Hiển thị các bài đăng có nhãn Trò chơi Obama. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trò chơi Obama. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, tháng 3 03, 2015

Hoa Kỳ và Israel với Hồ Sơ Iran



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 150303
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Đồng Minh Trên Hai Lằn Ranh Đối Nghịch 

* Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đọc diễn văn tại AIPAC hôm Thứ Hai *



Hôm nay Thứ Ba mùng ba, Thủ tướng Israel là Benjamin Netanyahu đọc bài diễn văn tại Quốc hội Hoa Kỳ và tập trung vào hồ sơ Iran, vốn có ảnh hưởng sinh tử cho Israel. Trên bàn cân là sự tồn tại của Israel và mối quan hệ chiến lược của Israel với Mỹ. Vì nhiều người Việt có ấn tượng là Hoa Kỳ đã bỏ rơi miền Nam do sức ép của Do Thái năm xưa, đây là chuyện ta nên theo dõi....

Và bắt đầu ở những phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry.

Nhìn từ bên ngoài, ta có thể tin rằng làm Ngoại trưởng của Hoa Kỳ không là điều khó. Hôm Thứ Tư 25 tháng trước, khi ra điều trần trước Ủy ban Ngoại giao Hạ viện, Ngoại trưởng Kerry có ngôn từ thiếu ngoại giao và thừa lầm lạc khi nhấn mạnh đến hai điều. Thứ nhất, Israel nay đã an toàn hơn nhờ Hoa Kỳ đang thương thuyết với Iran về chương trình (chế tạo võ khí) hạch tâm của Tehran, một việc mà Thủ tướng Israel chống đối. Đấy là một sai lầm của Netanyahu. Sai lầm thứ hai là ông Netanyahu cũng lầm khi ủng hộ việc Chính quyền George W. mở chiến dịch tấn công Iraq năm 2003.

Về chuyện Iran, việc Mỹ cùng năm cường quốc là Anh, Pháp, Đức, Nga, Tầu (P-5 + 1), đang đàm phán với Iran về chương trình hạch tâm, với vai trò chủ động Ngoại trưởng Kerry, là điều gì đó còn bí mật nên chưa ai rõ nội dung và hậu quả. Thủ tướng Netanyahu e ngại hậu quả cho Israel vì Tehran không che giấu lập trường thù nghịch đến không đội trời chung với sIrael. Ông tới Mỹ trình bày về hậu quả đó như lời cảnh báo và đề nghị Chính quyền Obama công khai hóa nội dung đàm phán. Người Việt ta liên tưởng đến việc Mỹ hòa đàm với Hà Nội và đến Hiệp định Paris năm 1973 đối với số phận của miền Nam. Israel đang gặp hoàn cảnh đó và Thủ tướng Netanyahu còn bị Ngoại trưởng Kerry công khai đả kích là lầm!

Chuyện thứ hai là vụ Iraq, chẳng những Kerry đã sai mà còn gian. Như mọi khi.

Chính Kerry khi còn là Nghị sĩ đã ủng hộ việc Chính quyền Bill Clinton bên đảng Dân Chủ tấn công chế độ Saddam Hussein qua một thỉnh nguyện thư năm 1998. Và năm 2003, Nghị sĩ Kerry đã ủng hộ Nghị quyết tấn công Iraq dưới thời Tổng thống George W. Bush. Còn Netanyahu chỉ làm Thủ tướng Israel sáu năm sau.

Khi phê phán khả năng suy xét của Netanyahu, Kerry giấu nhẹm khả năng phán đoán của mình, mà còn coi thường khả năng suy xét của dân Mỹ. Vậy mà cũng là Ngoại trưởng! Cho nên ta chẳng ngạc nhiên khi Kerry được xếp loại Ngoại trưởng tệ nhất của Mỹ từ 50 năm qua. Đó là kết quả khảo sát ý kiến đầu Tháng Hai của The Ivory Tower Survey, một công trình hỗn hợp của tạp chí Foreign Policy với tổ chức Teaching, Research, and International Policy (TRIP).

Trở lại chuyện Israel và Iran cùng chuyến thăm viếng của Thủ tướng Netanyahu, ông được Chủ tịch Hạ viện John Boehner bên Cộng Hoà mời qua phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội mà không thông báo cho Hành pháp và lãnh đạo Dân Chủ. Chủ tịch Hạ viện có quyền hiến định như vậy, nhưng cố tình gây ra sự thất thố chính trị để cho thấy mâu thuẫn bên đảng Dân Chủ.

Trước hết, từ sáu năm qua, quan hệ giữa Thủ tướng Netanyahu với Tổng thống Obama chưa bao giờ được gọi là nồng ấm. Đây là điều bất thường khi Israel là đồng minh chiến lược và duy nhất dân chủ của Hoa Kỳ tại khu vực Trung Đông đầy khói lửa hiện nay. Thứ hai, xưa nay, cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái thường ủng hộ - và từ 70 đến 80% vẫn chi tiền cho phe Dân Chủ. Lần này, họ phân vân về lập trường của Obama đối với quốc gia Israel. Có lẽ Chủ tịch John Boehner thấy ra điều ấy nên ngỏ lời mời Thủ tướng Israel.

Ông Netanyahu chọn thời điểm này vì sẽ phát biểu trước hội nghị thường niên của AIPAC (American Israel Public Affairs Committee), tổ chức vận động có thế lực của người Mỹ gốc Do Thái, hôm sau mới vào Quốc hội Mỹ. Khi trở về, ông còn có cuộc bầu cử ngày 17 tới đây.

Netanyahu quả là cố tác động vào công chúng và chính trường Mỹ để bảo vệ quyền lợi Israel và vị trí của đảng Likud do ông đang lãnh đạo. Mục tiêu có thể là để thuyết phục dư luận cùng các dân biểu nghị sĩ Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của Israel để Quốc hội Mỹ có đủ túc số hai phần ba mà vượt qua quyền phủ quyết của Tổng thống khi biểu quyết đạo luật The Nuclear Free Iran Act (Đạo luật chống Hạch tâm tại Iran) với đề nghị gia tăng mức cấp vận nếu Iran không chấp hành sự cam kết khi đàm phán về kế hoạch hạch tâm.

Như năm 2012, AIPAC và Netanyahu cùng vận động Quốc hội Mỹ trừng phạt Ngân hàng Trung ương của Iran để gây sức ép. Hành pháp Obama chống lại quyết định ấy mà không nổi và nay lại viện dẫn là nhờ Ngân hàng Trung ương của Iran bị phong toả mà Tehran phải đàm phán!

Những chuyện rắc rối ấy đưa ta đến câu hỏi thật trong truyện dài Hoa Kỳ - Do Thái.

Nhiều người lý luận là tài phiệt Do Thái có thể làm mưa làm gió trong nhiều lãnh vực sinh hoạt của nước Mỹ, từ khoa học, nghệ thuật, điện ảnh đến kinh doanh và nhất là chính trị. Sự thật lại chẳng đơn giản như vậy. Chính giới Mỹ chỉ có thể bị Do Thái vận dụng hay lợi dụng nếu Israel làm Hoa Kỳ lấy những quyết định có lợi cho họ mà có hại cho quyền lợi của nước Mỹ. Điều ấy chưa từng xảy ra từ khi quốc gia Israel được tái thành lập vào năm 1948 tại khu vực Palestine.

Ngược lại, đã có thời Israel ngả theo Liên bang Xô viết và bị Mỹ gây áp lực rất mạnh. Mâu thuẫn ấy đang tái diễn khi Chính quyền Obama có chủ đích riêng với Iran khiến Thủ tướng Israel chạy qua vận động cả người Mỹ gốc Do Thái lẫn chính trường Hoa Kỳ – mà chưa chắc đã thành công.

Nhìn từ bên ngoài, ta nên kết luận rằng Hoa Kỳ hành xử vì quyền lợi của mình và các đồng minh của Mỹ đều phải hiểu ra điều ấy mà tự chuẩn bị. Và dù có ảnh hưởng của dân Do Thái tại Mỹ, Israel vẫn có lúc bẽ bàng!

Chúng ta hiểu ra điều ấy nếu theo dõi tuần báo The New Republic đầy uy tín. Tờ báo này thuộc loại trí thức khuynh tả, thiên về Dân Chủ, mà có lập trường kín đáo ủng hộ Israel chứ không bảo thủ và lộ liễu như tờ Commentary. Trong đòn vận dụng này của Netanyahu, tờ TNP cố nín thinh!

Nhìn rộng hơn ra ngoài, và khỏi tập trung vào quan hệ giữa Israel với Mỹ, ta thấy vị trí then chốt của Iran với ảnh hưởng rất lớn tại Iraq và Syria, trên các tổ chức Hồi giáo cực đoan, từ al Qaeda tại Trung Đông tới Hezbollah tại Lebanon, Hamas trên Dải Gaza và cả lực lượng Huynh đệ Hồi giáo Muslim Brotherhood tại Egypt. Iran giữ vai trò bản lề làm nhiều đồng minh khác của Mỹ e ngại. Trong hoàn cảnh đó, chiến lược của Chính quyền Obama với Iran là gì thì vẫn là ẩn số hãi hùng. Chưa khi nào Hành pháp Mỹ nói rõ chủ trương của mình về chuyện đó. Cũng mơ hồ như chiến lược của Hoa Kỳ với lực lượng khủng bố ISIL đang tung hoành khắp nơi...

Đấy mới là điều đáng ngại, dù có Do Thái hay không!

________________________

Chuyện chỉ xảy ra tại nước Mỹ

Một ngày sau khi Ngoại trưởng John Kerry khẳng định là chưa khi nào nước Mỹ lại an toàn như bây giờ - ngoài mối nguy từ nạn nhiệt hóa địa cầu - thì hôm Thứ Năm 26, Giám đốc Tình báo Quốc gia DNI là ông James Clapper lại trình bày trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện một sự thể khác về mối nguy cho toàn cầu và riêng cho Hoa Kỳ xuất phát từ nạn khủng bố. Có vai trò phối hợp hoạt động của 16 cơ quan tình báo quân sự và dân sự Mỹ, ông Clapper nói gọn rằng năm 2014 bị nạn khủng bố mạnh nhất kể từ 45 năm qua. Hình như hai nhân vật của cùng một chính quyền Obama lại nói về hai thế giới trái ngược! May là Hoa Kỳ có Quốc hội để công chúng thấy ra mâu thuẫn đáng ngại này....

Thứ Năm, tháng 2 12, 2015

Thập Tự Chinh



Hùng Tâm Hồ Sơ Người Việt Ngày 150211

Văn hóa Á Rập là nạn nhân của "Thập tư chinh"?




* Vì Thiên Chúa, lãnh thổ hay quyền lực, tiền tài? *


Tuần trước, trong lễ National Prayer Breakfast trước nhiều vị lãnh đạo tôn giáo, Tổng thống Barack Obama phạm sai lầm nghiêm trọng khi nhấn mạnh đến các cuộc Thập Tự Chinh nhân danh Thiên Chúa. Từ đã lâu, ông tránh xúc phạm Hồi giáo và không hề nói đến "Chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan" hay nạn khủng bố của các phần tử cuồng tín thuộc đạo Hồi. Người ta có thể đồng ý hay không với lập trường chính trị đó. Nhưng khi Tổng thống Mỹ quy trách Thiên Chúa giáo về Thập tự chinh, ông bẻ queo lịch sử một cách nguy hiểm - vì gián tiếp bào chữa cho các phần tử quá khích của người Á Rập theo Hồi giáo.

Vì vậy, Hồ Sơ Người-Việt xin cố tóm lược về các cuộc Thập tự chinh có thật.


Á Rập Hồi Giáo và Tám Lần Thập Tự Chinh


Dù chẳng tốt nghiệp Đại học Columbia và Harvard như Tổng thống Obama, người ta cũng có thể biết Đạo Hồi xuất phát khá trễ từ những giáo lý của Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo. Nhưng ít người chú ý đến yếu tố sắc tộc trong các cuộc chiến mang tính chất bành trướng đế quốc hơn là tôn giáo. Qua thế kỷ 20, từ cả trăm năm nay, sắc dân Á Rập cứ nhắc đến các cuộc chiến được gọi là "Thập Tự Chinh" (Crusades) để kết tội các nước Tây phương và Thiên Chúa giáo.

Quả thật là nền văn minh Á Rập có bị tàn phá, nhưng thủ phạm lại đến từ nơi khác. Nếu các nước theo Thiên Chúa giáo, và nói chung, mọi người, mà không nhìn ra điều ấy thì rất khó cảm hóa dân Á Rập, và sẽ thất bại khi các phần tử cuồng tín trong số này mở ra Thánh Chiến Jihad để thành lập một Đế chế Hồi giáo toàn cầu...

Trong lịch sử nhân loại, trước sau đã có tám lần Thập tự chinh trải dài 200 năm, từ 1095 đến 1294. Trong ngần ấy vụ, dân Á Rập hoàn toàn vắng mặt. Chúng ta cần điểm lại cho họ - và cho nhiều người theo đạo Hồi - cùng thấy ra nguyên nhân và hậu quả. Quý độc giả có thể "google" ra danh tính của các nhân vật hay sắc dân can dự vào chuyện này.


Thập Tự Chinh I Từ Đâu Ra?


Trước tiên, sắc dân Thổ Seljuq thuộc hệ phái Sunni của đạo Hồi từ Trung Á tiến vào chinh phục Trung Đông. Thời điểm đáng nhớ là năm 1070 khi họ chiếm được Thánh địa Jerusalem, khi ấy thuộc Đế quốc Fatimid của dân Berbers theo hệ phái Hồi giáo Shia đến từ Bắc Phi. Dưới triều đại Fatimid, người Thiên Chúa giáo vẫn được hành hương và lập nhà thờ trong các vùng đất được họ coi là Thánh địa. Dân Seljuq Turks mở cuộc tàn sát người theo Thiên Chúa giáo và tiêu hủy mọi nơi thờ phượng của họ.

Khi quân Seljuq chiếm một phần lãnh thổ của Đế quốc Byzantine (Đế quốc Đông La Mã) của người Hy Lạp thì Hoàng đế Alexius I cầu cứu một thế lực đối nghịch là Tòa Thánh La Mã, khi ấy nằm dưới quyền lãnh đạo của Giáo hoàng Urban III. Vì Thiên Chúa giáo lâm nguy, Giáo hoàng kêu gọi các nước theo Thiên Chúa giáo cùng vào giải cứu Thánh địa.

Nước Pháp khi ấy đáp lời, với cuộc Thập tự chinh I, dưới sự lãnh đạo của Godefroy de Bouillon. Ông chiếm lại Jerusalem ngày 15 Tháng Bảy năm 1099, tàn sát khoảng bảy vạn người Hồi giáo, đa số là dân Berber và Thổ, lại còn lùa người Do Thái vào đền thờ để thiêu sống. Từ đó mới có một Vương quốc Jerusalem (Kingdom of Jerusalem) nhưng de Bouillon không xưng vương mà chỉ tự nhận là bầy tôi của Thiên Chúa. Trong trận này, dân Á Rập không có mặt, cũng chẳng bị sát hại.

Trong vương triều Jerusalem, dân Âu Châu tự do kết hôn với người Hồi giáo và du nhập nhiều tập tục của họ. Tình trạng sống chung giữa hai tôn giáo trong hòa bình kéo dài được hơn 40 năm. Và kết thúc với Thập tự chinh II.


Thập Tự Chinh II, Liên quân Pháp Đức


Năm 1144, một đạo quân của sắc dân Kurd từ đất Mosul (nay thuộc Iraq) tấn công một khu vực kẻo lánh của Thiên Chúa giáo là Edessa (nay ở vùng Tây Nam xứ Turkey) thì Giáo hoàng Eugenius III ban huấn đạo kêu gọi các nước cùng vào giải cứu.

Năm 1148, Pháp và Đức gửi hai đạo quân từ hai ngả vào đất Edessa thì bị quân Seljuq đánh tan và Vương quốc Jerusalem tồn tại thêm được bốn thập niên rồi tàn lụi dần. Đấy là lúc xuất hiện con người lừng danh lịch sử là Saladin (Salh al-Din Al-Ayyubi, 1137-1193), viên tư lệnh lực lượng Kurd đã chiếm Edessa.

Trong ngần ấy trận Thập tự chinh, việc Saladin đánh bại quân Âu châu gần vùng biển Galilee (Horns of Hittin) ngày 14 Tháng Bảy năm 1187 là chiến công lẫy lừng nhất. Ngày 12 Tháng 10 năm đó thì Jerusalem đầu hàng, nhưng chẳng những không có nạn tàn sát bại binh mà Thánh địa vẫn được mở cho Thiên Chúa giáo.

Thế rồi vì Jerusalem sụp đổ, năm 1189 Hoàng đế Frederick Barbarossa (Frederik Râu Đỏ) của Đế quốc La Mã Thần thánh (Holy Roman Empire) kêu gọi cuộc Thập tự chinh thứ ba. Cầm đầu một đạo quân Pháp tiến vào xứ Turkey thì Hoàng đế chết đuối trong một con sông nhỏ, ở tuổi 67, đạo binh bị quân Seljuq tàn sát. Không có vong linh Á Rập trong trận này.



Thập Tự Chinh III và Richard của Anh Quốc


Hưởng ứng lời kêu gọi, vị tân vương của Anh là Richard the Lion Heart (Richard Tâm Sư Tử) cùng các hiệp sĩ người Norman tiến vào Thánh địa, chiếm lại đất Acra và Jaffa rồi đánh bại Saladin trên đất Arsuf. Anh hùng mới chuộng anh hùng, Richard và Saladin ký hòa ước vào mùng hai Tháng Chín năm 1192, với quy định là Thiên Chúa giáo được sống tại vùng duyên hải của đất thánh, còn Jerusalem thuộc về Hồi giáo.

Chúng ta đọc nhiều kỳ tích về hai nhân vật lịch sử này mà đôi khi quên mất nỗ lực sống chung của hai tôn giáo. Chỉ vì năm sau thì Saladin tạ thế và Giáo hoàng Innocent III kêu gọi một cuộc Thập tự chinh thứ tư, để giải phóng Jerusalem

Như mấy lần trước, Pháp đã tham dự và gom quân vào thành phố Venice, được tiền thưởng sớm - hình như 200 ngàn đồng tiền bạc - của con trai Hoàng đế Isaac II Angelos vừa bị truất phế. Quân Pháp vào làm cỏ Constantinople, nhân tiện chiếm đoạt luôn nhiều chiến lợi phẩm và đưa Isaac II về ngôi.

Từ Roma, Giáo hoàng Innocent III kết án chuyện cướp bóc ấy - mà vô hiệu.

Hải đội Pháp tha hồ tung hoành bất chấp sự phản đối của người Hy Lạp theo Chính thống giáo. Trong ba ngày từ 12 đến 14 Tháng Tư 1204, quân Pháp tưng bừng hôi của, nhưng không giết hại dân Hy Lạp. Rồi đoàn Thập tự chinh ra về với rất nhiều của cải. Chẳng ai nói đến chuyện giải phóng Thánh địa Jerusalem nữa!


Thập Tự Chinh V và VI


Lên kế vị Giáo hoàng Innocent III, Giáo hoàng Honorius II thì không quên. Ngài kêu gọi cuộc Thập tự chinh V.

Lần này thì Đức và Hung tham dự đông nhất, với dự tính đổ bộ vào Ai Cập năm 1217 để tiến ngược lên Jerusalem. Họ mất ba năm quần thảo với quân Ayyubid người Kurd tại vùng châu thổ sông Nile mà chẳng nên cơm cháo, sau cùng bèn dong buồm hồi hương. Một viên tướng Ayyubid trong trận đại thắng này là Sultan Nalik al-Kamil, cháu gọi Saladin là chú hay bác.

Khi ấy, Vương quốc Jerusalem vẫn tồn tại nhưng co rút vào vùng duyên hải của Thánh địa, với thủ phủ là Acre, ở mạn Bắc hải cảng Haifa của Israel hiện nay. Năm 1225, John of Brienne làm vua xứ này, con gái là Isabella thì lấy Hoàng đế Frederick II, cháu nội Frederick Râu Đỏ năm xưa. Với hy vọng chiếm lại Jerusalem nhờ quan hệ bên vợ, Frederick kêu gọi Thập tự chinh VI.

Nhân vật này là bậc kỳ tài, được tôn là Supor Mundi, kỳ quan của thế giới, nói chín thứ tiếng và viết bảy thứ chữ, thông hiểu khoa học và tư lệnh chiến trường loại kiệt xuất. Ông mở ra kỷ nguyên giao thương có cái dạng của toàn cầu hóa và kinh tế thị trường kiểu Trung Cổ trước khi mấy khái niệm này được đặt thành tên!

Thập tự chinh VI do Frederick lãnh đạo có đặc tính... thanh bình. Hoàn toàn không có giao tranh hay đổ máu. 

Đội quân đôi bên trực diện gặp nhau ở mạn Bắc của Jerusalem. Hai lãnh tụ là Frederick và Malik al-Kamil ngồi đàm đạo và Kamil tâm phục sự thấu hiểu của đối thủ về văn chương, khoa học và triết lý Hồi giáo nên đôi bên ký hòa ước. Quốc vương Kamil nhường Jerusalem và cả Nazareth lẫn Bethlehem cho Frederick lên ngôi Vua Jerusalem, nhân tiện truất phế John of Brienne năm đó đã bát tuần. Lễ đăng quang của Frederick có Sultan Kamil tham dự!

Nhưng dù dân Thiên Chúa giáo và Hồi giáo mừng chuyện hòa giải thì Giáo hoàng Gregory IX lại phật ý, cho là Thiên Chúa giáo bị xúc phạm và không phê chuẩn hòa ước.

Sultan Kamil mất năm 1238 và đạo quân Ayyubid nay lại có các chiến binh Mameluk, đa số là dân Nga La Tư (Slavs) và Thổ. Từng là tù binh hay nô lệ, họ tiến lên vị trí cầm quyền trong quân đội. Năm 1244 một lãnh tụ Mameluk là Baibars - gốc Nga trên xứ Thổ, từng bị Mông Cổ bắt làm nô lệ trước khi đầu quân trong hàng ngũ Ayyubid - đã cướp chính quyền và biến Jerusalem thành bình địa với nhiều vụ thảm sát ghê rợn.


Saint Louis và Thập Tự Chinh VII-VIII


Từ Pháp, vua Louis IX (Thánh Louis, 1214-1270) mở cuộc Thập tự chinh VII.

Nhưng năm 1250, khi tiến từ sông Nile lên Cairo, ông bị Baibars đánh bại và bị cầm tù trong bốn năm. Năm 1260 Baibars giết vị quốc vương sau cùng của tộc Ayyubid và lên ngôi Quốc vương và tự nguyện là diệt hết các thị trấn theo Thiên Chúa giáo suốt miền duyên hải, từ Caesara đến Safad, Jaffa và cả Antioch. Cả vạn người Thiên Chúa giáo đã bị tàn sát hoặc bắt làm nô lệ.

Vua Louis IX bèn mở cuộc Thập tự chinh VIII, nhưng từ Tunis tại Bắc Phi tiến quân vào Ai Cập, ông chết vì bệnh vào Tháng Tám năm 1270. Chiến dịch kết thúc, vùng Thánh địa chỉ còn một thành trì sau cùng là Acre thì cũng sụp đổ hai chục năm sau vào tay người kế vị Baibars, là Sultan al-Asraf Khalil. Lần đó có sáu vạn người Thiên Chúa giáo bị giết hay được làm nô lệ!

Trong tám chiến dịch Thập tự chinh, các đạo quân của Thiên Chúa giáo từ Âu Châu đụng độ với dân Thổ (Turk), Berber, Kurd hay Mameluk, không hề có dân Á Rập. Người Á Rập khi đó là thần dân của Đế chế Khaliphat ở Baghdad, ra đời từ một nhân vật tên là Abbas, con cháu của đấng Tiên tri Mohammed và sáng lập Đế chế này từ năm 750. Một vị Khaliph, thứ năm, là Harun al-Rashid được người đời biết đến trong truyện Ngàn Lẻ Một Đêm với nàng Scheheresade!

Trong ngần ấy đợt chinh chiến, dân Hồi giáo nhiều lần dạt đến Baghdad cầu cứu mà bị cự tuyệt. Ta thuộc dòng Sunni cao quý thì cớ sao phải cứu bọn tà đạo Shia? Đế chế Á Rập này ngất ngưởng cho tới năm 1258 thì bị "Thập tự chinh thật", từ hướng Đông đổ xuống!

Đó là quân Mông Cổ.


Thành Cát Tư Hãn Mới Là Hung Thần


Thiết Mộc Chân, sau này lên ngôi là Thành Cát Tư Hãn, khởi sự chinh phục đất Trung Á và Trung Đông của người Hồi giáo từ năm 1219. Đạo quân bách chiến bách thắng của ông chinh phục bằng tàn sát, tất cả, người ngợm, chó mèo, và để lại 700 ngàn xác chết ở Merv rồi một triệu sinh linh tại Nishapur. Vâng, một triệu. Khi trở về Mông Cổ, tay đại sát thủ này qua đời vào năm 1227.

Ba chục năm sau, cháu nội của ông - con trai của Đà Lôi và em trai của các nhân vật chúng ta biết là Mông Kha và Hốt Tất Liệt - là Khúc Lương Ngột (Hulagu Khan) hoàn tất kỳ công của tổ phụ: diệt luôn Đế chế Abassid của dân Á Rập. Đầu năm 1258, trận tàn sát tại kinh đô Baghdad kéo dài 40 ngày, để lại 800 ngàn xác chết. Bao nhiêu đền đài hay thư khố Á Rập bị thiêu sạch. Vị Khaliph sau cùng là Al-Mustassim được quấn trong thảm cho ngựa chiến Mông Cổ dầy đến chết. Kể từ đó, nền văn minh Á Rập bị chấn thương trong nhiều thế kỷ....

Cho đến ngày nay thì họ bắt đền các nước Tây phương và Thiên chúa giáo. Giấc mơ xây dựng lại Đế chế năm xưa của tổ chức xưng danh ISIL là một biến dạng của sự quật khởi này. Nhưng họ đã lầm thủ phạm!

Câu chuyện khá dài tạm kết thúc ở đây mà khỏi nói đến việc Hồi giáo đã tấn công Âu Châu ra sao, mấy trăm năm trước khi ta nghe nói đến "Thập tự chinh".

____________________

Kết luận ở đây là gì?

Barack Hussein Obama đánh lộn sòng lịch sử vì ban tham mưu của ông không thuộc sử? Khó tin quá.

Thứ Năm, tháng 1 22, 2015

Kinh Tế Trung Lưu và Chính Trị Hạ Lưu


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 150122

Tình hình lang bang trong diễn văn liên bang của Tổng thống Obama


* Nước Mỹ của Obama, đẹp như Disneyland *


Một ngày trước khi Tổng thống Barack Obama đọc bài diễn văn về Tình hình Liên bang (State of the Union, SOTU), trên một cột báo bạn, người viết đã báo trước nhiều khoảng trống về tình hình đối ngoại của Hoa Kỳ ("Diễn Văn Về Tình Hình Thế Giới - Những lỗ hổng trong diễn văn của Tổng thống Mỹ về Tình hình Liên bang", Người Việt Ngày 150120).

Lo thay, những dự đoán ấy lại không sai!

Sở dĩ đoán vậy vì biết Obama sẽ nhân một số thành quả kinh tế biểu kiến để tự ký giấy ban khen. Và bất chấp thực tế chính trị là đảng Cộng Hoà đối lập đã kiểm soát lưỡng viện Quốc hội, ông tiếp tục cải tạo xã hội Mỹ - với ý nghĩa của người Hà Nội về chữ "cải tạo" - và bốn lần đòi phất quyền phủ quyết.

Danh bất hư truyền, Obama vẽ ra một nước Mỹ siêu thực và còn tung ra ý lạ là "kinh tế học trung lưu", middle class economics. Bài này sẽ tập trung vào chuyện đó.

Nhưng trước hết, để bảo vệ sự khách quan trong cách nhận định của chúng ta, xin giới thiệu phần đánh giá của tổ chức độc lập Factcheck.org, thuộc Trung tâm Annenberg về Chánh sách Công quyền của Đại học Pennsylvania được viết ngay hôm sau 21. Tìm lên đó, độc giả có sự đối chiếu thực hư và những phóng đại trong bài diễn văn hôm 20 vừa qua. Nhiều lắm, kể ra thì hết cột báo!

Các chính khách - ở cả hai đảng tại Hoa Kỳ hay tại nhiều xứ khác - thường có trong tay hai vật bất ly thân. Cái ống đu đủ để thổi phồng thành tích và cái chổi chà để quét xuống thảm những thất bại của mình. Thảm nhất là khi người dân ít biết mà cứ nghe truyền thông không hiểu biết hoặc có gian ý làm máy khuếch tán sự dối trá.

Trở lại với lý luận của Tổng thống Mỹ về thành phần trung lưu, chúng ta nên đi vào thực tế.


***


Về bối cảnh, những ai soạn diễn văn cho Obama đều rất giống chủ, họ lao vào chính trị mà chưa từng sinh hoạt trong đời thường, là phải kiếm ăn, có khi mất việc hoặc vỡ nợ. Khi được dân trao cho cái ấn, họ có chung một nét là trừu tượng hóa các vấn đề phức tạp thành khái niệm đơn giản, rồi xào nấu các khái niệm ấy thành một chuỗi lý luận có vẻ hợp lý.

Họ đi theo con đường của hai trí thức Thế kỷ 19 là Karl Marx và Friedrich Engels để vẽ ra dự án cách mạng. Khác với hai nhân vật trên đây, vốn tung khẩu hiệu đấu tranh cho giai cấp vô sản, Obama nói đến giai cấp cao hơn, là thành phần trung lưu, vì vô sản đã... tiêu vong trong xã hội tư bản. Hoặc đã thành hữu sản và là thành phần trung lưu. Nhân đây, hãy so cách sống của "dân nghèo" tại Hoa Kỳ với giới "trung lưu" của thiên hạ thì mình thấy. Họ sống rất khá!

Vì không đi vào thực tế, Obama và ban tham mưu ưa vẽ voi bên cạnh mới cóc biết vài sự thật sau đây. Thảng hoặc như có biết thì lại biết hươi chổi mà quét ngay vào bóng tối nên chẳng hiện ra trong bài diễn SOTU.

Số là cơ quan khảo sát Hoa Kỳ (US Census Bureau) cho biết nước Mỹ có chừng sáu triệu doanh nghiệp, là những tác nhân kinh tế tạo ra việc làm và trả lương cho nhân viên, cho dân Mỹ. Một cách phân bố tình trạng lớn nhỏ theo khía cạnh kinh tế và xã hội là số nhân viên tuyển dụng.

Trong sáu triệu cơ sở kinh doanh, có 3,8 triệu là loại cò con, xí nghiệp cá thể với người chủ cũng là nhân viên, thường khai thuế là "self employed" vì chỉ có tối đa là bốn nhân viên, có khi kể cả vợ và con. "Giàu" hơn một chút là một triệu tiểu doanh thương có từ năm đến chín nhân viên. Vẫn là cò con, nhưng người chủ có thể vươn mình vào thành phần trung lưu. Vị chi là gần bốn triệu trong sáu triệu cơ sở.

Cao hơn thế, có chừng 600 ngàn xí nghiệp nuôi sống được từ 10 đến 19 nhân viên, hay mươi gia đình. Ông bà chủ của 60 vạn cơ sở đó là thành phần khá giả trong khu phố. Đến loại xí nghiệp cấp trung thì có nửa triệu cơ sở đang thu dụng từ 20 đến 99 nhân viên. Chủ nhân của loại doanh nghiệp này thì lên tới tầng cao của lớp trung lưu - là đại gia trong cộng đồng địa phương!

Nhân đây, người viết xin thành thật khai báo rằng dù mang tiếng là cuư ca tụng tư bản chủ nghĩa, mình chỉ thuộc diện "self-employed", dù là giao du với các "đại gia" là tiểu thương trong khu phố và trí thức Mỹ trắng (đa số bỏ phiếu Dân Chủ!)

Lên đến cấp đại gia thật thì trong sáu triệu doanh nghiệp của toàn quốc, có 90 vạn cơ sở (là gần một triệu) đang làm giấy phát lương cho số nhân viên đông đảo từ 100 đến 499 người; rồi có 18 ngàn công ty nuôi trên 500 nhân viên - trong số này chỉ có một ngàn siêu đại gia tuyển dụng từ một vạn nhân viên trở lên.

Hàng ngày, khi theo dõi tin tức kinh doanh – nơi mà quần thần của Obama lâu lâu mới liếc - thì dư luận cứ để ý đến chỉ số cổ phiếu Dow Jones của 30 tổ hợp siêu hạng mà ít quan tâm đến chỉ số S&P 500 của 500 doanh nghiệp. Tiêu biểu hơn số liệu về 500 "siêu đại gia" ấy thì còn có chỉ số Russel 2000 hay Russel 3000 của các doanh nghiệp bị gọi là "small cap" - vì ít vốn.

Nhưng ngần ấy cơ sở trong DJIA, S&P hay Russel đều thuộc loại thiểu số ăn chốc ngồi trên của 18 ngàn doanh nghiệp có trên 500 nhân viên.

Mấy thống kê rắc rối trong hơn 300 chữ vừa rồi cho thấy một sự thật: nước Mỹ thâm sâu của đại đa số người dân thật ra sinh sống nhờ các tiểu doanh thương hay xí nghiệp cò con.

Sau tấm ảnh về chuyện thấp cao, chuyện thứ hai là mẩu phim sinh diệt:

Xưa nay, theo quy luật thông thường, hàng năm vẫn có vài trăm ngàn xí nghiệp Mỹ đóng cửa, và lại có mấy trăm ngàn xí nghiệp mới ra đời. Trong dòng sinh diệt luân lưu đó, thực tế kinh tế cũng cho biết các tân xí nghiệp mới là nơi tuyển dụng nhiều nhất theo đà phát triển từ nhỏ tới lớn. Siêu đại gia như Apple hay Microsoft xuất hiện từ nhà xe với sáng kiến từ vài người là chủ nhân và nhân viên đầu tiên.... Một cơ sở làm tương ớt nổi tiếng của người Việt tại Hoa Kỳ cũng khởi sự như vậy, từ một gia đình tỵ nạn. Mạng lưới gọi xe của Uber, một hiện tượng mới lạ, cũng khởi sự từ vài người đầy sáng tạo như Travis Kalanick (bỏ học từ UCLA) và Garret Camp, di dân từ Canada.

Chi tiết thứ ba của thực tế ngoài đời là hơn phân nửa dân số Mỹ sống nhờ tiểu doanh nghiệp, loại cơ sở sản xuất chẳng có khả năng thuê luật sư và chuyên gia kế toán để dạy cách trốn thuế cho an toàn, lách luật cho hợp pháp. Người chủ lam lũ của mấy cửa hàng đó cũng chưa thể bốc điện thoại phàn nàn với giới dân cử địa phương về nhiều khó khăn trong kinh doanh từ khi Tổng thống Obama lên lãnh đạo với hàng loạt luật lệ cải tạo xã hội, từ bảo hiểm sức khỏe cho nhân viên đến bảo vệ môi sinh hay phép sát sinh gia súc cho phải đạo khi kinh doanh về thực phẩm.

Nếu khó quá thì họ đành dẹp tiệm – và tụt khỏi giai cấp trung lưu thành người giật gấu vá vai và cố chinh phục lại Giấc mơ Hoa Kỳ vừa tuột khỏi tầm tay. Lý luận của Obama về "kinh tế học trung lưu" đã ngồi xổm lên những thực tế lầm than đó.

Thế rồi, thống kê của Census Bureau vừa cho biết là năm qua Hoa Kỳ có 470 ngàn doanh nghiệp âm thầm đóng cửa mà chỉ có 400 ngàn tưng bừng khai trương. Lần đầu tiên từ 35 năm qua mà số diệt lại cao hơn số sinh! Chi tiết ấy bị giấu nhẹm trong bài diễn văn được vỗ tay 86 lần!

Nếu đào sâu hơn - và không quên cái chân lý kinh tế là các tân xí nghiệp mới có sức tạo ra nhiều việc làm nhất – ta còn thấy ra hình ảnh tàn tạ của tư bản Hoa Kỳ theo định hướng Obama:

Hoa Kỳ đứng hạng 12 trong các nước tạo thêm doanh nghiệp mới. Đã đành là thua Thụy Điển, Phần Lan hay Đan Mạch ở Bắc Âu hoặc Tân Tây Lan ở Úc Châu. Mà còn thua xứ Israel khói lửa, hay Hungary và Ý là hai nước hoạn nạn trong Âu Châu bị khủng hoảng! Hoảng chưa?

Lý do của tình trạng vắng bóng giai nhân này là:

Thứ nhất khó vay tiền kinh doanh vì nhiều quy định quá chặt chẽ của Đạo luật Cải cách Tài chánh Dodd-Frank, hai dân biểu nghị sĩ Dân Chủ được các đại gia đấm mõm nhiều nhất. Hai nhân vật về hưu này có thể viết sách về tham nhũng qua những bổng lộc từ hai doanh nghiệp bán công đã sụp đổ và góp phần thổi lên vụ khủng hoảng tài chánh 2008, là Fannie May và Freddy Mac!

Lý do thứ hai là các doanh nghiệp loại tiểu trung bị ngộp dưới cái núi luật lệ chằng chịt mới được ban hành từ sáu năm nay, nhất là Đạo luật ObamaCare và nạn chi phí y tế tăng vọt. Truyền thông ngô nghê về kinh tế thì chỉ biết tường thuật cái "được" mà chẳng đếm ra cái "mất" của kinh tế xuất phát từ hệ thống kiểm soát bao biện của nhà nước.

Thứ ba là sự hoài nghi thậm chí ngao ngán về tương lai kinh tế.

Sau vụ khủng bố tại Pháp và Âu châu, báo chí Mỹ cứ nói đến sự kiện là lần đầu tiên dân Mỹ quan tâm đến an ninh nhiều hơn hay bằng với nỗi ưu lo về kinh tế. Khỏi cần so sánh thì ta cũng thấy đại đa số dân Mỹ ngày nay chưa mấy tin tưởng vào sự phục hồi kinh tế và mối lo hàng đầu của họ vẫn là tiền bạc, từ đồng lương không tăng đến chồng hóa đơn hãi hùng về đủ loại chi phí.

Hãy gõ vào Gallup hay Pew để theo dõi dân ý từ các cuộc khảo sát vừa qua thì sẽ thấy tâm lý người dân


***

Nếu nhìn vào thực tế u ám đó và đối chiếu với chuyện "kinh tế trung lưu", ta phải giật mình về hiện tượng chính trị hạ lưu!

Nếu lại tò mò tìm hiểu thêm về cuộc bầu cử 2016 sắp tới thì ta còn thấy Barack Obama đang cùng Nghị sĩ Elizabeth Warren, tiêu biểu cho đại trí thức cực tả, ra sức triệt tiêu hy vọng của cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton. Chuyện ấy, sang năm nói vẫn chưa muộn.

Chứ nói về những chuyện sát sườn trước mặt của cộng đồng, thí dụ như bỏ phiếu cho các đại biểu dân cử tại địa phương, chúng ta nên nhìn lại cho kỹ.

Có nên bầu cho loại chính khách chuyên nghiệp chưa hề lỡ dịp xoa đầu con trẻ và múa lân với cộng đồng mà chẳng làm gì thiết thực? Việc làm thiết thực nhất của họ là xúi người ra tranh cử để chia phiếu của đối phương!

Hay là nên bầu cho người có kinh nghiệm ngoài đời trước khi vào chính trường tranh đấu cho môi trường kinh doanh được thông thoáng dễ dàng hơn? Loại người thứ nhì này mới giúp tiểu doanh thương phát triển trong quản hạt nhỏ bé của chúng ta.

Đấy mới là kinh tế học của trung lưu!