Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Hoa Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, tháng 4 19, 2016

Đi Vay Để Tiêu Trước



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt 160418
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"


Thế hệ về sau sẽ trả… lời?    


* Bìa báo TIME tuần này: gánh nợ chia cho mỗi người dân *



Không chỉ có Trung Quốc mà toàn cầu đều rơi vào một chu kỳ tăng trưởng chậm, được gọi là “trạng thái bình thường mới”, hay “tân thường thái”. Vì sao lại như vậy?

Có thể là do chuyển dịch nhân khẩu khi dân số của nhiều quốc gia tăng chậm làm số người cao nhiên chiếm tỷ trọng lớn hơn so với dân số trong tuổi lao động. Theo định nghĩa, cao niên là tốn kém vì nhu cầu hưu liễm và y tế vượt quá khả năng đóng góp thuế khóa. Nhưng dù có dân số trẻ hơn nhiều nước Âu Á, Hoa Kỳ cũng gặp đà tăng trưởng thấp cho nên yếu tố nhân khẩu không giải thích được tất cả. Chúng ta phải tìm nguyên nhân ở điều gì khác….   

Các ứng cử viên đang xin phiếu cho các chức vụ dân cử từ thấp lên cao chưa nói gì đến hiện tượng ấy, nhưng nếu đắc cử, họ sẽ phải tìm giải pháp…

Nhìn trong thật ngắn hạn, với thời khoảng dưới một năm, thì người ta đã thấy chiều hướng đáng ngại là mức lời của doanh nghiệp tại Hoa Kỳ sút giảm, đo lường ở tiêu chuẩn tiền lời chia cho một cổ phiếu hay “earning per share” và điều ấy báo hiệu nạn suy trầm ngay trước mắt. Nhưng vấn đề lại trầm trọng hơn vì không giới hạn vào nước Mỹ và trong đoản kỳ mà là một hiện tượng rộng lớn tích lũy từ nhiều năm nay. Hiện tượng ấy là mức vay mượn quá lớn của các nền kinh tế giàu mạnh nhất.

Người ta lạc quan nói rằng “đi vay là để tiêu sớm”. Nếu tiêu dùng đúng chỗ thì việc vay mượn là cái đòn bẩy sẽ tạo ra nhiều của cải hơn và khách nợ có thừa khả năng thanh toán món nợ. Đây là khái niệm đòn bẩy hay “leverage”. Nhưng nếu vay quá nhiều thì có khi đòn bẩy bị gẫy, và kinh tế suy sụp, nguyên nhân của hiện tượng “tân thường thái”.

Bài này sẽ xoáy vào chuyện nhức đầu vì kinh tế cũng là chính trị.

Từ nhiều năm qua, người ta thấy ngân hàng trung ương của bốn nhóm kinh tế có sản lượng cao nhất là Âu Châu, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản đã tung ra nhiều biện pháp tín dụng và tiền tệ như hạ lãi suất và ào ạt bơm tiền để kích thích kinh tế. Trong số này, loại biện pháp bất thường nhất là ngân hàng trung ương hạ lãi suất gần tới số không như Hoa Kỳ, hoặc còn dưới số không như Âu Châu và Nhật Bản, cũng được áp dụng. Nhưng kết quả là sự thất vọng, và hậu quả bất lường là trừng phạt tiết kiệm với lãi suất âm còn dẫn tới nghịch lý là nâng mức tiết kiệm bằng tiền mặt thay vì giúp cho tài hóa lưu thông nhiều hơn và nâng cao sản xuất.  

Khi một số chuyên gia kinh tế đề nghị thu hồi và không cho lưu hành các tờ giấy bạc có mệnh giá cao thì đấy không chỉ là biện pháp chống khủng bố hay các tổ chức ma túy mất cơ hội dùng bạc mặt cho tội ác. Họ cũng muốn giải trừ phản ứng tiết kiệm! Chuyện ngược đời của “tân thường thái”.

Trong khi các ngân hàng trung ương lớn nhất như Fed của Mỹ, European Central Bank (ECB) của Âu Châu, Bank of Japan (BoJ) của Nhật và People’s Bank of China (PBoC) của Tầu còn bần thần thì nhiều trung tâm nghiên cứu lại chỉ ra một hiện tượng bất thường hơn nữa: nếu không kể các khoản nợ ngoài bảng kết toán tài sản, tổng số nợ công và tư của bốn khối kinh tế ấy đều lên tới mức báo động.

So với Tổng sản lượng Nội địa GDP thì từ năm ngoái, trái khoản công tư của Tầu là 350%, của Mỹ là 370%, của khối Euro là 457% và của Nhật là 615%. Khi kinh tế quốc dân mắc nợ nhiều như vậy thì mọi biện pháp tiền tệ cổ điển hay bất thường đều bị vô hiệu hóa và hậu quả là tăng trưởng sút giảm, nhẹ thì bị suy trầm, nặng hơn thì bị suy thoái. Và nếu cả bốn đầy máy kinh tế mạnh nhất của thế giới đều bị suy thoái thì đấy là khủng hoảng.

Trở lại chuyện Hoa Kỳ, các chính trị gia và ứng viên trong cuộc tranh cử Tổng thống và lưỡng viện Quốc Hội lẫn các chức vụ dân cử ở địa phương đều phải giải quyết bài toán này sau khi đắc cử. Nhưng trước hết, tình hình nghiêm trọng tới mức nào?

Năm qua (2015), tổng số nợ ngoài khu vực tài chánh tăng mạnh hơn đà tăng trưởng sản xuất, gấp 3,5 năm lần. Phân giải khối nợ này, ta có bốn loại là 1/ nợ của các hộ gia đình, 2/ nợ của doanh nghiệp, 3/ nợ của chính quyền liên bang và 4/ nợ của các chính quyền tiểu bang và địa phương, mà loại nào cũng có vấn đề.

Thứ nhất, trong khối nợ của các hộ gia đình, nếu khoản nợ gia cư có giảm thì các loại nợ không thế chấp lại tăng. Nói nôm na là tín dụng cho tiêu thụ, như để mua xe hay mua bằng thẻ nhựa đã tăng. Và nạn vỡ nợ tăng mạnh khi các cơ quan tài chánh như ngân hàng và công ty tín dụng nới lỏng điều kiện tài trợ. Theo Ngân hàng Dự trữ New York thì loại tín dụng thứ cấp, sub-prime auto loans, đang lên tới mức cao nhất kể từ 10 năm nay. Ta không quên tín dụng thứ cấp là cho vay với tiêu chuẩn dễ dãi để giúp dân nghèo dễ mua nhà là một nguyên do của bong bóng trên thị trường gia cư khiến kinh tế khủng hoảng khi bóng bể vào các năm 2006-2007.

Thứ hai, trong loại nợ của doanh nghiệp thì tăng số tổng cộng năm ngoái lên tới 793 tỷ mà tín dụng cho nhu cầu đầu tư chỉ tăng có 93 tỷ. Doanh nghiệp vay nhiều không để cho sản xuất - nên kinh tế tăng trưởng thấp - mà nhắm vào mục tiêu tài chánh, như mua lại cổ phiếu, nâng mức lời chia cho cổ đông. Loại tín dụng tài chánh này không yểm trợ sản xuất và góp phần làm giảm thất nghiệp mà chỉ là chia chác quyền lợi cho thiểu số có tiền. Mà chiều hướng ấy tăng mạnh từ năm năm qua. Hậu quả xã hội là dân Mỹ than vãn về nạn bất bình đẳng, thậm chí bất công, khiến các ứng cử viên khai thác lập luận mị dân như Nghị sĩ Bernie Sanders hay tỷ phú Donald Trump được nhiều người ủng hộ dù hai ứng cử viên này chưa hề nói đến nguyên nhân hay giải pháp.

Khi nhớ tới chuyện ngắn hạn là doanh lợi xí nghiệp có giảm – một chỉ dấu tiên báo nạn suy trầm năm nay – ta có thể thấy hai mối nguy dồn làm một. Chuyện thứ ba còn đáng ngại hơn.

Năm ngoái, nợ của Chính quyền Liên bang tăng thêm 781 tỷ Mỹ kim trong khi sản lượng kinh tế chỉ tăng có 550 tỷ và cao hơn số bội chi ngân sách liên bang (là 478 tỷ). Chi tiết chuyên môn ấy báo trước mối nguy của gánh nặng công trái (nợ của khu vực công quyền). Theo cơ quan nghiên cứu độc lập Congressional Budget Office của Quốc hội Hoa Kỳ, trong 11 năm tới, tổng số nợ của Chính quyền Liên bang sẽ thêm 30 ngàn tỷ, so với khối nợ vào đầu năm nay là tăng 10 ngàn tỷ. Nguyên nhân là nhu cầu tài trợ của quỹ An sinh xã hội, Medicare và Obama Care. Trong mươi năm tới, thể nào kinh tế cũng có thể bị suy trầm, trung bình thì sáu bảy năm lại gặp một lần, lần cuối là vào năm 2009. Nếu kinh tế suy trầm, nguồn thu nhờ thuế khóa sẽ giảm và ngân sách liên bang càng bị bội chi nặng.

Cho tới nay, các chính trị gia đều tránh nhắc tới ba hố nợ Social Security, Medicare và Obama Care vì phải nêu ra giải pháp kém vui làm mất phiếu. Vào năm tới, Tổng thống và Quốc hội tân cử sẽ đối mặt với thực tế này.

Thứ tư, núi nợ liên bang ấy không kể tới loại nợ của các tiểu bang và chính quyền địa phương, tổng cộng là gần ba ngàn tỷ Mỹ kim. Các địa phương cũng mạnh tay đi vay và từng nơi phải thanh toán các khoản hưu liễm sẽ tăng vì chuyển dịch dân số - nạn lão hóa. Đấy là hoàn cảnh đã nhãn tiền của các thành phố Chicago, Philadelphia, Houston hay các tiểu bang như Illinois, Pennsylvania và Connecticut. Thanh toán như thế nào? Thì dăm ba năm nữa sẽ lại tăng thuế, cắt tiền hưu bổng hoặc giảm chi ngân sách. Viễn ảnh đó có thể tác động đến tình hình bầu cử tại các địa phương nhưng ít khi xuất hiện trên trang nhất của mặt báo.

Và xin nhắc lại: tình trạng ngặt nghèo ấy không thu gọn vào Hoa Kỳ nếu ta nhớ đến trái khoản cũng rất lớn của Trung Quốc, Âu Châu và Nhật Bản. Chúng ta gặp hiện tượng lạ là lãnh đạo các nước đều tránh nói về nạn “tân thường thái”, và tiếp tục ru ngủ quần chúng bằng khẩu hiệu. Vì vậy, phản ứng hậm hực và giận dữ của cử tri Hoa Kỳ có khi lại là điều hay.  

Cách ngôn: đi vay là để tiêu sớm, mà có thể dẫn đến tiêu vong khi đòn bẩy bị gẫy. 

Thứ Năm, tháng 4 07, 2016

Minh Danh Kẻ Thù

Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt Ngày 160607



Hoa Kỳ lao vào một cuộc chiến không kẻ thù?  

* Lực lượng Nhà nước Hồi giáo ISIL: quân đội hay quân khủng bố? * 



Tuần qua, hai sự kiện ngoại giao tại thủ đô Hoa Kỳ lại bất ngờ cho người ta nhìn thấy một nỗi khó của nước Mỹ.

Trước hết là nhân thượng đỉnh về tài giảm võ khí hạch tâm, hai tổng thống Pháp Mỹ có cuộc họp báo. Khi Tổng Thống Francois Hollande nói đến khủng bố Hồi Giáo thì lời ấy trong băng hình video do Tòa Bạch Cung đưa ra lại bị xóa nhòa. Khi báo chí nêu câu hỏi, phủ tổng thống Mỹ trả lời rằng đấy chỉ là sơ suất kỹ thuật và phổ biến lại hình ảnh có lời nói của tổng thống Pháp.

Chuyện thứ hai là cũng nhân thượng đỉnh này, phòng báo chí của Tổng Thống Barack Obama cho biết là không có cuộc gặp gỡ giữa ông Obama và tổng thống Turkey là ông Recep Tayyip
Erdoğan. Người ta không ngạc nhiên vì mâu thuẫn khá nặng giữa hai người. Nhưng sau cùng thì hai vị nguyên thủ đã hội kiến ngày 31 Tháng Ba. Dịp này, dị biệt quan điểm giữa lãnh tụ hai nước mới được chú ý. Ông Obama muốn Turkey nói đến tổ chức khủng bố xưng danh Nhà Nước Hồi Giáo ISIL hơn là đảng Công Nhân Kurdistan của dân Kurd, viết tắt theo tiếng Thổ là đảng PKK. Ngược lại, ông Erdoğan lo ngại đảng PKK, cũng vừa có hành động khủng bố ngay trong Tháng Ba, có thể xé nát xứ Turkey.

Hai sự kiện ngoại giao đó cho thấy một vấn đề là minh định kẻ thù, chuyện nan giải cho nước Mỹ... 

Hồ sơ Người Việt sẽ tìm hiểu chuyện ấy.


Kẻ thù là những ai?



Sau 15 năm lao vào một cuộc chiến lâu dài nhất lịch sử, Hoa Kỳ ngày nay vẫn chưa thống nhất ý kiến là “ta đang chiến đấu chống ai?” Có nhiều lý do giải thích mâu thuẫn này.

Khi vụ khủng bố 9/11 xảy ra tại Hoa Kỳ, Tổng Thống George W. Bush lập tức gọi đây là “Cuộc Chiến Chống Khủng Bố Toàn Cầu,” Global War On Terror, và mở ra chiến dịch Afghanistan năm 2001 rồi Iraq năm 2003. Cách gọi ấy thật mập mờ vì toàn cầu có nhiều lực lượng cùng áp dụng phương pháp khủng bố để đạt mục tiêu khác nhau. Sau đấy, ông Bush lại nêu đích danh ba đối thủ ông gọi là Trục Tội Ác, Axis of Evil, là Iraq, Iran và Bắc Hàn.

Đây là ba chế độ hung đồ, có thể áp dụng phương pháp khủng bố, nhưng chưa chắc đã là kẻ thù mà nước Mỹ phải nghênh chiến, hay tiêu diệt. Có thể chế độ Cộng Sản Bắc Hàn đã từng có hành vi khủng bố, là gây sự sợ hãi để làm thay đổi quan điểm của xứ khác, người khác, nhưng khi kéo chế độ này vào cuộc thì Hoa Kỳ lại chẳng có quyết định lâm chiến hay ít ra là ứng phó về quân sự.

Vì vậy, sự mập mờ của Cuộc Chiến Chống Khủng Bố Toàn Cầu càng thêm mơ hồ. Trong khi ấy, vì tình trạng chiến tranh thực tế, luật hình sự của Hoa Kỳ cũng có thay đổi như trong thời chiến, mà không minh định kẻ thù.

Tám năm sau, Chính Quyền Obama lại càng đào sâu mâu thuẫn ấy vì lý do... hợp lý.

Khi Hoa Kỳ mở ra hai chiến dịch Afghannistan và Iraq, nước Mỹ không lâm chiến một mình mà còn có đồng minh, trong số này có một số quốc gia Hồi Giáo như Saudi Arabia, Pakistan, vài nước Trung Á lẫn Iran. Chế độ Tehran có kín đáo hợp tác với Mỹ trên chiến trường Afghanistan và sau đó còn lợi dụng Hoa Kỳ trên chiến trường Iraq!

Đấy là lý do khiến Obama triệt để tránh né dùng chữ “Khủng bố Hồi Giáo” và mở chiến dịch lấy lòng dân Hồi Giáo ở khắp nơi sau bài diễn văn tại Cairo bên Ai Cập và Ankara của xứ Thổ.

Chính quyền ông còn phát minh ra nhiều chữ lạ, như “chống hành động bạo lực quá khích,” hoặc “bạo lực nơi sở làm” khi có tay khủng bố Hồi Giáo giết người trong xã hội Mỹ. Vụ Thiếu Tá Nidal Hassan bắn hạ 13 người và làm 30 người bị thương tại căn cứ Fort Hood ở Texas vào năm 2009 là một thí dụ điển hình mà không độc nhất.

Kết cuộc thì cả hai Chính Quyền Bush lẫn Obama đều lách chữ để tránh vạch tên kẻ thù là “Khủng bố Hồi Giáo.” Hậu quả là Hoa Kỳ lâm chiến với một kẻ thù không tên!

Nhưng vì sao chuyện ấy lại là vấn đề?


Đánh kẻ vô danh?



Chiến tranh chống khủng bố chỉ có thể là chiến lược hay phương pháp, cũng như khủng bố chỉ là một trong nhiều phương pháp khuất phục kẻ thù.

Trong mọi cuộc chiến, các phe lâm trận đều có thể áp dụng phương pháp khủng bố, hiểu theo nghĩa rộng là ào ạt tấn công cả mục tiêu dân sự để gây sợ hãi và đạt mục tiêu chính trị. Trong Thế Chiến II, Đức quốc xã dội bom lên thủ đô của Anh và nhiều thành phố Đức bị liên quân Anh Mỹ san thành bình địa. Đấy là hoạt động có thể được gọi là khủng bố. Nhật Bản cũng đã khủng bố Trung Quốc và bị quân lực Hoa Kỳ khủng bố. Nhưng khủng bố không thể là kẻ thù. Như trong Thế Chiến II, kẻ thù của nước Mỹ không thể là các tầu ngầm Đức, chiến hạm Nhật hoặc thủy thủ Nhật hay Đức mà là hai chế độ phát xít của phe Trục.

Bây giờ, trong trận chiến chống quân khủng bố Hồi Giáo, kẻ thù là ai? Là quân khủng bố? Là tư tưởng Hồi Giáo quá khích? Hay một quốc gia Hồi Giáo phổ biến tư tưởng quá khích và yểm trợ hành động khủng bố? Những câu hỏi ấy thật ra quan trọng vì ảnh hưởng đến luật lệ hình sự và quy chế tù binh trong thời chiến.

Sau vụ 9/11, Chính Quyền Bush đã quyết định, với sự đồng ý của Quốc Hội, là đưa quân khủng bố ra xét xử trước công lý. Hệ thống công lý nào? Tòa Đại hình hay Tòa Án Quân Sự? Nếu một công dân Mỹ tấn công một công thự hay căn cứ quân sự Hoa Kỳ thì khi bị bắt sẽ bị truy tố trước tòa án dân sự theo luật hình sự. Nếu một kẻ thù của nước Mỹ tấn công căn cứ quân sự Hoa Kỳ mà bị bắt thì được coi là tù binh, nhưng trước hết phải là binh lính, mặc đồng phục trong một đạo quân. Cách đối xử với tù binh ấy phải phù hợp với Công Ước Geneva năm 1949 về quy chế tù binh.

Nhưng khi một kẻ thù của nước Mỹ không mang đồng phục và hành động nhân danh một tổ chức, thí dụ như al-Qaeda, hoặc một tư tưởng như Thánh Chiến Jihad, thì đương sự không thể bị xét xử theo luật hình sự trước Tòa Đại Hình, hay là tù binh bị truy tố trước Tòa Án Quân Sự. Hoa Kỳ đã chính thức ra quân tại Afghanistan và Iraq, thực tế là khai chiến với hai quốc gia tức là ở trong thời chiến mà lại không thể đối xử với quân khủng bố từ hai xứ này như tù binh. Họ không phạm tội hình sự hay quân sự mà phạm tội ác chiến tranh, là war criminal.

Những lý lẽ rắc rối ấy mới giải thích nỗi khó khăn của Chính quyền Obama khi muốn đưa ra tòa hình sự mấy tên khủng bố bị Mỹ bắt từ các chiến trường Afghanistan hay Iraq về giam trong trại tù Guantanamo. Obama gặp sự phản đối của Quốc hội, từ giới dân cử trong đảng Dân Chủ. Chính quyền Bush đã nát óc suy nghĩ về pháp lệnh áp dụng cho trường hợp có tuyên chiến mà chẳng có chiến binh như vậy. Đấy là bài toán của hiện tượng “đánh kẻ vô danh,” tuyên chiến với một kẻ thù không tên. Vì kẻ thù không là một quốc gia - kể cả quốc gia chưa thành hình như “Nhà nước Hồi Giáo” ISIL dù đã phần nào có một lãnh thổ - mà là một phong trào được hướng dẫn bởi một tư tưởng.

Chúng ta trở lên chuyện khác, tư tưởng nào?


Chống Hồi Giáo nào?



Trong Tháng Ba vừa qua, Cộng Hòa Hồi Giáo Turkey của dân Thổ bị ba loại khủng bố tấn công tại hai nơi là thành phố Istanbul và thủ đô Ankara. Một là do tổ chức ISIL khích động, vụ kia là do đảng PKK của người Kurd và vụ thứ ba là do một nhóm cộng sản xưng danh... “Mặt trận Cách Mạng Giải Phóng Nhân Dân đảng Mác-xít” (Marxist Revolutionary People's Liberation Movement/Party.” Vụ thứ ba là chuyện khôi hài, chỉ có một nạn nhân là hung thủ, một phụ nữ quá khích đòi tự sát. Hai vụ kia thì nghiêm trọng hơn nhiều và cho thấy mâu thuẫn hay dị biệt quan điểm giữa các nước cùng chống Khủng bố Hồi Giáo.

Dù tránh kết hợp hai chữ Khủng bố với Hồi Giáo, Tổng Thống Obama vẫn muốn Tổng Thống Erdoan nêu đích danh kẻ thù là lực lượng “Nhà Nước Hồi Giáo” ISIL. Nhìn từ quan điểm quyền lợi của Thổ, ISIL ở xa không đáng sợ bằng lực lượng Hồi Giáo ly khai của dân Kurd là đảng Công nhân Kurdistan PKK ngay trong xã hội Turkey. Lực lượng này mà chiếm được một khu vực của Turkey và kết hợp với dân Kurd tại Iraq và Syria là Turkey bị loạn to.

Vì vậy,
Erdoğan nói ngược với Obama, và bị truyền thông Hoa Kỳ phê phán là hung hăng, cực đoan và độc tài. Cũng vậy, Tổng Thống Hollande của Pháp có thể nghĩ khác với tổng thống Turkey: ISIL mới đáng ngại.

Chúng ta hiểu ra nỗi băn khoăn của Obama, hay nhiều người khác, khi tránh nói đến “Khủng bố Hồi Giáo” vì có nhiều khuynh hướng Hồi Giáo khác nhau mà không phải Hồi Giáo nào cũng chơi trò khủng bố. Nhưng dù thông cảm thì cũng phải thấy là những kẻ quá khích nhất trong thế giới Hồi Giáo đều dùng phương pháp khủng bố. Hiểu rõ điều ấy nhất vì là nạn nhân đầu tiên chính là người theo Hồi Giáo: họ bị sát hại nhiều hơn những người theo Thiên Chúa Giáo hay Do Thái Giáo, hay người Tây phương da trắng.

Khi tránh xúc phạm người Hồi Giáo, Chính quyền Obama tự đẩy vào thế kẹt: đa số người Hồi Giáo không hề đồng ý với phong trào Khủng bố Hồi Giáo nhưng chỉ những kẻ khủng bố quá khích mới thấy là bị xúc phạm khi được nêu đích danh như vậy! 

Nếu phân biệt rõ ràng và gọi đích danh phong trào quá khích này thì Hoa Kỳ và các xứ khác vẫn có thể huy động được hậu thuẫn Hồi Giáo tại Trung Đông và ở trong nước. Chỉ vì duy trì sự mơ hồ ấy mà Hoa Kỳ bị tác dụng ngược. Cuộc khảo sát gần đây của YouGov/Huffington Post cho thấy 51% dân Mỹ đồng ý với việc khai trừ khỏi Hoa Kỳ những người Hồi Giáo không có quốc tịch Hoa Kỳ. 

Ứng cử viên Donald Trump bên đảng Cộng Hòa bèn khai thác hiện tượng ấy. Nhiều khuynh hướng bảo thủ hay quốc gia dân tộc Âu Châu cũng vậy.

Hậu quả rộng lớn hơn vậy là sự thất vọng của người dân, cả Âu lẫn Mỹ, về khả năng đối phó của chính quyền với một kẻ thù không được minh danh. 



Kết luận ở đây là gì?

 

Hoa Kỳ đang khai chiến với một phong trào, không phải với một tôn giáo hay một quốc gia.

Phong trào này có đặc tính phi quốc gia hay quốc tế, có thể lan từ xứ này qua xứ khác.

Nó được hướng dẫn bởi một tư tưởng quá khích là sự thống trị tất nhiên của đạo Hồi trên cả nhân loại, bằng cách sát hại bất cứ ai không cùng quan điểm.

Vi trùng ấy là một, rồi tùy từng cơ thể mà phát tác - để hủy diệt tất cả.

Thứ Ba, tháng 2 23, 2016

Kinh Tế Năm Con Khỉ



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 160222
"Kinh Tế Cũng là Chính Trị"

Những chuyện khỉ gió năm Bính Thân


* Xã hội chủ nghĩa tính sai - mà vẫn tái sinh với ông già Bernie! Hý họa của Michael Ramirez trên nhật báo Investor's Business Daily *


Bỗng dưng nhớ đến… Mậu Thân 68!

Năm đó, một Tổng thống Hoa Kỳ thấy giấc mơ “cải tạo xã hội” của ông tan ra mây khói và cuộc chiến thừa hưởng từ vị tiền nhiệm lại chuyển từ bại thành liệt khiến quần chúng phẫn nộ mở ra làn sóng mị dân, dưới tên gọi mỹ miều là đại chúng, populist, làm rung chuyển Đại hội đảng.

Tổng thống đó là Lyndon B. Johnson. Cuộc chiến đó là Việt Nam. Sự phẫn nộ của quần chúng thổi lên nhân vật phản chiến Eugene McCarthy, làm đảo lộn nghị trình tranh cử của đảng Dân Chủ vào tới sự hỗn loạn trong Đại hội đảng tại Chicago.

Hình như là năm Bính Thân này cũng thế, mà hơi trái ngược, vì kinh tế cũng là chính trị!

***

Nói về kinh tế, kề từ năm 1962, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ được bơm thuốc bổ và tăng vọt hơn 80% rồi bể tan tành sau năm 1969 vì nạn vay mượn quá nhiều và đưa kinh tế vào giai đoạn suy trầm, với đỉnh cao là việc Chính quyền Richard Nixon thả nổi đồng Mỹ kim từ Tháng Tám năm 1971. Cuộc chiến Việt Nam là một nguyên nhân, nhưng không là tất cả.

Chạy vội qua chuyện kinh tế ngày nay thì Hoa Kỳ còn mắc nợ nhiều hơn nửa thế kỷ trước.

Chánh sách cải tạo xã hội của Tổng thống Barack Obama và cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo gặp những hạn chế của kế toán quốc gia: bội chi và công trái. Khi Hành pháp bị tê liệt, và còn bị ách tắc từ đảng Cộng Hòa đối lập bên Lập pháp, Ngân hàng Trung ương phải một người một ngựa lao vào cứu nguy kinh tế với những biện pháp tiền tệ cực kỳ bất thường.

Đó là hạ lãi suất tới số không, rồi ba đợt bơm tiền qua phương pháp “quantitative easing” – tăng mức lưu hoạt có định lượng – và cũng lại thổi lên trái bóng cổ phiếu. Giới đầu tư có tài sản thì hài lòng với biện pháp tiền tệ ấy, giới đầu tư cò con muốn lập xí nghiệp kinh doanh thì chết kẹt vì chánh sách cải tạo của Hành pháp. Thành phần trung lưu bất mãn, người nghèo thì phẫn nộ và kết tội các chính khách chuyên nghiệp.

Ấn bản Bính Thân 16 của lập luận mị dân đại chúng Mâu Thân 68 là hai ứng cử viên nổi danh của hai đảng. Bên Dân Chủ, Bernie Sanders là chính khách bất tài có quá khứ thân cộng nhưng mang dáng vẻ chân thật. Bên Cộng Hòa là tỷ phú Donald Trump, người nói càng sống sượng lại càng được quần chúng ủng hộ! Các ứng cử viên nhiều kinh nghiệm thì bị hoài nghi là giảo hoạt – Hillary Clinton – hay tẻ nhạt, trường hợp của Jeb Bush vừa bỏ cuộc sau nhiều cựu Thống đốc tài danh khác!

Chẳng vậy mà vừa bóc tờ lịch Bính Thân, người người đều lo rằng thị trường chứng khoán Hoa Kỳ sẽ sụt giá nữa, như đã thấy từ đầu năm 2016, và kinh tế Mỹ sẽ lại bị suy trầm. Vậy mà tình hình Hoa Kỳ vẫn có vẻ khá hơn cả, nếu ta không nhìn qua Trung Quốc của Chủ tịch Tập Cận Bình và những xoay trở khôn nguôi.

Hoặc nhớ đến Âu Châu với Ngân hàng Trung ương ECB đã hạ lãi suất tới mức âm, y như ba nước Âu Châu là Thụy Sĩ, Thụy Điển và Đan Mạch. Đầu năm nay, đến lượt Ngân hàng Trung ương Nhật cũng từ bỏ chánh sách bất thường là áp lãi suất vào số không (ZIRP – Zero Interest Rate Policy) để áp dụng biện pháp còn bất thường hơn, là “lãi suất âm” (NIRP, Negative Interest Rate): nếu ký thác ngoài mức dự trữ pháp định thì bị phạt, phải trả tiền lời.

Khác với kinh tế Mậu Thân 68, khi người ta e sợ lạm phát, kinh tế Bính Thân 16 là khi các nước lo ngại nạn giảm phát, và cần khuyến khích tiêu thụ. Kẹt một nỗi, khi đã mắc nợ quá nhiều thì càng tiêu lại càng tán!  

***

Trước hoàn cảnh quá sức bất thường này, ta bình luận thế nào về chuyện kinh tế và chính trị?

Trước hết là nạn khủng hoảng chính trị lan rộng trong nhiều quốc gia khiến các chính quyền bị tê liệt và khó áp dụng biện pháp kích thích kinh tế cổ điển, như tăng chi để kích cầu. Gánh nợ quá lớn chồng chất từ năm 2008 khiến các chính quyền không thể tăng chi mãi mãi theo lòng hào hiệp hay do nhu cầu mua phiếu. Mà giảm chi để phần nào quân bình ngân sách thì bị đả kích là bảo thủ, vô tâm, khắc khổ, và thất cử.

Vì vậy, các chính quyền đều trông chờ vào một định chế độc lập là Ngân hàng Trung ương.

Các định chế này cũng áp dụng biện pháp tiền tệ là làm cho tiền nhiều và rẻ tới độ bất thường. Mà vẫn chưa thấy kết quả. Chánh sách kích cầu, nhằm nâng mức cầu, là sở trường của khuynh hướng Keynesian (từ kinh tế gia John Maynard Keynes người Anh), cũng không có tác dụng.

Ngay trong khuynh hướng kinh tế thiên tả ấy, người ta đã thấy có tranh luận về lãi suất. Giới chức hữu trách của hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ cho rằng nếu tình hình kinh tế có vẻ khả quan hơn – thực tế là chưa – thì họ nên tăng lãi suất. Tháng 12 vừa qua, lãi suất ngắn hạn đã từ số không nhích lên được 25 điểm căn bản (0,25%), rồi cứ nằm im ở đó.

Cũng thuộc lý luận kinh tế thiên tả, các chuyên gia kinh tế Mỹ ngồi ngoài Ngân hàng Trung ương thì tiếp tục chủ trương bất thường, là đừng tăng mà nên chuẩn bị hạ lãi suất nữa nếu tình hình thiếu khả quan. Từ 0,25% có khi sẽ trở lại 0% hay còn thấp hơn nữa, như trường hợp Âu Châu và Nhật Bản! Tức là lại đọc thần chú, từ ZIRP về NIRP!

Ai đúng ai sai đây?

Dù chẳng biết gì nhiều về kinh tế học thì ta cũng có thể đoán rằng tình hình chưa mấy khả quan nên giữa hai trường phái của cùng một học thuyết mới có cuộc tranh luận của các thầy thuốc trước con bệnh kinh tế. Nói theo Đông Y là nên “bổ”, là hạ lãi suất, chứ nếu “tả” là tăng lãi suất thì cả kiến trúc kinh tế tài chánh này sẽ sụp đổ!

Bệnh nhân mà hiểu ra thì tưởng mình đang ở trong nhà thương điên….

Khi ấy, người ta mới thắc mắc, là vì sao giới kinh tế lại không dự đoán nổi tình trạng bất thường ấy, từ những năm 2007-2008 hay 2010-2012? Người viết này có một cách lý giải rất khoa học: giới kinh tế toa rập với các thầy bói, để chứng minh rằng bói toán chính xác hơn kinh tế học!

Chỉ vì kinh tế học không là một khoa học chính xác như vật lý. Vì vậy, nếu chịu khó theo dõi dự báo kinh tế của các tổ chức quốc tế đáng kính nhất, người ta đều thấy chung một nét là quá lạc quan, sau khi đã liên tục điều chỉnh cho bớt nét hỏang tiều. Vì thời lượng có hạn nên xin miễn nhắc tới nhiều dự đoán trật chìa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB, hay tổ chức OECD, thậm chí của cơ quan CBO tại Hoa Kỳ….  

Phụ trách cột mục này, người viết không thể cứ hoài nghi giới chuyên gia mà cũng phải có một lý luận dù chỉ đáng ba xu về tình trạng bất thường tới bi đát ấy.

Mọi sự không xảy ra từ năm Mậu Thân 68 mà gần hơn, từ năm Mậu Tý 2008!

Chúng ta, cả thế giơi, chưa ra khỏi cơn chấn động bất ngờ của 2008 và nạn Tổng suy trầm sau đó vào năm 2008-2009. Khi ấy, nếu không hốt hỏang mà nhìn lại thì người ta có thể thấy ra nhiều chuyển động âm thầm mà mạnh mẽ. Người ta không trả nợ mà còn mắc nợ nhiều hơn. Khuynh hướng đẻ con cũng giảm khiến dân số nói chung tăng rất chậm. Đà gia tăng năng suất từ sau Thế chiến II cũng chậm dần khiến lợi tức của thành phần trung lưu tăng không kịp thành phần thượng lưu có tiền. Những định chế rường cột của nền dân chủ, điển hình là các chính trị gia, quốc hội và truyền thông báo chí, đều mất niềm tin của dân chúng và khuynh hướng cực đoan nổi lên từ cả hai cánh tả hữu. Trong khi ấy, bối cảnh quốc tế là những vụ khủng hoảng liên tục, có hay không có súng nổ. Và riêng Hoa Kỳ thì bị thế giới coi thường và lãnh đạo Hoa Kỳ bị dân Mỹ khinh thường!

Vì vậy, bài này mở đầu với chuyện Mậu Thân và kết thúc với Marx.

Không, không phải Karl Marx mà một nhân vật đáng yêu hơn nhiều. Nghệ sĩ Groucho Marx. Danh hài này có một câu khả dĩ là khẩu hiệu tranh cử cho các chính trị gia Hoa Kỳ năm nay: “Tôi là người cực kỳ tôn trọng nguyên tắc. Nhưng nếu quý vị không đồng ý với nguyên tắc này của tôi thì tôi lại có sẵn nguyên tắc khác”…

Nếu còn sống, Groucho Marx có thể là phát ngôn viên của Bernie Sanders hay Donald Trump. Hay của cả hai. Ai bảo kinh tế học là khoa học u ám?