Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, tháng 7 14, 2016

Lẽ Phải Của Quốc Tế



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt Ngày 160713

Bắc Kinh trước Phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực   


 * Người Việt cùng dân Phi chào mừng phán quyết của Tòa án *



Sau ba năm thụ lý hồ sơ do Cộng hòa Philippines đệ nạp để khiếu nại việc Trung Hoa Cộng Sản xâm phạm và cưỡng đoạt chủ quyền của họ trong vùng biển miền Tây, Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) đã có một phán quyết mang ý nghĩa lịch sử vào ngày Thứ Tư 12 vừa qua. Phán quyết dày 500 trang của định chế trọng yếu này trong nền công pháp quốc tế đã bác bỏ mọi luận cứ của Bắc Kinh và mở ra một giai đoạn có đầy bất ổn khi tham vọng bành trướng của lãnh đạo Trung Cộng bị quốc tế đẩy lui. Hồ Sơ Người-Việt sẽ tìm hiểu chuyện này….


Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế Không Là Tòa Án

Được thành lập năm 1899 tại thủ đô The Hague (hay La Haye) của Vương quốc Hòa Lan, qua hàng loạt hội nghị quốc tế từ 1899 đến 1907 gọi là Nghị hội Hòa bình, Tòa án Trọng tài không là một tòa án mà chỉ là một tổ chức pháp lý có nhiệm vụ phối hợp hoạt động của hệ thống tòa án trọng tài giữa các quốc gia thành viên với nhau.

Về bối cảnh, tình trạng chinh chiến liên miên giữa các nước Âu Châu khiến một số lãnh đạo, trước tiên là Sa hoàng Nicholas II của Đế quốc Nga, có sáng kiến lập ra một định chế hòa giải mâu thuẫn giữa các nước qua một cơ chế có quyền tài phán, ra phán quyết của một trọng tài, hầu tránh được xung đột và chiến tranh khi có mâu thuẫn giữa các nước về quyền lợi. Vào giai đoạn ấy, doanh gia nổi tiếng về ngành thép của Hoa Kỳ là Andrew Carnegie đã tài trợ việc xây dựng một trung tâm hòa đàm và vì thế, Tòa án Trọng tài ra đời như một nỗ lực của Âu Châu và Hoa Kỳ nhằm giải tỏa nguy cơ chiến tranh. Mặc dù như vậy, Âu Châu vẫn lao vào hai trận Thế chiến I và II (1914-1918 và 1939-1945) với những tổn thất đắt đỏ cho cả thế giới.

Nhìn theo một cách khác, Tòa án Trọng tài là cố gắng hòa giải và hội nhập giữa các nước Tây phương trước khi có những sáng kiến như việc thành lập Hội Quốc Liên, Liên Hiệp Quốc hay Liên Âu sau này.

Về tổ chức, sau này Tòa án Trọng tài là một cơ quan chuyên môn quốc tế nằm trong hệ thống Liên Hiệp Quốc.

Và vào năm 1899, Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh đã lụn bại và sắp tan rã mà chưa thể làm chủ được Đài Loan chứ chưa nói tới vùng biển họ gọi là Hoa Đông (tại Đông Bắc Á) hay Hoa Nam (tại Đông Nam Á). Chúng ta cần nhớ lại bối cảnh địa dư và lịch sử đó. Tính tới đầu năm nay, hệ thống trọng tài ấy có 119 quốc gia thành viên tham dự, kể cả Trung Quốc từ năm 1904 và Việt Nam từ năm 2011.

Vắn tắt lại, mọi quốc gia thành viên của hệ thống trọng tài quốc tế có thể đệ nạp hồ sơ khiếu nại để nhờ các thẩm phán quốc tế khách quan phân xử mâu thuẫn với một xứ khác. Nhưng mà tương tự như trên một sân banh, người trọng tài không tham gia trận đấu. 


Lưỡi Bò Của Hán Tộc

Sau Thế chiến II, Trung Hoa Cộng Sản còn tối mắt vì những khó khăn chồng chất sau khi làm chủ Hoa Lục từ năm 1949, và Mao Trạch Đông lao vào việc xây dựng cộng sản chủ nghĩa trên lãnh thổ thừa hưởng từ Trung Hoa Dân Quốc, chế độ đã lật đổ nhà Đại Thanh. Trên lãnh thổ ấy, ưu tiên của Mao là củng cố khu vực Mãn Châu làm cơ sở cho kỹ nghệ nặng để công nghiệp hóa xứ sở theo mô thức Xô viết của Stalin. Về an ninh, Mao đã thu hồi hai khu vực Nội Mông và Tân Cương và chiếm đoạt Tây Tạng làm vành đai bảo vệ Trung Nguyên của Hán tộc.

Khi ấy, Mao chưa nhìn ra biển. Nhưng khi ấy, lãnh đạo Trung Hoa Dân Quốc là Tưởng Giới Thạch bị đẩy ra Đài Loan và vài đảo phụ cận đã sớm nhìn xuống miền Nam.

Chính Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1946 đã chiếm đoạt đảo Ba Bình có tên quốc tế là Itu Aba, và cải danh thành đảo Thái Bình, trong vùng quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đây là hòn đảo lớn nhất vùng Trường Sa và ở gần các quần đảo kế cận với Phi Luật Tân. Chi tiết này, ta cũng nên nhớ.

Chẳng những thế, năm 1948, Trung Hoa Dân Quốc còn đưa ra bản đồ lãnh thổ của mình gồm các quần đảo quanh Đài Loan và hình lưỡi bò có 11 khúc bao trùm lên biển Đông, kể cả Vịnh Bắc Bộ, các vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Khi ấy, Việt Nam lâm vào cảnh Nam-Bắc phân tranh trong thế quốc-cộng chìm vào Chiến tranh lạnh nên miền Nam dưới nền Đệ nhất Cộng Hòa đã phản đối việc Đài Loan chiếm đóng Ba Bình và lè ra lưỡi bò 11 khúc, nhưng không hành động gì vì ưu tiên vẫn là bảo vệ được nền tự do tại miền Nam. Khi ấy, ưu tiên của Hà Nội cũng vẫn là cộng sản hóa miền Nam, chuyện Đông Hải còn xa vời. Còn Trung Cộng thì công nhận lãnh thổ của mình bao trùm lên khu vực cai trị của Đài Loan lẫn cái lưỡi bò 11 khúc của Trung Hoa Dân Quốc.

Tới năm 1953, Trung Cộng mới bỏ hai khúc là Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam và đưa ra bản đồ chính thức của họ gồm có đường chín khúc, hay “cửu đoạn tuyến”. Là “hậu phương lớn” của Cộng sản Bắc Việt tại Hà Nội, Trung Cộng có toàn quyền quyết định về phạm vi lãnh thổ và Hà Nội gián tiếp xác nhận điều ấy qua bức Công hàm nổi tiếng năm 1958 của Phạm Văn Đồng.

Khi miền Nam hấp hối trước sự triệt thoái của Hoa Kỳ và đà xâm lấn của Cộng sản Bắc Việt, Trung Cộng mới tiến hành việc chiếm đoạt vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Sau đó, Bắc Kinh xuốg vùng quần đảo Trường Sa qua việc chiếm đóng Gạc Ma năm 1988. Từ đấy, Trung Cộng tiếp tục cưỡng đoạt nhiều khu vực khác trên lãnh thổ và ngoài lãnh hải của Việt Nam và trực tiếp khai thác nhiều nguồn lợi về năng lượng và thủy sản thuộc về chủ quyền của Việt Nam mà không gặp phản ứng gì của Hà Nội. Người ta có quyền suy luận rằng Hà Nội đã có những thỏa thuận ngầm với Bắc Kinh từ mật nghị tại Thành Đô vào Tháng Chín năm 1990 và sau đó nữa.

Nhưng Biển Đông không chỉ có Việt Nam và Trung Cộng.

Việc Bắc Kinh nhân danh chủ quyền lịch sử của mình với tấm bản đồ có lưỡi bò chín khúc mà còn thực tế chiếm đoạt lãnh hải và nhiều quần đảo tại vùng biển Đông Nam Á đã xâm phạm quyền lợi của nhiều nước khác, như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Brunei và Nam Dương. Trong số này, Phi Luật Tân là quốc gia duy nhất chính thức khiếu nại về ngoại giao và pháp lý nên đã nộp đơn kiện lên Tòa án Trọng tài Thường thực vào ngày 22 Tháng Giêng năm 2013.

Kết quả là phán quyết ngày 12 Tháng Bảy vừa qua.



Phán Quyết Lịch Sử

Qua nhiều năm tranh chấp về chủ quyền, Chính quyền Phi Luật Tân tại thủ đô Manila đã thử nghiệm nhiều giải pháp ngoại giao và hợp tác khác nhau với Bắc Kinh nhưng không có kết quả mà chỉ thấy nhiều quần đảo nằm sát lãnh thổ của mình và rất xa lãnh thổ Trung Cộng bị xâm hại. Vì vậy, Chính quyền của Tổng thống Benigno Aquino III quyết định kiện Trung Cộng trước Tòa án Trọng tài PCA và vận động sự hợp tác kỹ thuật của nhiều luật gia quốc tế.

Chúng ta nên chú ý tới vai trò chuyên môn của các luật gia này và đừng nghĩ rằng đây là mưu ngầm của Hoa Kỳ. Trong suốt giai đoạn có đầy mâu thuẫn và xung đột này, Hoa Kỳ giữ chủ trương trung lập, không nói ai đúng ai sai, vùng nào thuộc chủ quyền của nước nào, mà chỉ yêu cầu các nước dàn xếp một cách hòa bình và tôn trọng quyền tự do lưu thông ngoài biển. Đã vậy, Chính quyền Barack Obama còn chính thức mời Trung Cộng tham dự cuộc thao dượt quân sự RIMPAC của 22 quốc gia trên vành cung Thái Bình Dương được tổ chức từ năm 1971 mà chưa hề có Trung Cộng.

Ngay lập tức, Trung Cộng phủ nhận thẩm quyền của Tòa án Trọng tài và tìm cách đàm phán song phương với Manila mà không thành. Trong khi Manila có một dàn luật gia tham dự vụ kiện, Bắc Kinh không hề gửi đại diện mà chỉ trả lời bằng chiến dịch tuyên truyền. Kết quả là phán quyết của Tòa án Trọng tài PCA.

Sau đây là những điểm then chốt của phán quyết PCA (xin tham khảo nội dung trên trang mạng của PCA: pca-cpa.org).

Tòa án Trọng tài Thường trực không phân định chủ quyền của từng nước trên từng khu vực đang có tranh chấp và cũng không có thẩm quyền giải quyết việc tranh chấp. Hai điều “không” này có tầm quan trọng cho tương lai.

Nhưng, Tòa án PCA khẳng định rằng việc Trung Cộng đòi chủ quyền lịch sử về tài nguyên trên nhiều vùng lãnh hải cùa biển Hoa Nam mà họ gọi là “đường tuyến chín khúc” là không có cơ sở pháp lý. Yếu tố quan trọng là chứng cớ lịch sử của Bắc Kinh không có cơ sở pháp lý. Thứ hai, nếu có thì cái gọi là “chù quyền lịch sử” đã thực tế tiêu vong, vô giá trị, với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) mà Bắc Kinh đã ký kết.

Thứ ba, về địa dư và sinh thái, trên vùng quần đảo Trường Sa, không hòn đảo nào có thể nuôi dưỡng cư dân một cách tự nhiên – một tập thể quần cư ổn dịnh - nên không thể là cơ sở xác định vùng độc quyền kinh tế EEZ là nơi mà chủ quyền kinh tế tỏa rộng ra phạm vi 200 hải lý. Thứ tư, cũng do thực tế đó, đảo Itu Aba (hay Ba Bình theo tiếng Việt và Thái Bình theo tiếng Tầu) mà Đài Loan đang kiểm soát cũng chỉ là cụm đá nổi trên mực thủy triều, không là nền tảng cho độc quyền kinh tế. Đây là lý do khiến Đài Loan phản đối phán quyết.

Thứ năm, việc Trung Cộng khai thác tài nguyên năng lượng và thủy sản trên các cụm đá của Phi Luật Tân là xâm phạm chủ quyền của Phi. Thứ sáu, việc xây dựng các cụm đá nổi thành đảo nhân tạo không thể đem lại quyền xác định vùng độc quyền kinh tế EEZ. Thứ bảy, khi phá vỡ các rạn san hô để xây đảo nhân tạo hầu đòi chủ quyền kinh tế trong phạm vi 200 hải lý, Bắc Kinh còn phá hoại môi trường sinh sống và vi phạm quy định quốc tế về bảo vệ môi sinh. Thứ tám, vì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Phi Luật Tân đều đã ký kết Công ước UNCLOS, cả hai đều phải tuân thủ quy định của hệ thống quốc tế này.

Tóm lại, phán quyết của Tòa án Trọng tài phủ nhận mọi luận cứ của Trung Cộng về cựu đoạn tuyến và mặc nhiên kết án Bắc Kinh tội xâm phạm chủ quyền và phá hoại môi sinh! Dĩ nhiên, Trung Cộng bác bỏ cả thẩm quyền lẫn nội dung của phán quyết và sẽ coi như không có gì xảy ra, hoặc sẽ có phản ứng khác.

---

Kết luận ở đây là gì?

Hệ thống công pháp quốc tế lập ra để giải tỏa mâu thuẫn và tránh xung đột giữa các nước. 

Một định chế quan trọng nhất của hệ thống này vừa ra phán quyết hoàn toàn bất lợi cho Trung Cộng, có lợi cho Phi Luật Tân và nhiều nước khác, kể cả Việt Nam. 

Bắc Kinh có thể phủ nhận tất cả nhưng sự thật là đã bị thất thế về ngoại giao. Các quốc gia khác, kể cả và nhất là Việt Nam, nên khai thác lợi thế này. 

Thứ Sáu, tháng 5 20, 2016

Gang Thép Thiên Triều



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt Ngày 160518


Sản Nhập Xong, Trung Cộng Xuất Cảng 

* Kinh tế xã hội chủ nghĩa: Sản xuất thừa thì phá giá để bán thép ế *


Hôm Thứ Ba 17, Nhân dân Nhật báo cho biết Trung Cộng sẽ chuyển qua xứ Brazil tại Nam Mỹ một khả năng sản xuất 10 triệu tấn thép. Viết lại câu này cho rõ: Thiên triều khéo tính toán nên đầu tư thừa và ngày nay xuất cảng từng nhà máy thép ra nước ngoài. Nói cho ra vẻ uyên bác là xuất cảng đầu tư - vì lỡ đầu tư quá nhiều. Trong khoản đầu tư ấy có cả ô nhiễm. Hồ Sơ Người-Việt sẽ tìm hiểu chuyện này.



Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại


Câu chuyện khởi sự từ 10 năm trước – ngày Giời tháng Phật – là khi Trung Cộng đạt kỷ lục lớn là có sản lượng thép cao hơn số cầu nội địa vào năm 2006. Nếu chỉ thừa có một năm cũng chẳng chết ai vì thừa thì ta đem bán. Nhưng bán thép không dễ khi cố cầu trên thế giới lại giảm kể từ năm 2008 và cho tới nay tình hình toàn cầu chưa khả quan nên dù có bán rẻ, bị lỗ và bị thế giới than phiền, thì Thiên triều đỏ cũng không ra khỏi bế tắc.

Những con cháu tối dạ của Mao Trạch Đông chỉ tái diễn bước nhảy vọt vĩ đại vào cái hố.

Theo quan niệm thô thiển của kinh tế chính trị học Mác-Lenin với màu sắc Trung Hoa về xây dựng xã hội chủ nghĩa, kỹ nghệ nặng là nền móng chiến lược của quốc gia và Mao dạy là phải tiến tới việc sản xuất ra “máy cái” để từ đó mới có “máy con”. Công nghiệp nặng là cái gốc, công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng chỉ là cái ngọn. Nền móng ấy phải như gang thép. Năm 1958, họ Mao phát động chiến dịch thi đua sản xuất trên toàn quốc để xã ấp nào cũng tự túc về thép với những lò luyện kim bỏ túi, nấu ra loại thép rất tồi và làm cho nhà nhà chết đói.

Nửa thế kỷ sau, hiện tượng ấy tiếp tục. Trung Cộng có 700 doanh nghiệp sản xuất thép, với loại kỹ thuật thâm dụng nhân công hơn tư bản – cùng một lượng thép cần nhiều nhân công hơn nên kém hiệu năng, gây ô nhiễm. Và hệ thống phân tán ấy sản xuất ra… thép mềm, đặc sản Trung Hoa.

Báo chí quốc tế cứ nói rằng Trung Cộng đứng đầu thế giới về sản lượng thép. Nhưng thép ở đây là loại thô, sơ đẳng, cần thiết cho kỹ nghệ xây cất chứ chưa là thép siêu đẳng cho việc sản xuất máy móc thiết bị, là giấc mơ chưa tới. Trung Cộng cũng tiêu thụ nhiều quặng sắt nhất thế giới vì sản xuất ra thép là nhờ quặng sắt (iron ore - "thiết khoáng"). Trong quy trình sản xuất, thép là "đầu ra" và quặng sắt là "đầu vào", và 95% lượng quặng trên thế giới là để cung cấp cho việc sản xuất thép.

Nhưng hai sản phẩm ất lại thuộc hai thị trường khác nhau với giá cả quy định khác nhau - nhất là vào thời kỳ kinh tế toàn cầu bị suy trầm và số cầu về thép sút giảm đáng kể. Vì vậy, doanh nghiệp thép loại thường thường bậc trung và bậc hạ lưu đều bị lỗ, đấy là hiện tượng “sản nhập” trị giá của nhập lượng đưa vào nhà máy lại cao hơn xuất lượng ở đầu ra.

Việc chấn chỉnh khu vực gang thép được Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia đề ra từ năm 2005 mà không tạo ra bước đột phá vì, theo sát lý luận Mác-Lenin, địa phương nào cũng muốn bảo vệ cơ sở nền móng của công nghiệp nặng. Và dẹp nhà máy thép thì ai sẽ đi dẹp loạn khi nhân công bị sa thải cứ theo nhau xuống đường biểu tình? Chuyện ấy cũng đã xảy ra từ 10 năm trước, và ngày nay vẫn còn mà ít được truyền thông quốc tế loan tải.

Việc tái cấu trúc ngành thép sở dĩ không kết quả vì sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009, Bắc Kinh cần kích thích kinh tế nên lại tăng chi và bơm tín dụng để khuếch trương đầu tư vào khu vực gia cư, địa ốc và xây dựng hạ tầng cơ sở. Hậu quả bất lường là thổi lên bong bóng và bóng bể trên một đống sắt vụn.

Ngày nay, tình hình còn bết bát hơn vì kinh tế Trung Cộng bước vào chu kỳ suy trầm có thể kéo dài cả chục năm, cho nên vừa qua, Quốc vụ viện Bắc Kinh lại cho phép thành lập thêm nhà máy thép, mỗi cơ sở có sản lượng chừng một triệu tấn và các địa phương lại hồ hởi với bước nhảy vọt.

Để giải quyết chênh lệch cung cầu, thì nếu bán thép quả rẻ không xong, ta sẽ bán cả gốc. Đấy là nguyên ủy của chiến lược đưa nguyên con từng nhà máy thép ra ngoài. Brazil hay Ấn Độ là bãi đáp.


Thước Đo Bằng Gang Thép


Trong bối cảnh mờ ảo của chiến lược kinh tế Thiên triều, kỹ nghệ thép có thể là một khí cụ thông tin, là cái thước đo tâm trí của giới lãnh đạo kinh tế, đứng đầu là Tập Cận Bình, một tay nắm chặt cả chục ấn tín lớn nhỏ.

Sau khi đã sản xuất thừa từ năm 2006, Trung Cộng vẫn sản xuất thêm vào năm 2009 vì chiến lược lấy đầu tư làm lực đẩy cho đà tăng trưởng. Kết quả là bong bóng địa ốc, gia cư và xây dựng với lượng thép ế chất đống. Chuyện ô nhiễm thì khỏi nói, việc khan hiếm nước – nhà máy thép cần nước, trời ơi – cũng khỏi lo vì địa phương nào cũng tìm ra mối lợi cho mình. Bớt thất nghiệp và cứ ra mỗi tấn, đảng bộ địa phương lại trưng thu được một ít tiền thì cũng tốt thôi.

Miễn rằng báo cáo lên trên là sản lượng có tăng là được rồi.

Vì vậy, lên lãnh đạo từ khóa 18 vào cuối năm 2012, Tập Cận Bình mới tiếp thu nhiều di sản bất ngờ, trong đó có thép ế và mức lời của các doanh nghiệp thép sụt mất gần 97% - nền móng gang thép bị lỗ chỏng gọng. Vì vậy, việc cải cách và chuyển hướng kinh tế mới được đề ra từ cuối năm 2013: lấy tiêu thụ nội địa làm lực đẩy thay cho đầu tư và xuất cảng. Nhưng lợi tức nội địa không tăng thì lấy đâu ra tiêu thụ?

Và sau hai lần chuyển hướng bất thành thì nay lại chuyển về hướng cũ: tiếp tục khuyến khích đầu tư vào ngành thép.

Năm ngoái, Trung Cộng sản xuất ra 800 triệu tấn thép và xuất cảng 112 triệu tấn, còn nhiều hơn sản lượng thép của Nhật. Nghĩa là các địa phương lại lao vào khu vực này để tránh loạn vì thất nghiệp. Tại trung ương, Bắc Kinh bèn tìm ra hướng khác: xuất cảng nhà máy thép.

Một cách khái quát, chuyện gang thep mông lung ấy cho thấy hai mục tiêu đối nghịch. Trung ương tập quyền thì muốn kiện toàn hệ thống sản xuất cho có hiệu năng cao, tránh ô nhiễm và lãng phí. Các địa phương thì quan tâm đến chuyện thiết thực trước mắt là tìm ra việc làm để dân khỏi biểu tình.


Mối Hàn Gang Thép


Giải pháp xuất cảng thép từ gốc có thể nào dung hòa hai mục tiêu trái ngược ấy không?

Sản lượng thép của Trung Cộng là 800 triệu tấn (million metric tons, hay mmt). Dư thừa nên xuất cảng 112 triệu tấn với giá bèo và bị các nước Âu Châu la trời về tội cạnh tranh bất chính. Trong khi ấy, công xuất thật của toản quốc, kể cả các nhà máy lạc hậu của địa phương, đã vượt quá một tỷ (một ngàn 113 triệu tấn). Chế độ Tập Cận Bình đề ra chỉ tiêu là trong năm năm phải giảm sản lượng chừng 150 triệu tấn. Cho nên dự án bán nhà máy thép cho Brazil là 10 triệu tấn, vĩ đại thật, nhưng vẫn quá ít so với công xuất quá lớn. Thôi, thà ít còn hơn không.

Nhưng nhà máy thép không có chân và di dời cả một hệ thống đồ sộ này phải cần tiền.

Chuyện nhỏ: Bắc Kinh có China Development Bank (Quốc gia Khai phát Ngân hàng) là cơ chế tài trợ theo diện chính sách. Đó là cấp tín dụng với giá rẻ để thi hành chánh sách kinh tế của nhà nước. Với sự bảo đảm của nhà nước, định chế này có quyền phát hành trái phiếu và thừa khả năng cho các tập đoàn quốc doanh, như Baosteel, Ansteel hay Wuhan Iron and Steel, vay tiền để đầu tư vào loại dự án chiến lược tại các quốc gia khác.

Vì vậy, khi thiên hạ nói đến sự suy sụp kinh tế của Thiên triều, thế giới sẽ kinh ngạc vì nhiều công trường thép mang thương hiệu Trung Cộng. Đấy là những mũi nhọn thuộc loại hiện đại nhất của Bắc Kinh. Tường thuật một cách nông cạn thì sau Hoa Kỳ, rồi Nhật Bản, Nam Hàn, đến lượt Trung Cộng cũng hiện diện trên trường quốc tế với các tập đoàn gang thép láng lẩy.

Nhưng mối hàn của Bắc Kinh vẫn không giải quyết được các vấn đề xương tủy của gang thép:

Ở bên ngoài, sự xuất hiện của nhân công Trung Cộng với bệnh khạc nhổ kinh niên không làm sáng danh Thiên triều. Vả lại, các quốc gia tiếp nhận đầu tư của Bắc Kinh cũng cần tìm việc làm cho nhân công của họ chứ không chấp nhận trò chơi tô giới thép toàn nói tiếng Hoa như tại Việt Nam. Kỹ thuật hủy thải phế vật cũng là vấn đề, vụ khủng hoảng của Khu công nghiệp Vũng Áng ở Hà Tĩnh là một nhắc nhở về bí quyết gây ô nhiễm môi sinh!

Và ở nhà, mấy trăm trung tâm gang thép lạc hậu vẫn cứ tồn tại để tiếp tục nhả khói lên trời và bốc thép vào kho. Công ăn việc làm của thợ thuyền địa phương là một mối nguy chính trị mà trung ương không thể vượt qua được. Cho nên Bắc Kinh tìm ra giải pháp ngoạn mục khi đưa khả năng sản xuất 10 triệu tấn thép ra ngoài, nhưng bên trong thì vẫn chưa khắc phục được hiện tượng sản nhập, thừa thép. Và ở cuối chân trời xám ngắt là nguy cơ động loạn!

---


Kết luận ở đây là gì?

Bài này mới chỉ nói về gang thép. Thế còn than đá, xi măng, thủy tinh và vật liệu xây dựng hay các nhà máy thủy điện cứ mọc lên như nấm? Và khi xuất cảng nhà máy, Thiên triều xuất cảng bao nhiêu khí thải? Chuyện môi sinh Trung Cộng, xin để dịp khác!..