Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế và Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế và Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, tháng 6 16, 2016

Đồng Mỹ Kim Vẫn Ngự Trị

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160616
Diễn đàn Kinh tế 

Mỹ kim chiếm tới 65% khối dự trữ ngoại tệ của các nước.    


Đồng đô la Mỹ (minh họa)
* Đồng đô la Mỹ (ảnh minh họa) AFP * 


Hôm Thứ Ba mùng bảy, một lần nữa, Ngân hàng Thế giới lại hạ thấp dự báo kinh tế toàn cầu năm nay là chỉ tăng trưởng có 2,4% thay vì 2,9%. Trước đó bốn ngày, thống kê lao động tại Hoa Kỳ cũng gây thất vọng về số tuyển dụng trong tháng năm, vì vậy Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ khó nâng lãi suất sau phiên họp định kỳ ngày 14-15 tháng này và điều ấy cũng ảnh hưởng đến trị giá đồng Mỹ kim trong trong luồng giao dịch toàn cầu… Nhân dịp này, chúng ta sẽ cùng nhìn lại tư thế của đồng đô la Mỹ… 

Lãi suất đồng đô la ảnh hưởng thế giới

 

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do và Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, chúng ta đang đi hết nửa năm đầu của 2016 và e chừng là biến động dồn dập ở nhiều nơi đang chi phối sinh hoạt kinh tế toàn cầu. Đầu Tháng Sáu thì thống kê lao động bất lợi tại Hoa Kỳ khiến các thị trường dự đoán Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ khó tăng lãi suất trong tháng này như nhiều nền kinh tế đang phát triển đã lo ngại. Nhưng mươi ngày tới thì thế giới chờ đợi kết qủa trưng cầu dân ý hôm 23 tại Anh Quốc, với ảnh hưởng tai hại nếu nước Anh rút khỏi Liên Hiệp Âu Châu. Giữa hai biến cố ấy, vụ khủng bố vào mờ sáng ngày 12 tại bang Florida của Mỹ khiến 51 người bị tàn sát là một nhắc nhở về sự bất ổn chung. Trong khung cảnh đó, ta mới nhìn lại dự báo của Ngân hàng Thế giới về đà tăng trưởng năm nay của kinh tế toàn cầu là chỉ có 2,4% mà thôi. Ông nghĩ sao về những biến cố này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, khi kinh tế toàn cầu chỉ tăng trưởng bình quân có 2,5% thì đấy là tình trạng suy trầm, hay recession. Nếu tham khảo các luồng thông tin đa diện, thì ta thấy nơi nơi đều nói đến nguy cơ suy trầm và thực tế thì có khi đã bị hiện tượng đó mà chưa biết chỉ vì chưa kịp thu thập thống kê.

Các quốc gia đang phát triển lỡ vay tiền Mỹ quá rẻ lại bị khốn đốn và đây đó người ta nói tới vai trò Đế quốc của đồng Mỹ kim, như một ngoại tệ có tham vọng bá chủ! Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Khi Ngân hàng Thế giới điều chỉnh dự báo tăng trưởng từ 2,9% xuống còn 2,4% và giải thích rằng 40% của đà sa sút đáng ngại ấy đến từ các nước xuất khẩu thương phẩm là nguyên nhiên vật liệu và từ các nền kinh tế đang phát triển, tức là vẫn còn nghèo, thì ta nghĩ ngay đến số phận của dân nghèo tại các quốc gia đó. Khi soạn thảo dự báo này từ vài tháng trước, Ngân hàng Thế giới chưa kết hợp được nhiều thông tin u ám của Việt Nam và đây mới là điều đáng ngại.

- Nhìn rộng ra ngoài, chúng ta còn thấy một nghịch lý nữa là giữa những bất ổn chung và cả tình trạng lao động sa sút nhất từ sáu năm nay, kinh tế Hoa Kỳ vẫn lại khá hơn hết. Khi ấy, một câu hỏi được nêu ra là vì sao việc Ngân hàng Trung ương Mỹ tăng hay không tăng lãi suất lại làm thế giới thất điên bát đảo? Kỳ này, tôi xin đề nghị là chúng ta sẽ tập trung vào đề tài ấy.


Nguyên-Lam: Thưa ông Nghĩa, Hoa Kỳ đang có cuộc tranh cử tổng thống và theo các cuộc thăm dò thì đề mục kinh tế đang được nhiều người quan tâm nhất vì nỗi lo âu hay vì thất vọng của họ. Trong cảnh ngộ đó, ông lại nói kinh tế Mỹ vẫn khá hơn hết và thế giới ngóng xem là nếu kinh tế khả quan thì lãi suất Hoa Kỳ sẽ tăng làm nhiều nước lại thất điên bát đảo. Thưa ông, đấy có phải là chuyện nghịch lý không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang sống trong một thế giới gọi là “nhất thể hóa” vì số phận các nước được giàng chung với nhau qua luồng giao dịch kinh tế. Nhưng thế giới đó cũng có nhiều nhận thức khác biệt về cùng một thực tế. Trong các xã hội dân chủ, người ta có quyền nêu ra nhận thức ấy vì lý do này hay lý do khác mà mình cần thấy ra để khỏi hiểu lầm.

- Khi nạn Tổng suy trầm bùng nổ năm 2008-2009, nhiều người ở ngay bên Mỹ này vội nói đến ngày tàn của tư bản chủ nghĩa trên quê hương của nó và còn ngợi ca phép lạ kinh tế Trung Quốc khi ấy tăng vọt và sản lượng vượt qua Nhật Bản vào năm 2010 để đứng hạng nhì. Vì nạn Tổng suy trầm, Hoa Kỳ hạ lãi suất và bơm tiền kích thích kinh tế khiến Mỹ kim sụt giá; sự kiện ấy càng có vẻ xác nhận rằng nước Mỹ đến hồi suy vong và đồng bạc chỉ là giấy lộn đi tìm nơi có giá hơn ở bên ngoài. Thế nhưng, từ năm 2014, khi Ngân hàng Trung ương Mỹ thông báo sẽ giảm dần mức bơm tiền và tỷ giá Mỹ kim tăng mạnh khiến luồng tư bản lại chảy ngược về Mỹ. Khi đó, các quốc gia đang phát triển lỡ vay tiền Mỹ quá rẻ lại bị khốn đốn và đây đó người ta nói tới vai trò Đế quốc của đồng Mỹ kim, như một ngoại tệ có tham vọng bá chủ!   



Đôla Mỹ và đồng nhân dân tệ của Trung Quốc
Đôla Mỹ và đồng nhân dân tệ của Trung Quốc



Nguyên Lam: Quả thật là về nhận thức, Nguyên Lam thấy ra nhiều thái cực quá đáng, khi người ta nói thế này lúc thì luận thế nọ. Như là sau khi ca tụng sự kỳ diệu kinh tế Trung Quốc ngày nay ai cũng thấy nền kinh tế này đang sa sút và trông ngóng vào đầu máy kinh tế Hoa Kỳ mà có thời người ta cho là bị khủng hoảng. Thưa ông, thế thì sự thật nó nằm ở đâu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, đồng Mỹ kim có thể lên hay xuống giá thì đấy không hề là chỉ dấu về sự hưng thịnh hay suy vong của Hoa Kỳ. Cũng thế, việc Mỹ kim được sử dụng nhiều hay ít trong luồng trao đổi toàn cầu chẳng phản ảnh sức mạnh của nước Mỹ.

- Sự thật thì Hoa Kỳ là siêu cường vì sáu yếu tố chủ yếu. Như về mặt địa dư thì có lãnh thổ vuông vức phì nhiêu, được bảo vệ bởi hai đại dương lớn nhất địa cầu; về kỹ thuật và công nghệ thì đấy là xứ tiến tiến nhất; về văn hóa thì nước Mỹ sùng chuộc tự do và sáng tạo; về tài chính và kinh tế thì xứ này có sự linh động biến báo; về chính trị thì dù ai cũng có quyền tranh luận phản bác, chẳng ai muốn phá bỏ chế độ; và về quân sự thì Hoa Kỳ vẫn chưa có đối thủ. Trải qua hơn 200 năm, trong sáu yếu tố nói trên thì cột trụ này khác có thể nhất thời nghiêng ngả, nhưng cả hệ thống vẫn bền vững và thừa khả năng ứng phó hoặc thay đổi mà không quốc gia nào có thể so sánh được.

- Ngay trước mắt thì ngoài những tài nguyên thiên nhiên đa diện, kể cả dầu khí hay nước ngọt, 88% hàng hóa tiêu thụ của Mỹ là sản phẩm nội địa, chỉ có 12% là hàng nhập khẩu. Nghĩa là kinh tế xứ này không bị lệ thuộc nặng vào nguồn cung cấp từ thế giới bên ngoài. Mặt khác, xuất khẩu của Hoa Kỷ chỉ chiếm chừng 14% của Tổng sản lượng nên sinh hoạt kinh tế có lên hay xuống thì cũng chẳng tùy thuộc vào sức mua của thiên hạ. Trung Quốc, Đức hay Nam Hàn lại chẳng được như vậy vì lệ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu hay tiêu thụ của thị trường khác.

 

Mỹ kim vẫn là ngoại tệ phổ biến nhất


Nguyên Lam: Đấy là ta nói về nội lực của Hoa Kỳ và qua đó, Nguyên Lam còn thấy nước Mỹ  nhập khẩu chỉ có 12% của yêu cầu tiêu thụ mà lại là nguồn xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới. Khi họ bán hàng vào Hoa Kỳ và nhận về đô la Mỹ thì tỷ giá lên xuống của đồng bạc đó mới ảnh hưởng đến sự thịnh vượng của họ. Nếu Mỹ kim xuống giá thì điều ấy có lợi cho hàng của Hoa Kỳ bán ra ngoài, nhưng chỉ chi phối có 14% là tỷ trọng xuất khẩu mà thôi. Thưa ông Nghĩa, có phải như vậy không?

Thế giới ngày nay vẫn dùng Mỹ kim là ngoại tệ phổ biến nhất, vì thanh toán đến 45% lượng hàng trao đổi toàn cầu và chiếm tới 65% của khối dự trữ ngoại tệ của các nước. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung thì các quốc gia buôn bán nhiều với bên ngoài thì mới bị hiệu ứng nặng của tỷ giá hay hối suất đồng bạc. Hoa Kỳ đã có giai đoạn hạ lãi suất hoặc ào ạt bơm tiền để kích thích kinh tế khiến Mỹ kim sụt giá, nhưng không nhắm mục đích ngoại thương hay cạnh tranh bất chính như nhiều nước than phiền. Và trong khi Âu Châu, Nhật Bản cùng vài xứ khác đã hạ lãi suất dưới số không thì vì nhu cầu nội địa Hoa Kỳ, Ngân hàng Trung ương Mỹ dự tính nâng lãi suất trong tháng này hay cuối tháng tới. Khi ấy, các thị trường đang phát triển như Brazil, Nga, Thổ hay Nam Phi đều rúng động vì lãi suất tại Mỹ mà tăng thì tư bản sẽ rút chạy về Hoa Kỳ khiến họ cũng phải nâng lãi suất dù kinh tế còn èo uột chưa mạnh. May cho họ là tình hình lao động lại chưa khả quan nên bà Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ Janet Yellen mới tạm nghe ngóng việc nâng lãi suất hay không, khiến các thị trường đang phát triển mừng quá lên giá vù vù! Chính là động thái của Hoa Kỳ, vì yêu cầu kinh tế bên trong nước Mỹ, chứ chẳng vì muốn gieo sóng gió cho thiên hạ, mà nhiều nước mới đả kích tư thế họ gọi là “Đế quốc” của đồng đô la! Sau cùng, cũng phải nói là ngoài đặc tính kinh tế của Hoa Kỳ như vừa trình bày, thế giới ngày nay vẫn dùng Mỹ kim là ngoại tệ phổ biến nhất, vì thanh toán đến 45% lượng hàng trao đổi toàn cầu và chiếm tới 65% của khối dự trữ ngoại tệ của các nước.


Nguyên Lam: Nếu như vậy, có lẽ chúng ta phải trở lại vai trò của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ, là cơ quan độc lập có nhiệm vụ giữ gìn sự ổn định giá cả và đạt mức thất nghiệp thấp cho kinh tế Mỹ. Khi định chế này quyết định về chính sách tiền tệ và tín dụng cho nhu cầu riêng của Hoa Kỳ, kinh tế toàn cầu vẫn có thể bị ảnh hưởng bởi quyết định ấy. Thưa ông Nghĩa, sự thể có phải là như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đúng là như vậy. Trong khung cảnh đầy bất trắc của kinh tế Âu Châu, Nhật Bản và Trung Quốc, với viễn ảnh Anh Quốc có thể ra đi và núi nợ của Trung Quốc bị sụp đổ khiến kinh tế toàn cầu chấn động, các thị trường đang phát triển sẽ sa sút thì giới hữu trách về tín dụng và tiền tệ của định chế độc lập này tại Hoa Kỳ cũng phải cân nhắc. Cho nên, không phải Quỹ Tiền tệ Quốc Tế IMF, Ngân hàng Trung ương Âu châu hay Ngân hàng Trung ương Nhật mà Hội đồng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ mới giữ vai trò của ngân hàng trung ương toàn cầu. Người ta cứ nói đến ưu thế của Hoa Kỳ khi đồng Mỹ kim là ngoại tệ dự trữ của thiên hạ nên Mỹ tha hồ in tiền ra xài. Thật ra, kiến trúc tài chính quốc tế xây dựng từ 70 năm nay cũng là một gánh nặng cho Hoa Kỳ với nhiều điểm bất lợi mà ít ai nhìn thấy, nhất là chính người Mỹ cũng còn không rõ.


Nguyên Lam: Nguyên Lam nhớ rằng từ mười mấy năm nay, nhiều nước than phiền về ưu thế quá đáng của Mỹ kim và muốn tìm ra một ngoại tệ có khả năng thay thế. Thưa ông, kết quả của chuyện ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng tư thế của một đồng bạc là kết quả của nhiều yếu tố tích lũy từ lâu, trước hết vẫn là niềm tin vào khả năng giao hoán trao đổi và tồn trữ giá trị. Không định chế quốc tế nào có thể đơn phương thông báo từ nay đồng bạc này hay tờ giấy nọ sẽ là loại tiền tệ lưu hành toàn cầu. Lãnh đạo Bắc Kinh mơ điều viển vông ấy khi vận động  IMF chấp nhận đồng Nguyên của họ vào cái rổ ngoại tệ gọi là Quyền Trích Xuất Đặc Biệt hay SDR kể từ Tháng 10 năm nay, nhưng nay đang lo sốt vó về sự thăng trầm của Mỹ kim trong khi vẫn chưa dám thả cho đồng bạc của mình lên xuống theo phép cung cầu của thị trường.

- Nếu thế giới có thêm nhiều đồng bạc mạnh khác thì có thể tránh được những dao động thái quá do đồng Mỹ kim gây ra. Nhưng chuyện ấy chưa xảy ra trong vài chục năm tới và nếu đồng Euro bị khủng hoảng nay mai vì Anh Quốc rút khỏi Liên Âu thì thiên hạ vẫn phải đổi tài sản qua Mỹ kim để khỏi bị thiệt, và chưa chắc là sẽ tín nhiệm đồng Nguyên của Tàu, khi ấy, đồng Nguyên lại càng mất giá và nạn tẩu tán tài sản càng làm Bắc Kinh khốn đốn nặng.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.  


Thứ Sáu, tháng 4 08, 2016

Kinh Tế Sử Của Trung Quốc


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 160408

Lẽ cường nhược của các Đấng Con Trời

* Biểu hiện của dân chủ tập trung: một người vì mọi người, mọi người vì một người! * 


Trước hai mối nguy xuất phát từ Trung Quốc ngày nay – là nền kinh tế trôi vào chu kỳ suy trầm bên trong với hậu quả lan rộng ra ngoài, và bộ máy quân sự ngang ngược đang uy hiếp các lân bang – người khó dự đoán được chuyện cát hung của tương lai. Nhưng nếu nhìn lại lịch sử, thật xa, có lẽ ta thấy ra chuyện sau cũng là chuyện xưa. Vì vậy mới có bài khá dài sau đây, thuộc loại kinh tế sử, khi lịch sử và kinh tế nhồi làm một…

Xin bắt đầu từ Thế kỷ 16, từ đời Minh, thì mới thấy ra một chân trời mở rộng đến Thế kỷ 21 là chuyện của kỳ sau….


Thị Trường và Chính Trường đời Minh


Vì lý do kinh tế lẫn quân sự, mà hai vấn đề nhồi làm một, nhà Minh lại ra lệnh “hải cấm” và dứt thời thám hiểm sau bảy chuyến hải hành của Tam bảo Thái giám, là Đô đốc Trịnh Hòa gốc Hồi giáo. Bảy chuyến hải hành đó (1405-1433) mở ra cơ hội cho Trung Quốc thành đại cường hải dương, trước khi các nước Âu Châu có những nhà thám hiểm giong buồm theo Cristopher Columbus chinh phục thế giới kể từ 1492 trở đi.

Lý do kinh tế là vì công khố cạn kiệt, nói theo đời nay là vì bội chi ngân sách, chi nhiều hơn thu. Lý do quân sự là vì triều Minh bị quân Mông Cổ đe dọa từ phương Bắc. Tại phương Nam, hai lý do ấy nhồi làm một là vì sự hao tốn của 10 năm xâm lăng Đại Việt lại gặp 10 năm kháng chiến của Lê Lợi. Vị chi là 20 năm xuất huyết (1407-1427). Chuyện này thì xin đọc sử Ta!

Lý do thứ ba ít ai nói ra là mỗi khi tình hình khó khăn, triều đình lại quỳ dưới chân Khổng Tử.

Nho thần đời Minh dẫn lời Thánh hiền mà xin Thiên tử ra lệnh cấm phát triển ngoại thương. “Cha mẹ còn sống mà cứ đi xa là bất hiếu!” Vả lại, “quân tử viết danh, tiểu nhân viết lợi”, buôn bán kiếm lời là trái đạo Thánh hiền. Vì vậy mới bị hải tặc gọi là “Nụy Khấu”, giặc lùn, của Nhật đánh phá cướp bóc suốt vùng duyên hải Đông Nam.

Cơ hội cho Từ Hải thành danh trên vùng Việt Đông của Trung Quốc và trong văn học của Việt Nam!

Thật ra lệnh “hải cấm”, cấm giao thương và đóng tầu ba cột buồm để ra biển khơi, không được chấp hành trong thực tế, có khi bị bãi bỏ rồi tái tục, trước sau ba lần dưới các đời Minh Thanh. Và việc buôn bán với nước ngoài vẫn tiếp tục, khi nhiều khi ít và mạnh nhất là vào cuối thế kỷ 16, khi Trung Quốc bán tơ lụa và đồ sứ cho Âu Châu đem về các thỏi bạc làm giàu cho kinh tế.

Trong nguồn xuất cảng bạc ấy, Anh quốc có một thuộc địa giàu có là đất Hoa Kỳ ngày nay!

Nói gọn lại, các sử gia Trung Quốc đời nay hiểu rằng có lúc thỏi bạc đã làm nên sức mạnh cho công khố đời Minh từ năm 1581, với chế độ cải cách thuế khóa và “bạc bản vị”, dùng bạc làm nền tảng định giá đồng tiền thống nhất dưới vòm trời của Thiên tử.

Cho nên “kinh tế thị trường” như ta gọi đời nay, nhưng trên phạm vi quốc tế, đã xuất hiện khá sớm tại Trung Quốc, từ hơn 400 năm trước.

Rồi gặp trở ngại khi lãnh chúa Toyotomi Hideyoshi thống nhất Nhật Bản năm 1592 (100 năm sau Columbus), tấn công Cao Ly trên bán đảo Triều Tiên khiến nhà Minh phải tham chiến. Sau đó, khi triều đại của Mạc phủ Tokugawa (1603-1867) ngả theo khuynh hướng tự cô lập nên cũng ra lệnh “hải cấm”, là cấm ngoại thương kể từ năm 1653, Trung Quốc mất nguồn nhập bạc từ Nhật thì chỉ còn nơi cung cấp là Âu Châu.

Các nước Âu Châu mở thương điếm tại Đông Nam Á (Macao, Manil, và Battavia tức là Jakarta đời nay) để bán vàng Mỹ mua hàng Tầu về nước. Hình như là các biến cố ấy có vẻ hiện đại, cũng Tầu, Nhật, Âu, Mỹ xoay vần chuyện mua bán, với thương điếm và trạm hải quân!

Nhưng nhà Minh sụp đổ vì cuộc khởi nghĩa của dân chúng và vài năm sau thì tộc Mãn Thanh đại thắng, mở ra triều Đại Thanh (1644-1911).



Chiến Tranh Tiêu Thổ Đời Thanh


Từ Mãn Châu đi xuống thì dù chiếm được Bắc Kinh vào năm 1644, nhà Thanh chưa kiểm soát được cả lãnh thổ và phải bình định miền Nam và đảo Đài Loan, nơi mà các lực lượng trung thành với nhà Minh vẫn hoạt động nhờ Trịnh Thành Công mà họ gọi là Quốc tính gia.

Nhằm tiêu diệt phong trào “phản Thanh phục Minh”, triều Thanh áp dụng chánh sách “tiêu thổ” trên toàn vùng Đông Nam, xua dân và cấm bán để tuyệt đường kinh tài của các tổ chức kháng Thanh. Chánh sách đó làm kinh tế Trung Quốc sa sút – hết bạc Mỹ - và chỉ chấm dứt năm 1683 sau khi tàn dư của nhà Minh đã tiêu vong.

Khi giải trí với truyện võ hiệp Kim Dung, ta ít chú ý đến phí tổn kinh tế cho nhà Thanh qua 40 năm “bình định”! Kinh tế thị trường bị phong tỏa và hải chiến có xảy ra trên eo biển Đài Loan, với kích thước thu hẹp và trình độ kỹ thuật còn thấp kém.

Sau đó là gần trăm năm làm ăn buôn bán, với hải cảng Quảng Châu của tỉnh Quảng Đông được nhà Đại Thanh quyết định từ năm 1757 là trung tâm ngoại thương duy nhất của Trung Quốc. Cho nên nếu cần tìm hiểu kinh tế chính trị học Trung Quốc trong giai đoạn 1683-1757 thì ta phải lật ra cuốn sử.

Khốn nỗi, lịch sử Trung Quốc cũng là lịch sử nội loạn!

Từ vùng Tây Nam, phong trào Bạch Liên giáo tái sinh (vì thành hình từ thời Nguyên-Minh) và phát triển mạnh trong các năm 1796-1804 khiến Thanh triều vất vả, binh đội xớn xác và tài nguyên cạn kiệt vì nhu cầu bình định. Lại chiến tranh tiêu thổ.

Kinh tế Đại Thanh trôi vào suy thoái và… mắc nghiện.



Đại Thanh Suy Tàn - Âu Châu Xuất Hiện


Môn kinh tế sử chỉ ra một hiện tượng là trong mối giao thương Âu-Hoa, giữa các nước Âu Châu với Trung Quốc thì Thanh triều được xuất siêu là xuất nhiều hơn nhập nhờ bán trà, tơ lụa và đồ sứ cho Âu Châu mà chẳng nhập cảng gì nhiều vì kinh tế tương đối tự túc với tài nguyên nội địa. Nhờ vậy mà Trung Quốc có thêm bạc.

Đứng đầu Âu Châu, Đế quốc Anh bèn phát huy sáng kiến ngoại thương lạ là bán cho Tầu thuốc phiện trồng tại Ấn Độ và vài nước Đông Nam Á.

Nhìn trên bản kế toán quốc gia, Thanh Triều dưới thời Hoàng đế Đạo Quang thấy lỗ vì mất bạc ròng mà đem về độc dược. Nhằm khỏi bị lỗ nhà Thanh ra lệnh cấm mua bán thuốc phiện và đụng vào quyền lợi của Anh. Khâm sai Đại thần Lâm Tắc Từ nổi tiếng trong việc thi hành quyết định ấy với việc đốt kho thuốc phiện của mũi nhọn ngoại thương Công ty Đông Ấn của Đế quốc Anh.

Vì chuyện kho thuốc phiện bị đốt và nhân danh quyền tự do mậu dịch – khái niệm tuyệt vời - Anh quốc mở ra cuộc Chiến tranh Nha phiến trong các năm 1839-1842. Xung đột chỉ chấm dứt với Hiệp ước Nam Kinh 1842: nhà Thanh phải mở Thượng Hải và nhiều nơi khác thành vùng tô giới và nhường cảng Hong Kong cho Đế quốc Anh thành lập một thuộc địa.

Nhưng chuyện nào có vậy! Đã bị ngoại thương – định nghĩa khác là bị thương tật bên ngoài – nhà Đại Thanh lại còn bị nội thương.

Lần này cũng như Bạch Liên giáo nửa thế kẻ trước, phong trào phản kháng lại nhuốm mùi tôn giáo. Nhưng khác xưa là theo tư tưởng Phật giáo, lần này phong trào Thái Bình Thiên Quốc lại có màu sắc Công giáo vì lãnh đạo phong trào là “Thiên vương” Hồng Tú Toàn tự xưng là tiểu đệ của Chúa Ky Tô. Thiên vương huy động bá tánh đánh Thiên tử.

Phong trào lan rộng tại các tỉnh miền Trung và miền Nam Trung Quốc, tàn phá các trung tâm thương mại trù phú như Tô Châu và Hàng Châu làm Đại Thanh lại mất sức, phải huy động ngoại viện để dẹp nội loạn suốt 15 năm, từ 1850 đến 1864. Phản ứng khi ấy là phải tìm lực tự chủ và cải cách kinh tế, chấn chỉnh tài chánh để canh tân xứ sở bằng kỹ thuật mới.

Kết quả là Trung Quốc có 35 năm chớm bước vào thời kỹ nghệ, với một số công trình quân sự phôi thai, trong các năm 1861-1895. Nhưng nội ngoại thương gì cũng đều tan tành vì Nhật Bản đã canh tân trước và mở ra cuộc chiến Hoa-Nhật (1894-1895).

Hải đội Mãn Thanh tan tành manh giáp. 



Tam Phân Quốc-Cộng-Nhật



Nhưng chao ôi là hiện đại, đảo Đài Loan do Trịnh Thành Công chiếm lấy năm 1662 và thời Khang Hy mới thu hồi năm 1683 nhờ công lao của Đô đốc Thi Lang lại lọt vào tay Nhật Bản. Tức là sau khi mất Hong Kong vào tay Đế quốc Anh năm 1842, Trung Quốc mất Đài Loan vào tay Đế quốc Nhật năm 1895.

Đâm ra hai khu vực kinh tế tài chánh trù phú ấy có lịch sử liên quan đến kinh tế từ Thế kỷ 19!

Sau đấy là sự tiêu vong của nhà Đại Thanh vào năm 1911. Nền cộng hòa non yếu của Hán tộc ra đời với Trung Hoa Dân Quốc dưới sự lãnh đạo của Trung Hoa Quốc Dân Đảng từ năm 1912. Khốn nỗi, nội chiến và khởi nghĩa không chỉ gây tai họa kinh tế làm nước Tầu suy sụp mà còn khiến Chính quyền Dân Quốc không thể tập trung quyền lực. Trung Quốc thực tế tan rã thành nhiều mảnh thuộc về các sứ quân hay lãnh chúa.

Lãnh đạo thời nay tại Bắc Kinh không thể không nhớ đến các bài học hợp tan như vậy.

Mười năm sau thì sự bạc nhược ngoại giao của Dân Quốc khi Thế chiến I kết thúc, vì chủ quyền của tỉnh Sơn Đông từ tay Nhật lại được trao cho Đức, mới gây phản ứng giận dữ của trí thức qua cuộc “Vận động Ngũ Tứ” (ngày bốn Tháng Năm 1919). Hậu quả bất lường của trí thức trong hành động quần chúng là Đảng Cộng sản Trung Hoa ra đời năm 1921, do Liên bang Xô viết chỉ đạo dưới nhãn Quốc tế Cộng sản (Đệ tam Quốc tế, được Moscow thành lập vào Tháng Ba 1919).

Khi ấy, Liên Xô đã yểm trợ cả Cộng Sản Đảng lẫn Quốc Dân Đảng để tiễu trừ các lãnh chúa hầu gồm thâu thiên hạ về một mối.

Nhưng thế liên hiệp Quốc-Cộng ấy chỉ được có sáu năm, nội chiến Quốc-Cộng bùng nổ năm 1927, kéo dài chục năm rồi chấm dứt năm 1937: từ bán đảo Triều Tiên được chiếm đóng từ năm 1910, Nhật Bản tràn vào lãnh thổ Trung Hoa. Chiến tranh Hoa-Nhật tái phát với Quốc Dân Đảng bị tổn thất nặng vì nỗ lực chống Nhật, rồi bị Cộng Sàn Đảng tấn công sau khi Nhật đầu hàng năm 1945. Sau bốn năm kinh hoàng về kinh tế và quân sự, nội chiến Quốc-Cộng chấm dứt khi Mao Trạch Đông chiếm được Hoa lục và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ra đời năm 1949.

Còn lãnh đạo Quốc Dân Đảng là Tưởng Giới Thạch thì dạt qua Đài Loan để giữ lại danh hiệu Trung Hoa Dân Quốc, vẫn cố phát triển kinh tế thị trường trên một địa bàn thu hẹp…. Họ tìm sức mạnh ở cái đầu, là trí tuệ, và nửa thế kỷ sau thì có thêm sức mạnh khác là thể chế dân chủ.

---

Vì số trang số chữ có hạn, kỳ sau ta tiếp tục tìm hiểu về kinh tế chính trị học Trung Quốc qua lịch sử cận đại và nói đến hiện tượng hóa dại của Mao Trạch Đông khi muốn công nghiệp hóa nước Tầu…


Thứ Tư, tháng 3 09, 2016

Ngoại Thương và Tranh Cử tại Hoa Kỳ

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160309
Diễn đàn Kinh tế 


Phá xa lộ của mình để trừng phạt xứ khác...  

 
000_8J0UR-622.jpg
* Các nhà báo xem qua TV hai ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ Hillary Clinton và Bernie Sanders tranh luận tại Đại học Michigan ở Flint, Michigan, ngày 06 tháng 3 năm 2016. AFP/Geoff Robins * 
 
 
 


Ngoài những phát biểu bất ngờ, đôi khi mâu thuẫn và sống sượng, cuộc tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ còn cho thấy một mối nguy khác, đó là tinh thần bảo hộ mậu dịch, chống các hiệp ước thương mai và có thể cản trở đà tăng trưởng quá èo uột của kinh tế toàn cầu. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu hiện tượng bất thường này của nước Mỹ…

 

TPP chỉ có hy vọng ra đời vào năm tới


Nguyễn Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, sinh hoạt kinh tế toàn cầu chưa có dấu hiệu khả quan, với đà tăng trưởng giảm sút vì các nền kinh tế lớn của thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Âu Châu đều có triệu chứng đình trệ. Trong hoàn cảnh đó, người ta có thể trông đợi là luồng giao dịch mua bán giữa các nước sẽ phần vào cứu vãn được tình hình, nhưng phải chăng nguyên tắc tự do ngoại thương xưa nay được nước Mỹ cổ võ và phát huy lại là nạn nhân của cuộc tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ? Diễn đàn Kinh tế xin ông phân tích vấn đề này sau khi cảnh báo vào tuần trước là hiện tượng toàn cầu hóa bị thoái lui.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là về bối cảnh chung, kinh tế thế giới đang có nhiều biến động trên thị trường tài chính với nguy cơ suy trầm lan rộng, cho nên, như Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF vừa đề nghị, các quốc gia cần phối hợp chánh sách để kích thích sản xuất. Tuy nhiên, hai ngày hội nghị của các bộ trưởng tài chánh và thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm G-20 tại Thượng Hải vào tuần trước lại là cơ hội cho các đại biểu đổ lỗi cho nhau mà không thỏa thuận nổi về một giải pháp đồng bộ như trong một hội nghị trước của nhóm G-20 vào Tháng Tư năm 2009. Thật ra, các nước còn chưa đồng ý về mục tiêu chứ chưa nói gì về các biện pháp phải thi hành để đạt các mục tiêu ấy.  Vì vậy, người ta mới sợ tái diễn kịch bản tổng suy trầm.

Trong tình trạng hiện tại, Quốc hội Hoa Kỳ chưa thể cứu xét để phê chuẩn và không khí tranh cử náo nhiệt càng cho thấy là Hiệp ước TPP chỉ có hy vọng ra đời vào năm tới thôi. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Giữa khung cảnh u ám này, nhiều trung tâm nghiên cứu còn dự báo là năm nay đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu có thể chỉ là 2,2 tới 2,4% mà thôi. Một trong các nguyên nhân chính là sự giảm sút của luồng giao dịch thương mại, tức là số xuất nhập khẩu giữa các nước với nhau. Theo tổ chức OECD của 34 quốc gia giàu mạnh nhất, có trụ sở tại Paris, thì lượng ngoại thương đã giảm mạnh từ năm 2012 và làm đà tăng trưởng sản xuất của các nước giàu mạnh bị hụt mỗi năm mất nửa phần trăm. Nhìn vào một viễn ảnh xa hơn thì kể từ vụ khủng bố 9-11 tại Hoa Kỳ, chưa khi nào mà đà tăng trưởng về ngoại thương lại sa sút như vậy và hậu quả sẽ bất lợi cho tăng trưởng sản xuất vì thương mại mới là lực đẩy cho sản xuất.

Nguyên Lam: Thưa ông, xưa nay các nước đều trông cậy vào sức tiêu thụ của thị trường Hoa Kỳ và vừa qua thì việc Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP đã thổi lên hy vọng về sức phát triển ngoại thương với nước Mỹ là đầu máy. Nhưng hình như là trong cuộc tranh cử tổng thống đang bước vào giai đoạn gay cấn thì ít ai hy vọng gì ở phép lạ TPP. Trái lại, các ứng cử viên còn lại trong cuộc tranh cử đều hoặc là hoài nghi hoặc là ra mặt chống đối nguyên tắc tự do mậu dịch và bản Hiệp ước này. Ông nhận xét thế nào về hiện tượng ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả thật là bên đảng Dân Chủ, Nghị sĩ Bernie Sanders có chủ trương triệt để bảo hộ mậu dịch, thậm chí chống  tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường theo lý luận cực tả khá quen thuộc. Nhưng ứng cử viên có nhiều hy vọng hơn của đảng Dân Chủ là bà Cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton cũng lại thay đổi lập trường. Khi còn làm Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Barack Obama, bà Clinton vận động rất mạnh cho Hiệp ước TPP  và nhiều lần gọi hiệp ước này là tiêu chuẩn vàng ròng của thương mại quốc tế. Nhưng từ năm ngoái, khi Hiệp ước TPP được 12 nước thông qua thì bà đã tỏ vẻ hoài nghi và nay đòi xét lại.

Nguyên Lam: Ông giải thích thế nào về chuyện ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng khi tranh cử, mục tiêu của mọi người đều là thắng cử đã và muốn như vậy thì phải nghe ngóng xem cử tri muốn gì ở từng địa phương về từng vấn đề. Nhưng khi đắc cử thì người ta mới thấy ra sự lợi hại của thực tế nên còn có thể đổi lập trường. Bà Hillary không thể quên rằng ông chồng là Tổng thống Bill Clinton là người đã cổ võ mạnh cho Hiệp ước Tự do Thương mại Bắc Mỹ là NAFTA vào năm 1994. Sau này, Nghị sĩ Barack Obama cũng chống hiệp ước đó cho tới khi đắc cử Tổng thống thì mới thấy ra lợi ích của tự do mậu dịch nên xoay ra ủng hộ Hiệp ước TPP với tham vọng sẽ ban hành hiệp ước này trước khi mãn nhiệm. Nào ngờ là ông lại bị nhiều dân biểu nghị sĩ trong cùng đảng Dân Chủ phản đối về hiệp ước này từ năm ngoái. Trong tình trạng hiện tại, Quốc hội Hoa Kỳ chưa thể cứu xét để phê chuẩn và không khí tranh cử náo nhiệt càng cho thấy là Hiệp ước TPP chỉ có hy vọng ra đời vào năm tới thôi. Chúng ta đã dự đoán điều này từ năm ngoái.

 

Chống hay bảo hộ mậu dịch tự do?  


000_8K0GE-400.jpg
Ảnh minh họa chụp tại Detroit, Hoa Kỳ hôm 7/3/2016. Geoff Robins / AFP.
 
 
Nguyên Lam: Thưa ông Nghĩa, nói chung, xu hướng của đa số bên Dân Chủ vẫn là chống tự do mậu dịch, khác hẳn với xu hướng Cộng Hòa. Nhìn qua đảng Cộng Hòa thì ông thấy sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, đại đa số của 17 ứng cử viên Cộng Hòa đều đã rút lui, trong số này nhiều nhân vật có đầy kinh nghiệm về quản lý kinh tế và giao dịch quốc tế nên ủng hộ Hiệp ước TPP vì hiểu ra lợi ích lâu dài của nguyên tắc tự do mậu dịch. Còn lại bốn người thì nhân vật đang dẫn đầu là tỷ phú Donald Trump lại kịch liệt đề cao tinh thần bảo hộ, thậm chí tinh thần tự cô lập rất tai hại cho nước Mỹ. Thuần về kinh tế thì ông còn chủ trương tăng thuế nhập nội thêm 45% trên hàng hóa nhập từ Trung Quốc và Nhật Bản, đả kích TPP là làm Trung Quốc, Việt Nam hay Ấn Độ hoặc Mexico cướp mất việc làm của dân Mỹ. Hôm Thứ Năm 25 tháng trước, trong cuộc tranh luận với các ứng cử viên Cộng Hòa, ông Trump thản nhiên tuyên bố rằng ông không sợ các trận chiến thương mại. Ai cũng biết rằng nhân vật này ưa phát biểu điều mâu thuẫn và thay đổi lập trường còn nhanh hơn thay áo, nhưng tinh thần bảo hộ mậu dịch của ông là nét nổi bật trong cuộc tranh cử hiện nay.

Nguyên Lam: Là một chuyên gia kinh tế, ông nghĩ thế nào về lập trường chính trị đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Không nói về đặc tính riêng của từng người theo từng đảng, chúng ta cũng thấy là ở đời thì phải có nhau! Khi chủ trương nâng thuế nhập nội, là dựng lên hàng rào quan thuế, người ta mặc nhiên gây chiến với các nước đối tác kia và tất nhiên họ phải trả đũa. Nếu xứ nào cũng dựng chiến hào thương mại để chặn hàng của xứ khác thì đôi bên đều bị hại.

- Trong lịch sử cận đại của Hoa Kỳ, tâm lý hốt hoảng sau vụ cổ phiếu sụt giá năm 1929 dẫn tới đạo luật bảo hộ mậu dịch Smoot-Hawley nhằm bảo vệ quyền lợi cục bộ của nước Mỹ. Hậu quả tai hại là phản ứng chống đối của Anh, Pháp, Canada. Sau này các nhà nghiên cứu mới thấy văn kiện bảo hộ mậu dịch ấy lại kéo dài cuộc Tổng khủng hoảng 1929-1933 và góp phần dẫn tới Thế chiến II vào năm 1939. Đấy là hiện tượng gọi là “hậu quả bất lường” trong kinh tế. Một cách đơn giản hơn thì mình nên nghĩ biện pháp bảo hộ mậu dịch cũng tương tự như phá hoại cầu đường hay xa lộ của mình để trừng phạt xứ khác mà chẳng thấy là chính mình lại bị thiệt.

Nguyên Lam: Ông giải thích thế nào về lập trường của ứng cử viên Donald Trump? Dù sao ông ta cũng là doanh gia đã có quan hệ về đầu tư buôn bán với các nước từ nhiều năm qua và hiển nhiên phải hiểu lịch sử Hoa Kỳ trong các biến động kinh tế khoảng 80 năm trước chứ?

Một cách đơn giản hơn thì mình nên nghĩ biện pháp bảo hộ mậu dịch cũng tương tự như phá hoại cầu đường hay xa lộ của mình để trừng phạt xứ khác mà chẳng thấy là chính mình lại bị thiệt.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Là doanh gia, ông Trump biết trả giá và ngã giá nên biết tiến thoái vì quyền lợi như ông ta đã phát biểu tuần qua. Tức là nhân vật này nói trước là sẽ đổi lập trường. Còn lại, tôi không tin là ông ta quan tâm hoặc tìm hiểu lịch sử như nhiều người chờ đợi.

- Chúng ta không quên rằng Hoa Kỳ đã rút tỉa sai lầm từ vụ Tổng khủng hoảng 1929-1933 và cải sửa nên mới đề cao tự do mậu dịch và trở thành đầu máy kinh tế cho thế giới với kết quả ngoại giao và chiến lược có lợi cho nước Mỹ trong khoảng thời gian bảy tám chục năm qua. Nhìn xa hơn vậy, Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rằng Quốc hội mới là cơ chế có thẩm quyền về kinh tế tài chính nhưng sau vụ sai lầm quá tai hại của đạo luật bảo hộ mậu dịch Smoot-Hawley nên Quốc hội có hướng ủy nhiệm cho Hành pháp quyền thương thuyết về mậu dịch và từ 70 năm qua, các Tổng thống của cả hai đảng đều theo xu hướng tự do mậu dịch. Đôi khi, vì lý do cục bộ nhằm thỏa mãn một thành phần cử tri, có Tổng thống lại đề nghị một biện pháp bảo hộ, nhưng trường hợp ấy thật ra cũng hãn hữu và không kéo dài.

Nguyên Lam: Thưa ông, nếu như vậy, ông giải thích thế nào về tinh thần bảo hộ có vẻ như đang phổ biến hiện nay tại Hoa Kỳ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra thì chẳng riêng tại Hoa Kỳ mà ta cũng thấy chuyện tương tự ở nhiều nước khác, kể cả Âu Châu. Điều đáng chú ý là trước đây Hoa Kỳ vẫn có tiếng nói chủ đạo về tự do ngoại thương để thuyết phục thế giới. Trong vụ khủng hoảng chính trị này, nước Mỹ đã thoái thác vai trò lãnh đạo và đấy mới là điều đáng lo.

Lý do sâu xa là thế giới đang có nhiều bài toán kinh tế nan giải khiến cho suy trầm lan rộng và nhiều khối kinh tế còn áp dụng biện pháp tiền tệ bất thường là lãi suất dưới số không mà chưa thấy công hiệu, như tại Âu Châu và gần đây là Nhật. Nhiều giới chức lãnh đạo hệ thống ngân hàng trung ương Mỹ cũng không loại bỏ kịch bản là Hoa Kỳ có thể hạ lãi suất quá thấp hiện nay xuống mức âm. Chúng ta đang gặp một trường hợp phải nói là hãn hữu, chưa từng có.

- Một trong nhiều nguyên do làm cho bài toán kinh tế rất khó giải quyết chính là nạn ách tắc chính trị. Đấy là khủng hoảng niềm tin của thị trường vào chính trường, như chúng ta có lần đề cập trên diễn đàn này từ nhiều năm trước. Hậu quả tại Mỹ là người dân hết tin vào chính trị gia nhà nghề, dù nhiều người trong số này đã dày kinh nghiệm kinh bang tế thế. Vì thất vọng với các chính khách chuyên nghiệp, cử tri Mỹ muốn tìm khuôn mặt mới và rơi vào cảnh ngộ còn tai hại hơn, là tin vào lý luận nhuốm mùi mị dân. Hoàn cảnh ấy mới giải thích sự thắng thế bất ngờ của một doanh gia như ông Trump. Ông xuất hiện với hình ảnh và ngôn ngữ khinh miệt các chính trị gia và đổ lỗi cho ai khác về nổi lầm than kinh tế có thật của nhiều người.

Nguyên Lam: Từ cuối năm ngoái, ông đã cảnh báo tình trạng bất trắc của kinh tế toàn cầu trong năm 2016. Bây giờ, ta lại có thêm yếu tố bất trắc nữa là cuộc tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ, ông kết luận thế nào về viễn ảnh trước mắt của các nước trên thế giới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có nhiều cách nhìn hiện tượng này. Về những bất trắc thì thật ra tình hình kinh tế Trung Quốc còn đáng ngại hơn Hoa Kỳ, sau thông báo tại kỳ họp Quốc hội Khóa 12 vào cuối tuần qua và sau khi công ty Moody’s hạ mức tín nhiệm của công khố phiếu và trái phiếu Trung Quốc. Trong nền dân chủ, người ta có quyền ồn ào phát biểu, tranh luận và phơi bày một hình ảnh bát nháo kỳ cục của quyền tự do. Nhưng rốt cuộc thì chẳng ai bị bắt bớ tù đầy vì quan điểm chính trị của mình, và sau cùng thì vẫn còn hy vọng tìm ra giải pháp ít tệ hại nhất. Trong chế độ độc tài thì đảng và nhà nước làm như biết hết mọi chuyện và có thể kiểm soát được mọi việc và tống giam những người bất đồng chính kiến, rốt cuộc là lại làm cho tình hình kinh tế thêm trầm trọng và vượt khỏi khả năng quản lý của nhà nước.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này. 


Thứ Năm, tháng 3 03, 2016

Toàn Cầu Hóa Thoái Lui

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160302
"Diễn đàn Kinh tế"

Việt Nam nhập cuộc khi cuộc chơi bị phản đối   


000_Hkg10188156-622.jpg
* Nhà máy lắp ráp xe hơi Hyundai thuộc công ty Thành Công ở ngoại thành Hà Nội, ảnh chụp năm 2015. - AFP PHOTO / HOANG DINH Nam * 

Việt Nam đang chính thức bước vào sân chơi toàn cầu hoá khi thành hội viên của Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, của Thị trường chung ASEAN và đối tác thương mại của Liên hiệp Âu châu. Mở đầu một thời kỳ mới với nhiều triển vọng vào năm tới, Việt Nam nên quan tâm đến loại vấn đề gì thuộc mặt trái của hiện tượng toàn cầu hoá nói trên?

 

Việt Nam vẫn chưa bị ảnh hưởng nặng

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, sau các hiệp ước tự do thương mại được ký kết năm ngoái, Việt Nam sẽ hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế toàn cầu. Nhưng, triển vọng rộng mở vẫn còn nhiều mặt tiêu cực vì Việt Nam có thể chậm cải cách để gia nhập sân chơi của quốc tế, là điều chúng ta đã nhiều lần tìm hiểu. Lần này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ trao đổi về mặt trái hay rủi ro của việc toàn cầu hoá đó. Lý do là môi trường quốc tế đang có biến động lớn mà nổi bật nhất là phản ứng chống tự do mậu dịch  tại Hoa Kỳ trong cuộc tranh cử sôi nổi năm nay. Câu hỏi của chúng tôi là Việt Nam nên tự chuẩn bị cho những gì sẽ xảy ra ở bên ngoài?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: -
Theo tập quán của diễn đàn là trình bày nghịch lý, tôi xin được nói là Việt Nam chưa gặp hoặc thấy ra những rủi ro hay vấn đề trong năm tới sau khi các hiệp ước đó được ngần ấy quốc gia thông qua. Ngay trước mắt, tình hình chỉ là sự đình trệ và nghe ngóng cho tới khi Quốc hội khóa mới hoàn tất việc chỉ định nhân sự cầm đầu các cơ chế Nhà nước.

Việt Nam sẽ còn lạc quan và chỉ thấy thành quả của thiểu số sôi nổi ở mặt ngoài mà chưa nhìn ra một làn sóng đáy đang thách đố chính phạm trù toàn cầu hóa. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Trong khi ấy, tốc độ tăng trưởng tại Đông Á có thể giảm sút vì thị trường xuất khẩu thu hẹp, chủ yếu do chu kỳ sa sút tại Trung Quốc và chưa phục hồi tại Nhật Bản. Đó là bức tranh toàn cảnh. Song song, các chấn động kinh tế từ năm 2008 cũng dội ngược vào Hoa Kỳ và gây bất mãn trong quần chúng vào một năm có tổng tuyển cử khiến tinh thần tự do mậu dịch truyền thống của nước Mỹ đang bị đẩy lui. Điển hình là phản ứng chống đối hay nghi ngờ Hiệp ước TPP và cả trào lưu toàn cầu hóa trong số ứng cử viên ra tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ.

- Trong khung cảnh đó, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn được duy trì ở mức 6% và chưa giảm sút mạnh. Khi hy vọng cùng bơi trên một dòng nước, dù kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm nhẹ và nhập khẩu ít hơn, Việt Nam vẫn chưa bị ảnh hưởng nặng như các xứ Đông Á khác. Một phần không nhỏ cũng do sự hiện hữu và tác động của cộng đồng người Việt sống tại Mỹ!


Nguyên Lam: Trên diễn đàn này, ông hay cảnh báo về những thách đố Việt Nam có thể gặp, lần này, ông lại có vẻ lạc quan! Ông có thể giải thích vì sao không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trên diễn đàn này, quả thật là ta đã liên tiếp cảnh báo về nỗi khó khăn Việt Nam sẽ gặp, từ tình trạng thiếu thông tin khiến dân chúng và doanh nghiệp chưa biết rõ về luật chơi mới, cho đến các vấn đề về lao động và nông nghiệp, những đòi hỏi về cải cách doanh nghiệp và ngân hàng, v.v.... Tuy nhiên, nghịch lý nếu có ở đây chỉ là vấn đề thời điểm. Ngay trước mắt, sự lạc quan vẫn là quy luật phổ biến và có nói thì cũng chẳng ai nghe. Sự lạc quan ấy sẽ thổi lên cả chục trái bóng đầu cơ để vơ vét mẻ cuối, sau đấy mới là thực tế não nề.

Nguyên Lam: Thựcc tế ấy là gì, làm sao người ta có thể thấy trước được?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nước công nghiệp hóa Âu-Mỹ tiên tiến đi sớm nhất vào toàn cầu hóa lại hoài nghi tự do mậu dịch. Tại Âu Châu thì chủ yếu vì an ninh. Tại Hoa Kỳ thì do nạn mị dân từ cả hai phía tả hữu cực đoan nhất trong cuộc tranh cử. Như đã trình bày từ năm ngoái, người ta kết án Việt Nam là làm dân Mỹ mất việc! Chuyện ấy sai về kinh tế nhưng hấp dẫn về chính trị. Cho nên Việt Nam sẽ còn lạc quan và chỉ thấy thành quả của thiểu số sôi nổi ở mặt ngoài mà chưa nhìn ra một làn sóng đáy đang thách đố chính phạm trù toàn cầu hóa.


000_Hkg10247528-622.jpg
Ảnh minh họa chụp ở Thượng Hải hôm 18/1/2016.


Nguyên Lam: Ông đã từng đề cập tới mặt trái của hiện tượng ấy khi phân tách phản ứng bảo hộ mậu dịch và bảo vệ nông sản tại các nước giàu khiến các xứ đang phát triển như Việt Nam có thể bị thiệt hại mà cứ tưởng từ nay nhờ toàn cầu hoá mà mức sống người dân nghèo sẽ được cải thiện. Vấn đề có nằm ở đó chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và đây là vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm. Vấn đề là thời điểm và giác độ khảo cập, cái phương hướng tìm hiểu nội vụ.

Nguyên Lam: Xin ông trước tiên trình bày bối cảnh của vấn đề, sau đó phân tách các yếu tố quyết định rồi ảnh hưởng của chúng.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hiện tượng toàn cầu hóa hay kinh tế nhất thể hoá trên thế giới thực ra chỉ trở nên toàn diện từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, ngẫu nhiên trùng hợp với sự sụp đổ của Liên xô và lý luận kinh tế chính trị học Mác-Lênin. Từ đấy, thương mại và đầu tư tài chính bành trướng mạnh và thực tế nâng mức sống của người dân tại các nước nghèo, kể cả các nước Đông Âu hay Trung Âu. Biến chuyển ấy cũng trùng hợp với quyết định đổi mới của Việt Nam sau năm năm do dự chỉ đổi mới ở khẩu hiệu và biểu ngữ. Kể từ 1991, người ta ca tụng tự do mậu dịch và kinh tế thị trường rồi càng hồ hởi lạc quan vì hiệu ứng của cách mạng công nghệ tín học, của nền kinh tế tri thức, v.v... Thế rồi...

 

Dân tại các nước giàu lại nghèo đi


Nguyên Lam: Thế rồi, nghĩa là ông đang nói đến làn sóng đáy, thế rồi chuyện gì đã xảy ra?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế rồi vụ khủng hoảng và Tổng suy trầm năm 2008 làm người ta khám phá rằng thành quả của toàn cầu hóa lại không được phân phối đồng đều cho người dân ở hai thế giới xin tạm gọi là giàu và nghèo. Đây là một nghịch lý lạ có thể giải thích các vấn đề Việt Nam sẽ còn gặp sau này. Kết quả của toàn cầu hoá là các nước nghèo càng tham dự thì mức sống người dân tại đấy càng sung túc hơn, một cách tương đối theo tốc độ gia tăng lợi tức. Điển hình là tại Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và cả các nước Âu châu trong khối Xô viết cũ lẫn các xứ Hồi giáo Trung Đông. Mạnh nhất và nhanh nhất là tại Đông Á với lợi tức đồng niên một đầu người tăng bình quân là hơn 6% một năm trong nhiều năm. Hiệu ứng thịnh vượng ấy kéo theo sự lạc quan phổ biến trên các thị trường.

- Nhưng, mặt trái của vấn đề là người dân tại các nước giàu lại thấy là họ nghèo đi. Hoặc lợi tức hay lương bổng không tăng mạnh như mong đợi hoặc đã thấy tại các xứ khác. Nói cho dễ hiểu là dân Đức hay dân Pháp thì thấy việc làm và lợi tức của họ chảy qua Ba Lan hay Hungary; dân Mỹ thì cho là họ mất việc và mất lương vì hãng xưởng dời qua Mexico, đầu tư tại Hoa lục hay đặt làm gia công tại Ấn Độ, Việt Nam... Nói cho gần gũi thì nhiều shop may của người Việt tại Mỹ đã phải đóng cửa và nhà đầu tư vượt Thái Bình Dương về lập cơ sở sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu ngược về Mỹ. Dân Việt tại Việt Nam có thêm việc làm mà dân Việt tại California phải tìm việc khác, nhiều người bèn tìm cơ hội mới tại Việt Nam và kiếm ra tiền còn nhanh hơn. Nhiều người Mỹ thì e rằng sau khi áp dụng Hiệp ước TPP, họ sẽ bị thất nghiệp!

Nguyên Lam: Ông đang trình bày một hiện tượng rất lạ mà xét ra cũng có vẻ hợp lý. Nhưng, thưa ông, đấy là cảm quan ấn tượng của thị trường và xã hội hay là thực tế của kinh tế?

Nhưng, mặt trái của vấn đề là người dân tại các nước giàu lại thấy là họ nghèo đi. Hoặc lợi tức hay lương bổng không tăng mạnh như mong đợi hoặc đã thấy tại các xứ khác. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quy luật của kinh doanh là tìm nơi sản xuất ra rẻ nhất với lợi nhuận cao nhất. Tại Hoa Kỳ, người ta có thể tìm đến tiểu bang có môi trường kinh doanh thông thoáng và nhẹ thuế, đó là hiện tượng “outsourcing” mọi người cho là bình thường. Nhưng khi doanh nghiệp tìm đến các quốc gia khác, gọi là off-shore, thì lại bị cánh tả kết án. Lần này thì cả tả hữu vì cũng đều đả kích việc đó!

- Nguyên nhân của loại quyết định kinh doanh chính đáng ấy là tỷ trọng của lương bổng hay lợi tức công nhân viên bị giảm sút khi doanh nghiệp đầu tư ra ngoài, hoặc đặt làm gia công ở bên ngoài, ở các nước nghèo có khả năng thỏa mãn doanh nghiệp. Người dân ở các nước nghèo có thêm việc làm và nếu có trình độ tay nghề cao – là trường hợp chưa xảy ra cho Việt Nam - thì họ còn góp phần nâng cao năng suất và lợi tức của doanh nghiệp đầu tư, từ các nước giàu.

- Ngược lại, phần vụ lao động - là lực lượng công nhân viên tại các nước đã phát triển - lại chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với tư bản. Lực lượng ấy không thấy lợi tức của họ gia tăng đáng kể. Ít ra tăng không nhanh bằng thành phần lao động của các nước nghèo. Đồng thời, cuộc cách mạng về công nghệ tin học còn khiến họ bị mất việc ngay trong lĩnh vực họ tưởng là có ưu thế cao là công nghệ thông tin. Họ tự thấy là nạn nhân của toàn cầu hoá. Vì sống trong các nước dân chủ - ta không thể trở thành công nghiệp tiên tiến nếu không có dân chủ - họ bèn vận động  chính trường và sử dụng các chính khách mị dân. Cuộc tranh cử tại Mỹ đang cho thấy điều ấy.

Nguyên Lam: Thưa ông, đấy chỉ là hiện tưng cục bộ tại Hoa Kỳ, hay một số quốc gia công nghiệp hay là trường hợp phổ biến trong các nước giàu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là xu hướng này có thể thấy tại mọi nơi, từ môt xứ ít vấn đề và có kinh tế và tương lai gắn bó với Á châu là Australia. Nó là trào lưu phổ biến tại Pháp, Đức, Nhật, Ý hay Tây Ban Nha và nay là Hoa Kỳ. Tại nhiều nơi, họ nói đến chủ nghĩa kinh tế dân tộc, là hạn chế tự do đầu tư và mậu dịch để bảo vệ quyền lợi quốc gia, hoặc chống di dân vì sợ khủng bố. Tại Hoa Kỳ, người ta than rằng là công nhân viên không được tưỏng thưởng đúng mức, lợi tức tăng quá chậm vì toàn cầu hoá. Người ta nói đến mậu dịch công bằng, fair trade, thay vì mậu dịch tự do, free trade. Đấy là chuyện lếu láo, nhưng chìm sâu bên dưới còn có làn sóng chống tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường nữa. Chính làn sóng đáy ấy mới tạo ra hình ảnh khá kỳ cục của nước Mỹ vào mùa bầu cử.

Nguyên Lam: Ông đang chấm vào một điểm bất ngờ mà nhức nhối của toàn cầu hoá. Theo như ông dự đoán thì tình hình sẽ ra sao và ảnh hưởng thế nào tới Việt Nam khi đang hồ hởi hội nhập vào một sân chơi mới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta khó biết chắc mọi chuyện về tương lai, nhưng căn cứ trên những biến động chưa dứt từ năm 2008, đây là điều có thể xảy ra với xác suất cao từ giữa năm trở đi, tức là sau khi Việt Nam hết reo vui vì viễn ảnh toàn cầu hóa.

- Thứ nhất, vì kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng chậm hơn do hiệu ứng suy sụp tại Trung Quốc, suy trầm tại Âu Châu và cả Hoa Kỳ, các nước sẽ cạnh tranh kịch liệt hơn để giành thị phần xuất khẩu. Kết quả là phản ứng bảo hộ mậu dịch sẽ chỉ tăng chứ không giảm giữa các nước.

- Thứ hai, toàn cầu hóa sẽ bị khựng và các nước sẽ thỏa hiệp song phương hoặc từng nhóm với nhau để trao đổi và chia sẻ lợi ích. Hiện tượng kinh tế nhất thể hoá có thể bị chặn và thay thế bằng kinh tế tự do trong từng khối với hậu quả bất lợi cho các nước nghèo. Thứ ba, tại các nước giàu, thị trường bị chính trường chi phối mạnh hơn, doanh nghiệp tiếp tục bị kiểm soát kỹ hơn để hãm đà đầu tư vào các nước nghèo và bảo vệ quyền lợi công nhân viên ở nhà. Vì vậy, họ thận trọng hơn khi đầu tư vào các nước nghèo như Việt Nam nếu môi trường nơi đó không thực sự thông thoáng và có lợi.

- Nói chung, sự thăng trầm của thị trường hay tâm lý của tác nhân kinh tế chỉ là chu kỳ, có lúc triều cương, có khi thoái trào. Việt Nam gia nhập cuộc chơi ấy khi toàn cầu hóa có thể bị khựng, từ năm tới trở đi.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích này.

----

Một tin rất buồn, Học giả Nguyễn Ngọc Bích, nhà ngữ học và nguyên Giám đốc Ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do từ ngày thành lập, đã bất ngờ tạ thế ở tuổi 79, trên chuyến bay từ Hoa Kỳ đi Philippines để tranh đấu cho Việt Nam. Kính xin những ai đã biết Nguyễn Ngọc Bích, hay đã đọc biên khảo của ông, cầu nguyện cho hương hồn của một người vô cùng tử tế và có lòng với quê hương cho đến giây phút cuối. NXN