Thursday, March 5, 2015

Hệ Thống Tình Báo Trung Quốc và Nhật Bản



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt 150304

Nhu cầu Quốc an của Nhật và Đảng an của Tầu


 * Thủ tướng Shinzo Abe và Chủ tịch Tập Cận Bình - Hãy nhìn bàn tay kia *


Như một ngẫu nhiên, cả hai cường quốc Đông Á là Trung Quốc và Nhật Bản đều đang củng cố hệ thống tình báo của mình. Nhưng theo mục tiêu trái ngược. Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức lại hệ thống tình báo để Tập Cận Bình củng cố quyền lực và loại bỏ mọi phe phái khác. Nhật Bản thì tăng cường khả năng tình báo để bảo vệ quyền lợi quốc gia trên thế giới.

Hồ Sơ Người-Việt sẽ phân tách hai chiều hướng trái ngược này.


Từ Lưỡng Hội....


Tuần này, đảng Cộng sản Trung Quốc cho tổ chức hai hội nghị song hành gọi là "Lưỡng Hội".

Một là cơ chế mệnh danh Hội nghị Hiệp thương Chính trị, hay Chính hiệp, cơ chế tư vấn của nhà nước mà thực chất là hệ thống kiểm soát các đoàn thể quần chúng dưới sự lãnh đạo của đảng. Cầm đầu cơ chế này hiện nay là Du Chính Thanh, nhân vật đứng hàng thứ tư của Thường vụ Bộ Chính trị gồm có bảy người quyền lực nhất. Chính hiệp đã khai mạc hội nghị năm nay vào Thứ Ba vừa qua.

Tổ chức kia mệnh danh là Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, hay Nhân đại, tức là Quốc hội, cơ quan lập pháp tối cao của quyền lực nhà nước cũng do đảng lãnh đạo. Mọi quyết định của Ban Chấp hành Trung ương rồi Bộ Chính trị của đảng đều được hội nghị này đưa ra bàn thảo và ban hành để chính thức trở thành mệnh lệnh cho cả nước. Quốc hội sẽ chính thức nhóm họp Thứ Năm này. Cầm đầu Quốc hội hiện là Trương Đức Giang, ủy viên thứ ba của Thường vụ, dưới Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng lý Lý Khắc Cường (Thủ tướng).

Giới kinh tế thì theo dõi phát biểu của Phát ngôn viên Quốc hội, nữ Đại sứ Phó Oánh nguời Mông, về nội dung và mục tiêu của Nhân đại năm nay để dự đoán các quyết định của đảng. Nhưng ta cũng có thể nhân cơ hội này tìm hiểu về một bộ phận khác của guồng máy nhà nước, là Bộ An ninh Quốc gia, thường được gọi tắt là Bộ Quốc an, khác với Bộ Công an, là Bộ Nội vụ của các xứ khác.


Đến Bộ Quốc An


Trong hệ thống nhà nước thì cùng thuộc Hội đồng Chính phủ (mà họ gọi là Quốc vụ viện do Tổng lý là Lý Khắc Cường cầm đầu), Bộ Công an có chức năng bảo vệ trật tự và an ninh nội địa, Bộ Quốc an thì phối hợp các hoạt động tình báo và phản gián lẫn kiểm soát lý lịch các đảng viên tới cấp cao nhất. Vì vậy, Bộ Quốc an thực tế là cơ quan phụ trách tình báo đối ngoại lẫn nội an vì có thể truy tố đảng viên về các tội liên hệ đến an ninh quốc gia.

Trong tổ chức đảng thì cả hai bộ đều thuộc hệ thống quản lý của Ban Chính pháp Trung ương, cơ chế có thẩm quyền về cả cảnh sát, an ninh, toà án lẫn phản gián, tình báo đối ngoại lẫn đối nội. Cho đến Đại hội đảng Khóa 18 vào cuối năm 2012, Chủ tịch Ban Chính pháp là nhân vật đầy thế lực Chu Vĩnh Khang, vừa bị thanh trừng và tống giam về tội tham nhũng và nhất là tiết lộ bí mật quốc gia.

Chuyện tiết lộ bí mật ấy có thể liên hệ đến Bắc Hàn khi Chu Vĩnh Khang cho lãnh tụ Bắc Hàn là Kim Chính Ân biết về vai trò "thân Tầu" của người bác là Trương Thành Trạch khiến ông ta bị thảm sát và Bắc Kinh mất luôn ảnh hưởng với Bình Nhưỡng.

Qua Lưỡng hội năm nay, người ta chú ý đến sự kiện Thứ trưởng Bộ Quốc an là Mã Kiến bị trục xuất khỏi Chính hiệp sau khi đã có tin, ngày 16 Tháng Giêng, là bị Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật của Trung ương đảng điều tra.

Do Vương Kỳ Sơn cầm đầu, Ủy ban Kiểm tra này mới là cơ quan tối cao về kỷ luật đảng và thực tế là công cụ thanh trừng của Tập Cận Bình dưới chiêu bài diệt trừ tham nhũng.

Sau khi người cầm đầu Ủy ban Chính pháp là Chu Vĩnh Khang bị kỷ luật, việc Thứ trưởng Bộ Quốc an lại bị điều tra làm cho những ai theo dõi nội tình Trung Quốc đều phải chú ý.


Mẻ Lưới Rộng Lớn


Trong hệ thống nhà nước, Tập Cận Bình là Chủ tịch sau khi nắm giữ vai trò Tổng bí thư của đảng và là nhân vật cầm đầu Bộ Chính trị và Thường vụ Bộ Chính trị. Song song, ông cũng là Chủ tịch Trung ương Quân ủy hội, là hai cơ quan có cùng một tên và thành phần lãnh đạo, ở trong đảng và trong bộ máy nhà nước với chức năng bảo vệ vai trò của đảng với quân đội.

Từ khi lên lãnh đạo, Tập Cận Bình đã cùng nhân vật thân tín – cũng thuộc Thái tử đảng – là Vương Kỳ Sơn mở chiến dịch thanh trừng rộng lớn.

Trong tổ chức đảng thì Chu Vĩnh Khang cùng các thuộc hạ đã bị loại bỏ. Sau đó, nhân vật thân tín và Bí thư riêng của nguyên Chủ tịch Hồ Cẩm Đào là Lệnh Kế Hoạch cũng sa lưới. Cả hai đều có mạng lưới nhân lực tỏa rộng trong đảng và đều bị triệt hạ, các thuộc cấp hay phe phái gần xa đều bị thanh trừng. Trong tồ chức quân đội thì hàng loạt tướng tá đã bị lột lon, cách chức và tống giam về tội tham nhũng, như Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng và cả chục người khác,

Bây giờ, chiến dịch thanh trừng lại tập trung vào Bộ Quốc an. Khi ấy, ta mới thấy người tiền nhiệm của Thứ trưởng Mã Kiện đã bị lột chức từ năm ngoái, rồi tái xuất hiện và lại biến mất vì tội thừa lệnh Chu Vĩnh Khang.... dò xét nhiều Ủy viên Bộ Chính trị.

Vì chức năng khá đặc biệt của Bộ Quốc an, là tình báo, phản gián và an ninh nội bộ, lần này, chiến dịch thanh trừng có thể nêu tội danh khác với tham nhũng – mà nặng hơn nhiều. Có chuyện gì đó đang xảy ra tại Trung Quốc và chuyện tình báo xứ này lại tập trung vào nội bộ. Nhân vật cần theo dõi là đương kim Bộ trưởng Cảnh Huệ Xương, một người thân tín của nguyên Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và chuyên gia phản gián của Trung Quốc, đã từng tốt nghiệp Đại học tại Hoa Kỳ.

Bây giờ, ta nhìn qua Nhật Bản.



Cường Quốc Bị Bịt Mắt Cột Tay


Trong tháng Giêng vừa qua, thế giới chú ý đến sự kiện hai kiều dân Nhật bị tổ chức khủng bố ISIL chặt đầu trước ống kính. Khi nội vụ xảy ra, người ta thấy sự căm phẫn mà bất lực của Chính quyền Shinzo Abe thuộc đảng Tự do Dân chủ LDP. Nhật Bản phải vận động Jordan và Turkey trợ giúp về tình báo để có dữ kiện quyết định - mà không xong.

Chuyện ấy khiến ta liên tưởng đến vụ Tupac Amaru tại xứ Peru ở Nam Mỹ vào năm 1996.

Cuối năm đó, Phong trào Cách mạng Mác xít Tupac Amaru chiếm đóng tư thất Đại sứ Nhật tại thủ đô Lima trong buổi tiếp tân mừng sinh nhật thứ 63 của Nhật hoàng. Họ bắt giữ 24 con tin trong 126 ngày, kể cả Đại sứ Morihisa Aoki. Sự việc xảy ra, Ngoại trưởng Nhật liền qua Peru, khi ấy do Tổng thống Alberto Fujimori, một người gốc Nhật lãnh đạo, và phải nghe Đại sứ Canada thuyết trình về nội vụ vì thiếu tin tức về tình báo, mà cũng chẳng có bộ phận can thiệp.

Vụ bắt giữ con tin được Chính quyền Fujimori giải quyết qua thương thảo rồi dứt điểm bằng một cuộc đột kích đẫm máu khiến tám đặc công của Tupac Amaru bị hạ sát tại chổ.

Một năm sau, Nhật lại bị bẽ bàng khi Bắc Hàn bất ngờ phòng hỏa tiễn Đại pháo đồng Taepodong qua lãnh thổ Nhật mà tình báo và quân báo Nhật không theo dõi được đường bay. Sau vụ Taepodong vào năm 1998, Nhật mới đầu tư vào việc chế tạo vệ tinh trinh sát và lập ra cơ quan tình báo không gian bên trong Cục Thông tin và Nghiên cứu của Nội các.

Tuần qua, người ta mới để ý đến một dự án của Chính quyền Abe là xin thành lập một cơ quan tình báo đối ngoại. Nhật Bản có nền kinh tế đứng hạng ba trên thế giới, với quyền lợi và an ninh toả rộng trên toàn cầu mà vẫn bị cột tay và bịt mắt.

Lý do là sau khi thất trận năm 1945, Nhật bị Hoa Kỳ giải giới và soạn cho một bản Hiến pháp "phi quân sự". Theo điều chín của Hiến pháp, Nhật không được quyền có quân đội mà chỉ có Lực lượng Phòng vệ JDF. An ninh đối ngoại của Nhật khi ấy được phó thác cho Hoa Kỳ để cùng tập trung vào việc phòng ngừa Liên bang Xô viết và Trung Quốc.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, Mỹ hết cần vai trò trọng yếu của Nhật, mà các nước láng giềng như Trung Quốc và Bắc Hàn Cộng sản lại trở thành những mối nguy mới. Bước ra ngoài thì quyền lợi kinh tế Nhật qua các đường hải vận hay cơ sở đầu tư quốc tế cũng bị hải tặc hay khủng bố đe dọa.

Vì vậy, Chính quyền Abe lặng lẽ xây dựng thực lực quân sự và tiến dần đến việc tu chính điều chín của Hiến pháp. Đây là chuyện "tái võ trang nước Nhật" mà nhiều nước trông đợi và Bắc Kinh báo động. Nhưng cho dù là Nhật có thể tăng cường khả năng can thiệp về quân sự để bảo vệ quyền lợi của mình, "và của đồng minh" như Thủ tướng Abe đã giải thích, Nhật vẫn bị bịt mắt vì thiếu mạng lưới tình báo.



Năm Ngón Tay Không Liền Lạc


Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Nhật có cải thiện hệ thống tình báo mà vẫn có sự phân tán đầy quán tính của thời trước. Bộ máy tình báo của Nhật hiện nay gồm có năm cơ quan như năm ngón tay thiếu liền lạc của một bàn tay.

Trong Nội các thì Cục Thông tin và Nghiên cứu phụ trách về tình báo không gian và đang mở tầm hoạt động ra lãnh vực khác. Bộ Ngoại giao thì thu thập tin tức tình báo quốc tế. Trong hệ thống quân sự (của Lực lượng Phòng vệ JDF), Trung tâm Quân báo có chức năng thu thập dữ kiện tình báo điện tử và viễn thông. Cơ quan thứ tư, thuộc Bộ Tư Pháp là Cục Tình báo và An ninh, có nhiệm vụ bạo vệ an ninh công cộng bên trong lãnh thổ. Mạnh nhất vì hoạt động từ hơn nửa thế kỷ là Sở Cảnh sát Quốc gia, với các nhiệm vụ thực thi luật pháp, chống khủng bố và giải trừ các tội hình sự mang tính chất xuyên quốc gia, như ma túy, buôn người.

Hệ thống này có một nhược điểm là thiếu phối hợp và thường gặp trở ngại từ cơ quan có nhiều quyền thế từ đã lâu là Cảnh sát Quốc gia. Nhược điểm kia còn nghiêm trọng hơn vậy, là không có cơ quan thi hành các nghiệp vụ gián điệp ở nước ngoài hầu có thêm tin tức tình báo khi hữu sự. Vì các nhược điểm ấy, nơi tập trung tin tức là Nội các chỉ có thể phản ứng chứ không chủ động hóa giải các mối đe dọa từ khi chưa manh nha.

Ngoài hồ sơ kinh tế vốn dĩ nan giải, Thủ tướng Shinzo Abe còn phải khai thông tình trạng yếu kém đó. Trong một kỳ khác, ta sẽ tìm hiểu thêm về chuyện này.

_______________________


Kết luận ở đây là gì?

Hai cường quốc Đông Á đều đang củng cố hệ thống tình báo của mình.

Một bên thì nhìn ra, một bên thì nhìn vào.

Mối nguy của Nhật có thể đến từ Trung Quốc, mối nguy của Trung Quốc lại đến từ trong đảng!

Wednesday, March 4, 2015

Khi Hoa Kỳ Tăng Lãi Suất

Việt Long & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 150304
Diễn đàn Kinh tế   

Thêm một yếu tố bất ổn cho năm 2015
 
Đồng đô la Mỹ (minh họa)
* Đồng đô la Mỹ (minh họa) - Photo: RFA *  





Trong 34 nền kinh tế giàu nhất thế giới của nhóm OECD, Hoa Kỳ dẫn đầu với đà tăng trưởng cao và tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất. Do đó, lãi suất ngắn hạn tại Mỹ do Ngân hàng Trung ương quyết định không thể nằm mãi gần số không kể từ năm 2008. Nội năm nay, lãi suất đó sẽ tăng và khi ấy, điều gì sẽ xảy ra cho các nền kinh tế khác? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu cùng với Việt Long và chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

 

Hậu quả cho các nền kinh tế khác?


Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, từ vụ Tổng suy trầm vào hai năm 2008-2009, Hoa Kỳ đã hạ lãi suất tới gần số không và bơm ra mấy ngàn tỷ đô la để kích thích kinh tế. Bây giờ, kinh tế của Mỹ đã hồi phục, với thất nghiệp giảm tới 5,7% cùng đà tăng trưởng mấp mé 3%, thuộc loại khả quan nhất trong khối công nghiệp hóa. Vào Tháng Năm năm 2012, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ thời đó là Giáo sư Ben Bernanke đã thông báo rằng Hoa Kỳ sẽ giảm dần để chấm dứt biện pháp bơm tiền và sẽ có lúc điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Lời phát biểu ấy đã gây chấn động cho các thị trường tài chính thế giới vì ảnh hưởng rất lớn của kinh tế Hoa Kỳ. Gần hai năm sau là ngày nay, người ta chờ đợi việc Hoa Kỳ có thể tăng lãi suất. Nếu điều ấy xảy ra, hậu quả sẽ là gì cho các nền kinh tế khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Như mọi khi, tôi xin khởi đầu bằng cách nhắc lại bối cảnh của vấn đề.

- Thứ nhất, vì nhiều sai lầm về chính sách gia cư khi giải tỏa điều kiện mua nhà cho dễ dàng hơn, Hoa Kỳ gây ra nạn bong bóng đầu cơ trên thị trường địa ốc làm giá nhà tăng vọt. Khi bóng bể vào năm 2007 thì nhiều doanh nghiệp đầu tư tài chính vỡ nợ và gây hốt hoảng cho thị trường giữa chu kỳ suy trầm kinh tế khởi sự từ cuối năm 2007. Sau đó, biện pháp ứng phó thông thường là tăng chi đi cùng giảm thuế vẫn không kích thích được sản xuất vì phản ứng hốt hoảng dẫn tới hàng loạt quyết định kiểm soát tài chính và hành chính. Trong hoàn cảnh đó, giải pháp sau cùng vẫn thuộc về Ngân hàng Trung ương qua biện pháp cắt lãi suất tới sàn và bơm tiền từ phương pháp gọi là "quantitative easing" với một khối lượng khổng lồ là gần bốn ngàn tỷ bạc.

Khi lãi suất tại Mỹ tăng thì các khoản vay mượn bằng tiền Mỹ sẽ thành đắt hơn và gây vấn đề cho các nước đã vay quá nhiều tiền Mỹ khi đồng đô là còn rẻ và lãi suất tại Mỹ còn hạ. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Sau đó, kinh tế Mỹ ra khỏi nạn suy trầm từ Tháng Bảy năm 2009 mà chưa hồi phục và mất sáu sáu năm vất vả mới dần dần vững mạnh. Suốt sáu năm đó, lãi suất quá rẻ và tiền quá nhiều tại Hoa Kỳ đã chảy qua xứ khác để kiếm lời với đồng đô la bị mất giá. Khi kinh tế Mỹ tạm ổn định giữa khung cảnh suy yếu của các nền kinh tế công nghiệp hóa khác thì Mỹ kim bắt đầu tăng giá và tăng mạnh hơn trong năm qua. Bây giờ, với viễn ảnh gọi là "bình thường hóa", Hoa Kỳ có thể nâng lãi suất lên khỏi số không thì các nước trên thế giới đều lo ngại.

Việt Long: Câu hỏi kế tiếp của chúng tôi là ai sẽ quyết định tăng lãi suất tại Hoa Kỳ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có hai loại lãi suất. Lãi suất cho vay dài hạn thì được thả nổi cho thị trường quyết định theo các tiêu chuẩn cung cầu, phân lời trái phiếu và mức an toàn tức là khả năng đổi giấy nợ thành tiền mặt. Lãi suất ngắn hạn thì do Hội đồng Dự trữ Liên bang tức là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ quyết định. Đây là lãi suất nền hay cơ bản, là cơ sở để các ngân hàng và doanh nghiệp tài chính tính cho thân chủ của mình. Khi tăng hay hạ lãi suất ấy, Ngân hàng Trung ương gián tiếp tác động vào sự tính toán về tiêu thụ hay đầu tư sản xuất tại Hoa Kỳ. Nhưng vì hoàn cảnh toàn cầu hóa của kinh tế thế giới, quyết định về lãi suất tại Mỹ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến xứ khác.

- Chuyện thứ hai cần nói là Ngân hàng Trung ương này là định chế độc lập, có quyền quyết định về chính sách tiền tệ và tín dụng theo hai tiêu chuẩn là bảo đảm sự ổn định giá cả và tạo điều kiện tăng trưởng để tránh thất nghiệp. Bên trong định chế này, một Ủy ban gọi tắt là FOMC do Thống đốc cầm đầu gồm luân phiên 12 trong 17 nhân vật có nhiều kinh nghiệm kinh tế tài chính, thường họp sáu tuần một lần để quyết định về chính sách tiền tệ và lãi suất căn cứ trên thực tế. Nhiệm vụ của họ là tìm giải pháp tốt đẹp cho kinh tế Mỹ, dù hậu quả có thể là tốt hay xấu cho các nền kinh tế khác. Các thị trường đều theo dõi lời phát biểu của các nhân vật có thẩm quyền ấy và đối chiếu với tình hình thực tế để dự đoán chiều hướng sắp tới của lãi suất cơ bản, thường được gọi là "fed funds rate", và từ đó tính ra chuyện làm ăn của mình.

- Chi tiết thứ ba cũng đáng chú ý là tuần qua, tập đoàn bán lẻ Wal Mart tại Hoa Kỳ đã quyết định tăng mức lương tối thiểu vào năm nay và năm tới. Đây là doanh nghiệp có nhiều nhân công nhất thế giới và họ dự đoán tình hình tương lai sẽ cải thiện nên đã quyết định tăng lương nhân viên để giữ lại những người có khả năng. Đấy cũng là một tín hiệu của thị trường.



000_Hkg4232516-250.jpg
Nhân dân tệ và Đô la Mỹ. Ảnh AFP  



Việt Long: Sau phần bối cảnh, bây giờ ta trở lại chủ điểm của câu chuyện là bao giờ Hoa Kỳ có thể tăng lãi suất và hậu quả sẽ là gì cho các nền kinh tế khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì Ngân hàng Trung ương Mỹ trực tiếp tác động vào các thị trường nên giới hữu trách đều thận trọng trong lời phát biểu và biên bản các phiên họp của Ủy ban Tiền tệ FOMC chỉ được công bố cả tháng sau đó nên thị trường rất khó đoán trước và đoán trúng chiều hướng quyết định về lãi suất. Nói chung thì giới nghiên cứu chính sách và phát biểu của Ngân hàng Trung ương có một đồng thuận là trong năm nay Hoa Kỳ sẽ tăng lãi suất rất nhẹ, sớm là vào Tháng Sáu và trễ là vào Tháng Chín, với xác suất cao hơn cho kịch bản Tháng Chín.

- Nói về hậu quả hay hiệu ứng với thế giới thì ta cần nhìn vào hai chuyện. Thứ nhất là lãi suất tăng sẽ làm hối suất hay tỷ giá đồng đô la cũng tăng so với các ngoại tệ mạnh khác và điều ấy trực tiếp ảnh hưởng đến ngoại thương của các nước. Lý do là Mỹ kim lên giá sẽ làm hàng của Mỹ đắt hơn và khó cạnh tranh hơn và làm cho hàng nhập khẩu vào Mỹ trở thành rẻ và dễ bán hơn cho các nước xuất khẩu vào Mỹ. Chuyện thứ hai còn quan trọng hơn vậy. Khi lãi suất tại Mỹ tăng thì các khoản vay mượn bằng tiền Mỹ sẽ thành đắt hơn và gây vấn đề cho các nước đã vay quá nhiều tiền Mỹ khi đồng đô là còn rẻ và lãi suất tại Mỹ còn hạ.

 

Thủy triều rút về Hoa Kỳ


Việt Long: Thưa ông, từ những nguyên tắc kể trên mà đi vào thực tế thì tình hình sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi chú ý đến một báo cáo mới đây của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, Bank for International Settlements, thường được coi là ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương trên thế giới. Theo ngân hàng BIS này, từ khi bùng nổ vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 khiến Mỹ hạ lãi suất thì tổng số nợ của các doanh nghiệp và chính quyền ngoài Hoa Kỳ đã tăng gấp rưỡi, là 50%, để lên tới chín ngàn tỷ đô la. Người ta sở dĩ đi vay nhiều như vậy là vì tiền Mỹ quá rẻ và lãi suất tại Mỹ quá hạ nên tìm tièn Mỹ để đầu tư vào các thị trường có lãi suất cao hơn hầu kiếm lời nhờ sự sai biệt về lãi suất. Trong số này, dẫn đầu về đi vay là Trung Quốc với cả nghìn tỷ đô la.

Nếu Mỹ tăng lãi suất thì xu hướng gọi là thủy triều rút về Hoa Kỳ sẽ có đà gia tốc mạnh hơn và gây nguy cơ suy trầm kinh tế cho các nước đi vay quá nhiều mà vay bằng tiền Mỹ.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Ngày nay, nếu lãi suất tại Mỹ tăng, dù chỉ là 25 điểm cơ bản lúc ban đầu, tức là 0,25%, thì cũng khiến khách nợ là các doanh nghiệp hay nhà nước khác phải trả chi phí đi vay cao hơn chưa kể là trả với đồng đô la cao giá và hiếm hơn. Nếu các quốc gia này mà sẵn gặp khó khăn tài chính bên trong thì sẽ bị nguy nhất với ảnh hưởng lan rộng qua xứ khác.

Việt Long: Bây giờ có lẽ thính giả của chúng ta thấy ra vì sao từ cuối năm ngoái ông cảnh báo trên diễn đàn này về nguy cơ Mỹ kim lên giá. Một cách cụ thể thì tình hình sẽ như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Mặc dù nhiều người cứ nói cho vui rằng vụ khủng hoảng 2008 báo hiệu sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản hay Hoa Kỳ, thực tế thì kinh tế Mỹ vẫn là thị trường ngoại thương lớn nhất cho giới xuất nhập khẩu và thị trường tài chính sâu rộng nhất cho giới đầu tư. Vì vậy, lãi suất và hối suất tại Mỹ mà tăng thì gần xa gì cũng bị ảnh hưởng. Gần thì như thị trường gia cư tại Canada, xa thì như thị trường tư bản tại Brazil, Hong Kong hay Trung Quốc. Điều chắc là hiệu ứng lan rộng, sự khác biệt nếu có là nặng hay nhẹ tùy hoàn cảnh từng nơi.

- Một cách cụ thể thì Âu Châu và Nhật Bản, là hai nền kinh tế trong nhóm công nghiệp hoá, có lợi thế khi Mỹ kim lên giá vì đồng bạc của họ, đồng Euro hay đồng Yen, sẽ thành rẻ hơn và hàng hóa dễ xuất khẩu hơn. Nhờ vậy, biện pháp tăng lãi suất tại Hoa Kỳ có hiệu ứng gọi là tích cực hay tốt đẹp hơn. Yếu tố chuyển lực từ Mỹ qua Âu qua Nhật chính là hối suất và ngoại thương.

- Ngược lại, các nền kinh tế gọi là đang lên thì sẽ khốn đốn. Theo báo cáo rất chuyên môn của Ngân hàng BIS thì xứ nào càng có sai biệt lãi suất của mình với lãi suất của Mỹ thì càng có xu hướng đi vay bằng tiền Mỹ thay vì bằng đồng nội tệ của mình để khôn ngoan kiếm lời.

Việt Long: Hồi nãy, ông có nói rằng dẫn đầu trong các nước gọi là khôn ngoan này chính là Trung Quốc với hơn một nghìn tỷ nợ bằng đô la. Bây giờ tình hình sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi lãi suất tăng tại Hoa Kỳ làm Mỹ kim thêm giá thì khách nợ sẽ tốn nhiều tiền hơn để mua đô la về thanh toán một khoản nợ cao giá hơn. Đấy là quy luật.

- Áp dụng vào trường hợp Trung Quốc - và trong chừng mực nhất định dù thấp hơn là Việt Nam - thì sự thể sẽ như thế này: Các nền kinh tế ấy đều e sợ suy trầm và giảm phát nên cố kích thích kinh tế bằng cách hạ lãi suất của mình.

- Tuần qua, Trung Quốc lại hạ lãi suất, lần thứ ba trong có ba tháng. Chuyện thứ hai là nhiều bất trắc về chính trị ở tại chỗ khiến những ai có tiền đều tìm cách chuyển ngân ra ngoài, là hiện tượng ta gọi là "tẩu tán tài sản" cho dễ hiểu. Kết quả là Mỹ chưa nhúc nhích gì thì giới đầu tư ở các nơi đó đã bán các khoản nợ bằng nội tệ để mua đô la và càng gây thêm biến động cho thị trường khi họ muốn đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu của Mỹ.

- Nói vắn tắt là lượng tư bản yết giá bằng đô la trên thế giới hiện đang giảm dần và trở thành đắt hơn so với trước đây. Nếu Mỹ tăng lãi suất thì xu hướng gọi là thủy triều rút về Hoa Kỳ sẽ có đà gia tốc mạnh hơn và gây nguy cơ suy trầm kinh tế cho các nước đã đi vay quá nhiều mà vay bằng tiền Mỹ. Chúng ta rất nên theo dõi sự chuyển động đáng ngại ấy trong mấy tháng tới.

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo đã nhiều lần được đưa ra trên diễn đàn này.

Những Điềm Mất Nước



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Tuần báo Sống, ngày150303
"Vùng Oanh Kích Tự Do"

Nước mất thì ai được? Ta hay địch?

 * Tranh vui và ý nghĩa của Sống - Những con chuột xã tắc? *



Thời Bắc Ngụy bên Tầu (từ 386 đến 534), Thái Võ đế Thác Bạt Đảo (sinh năm 408, trị vì từ 424 đến 452) thuộc họ Thác Bạt của sắc tộc du mục Tiên Ti, là người ban đầu có đởm lược hùng tài.

Ông chinh phục và bình định được miền Bắc sau hơn trăm năm nhiễu nhương thời Ngũ Hồ Thập lục quốc - có 16 nước! Từ lãnh thổ rộng lớn miền Bắc, Thác Bạt Đảo tranh hùng với Lưu Tống tại miền Nam và mở ra giai đoạn "Nam-Bắc triều", kéo dài từ 420 đến năm 589. Có dông dài với chồng lịch thì mới hiểu "khi nước Tầu có loạn" là chuyện dằng dặc!


*** 


Triều Thái Võ đế có đại thần Cổ Bật nổi tiếng cương trực, không xu nịnh, dám can hoàng đế.

Thời ấy, Thác Bạt Đảo muốn xây vườn ngự uyển Thượng Cốc trên một vùng bát ngát trùm lên đất canh tác của bá tánh. Cổ Bật nhiều lần xin Võ đế cho thu hẹp phân nửa ngự uyển để dân còn đất cấy cầy. Võ đế không nghe, dù trước đó ông là người đạm bạc chẳng ưa nếp sống xa xỉ và trọng Lão giáo. Không nản lòng, một hôm Cổ Bật lại vào cung để cố xin cắt vườn thượng uyển.

Đến nơi, thấy Hoàng đế đang ngự trên long sàng đánh cờ với viên cấp sự trung là Lưu Thụ. Ván cờ đến hồi gay cấn, người người nín thở theo dõi từng nước cờ của hai kỳ thủ. Cổ Bật ngồi đợi rất lâu như kẻ chầu rìa ngoan ngoãn - mà chẳng thấy Hoàng đế ngước nhìn xuống.

Ông bèn nảy kế lạ.

Bỗng cả cung đình bàng hoàng thấy quan đại thần Cổ Bật nhổm dậy, chồm tới nắm đầu Lưu Thụ kéo khỏi giường mà vật xuống sàn. Rồi cứ thế, một tay giữ chặt vành tai Lưu Thụ, tay kia đánh tới tấp vào lưng như kẻ bật bông. Miệng mắng liên hồi: "Này Lưu Thụ, triều đình mà bê trễ công việc là lỗi ở ông!"

Trên long sàng, Hoàng đế thất kinh vội đặt quân cờ xuống: "Này! Không nghe lời tâu là lỗi ở trẫm, Lưu Thụ chẳng có tội gì cả. Buông ông ấy ra!"

Bấy giờ, Cổ Bật mới thả Lưu Thụ và quỳ gối trình bày lại chuyện thu hẹp vườn thượng uyển cho dân nhờ. Tim còn như hồi trống trận trước biến cố bất ngờ, Thái Võ đế bèn chuẩn theo lời tâu.

Cổ Bật xin xong, mặt không đổi sắc mà tự lột mũ tháo giày, đòi chân đất đi qua dinh hữu tư để nhận tội chết....

Thác Bạt Đảo bèn gọi giật: "Trẫm có nghe chuyện lấn đất của dân để xây ngự uyển là điều hại nước. Khanh làm việc cẩn trọng như vậy là ta được thần giáng phúc, chứ khanh có tội gì đâu? Phàm việc gì ích nước lợi dân thì phải cố làm, chứ đừng băn khoăn tính toán!"

Nghe xong, Cổ Bật quay lại đội mũ, đi giày và xin cáo lui. Ngần ấy tấu thư đã dâng thiên tử quả là chẳng công hiệu bằng một đòn không thủ của đô vật ngay bên long sàng!

"Nhưng bố này vừa tung thủ cấp mình vào cuộc cờ!" Khách có kẻ đứng bên thừa cơ bàn về ván cờ sinh tử của Cổ Bật. "Vậy mà ông ta ra về, cổ không rời áo. Tại sao?" Luận rồi, khách còn gặng hỏi! Đúng là quý khách đầu Xuân.

Biết giải làm sao đây? 

***

Thời xưa - mà thời nay cũng thế ở một số nơi – dù có làm quan lớn thì cũng chẳng thể mó vào cái vẩy ngược của con rồng. Thác Bạt Đảo hiển nhiên là đã rõ ý của vị đại thần tận tụy. Nhưng biết đâu chừng, ông có ưu tiên khác, hoặc chưa muốn giải quyết?

Thế rồi, trong một cuộc cờ với kẻ thân cận trên cái phản chân quỳ có khảm đầu rồng, ông đang dốc trí vào bàn cờ thì bỗng có kẻ chẳng sợ oai trời mà đùng đùng nhảy vào nắm gáy Lưu Thụ quăng xuống đất. Rồi tới tấp thụi vào lưng kẻ đang hầu cờ. Ngay trước mặt Hoàng đế!

Trong cơn thảng thốt, Thác Bạt Đảo phải lui một nước mà lên tiếng can ngăn, và cho Cổ Bật cơ hội giãi bày. Đấy là cái mưu giỡn mặt tử thần của vị đại phu.

Nhưng sau khi vuốt râu rồng, Cổ Bật lập tức biến thành con giun.

Ông tự hài tội và xin đi vào chỗ chết. Trao thân cho cơ quan hữu tư thì cũng tựa như đi vào Sở Bảo Vệ Chính Trị hay KGB của đại lãnh tụ vậy! Từ đòn cực hung ông lùi về chốn cực nhũn.

Là ông vua anh minh, Thái Võ đế không thể không hiểu ý nghĩa của cử chỉ thô bạo.

Thật ra, Cổ Bật muốn trừng phạt chính nhà vua về tội chểnh mảng công vụ, mà vì không thể bợp tai Hoàng đế, ông tẩn thuộc hạ! Lý do của hành vi kinh động này là ngôi vườn thượng uyển làm khổ dân hại nước. Thác Bạt Đảo biết vậy nên mới từ chỗ cực yếu lại dời qua thế cực mạnh: chuẩn nhận lời yêu cầu của Cổ Bật, rồi còn buông lời khen của bậc trưởng thượng - và nói lên trời. Nhờ Thần linh giáng phúc nên ta mới có trung trần như khanh!

Một vở kịch nhức tim mà có hậu!

Bề tôi đã mưu như thế thì Hoàng đế chẳng thể kém tài. Trong giây phút mà cả hai đều diễn đúng vở. Cổ Bật khỏi mất đầu, Hoàng đế chẳng mất người trung lương, dân đen lại được đất trồng trọt.


***

Khách đa sự ngồi bên bèn tấm tắc: "Nhà bác lại muốn nhắc đến dinh cơ hoành tráng và sáng loáng của gã Nông Đức Mạnh trong kia chứ gì? Mẹ kiếp! Lãnh tụ cách mạng gì mà sống như Hoàng đế thời xưa vậy... Bẩn thật!"

- Rõ nỡm! Ta rỗi hơi hay thừa đạn mà oanh kích vào đó?

Thời nay chẳng có Cổ Bật mà rặt lũ cổ rụt. Đứa nào cũng dinh thự nguy nga bất kể đến dân sống trong nguy ngập. Bầy thú thờ Tầu này chẳng nhớ lời Hàn Phi. Trong 47 điềm mất nước tại thiên Vong Trưng của bộ Hàn Phi tử thì họ đã gồm thâu quá nửa! Nói cũng bằng thừa....

***

Trở lại chuyện Thác Bạt Đảo (ta cũng gọi là Đào, với bộ hoả dưới chữ thọ), ông đã chọn Thôi Khiết làm quan Tư đồ, với vai trò như Tể tướng. 

Là người Hán, Thôi Khiết có công Hán hóa tộc Tiên Ti mà cũng gây hiềm khích với quý tộc Thác Bạt. Năm 431, Thái Võ đế còn cử Thôi Khiết cùng các văn nhân tú sĩ biên soạn bộ chính sử của nước Ngụy, với lời giặn là phải dựa vào thực tế - là viết theo lối thực lục. Chi tiết nhỏ: chúng ta cũng quen viết Thôi Khiết là Thôi Hạo.

Cuốn quốc sử của Bắc Ngụy thành hình đúng yêu cầu.

Nhưng thay vì giữ bộ sử cho hoàng thất tham khảo riêng, có người nêu ý kiến là nên... đưa lên Internet

Thời đó là khắc vào bia đá cho bá quan cùng xem. Công trình biên khảo và điêu khắc này được dựng hai bên đường gần đàn tế trời ở ngoài kinh đô. Bộ quốc sự rất thật, vì kể rõ nhiều điều nhạy cảm khi... Cách mạng chưa thành công, kể cả nhiều hành vi dâm bôn hay đa sát thời trước, khiến người dân khoái trá loan truyền khắp nơi.

Cứ như truyện họ Hồ và hậu duệ tại Ba Đình vậy!

Các gia đình công thần cách mạng của tộc Tiên Ti bỗng ốt dột! Họ bèn cáo với Võ đế. Rằng Thôi Khiết và các sử thần cố tình bêu riếu chế độ từ ba đời trước, khởi đầu với Đạo Võ đế Thác Bạt Khuê đến đương kim Hoàng thượng. Thái Võ đế nghe tâu thì nổi lôi đình, hạ lệnh bắt hết mọi kẻ tham gia ghi chép quốc sử để hài tội. 


*** 

Trong số sử thần dưới trướng Thôi Khiết có Cao Doãn, một văn quan đang làm phụ đạo, thầy dạy học của Đông cung Thái tử Thác Bạt Hoảng. Thái tử nghe thấy hoảng, bèn mời thầy vào cung nói nhỏ: "Có gì, tiên sinh cứ theo ý tôi mà trả lời và tránh nói khác thì mới khỏi tội."

Cao Doãn không là người như thế.

Trước bệ rồng, ông khẳng khái tâu bầy: "Vì quan Tư đồ Thôi Khiết bận quá nhiều việc nên hạ thần cùng mấy người khác mới là những người viết quốc sử." Thái tử Hoảng nhảy vào can mà Cao Doãn vẫn không đổi ý. "Tội không ở Thôi Khiết, mà hạ thần thì thấy sao viết vậy."

Trọng tư cách Cao Doãn, Thái Võ đế tha chết, nhưng bắt thảo chiếu thư hài tội Thôi Khiết và đòi chém cả nhà.

Vậy mà cây bút của Cao Doãn lại tắc mực! Nhiều lần Hoàng thượng phái người sang giục mà viết không ra một chữ, lại còn xin vào triều tâu lại: "Thần không rõ quan Tư đồ còn phạm tội gì khác với Bệ hạ, chứ nếu chỉ vì viết quốc sử thì đừng nên xử tội chết!"

Thái tử van mãi, Hoàng đế mới nguôi giận mà đuổi ra. 

Về tới nhà, Cao Doãn mới giải thích với Thái tử Hoảng: "Điện hạ hết lòng cứu thì tôi vô cùng cảm kích. Nhưng tôi có chấp bút vào bộ quốc sử, sao trút hết tội cho Thôi Khiết để cầu sống? Vả lại, những việc làm đúng sai của triều chính thì phải viết cho thực. Phụ hoàng có ghét Thôi Khiết về tội ưa tự đề cao thì cứ xử tội đó, chứ chẳng nên quàng vào cái án viết sử!"

Cuối cùng thì năm 450 Thái Võ đế vẫn sai chém cả nhà Thôi Khiết và mấy người thân thích. Như họ Liễu ở Hà Đông, họ Lư tại Phạm Dương, họ Thôi ở Thanh Hà và họ Quách ở Thái Nguyên. Sau này, chính Thái Võ đế công nhận là nếu Cao Doãn không thẳng thắn can gián thì có lẽ mấy ngàn người đã chết cùng Thôi Khiết!
 
Thế rồi năm 452, Ngụy Thái Võ đế cũng bị hoạn quan là Tông Ái ám sát. Còn Thái tử Hoảng thì đã chuyển sang từ trần trước đó một năm vì quá hãi sợ những cảnh chém giết ở chung quanh.

Hình như đời sau ưa gán tội đa sát cho bọn thiểu số Tiên Ti. Cứ làm như vì họ chưa được Hán hóa nên chưa thấm nhuần nét ảo diệu nhân đức của văn hóa Trung Hoa vậy! So với công trình hiếu sát của Mao Trạch Đông thì đòn phép họ Thác Bạt mới chỉ là trò tập sự.


***

Khách vẫn không tha! Cứ ngồi bên vặn hỏi như trạng sư thầy cãi: Thế còn chuyện cạo sửa lịch sử của họ Hồ và bè lũ tại Việt Nam? Tội giết người hàng loạt, hay cái tội xây dựng đài tạ nguy nga của đám hậu duệ ngày nay? Bác nghĩ sao mà không viết ra?

Viết ra cái gì? Cái điềm mất nước ư? Hiển nhiên là vậy. Nhưng chúng mất nước thì ai được? Dân Ta hay dân Tầu? Then chốt là ở đó.

Cách ngôn của ngụ ngôn: "chúng mất ngai thì dân khỏi mất nước!"
 

Tuesday, March 3, 2015

Hoa Kỳ và Israel với Hồ Sơ Iran



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 150303
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Đồng Minh Trên Hai Lằn Ranh Đối Nghịch 

* Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đọc diễn văn tại AIPAC hôm Thứ Hai *



Hôm nay Thứ Ba mùng ba, Thủ tướng Israel là Benjamin Netanyahu đọc bài diễn văn tại Quốc hội Hoa Kỳ và tập trung vào hồ sơ Iran, vốn có ảnh hưởng sinh tử cho Israel. Trên bàn cân là sự tồn tại của Israel và mối quan hệ chiến lược của Israel với Mỹ. Vì nhiều người Việt có ấn tượng là Hoa Kỳ đã bỏ rơi miền Nam do sức ép của Do Thái năm xưa, đây là chuyện ta nên theo dõi....

Và bắt đầu ở những phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry.

Nhìn từ bên ngoài, ta có thể tin rằng làm Ngoại trưởng của Hoa Kỳ không là điều khó. Hôm Thứ Tư 25 tháng trước, khi ra điều trần trước Ủy ban Ngoại giao Hạ viện, Ngoại trưởng Kerry có ngôn từ thiếu ngoại giao và thừa lầm lạc khi nhấn mạnh đến hai điều. Thứ nhất, Israel nay đã an toàn hơn nhờ Hoa Kỳ đang thương thuyết với Iran về chương trình (chế tạo võ khí) hạch tâm của Tehran, một việc mà Thủ tướng Israel chống đối. Đấy là một sai lầm của Netanyahu. Sai lầm thứ hai là ông Netanyahu cũng lầm khi ủng hộ việc Chính quyền George W. mở chiến dịch tấn công Iraq năm 2003.

Về chuyện Iran, việc Mỹ cùng năm cường quốc là Anh, Pháp, Đức, Nga, Tầu (P-5 + 1), đang đàm phán với Iran về chương trình hạch tâm, với vai trò chủ động Ngoại trưởng Kerry, là điều gì đó còn bí mật nên chưa ai rõ nội dung và hậu quả. Thủ tướng Netanyahu e ngại hậu quả cho Israel vì Tehran không che giấu lập trường thù nghịch đến không đội trời chung với sIrael. Ông tới Mỹ trình bày về hậu quả đó như lời cảnh báo và đề nghị Chính quyền Obama công khai hóa nội dung đàm phán. Người Việt ta liên tưởng đến việc Mỹ hòa đàm với Hà Nội và đến Hiệp định Paris năm 1973 đối với số phận của miền Nam. Israel đang gặp hoàn cảnh đó và Thủ tướng Netanyahu còn bị Ngoại trưởng Kerry công khai đả kích là lầm!

Chuyện thứ hai là vụ Iraq, chẳng những Kerry đã sai mà còn gian. Như mọi khi.

Chính Kerry khi còn là Nghị sĩ đã ủng hộ việc Chính quyền Bill Clinton bên đảng Dân Chủ tấn công chế độ Saddam Hussein qua một thỉnh nguyện thư năm 1998. Và năm 2003, Nghị sĩ Kerry đã ủng hộ Nghị quyết tấn công Iraq dưới thời Tổng thống George W. Bush. Còn Netanyahu chỉ làm Thủ tướng Israel sáu năm sau.

Khi phê phán khả năng suy xét của Netanyahu, Kerry giấu nhẹm khả năng phán đoán của mình, mà còn coi thường khả năng suy xét của dân Mỹ. Vậy mà cũng là Ngoại trưởng! Cho nên ta chẳng ngạc nhiên khi Kerry được xếp loại Ngoại trưởng tệ nhất của Mỹ từ 50 năm qua. Đó là kết quả khảo sát ý kiến đầu Tháng Hai của The Ivory Tower Survey, một công trình hỗn hợp của tạp chí Foreign Policy với tổ chức Teaching, Research, and International Policy (TRIP).

Trở lại chuyện Israel và Iran cùng chuyến thăm viếng của Thủ tướng Netanyahu, ông được Chủ tịch Hạ viện John Boehner bên Cộng Hoà mời qua phát biểu trước lưỡng viện Quốc hội mà không thông báo cho Hành pháp và lãnh đạo Dân Chủ. Chủ tịch Hạ viện có quyền hiến định như vậy, nhưng cố tình gây ra sự thất thố chính trị để cho thấy mâu thuẫn bên đảng Dân Chủ.

Trước hết, từ sáu năm qua, quan hệ giữa Thủ tướng Netanyahu với Tổng thống Obama chưa bao giờ được gọi là nồng ấm. Đây là điều bất thường khi Israel là đồng minh chiến lược và duy nhất dân chủ của Hoa Kỳ tại khu vực Trung Đông đầy khói lửa hiện nay. Thứ hai, xưa nay, cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái thường ủng hộ - và từ 70 đến 80% vẫn chi tiền cho phe Dân Chủ. Lần này, họ phân vân về lập trường của Obama đối với quốc gia Israel. Có lẽ Chủ tịch John Boehner thấy ra điều ấy nên ngỏ lời mời Thủ tướng Israel.

Ông Netanyahu chọn thời điểm này vì sẽ phát biểu trước hội nghị thường niên của AIPAC (American Israel Public Affairs Committee), tổ chức vận động có thế lực của người Mỹ gốc Do Thái, hôm sau mới vào Quốc hội Mỹ. Khi trở về, ông còn có cuộc bầu cử ngày 17 tới đây.

Netanyahu quả là cố tác động vào công chúng và chính trường Mỹ để bảo vệ quyền lợi Israel và vị trí của đảng Likud do ông đang lãnh đạo. Mục tiêu có thể là để thuyết phục dư luận cùng các dân biểu nghị sĩ Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của Israel để Quốc hội Mỹ có đủ túc số hai phần ba mà vượt qua quyền phủ quyết của Tổng thống khi biểu quyết đạo luật The Nuclear Free Iran Act (Đạo luật chống Hạch tâm tại Iran) với đề nghị gia tăng mức cấp vận nếu Iran không chấp hành sự cam kết khi đàm phán về kế hoạch hạch tâm.

Như năm 2012, AIPAC và Netanyahu cùng vận động Quốc hội Mỹ trừng phạt Ngân hàng Trung ương của Iran để gây sức ép. Hành pháp Obama chống lại quyết định ấy mà không nổi và nay lại viện dẫn là nhờ Ngân hàng Trung ương của Iran bị phong toả mà Tehran phải đàm phán!

Những chuyện rắc rối ấy đưa ta đến câu hỏi thật trong truyện dài Hoa Kỳ - Do Thái.

Nhiều người lý luận là tài phiệt Do Thái có thể làm mưa làm gió trong nhiều lãnh vực sinh hoạt của nước Mỹ, từ khoa học, nghệ thuật, điện ảnh đến kinh doanh và nhất là chính trị. Sự thật lại chẳng đơn giản như vậy. Chính giới Mỹ chỉ có thể bị Do Thái vận dụng hay lợi dụng nếu Israel làm Hoa Kỳ lấy những quyết định có lợi cho họ mà có hại cho quyền lợi của nước Mỹ. Điều ấy chưa từng xảy ra từ khi quốc gia Israel được tái thành lập vào năm 1948 tại khu vực Palestine.

Ngược lại, đã có thời Israel ngả theo Liên bang Xô viết và bị Mỹ gây áp lực rất mạnh. Mâu thuẫn ấy đang tái diễn khi Chính quyền Obama có chủ đích riêng với Iran khiến Thủ tướng Israel chạy qua vận động cả người Mỹ gốc Do Thái lẫn chính trường Hoa Kỳ – mà chưa chắc đã thành công.

Nhìn từ bên ngoài, ta nên kết luận rằng Hoa Kỳ hành xử vì quyền lợi của mình và các đồng minh của Mỹ đều phải hiểu ra điều ấy mà tự chuẩn bị. Và dù có ảnh hưởng của dân Do Thái tại Mỹ, Israel vẫn có lúc bẽ bàng!

Chúng ta hiểu ra điều ấy nếu theo dõi tuần báo The New Republic đầy uy tín. Tờ báo này thuộc loại trí thức khuynh tả, thiên về Dân Chủ, mà có lập trường kín đáo ủng hộ Israel chứ không bảo thủ và lộ liễu như tờ Commentary. Trong đòn vận dụng này của Netanyahu, tờ TNP cố nín thinh!

Nhìn rộng hơn ra ngoài, và khỏi tập trung vào quan hệ giữa Israel với Mỹ, ta thấy vị trí then chốt của Iran với ảnh hưởng rất lớn tại Iraq và Syria, trên các tổ chức Hồi giáo cực đoan, từ al Qaeda tại Trung Đông tới Hezbollah tại Lebanon, Hamas trên Dải Gaza và cả lực lượng Huynh đệ Hồi giáo Muslim Brotherhood tại Egypt. Iran giữ vai trò bản lề làm nhiều đồng minh khác của Mỹ e ngại. Trong hoàn cảnh đó, chiến lược của Chính quyền Obama với Iran là gì thì vẫn là ẩn số hãi hùng. Chưa khi nào Hành pháp Mỹ nói rõ chủ trương của mình về chuyện đó. Cũng mơ hồ như chiến lược của Hoa Kỳ với lực lượng khủng bố ISIL đang tung hoành khắp nơi...

Đấy mới là điều đáng ngại, dù có Do Thái hay không!

________________________

Chuyện chỉ xảy ra tại nước Mỹ

Một ngày sau khi Ngoại trưởng John Kerry khẳng định là chưa khi nào nước Mỹ lại an toàn như bây giờ - ngoài mối nguy từ nạn nhiệt hóa địa cầu - thì hôm Thứ Năm 26, Giám đốc Tình báo Quốc gia DNI là ông James Clapper lại trình bày trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện một sự thể khác về mối nguy cho toàn cầu và riêng cho Hoa Kỳ xuất phát từ nạn khủng bố. Có vai trò phối hợp hoạt động của 16 cơ quan tình báo quân sự và dân sự Mỹ, ông Clapper nói gọn rằng năm 2014 bị nạn khủng bố mạnh nhất kể từ 45 năm qua. Hình như hai nhân vật của cùng một chính quyền Obama lại nói về hai thế giới trái ngược! May là Hoa Kỳ có Quốc hội để công chúng thấy ra mâu thuẫn đáng ngại này....