đảng, rồi từ đầu năm 1979 mới tiến hành cải cách để áp dụng quy luật thị trường. Ông đưa ra chủ trương “cải cách và khai phóng”, với mục tiêu khiêm nhường là “tiểu khang”, chữ của Kinh Thi có nghĩa là đủ sống.

Từ đó, chế độ Công xã Nhân dân bị hủy và dù đất đai vẫn “thuộc quyền sở hữu toàn dân mà do nhà nước quản lý”, các hộ gia đình nông dân được ban cho “quyền sử dụng đất” để có phương tiện canh tác và được bán nông sản ra ngoài để kiếm sống. Kinh tế thị trường tái xuất hiện từ cơ sở, từ nông thôn lên, và đời sống có cải thiện so với thời Mao.

Bước kế tiếp là Đặng cho cơ quan địa phương thành lập “doanh nghiệp hương trấn”, tại các làng xã và thị trấn. Sau đó, trên một cấp cao hơn thì từ 1980, Đặng cho lập Đặc Khu Kinh Tế để… gây vốn, là thu hút đầu tư ngoại quốc, trước hết là từ Hong Kong và từ cộng đồng Hoa Kiều hải ngoại. Như một lon xăng, số vốn ban đầu ấy nhồi cho bộ máy sản xuất bắt đầu chạy rồi hút thêm tư bản từ bên ngoài vào.

Sau khi chậm rãi thử nghiệm từng bước cải cách theo phương châm “mò chân xuống nước lần đá qua sông”, từ năm 1984, Đặng Tiểu Bình mới từ nông thôn cải cách tới thành thị, với việc giải tỏa chế độ kiểm soát giá cả (thả nổi theo quy luật cung cầu) và cải tổ hệ thống doanh nghiệp nhà nước, là công nghiệp ở thành thị.

Năm năm sau thì Trung Cộng mới lại thấy kinh tế thị trường cũng có quy luật vận hành của nó. Là tình hình giá cả. Và chính trị tập quyền cũng có hậu quả, là tham nhũng. Lạm phát (chuyện kinh tế) và tham nhũng (hậu quả chính trị) dẫn tới biến cố Thiên an môn 1989.

Lạm phát và tham nhũng là hai động lực chủ yếu gây phản ứng bất mãn trong thành phần thị dân vì mức sống hao hụt, dị biệt lợi tức bị đào sâu, và nạn bất công xã hội được quy vào một thủ phạm là hệ thống chính trị. Từ Bắc Kinh, sự bất mãn ấy lan rộng ra ngoài, trong giới sinh viên phong trào phản kháng mới bén lửa vào thành phần công nhân thợ thuyền. Sự ngây dại của truyền thông Tây phương được mời vào vì chuyến thăm viếng của Mikhail Gorbachev làm nốt phần vụ: sự hình thành của một “phong trào dân chủ” – là chuyện không hề có ở bên ngoài quảng trường Thiên an môn.

Hậu quả là Giải phóng quân từ nơi khác được đưa vào “dẹp loạn” tại thủ đô.

Mấy ngàn người tử thương, ta không biết. Chỉ biết Tổng bí thư Triệu Tử Dương bị cách chức và quản thúc tại gia cho đến chết vào năm 2005. Giang Trạch Dân được họ Đặng đưa lên thay. Khi ấy, bài toán của Đặng Tiểu Bình là làm sao trấn an thành phần bảo thủ mà ông vừa huy động để dẹp loạn, nhưng vẫn áp dụng quy luật thị trường mà không bị hậu quả chính trị. Và làm sao tiếp tục huy động tư bản cho phát triển mà không bị tư bản quật ngã.

Chuyến “Nam tuần”, thăm các tỉnh miền Nam, vào năm 1992 là sự biến báo của Đặng.

Ông ca tụng thành quả cải cách và nhấn mạnh là vẫn phải giải tỏa kinh tế theo quy luật thị trường và đẩy mạnh sinh hoạt giao thương, và trấn an bên ngoài về ý chí cải cách để huy động thêm đầu tư. Sau vụ Thiên an môn 1989 và sự tan rã của Liên bang Xô viết năm 1991, quyết định ấy của Đặng Tiểu Bình là sự liều lĩnh chính trị, có thể được giải thích ở nhu cầu khách quan là tư bản. Giết người xong mà vẫn đòi huy động vốn quốc tế thì họ Đặng hiểu ra quy luật của tư bản chủ nghĩa!

Và quả nhiên là ông thành công vì sau những phàn nàn lấy lệ, các nước dân chủ Tây phương vẫn đổ vốn vào thị trường Hoa lục. Họ còn cố kéo Trung Cộng đi theo tư bản chủ nghĩa.

Nhưng sự thành công chính trị của Đặng từ năm 1992 vẫn bị thị trường cho ngã ngửa lần nữa, với nạn lạm phát, bội chi ngân sách và thiếu hụt chi phó, nôm na là cán cân ngoại tệ thiếu tư bản. Vì vậy mới có một đợt cải cách khác vào các năm 1993-1994.

--

Vẫn vì số trang số chữ có hạn (!), xin hẹn kỳ sau để viết về ba thế hệ Giang Hồ Tập và sự mạnh yếu của Trung Cộng giữa hai ngả thị trường và tư bản.