Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 150525
Khí Lực Văn Chương - Nhân Huân Chính Trị
Chúng ta có nhiều cách đánh giá một
nhân vật như Trần Trọng Kim, một người sinh ra khi quốc gia vừa mất chủ quyền
vào năm 1883. Nhưng cách đánh giá khách quan và trung thực nhất là phải đặt ông
vào hoàn cảnh lịch sử thời đó, chứ không nên dùng những khái niệm đã trở thành
phổ biến và được đa số chấp vào thời nay.
Vào thời đó,
cả một hệ thống văn hóa và chính trị của Việt Nam bị sụp đổ khiến cho một đất
nước từng là cường quốc vùng Đông Nam Á lại bị Tây phương khuất phục sau 25 năm
tấn công từ Nam ra Bắc. Khi giao tranh bùng nổ năm 1859, lãnh thổ của chúng ta,
từ Nam kỳ Lục tỉnh đến miền Bắc - đã anh hùng đánh bại quân Mãn Thanh 60 năm
trước - đều lần lượt rơi vào vòng thống trị của Pháp.
Nhưng dù triều
đình đã phải ký “hòa ước”, nào Quý Mùi 1883 nào Giáp Thân 1884, nơi nơi vẫn còn
người tranh đấu để giành lại nền độc lập. Nơi nào có Pháp thống trị, nơi đó có
phong trào kháng Pháp. Thế rồi ngần ấy phong trào đều thất bại. Tại sao?
Vẫn biết rằng
“Việt sử là tranh đấu sử” và anh hùng hào kiệt thời nào cũng có, nhưng tại sao dân
ta lại thất bại sau ngần ấy hy sinh?
Trưởng thành
từ khi nhân loại bước vào Thế kỷ 20, và bắt đầu đi làm khi Á châu vừa qua một
cơn chấn động khác là sự sụp đổ của nhà Mãn Thanh ở phương Bắc vào năm 1911, một
người như Trần Trọng Kim thì không thể không tự hỏi “vì sao dân ta thất bại”?
Nhất là khi thân phụ của người là cụ Trần Bá Huân cũng từng tham gia phong trào
Cần Vương chống Pháp.
Câu trả lời
của ông được thấy trong cái cách Trần Trọng Kim chọn nghiệp. Là nhà giáo dục.
*
Ông là nhà
giáo với ước nguyện mở mang dân trí. Trong ba chục năm liền, từ 1911 đến 1941,
ông tận tụy đảm nhiệm rất nhiều công việc, mà ngần ấy việc đều tập trung vào ý
hướng nâng cao dân trí và chấn hưng dân khí.
Chuyện dân trí
thì ai cũng rõ.
Còn dân khí?
Bài “Bình Ngô Đại Cáo”, tác phẩm được
coi là “thiên cổ hùng văn” của dân tộc do Nguyễn Trãi thảo ra năm 1427 đã lần đầu
tiên được ông lược dịch từ Hán ngữ sang quốc ngữ cách nay trăm năm, trong cuốn
“Sơ học An Nam Sử lược” cho cấp sơ học xuất bản năm 1916. Rồi được dịch lại
hoàn chỉnh vào năm 1919 trong cuốn “Việt Nam Sử lược” dành cho cấp trung học. Cùng
với người anh rể là cụ Phó bảng Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim là tác giả của bản dịch
đó, cho tới nay vẫn được đánh giá là hay nhất, vì ngôn ngữ có thần.
Tức là Trần
Trọng Kim muốn hun đúc tinh thần yêu nước cho giới trẻ, từ khi còn nhỏ. Tầm
nhìn rất sâu và độ mở rất rộng qua mọi lãnh vực tư tưởng của các công trình
biên khảo và trứ tác của một con người tân học phải được nhìn thấy từ đó, với
hai chục cuốn sách đủ loại chưa kể cả trăm bài viết có khi đang thất truyền.
*
Đã vậy, thế
kỷ 20 cũng là khi Việt Nam bước qua một cuộc cách mạng văn hóa ít được chú ý,
hoặc còn bị đánh giá sai.
Trải qua
ngàn năm độc lập, dân ta vẫn dùng chữ Hán để truyền đạt tư tưởng, nhưng cố giữ
lấy hồn nước bằng chữ Nôm mà dân ta gọi là “quốc âm”. “Âm” và “quốc” là hai điều
nên nhớ thì hiểu được tầm quan trọng của ngôn ngữ. Nhưng khi “quốc âm” vừa thắng
thế mà chưa kịp thấm vào mọi giai tầng xã hội thì cũng là lúc quốc gia bị khuất
phục.
Sau đó, ngôn
ngữ lại bị đổi một lần nữa!
Bắt đầu từ
thế kỷ 20 thì người ta dùng mẫu tự Latinh để diễn tả lời nói và gọi đó là “quốc
ngữ” cho cả nước. Từ “quốc âm” qua “quốc ngữ”, dân ta đã làm một cuộc cách mạng
văn hóa, hoặc bị áp đặt một thứ cách mạng.
Nhiều người
cho rằng nhờ đó mà dân ta đã có thể canh tân. Đấy là một sai lầm nếu ta nhớ đến
hai nước đã rất sớm canh tân và đang trở thành hiện đại nhất mà vẫn dùng ngôn
ngữ cũ, là Nhật Bản và Đại Hàn.
Nói theo danh
từ điện toán của thế kỷ 21, dân ta vừa thay đổi “nhu liệu” hay “software”, khiến cho việc thông hiểu di
sản tinh thần của tổ tiên bị cách ngỡ. Dù có văn bản trước mắt, đa số chúng ta không
còn biết Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du, Nguyễn Huệ nói sao và viết gì. Đọc lại các
bài phú của Ngô Thì Nhậm hay thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thậm chí Truyện Kiều
hay Thơ Nôm của Nguyễn Trãi là mình phải có người thông dịch.
Trong giai
đoạn giao thời đầy những khó khăn và băn khoăn giữa hai vùng cũ mới, Trần Trọng
Kim là người đi tìm chìa khóa cho đời sau hiểu được đời trước mà khỏi đánh mất
quốc hồn.
*
Chẳng những
vậy, với sự tài hoa của người tân học mà thấm nhuần cựu học, ông đã “làm mới
văn chương” trước khi khái niệm này được đời sau nói tới.
Con người Trần
Trọng Kim có khí có lực và điều ấy phản ảnh qua ngôn ngữ văn chương của ông. Từ
sau Trần Trọng Kim, dân ta không còn viết như trước với nhịp điệu biền ngẫu, mà
dùng những chữ đơn giản, súc tích, viết ra và nói ra là ai cũng hiểu.
Trong cuộc
cách mạng bất ngờ hay bất đắc dĩ, Trần Trọng Kim góp phần bảo tồn di sản và vẽ
ra hướng mới trong một địa hạt quan trọng nhất của xã hội, là ngôn ngữ, là khả
năng truyền đạt. Nhờ vậy mà sau này Nội các Trần Trọng Kim mới có chương trình chuyển ngữ và cải cách giáo dục của cấp trung tiểu học.
Ba chục năm
đầu của nhà giáo dục đại chúng Trần Trọng Kim là những cống hiến lớn lao như vậy
về lượng. Với “khí lực văn chương” là nét đặc sắc về phẩm. Chỉ nội việc đó cũng
đủ để hậu thế phải tìm lại và giữ lại các công trình biên khảo và trứ tác của
ông.
“Trần Trọng
Kim Toàn Tập” là một nhu cầu cho các thế hệ về sau.
*
Khốn nỗi vận
nước lại chìm trong những xoay vần của thế giới.
Không gian
hành xử của dân ta hết còn kích thước hai chiều Nam-Bắc, nước Nam và Trung Hoa,
mà cũng chẳng còn là tam giác Tây-Ta-Tầu nữa. Chúng ta trôi vào không gian đa
chiều với việc thực dân Pháp bị đánh bại ở bên Pháp và Nhật Bản can thiệp vào
Việt Nam.
Trần Trọng Kim
không thể không hiểu ra điều ấy, khi ông viết:
“Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng
chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu,
toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan
rộng. Dân Việt bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy
nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng
muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.
Trong khi Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp
đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật lại muốn lợi
dụng lòng ái quốc của người Việt để quyến dụ người ta theo mình. Người Việt Nam
không phải là không hiểu cái tâm địa người Nhật, song có nhiều người muốn thừa
cơ hội hiện tại mà phá vỡ cái khuôn khổ bé hẹp nó ràng buộc mình đã bao lâu để
gây ra cái không khí mới, rồi sau thế nào
cũng tìm cách đối phó. Phần nhiều người trí thức trong nước đều có cái quan
niệm ấy, nhưng vì thế lực không đủ, cho nên không ai hành động gì cả, trừ một
bọn người hoặc vì lòng nóng nảy, hoặc vì lòng ham danh lợi chạy theo người
Nhật.
Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng
văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng sau đã theo Âu Hóa, dùng những phương pháp quỉ quyệt
để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau
lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Ðông đã bị người Âu Châu chiếm
giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải
phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình.
Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo.
Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng
lời nhân nghĩa để nhử người ta vào chòng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự
thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.
Trần Trọng
Kim đã viết như vậy trong cuốn Hồi ký Một
Cơn Gió Bụi mà chúng ta chào mừng hôm nay. Ông không thể nhẹ dạ về chính trị
như người ta đã phê phán. Ông cũng chẳng thể là bù nhìn tay sai của Nhật của
Pháp như nhiều người đã xuyên tạc.
Nhưng tại
sao lại có người quy tội cho ông, thậm chí còn muốn thủ tiêu mọi công trình
biên khảo và vẽ ra chân dung lệch lạc của một nhân vật yêu nước như vậy?
Bởi vì, từ rất
sớm, gần như sớm hơn mọi người từ Nam chí Bắc, Trần Trọng Kim đã nhìn ra bản chất
cộng sản đằng sau phong trào Việt Minh. Trong ngần ấy tác phẩm có đặc tính ôn
hòa chừng mực của mình, Trần Trọng Kim viết về người cộng sản với sự nghiêm khắc
hiếm hoi:
Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động của họ,
là một thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ cốt lấy sự mê tín mà tin,
chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài. Song các tôn giáo cũ nói có cõi
trời, có thiên đường là nơi cực lạc. Cộng sản giáo ngày nay thì hoàn toàn duy
vật, nghĩa là ngoài vật chất ra, không có sự tin tưởng nào khác nữa, cho thiên
đường không phải ở cõi trời mà chính ở cõi trần gian này. Ai tin theo đạo ấy là
phải tin lý thuyết của Mác Lê Nin là tuyệt đối chân chính, đem áp dụng là sung
sướng đủ mọi đường, tức thực hiện được cảnh thiên đường ở cõi đời. Còn về đường
tín ngưỡng, thì đạo Cộng sản là đạo hoàn toàn duy vật, tất không ai thờ phụng
thần thánh nào khác nữa, nhất thiết phải nghĩ sùng bái những người như Các Mác,
Lê Nin, Stalin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị truất bỏ.
Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý
tuyệt đối, thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, là tà giáo, là tả đạo. Ai không tin
theo và phản đối những người đứng đầu đảng, tức là những bậc giáo chủ, thì là
người phản đạo, tất phải trừng trị rất nghiêm. Vì vậy mới có sự tàn sát những
người trong đảng cộng sản theo Trotsky, chủ Cộng sản Ðệ Tứ Quốc tế, là một chi
cộng sản phản đối Stalin, người chủ của Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế.
Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải
phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải
trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh
rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái
nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn
gì?
Cái thủ đoạn Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn
nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ngay như họ đối với Việt
Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp,
vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không
được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy thế thật là
ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân
gian thường có câu “nói như Vẹm”. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt VM, đọc
nhanh mà thành ra.
Ngày nay, sự thật
rất căn bản ấy đều được mọi người công nhận, kể cả những người đã tham gia
phong trào cộng sản vì lầm tin vào lý tưởng giải phóng dân tộc. Chính là từ
trong hàng ngũ này mà chúng ta hiểu thêm về người cộng sản và những thủ đoạn
lừa bịp, kể cả và nhất là hành động cướp chính quyền mà Cộng sản gọi là Cách
mạng Tháng Tám, ngày 19 Tháng Tám năm 1945.
Cũng chính vì vậy
mà sau Thế chiến II, Việt Nam vẫn không có độc lập. Và 70 năm sau là ngày nay lại
bị mất chủ quyền sau khi đã mất mấy chục năm chinh chiến điêu linh.
*
Trong cả một kho
trứ tác đồ sộ như một di sản lớn lao và quý báu cho hậu thế, cuốn “Một Cơn Gió Bụi” không chỉ là tập bút ký
nói lên cái nhìn của Trần Trọng Kim về giai đoạn ngắn ngủi khi ông phải làm Thủ
tướng đầu tiên của một nước Việt Nam lần đầu có độc lập từ khi ông ra đời. Đấy
là một giai đoạn mà ông chỉ coi là “một cơn gió bụi” cho bản thân.
Cuốn Một Cơn Gió Bụi còn cho thấy cái “nhân
huân chính trị” của Trần Trọng Kim, là những công lao chính trị của Nội các
Trần Trọng Kim trên nền tảng nhân bản của một bậc chính nhân quân tử.
Cuốn sách cũng là
chứng sử của người viết sử lão thành về những lầm than của đất nước giữa nhiều
chọn lựa đều nan giải - mà sau cùng lại chọn giải pháp tệ hại nhất. Những gì
đang xảy ra cho đất nước ngày nay có những nguyên nhân sâu xa nằm ngay trong
nội dung của cuốn sách.
Lời cuối ở đây là
thế hệ trẻ ngày nay cần tìm đọc tác phẩm này để hiểu ra sự thật đã bị khỏa lấp
quá lâu.
Trong thế hệ trẻ
ngày nay, anh chị em chủ trương tuần báo Sống và cơ sở Xuất bản Sống đã không
quản ngại khó khăn mà tái bản cuốn hồi ký duy nhất của Trần Trọng Kim và cho phát
hành qua hệ thống Amazon rất hiện đại. Nhờ vậy, Trần Trọng Kim đã trở lại với
chúng ta trong thế kỷ 21.
Và cộng dồng người
Việt tại Hoa Kỳ nên yêu cầu mọi thư viện bên Mỹ phải có Một Cơn Gió Bụi để mọi người có thể tham khảo rộng rãi. Những người
có khả năng thì nên tìm cách phiên dịch ra ngoại ngữ để thế giới hiểu rõ hơn về
đất nước và dân tộc Việt Nam.
Sau cùng, thế hệ
trẻ của người Việt tham gia sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ có thể tìm thấy
trong tác phẩm nhiều chỉ dẫn thiết thực khi cần tác động vào chính trường Hoa
Kỳ để phát huy chính nghĩa của người Việt và để bảo vệ quyền lợi của quê hương
ngày nay vẫn chưa ra khỏi những nguy cơ của một tôn giáo vô thần.
Cái tôn giáo cộng
sản không chỉ giữ độc quyền chân lý và làm thui chột dân trí. Nó giữ độc quyền
diễn giải quá khứ, nắm quyền kiểm soát hiện tại và đưa tương lai vào vòng nguy
nàn. Vạch trần sự thật về quá khứ là bước đầu để gỡ bỏ ách độc tài trong hiện
tại, và tìm ra cho dân tộc một tương lai sáng láng hơn.
Xin cám ơn nhà
Xuất bản Sống.
______
Phát biểu tại lễ ra mắt cuốn hồi ký Một
Cơn Gió Bụi của Trần Trọng Kim - Ngày 150524 tại Hội trường Việt Báo, California
