Friday, August 1, 2014

Quỳnh Giao (1946-2014)



Cô Tư Sài Gòn - Việt Báo Ngày 140801

Lòng Ta Mãi Ở Với Người 




 














* Quỳnh Giao trong một lần xuất hiện cuối, với dàn hoà tấu của Nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng tại California *



Quỳnh Giao đã ra đi. Một phần tinh anh của Sài Gòn đã từ biệt cõi gian nan này. Một mảng Tiếng Tơ Đồng đã bị bứt ra khỏi cuộc đời. Một đóa quỳnh đã rơi, một cành giao đã gãy...

Cuộc đời Quỳnh Giao là một phần của nghệ thuật Sài Gòn, nơi đó là tiếng hát hoàn toàn cất lên từ tự do, từ khát vọng tự do, không hề lệ thuộc một thế lực chính trị nào. Quỳnh Giao là biểu tượng của một nhan sắc Sài Gòn, từ dung nhan tới tiếng hát, tới tài viết văn, tới cách xử thế dịu dàng, quý phái.

Hôm nay được một người bạn chuyển qua email một bản ghi lại, lời nói thương tiếc của nhà văn Nhã Ca trong tang lễ ca sĩ Quỳnh Giao. Xin ghi lại để cùng ngậm ngùi.

Bằng hữu Quỳnh Giao tưởng niệm: Cung Tiến, Kim Tước, Mai Hương, Trần Dạ Từ, Phạm Phú Minh, Kiều Chinh 
Nhã Ca, Trịnh Y Thư, Nam Phương, Doãn Quốc Hưng, Nguyễn Bá Khanh











Và Tenzin Dorjee đọc bài chú bên chồng và con của Quỳnh Giao

 

























Nhã Ca: 

“KÍNH CHÀO QUÍ VỊ

Cho phép tôi nói đôi chút về Quỳnh Giao. Và với Quỳnh Giao, người bạn, người em, người cháu.

Ba giờ sáng ngày Thứ Tư tuần trước, khi biết Quỳnh Giáo đã thực sự ra đi, đầu tôi bật lên tiếng kêu: Không đúng. Không thể. Đâu đã tới phiên Quỳnh Giao?” Tiếng kêu trong đầu lúc ba giờ sáng ấy, cho tới phút này, lúc này vẫn không chịu yên.

Sở dĩ gọi lộn xộn vừa bạn, vừa em, vừa cháu, vì nhiều thứ thân tình chồng chất lâu rồi! Từ nhỏ, cô chị lớn Đoan Trang và các em Ti Cưng, Tí Ti, Tí Xíu, Tí Dung... của anh chị Dương Thiệu Tước - Minh Trang, với tôi là “cô cô, cháu cháu”. Có lúc Tí Xíu Dương Vân Quỳnh đối với tôi đã lên chức chị, vẫn “cô cô, cháu cháu”. Sau này, chị Đoan Trang Quỳnh Giao thành bà Nguyễn Xuân Nghĩa, vợ ông bạn thân. Dù đã là bà bạn, là chị em, cách gọi cô cháu thành nếp từ nhỏ vẫn không thay đổi được. Giống như tình thân; một đời, hai đời, ba đời, không cột mà tự nhiên cứ chặt.

Mới đó, Sàigon năm nào, trong vườn khuya cả nhà cùng hát.

Mới đó, đúng ngày, mấy đứa con tôi mở sẵn hai cánh cổng sắt, chờ chị Quỳnh Giao lái cái xe Dauphine màu trắng vào nhà, dạy và kiểm bài học dương cầm.

Và mới đây thôi, đứa cháu nội ba tuổi, khi cắt bánh ăn, còn nhất định để phần cho bà nội, bà Chinh và bà Giao.

Tuy lên chức Bà, có cháu chung, bà vẫn trẻ nhất, tươi tắn nhất, khỏe nhất.

Vậy mà sao bà Giao nằm kia mà bà Chinh, bà Nhã đứng đây.

Giao ơi! Bạn quí, em thương, cháu cưng,

Lỡ hái bông hoa hồng mà gãy tay! Rồi vẫn lành mà. Hôm đi châm cứu về, Quỳnh Giao đã reo lên trong điện thoại: “Cô ơi, tay cháu sắp khỏi rồi, cháu sắp đánh đàn trở lại!”

Ngày nằm giường bệnh, Quỳnh Giao nhẹ nhàng nói: Cô ơi, cô ôm cho cháu ngủ, cháu sẽ mau lành. Vì lo cho cháu bệnh mà anh Nghĩa khổ quá!”. Anh Nghĩa, cô Nhã, chị Huyền đã cùng ngồi quanh giường bệnh khi chư tăng Tây Tạng đến cầu an cho Giao.

Giao ơi, hóa trị xạ trị gì đó đều xong. Rồi sẽ yên. Như ánh trăng bị mây che lấp, mây sẽ qua, trăng sẽ sáng. Nhưng Giao muốn đến sớm, xuyên qua mây và đến thẳng với ánh trăng.

Quỳnh Giao của chúng tôi! Quỳnh Giao của chúng ta đã ngủ yên.

Ngủ yên nhé. Bạn quí, em thương, cháu cưng.

Ngủ quên thân và ngủ để lành lặn tâm trong vô thường.

Hôm nay, chùa gần, chùa xa, từ Cali, từ Sài Gòn tới Dharamsala đều có chuông lễ cho Quỳnh Giao. Xin tất cả quí vị cùng chúng tôi lặng lẽ cầu nguyện và tiễn biệt Quỳnh Giao lên đường về cõi Phật.”


Lời của nhà văn Nhã Ca như thế: “Quỳnh Giao của chúng ta đã ngủ yên. Ngủ yên nhé...”

Xin góp lời cầu nguyện: Ngủ yên nhé...


TẢN MẠN BÊN TÁCH CÀ PHÊ

QUỲNH GIAO ƠI VÀ DIỄM ƠI

Nguyễn Xuân Thiệp Ngày 140731



sinh nhật anh
vào một ngày tháng bảy
trong vườn. sói. và thơ


tháng 7 còn có sinh nhật của Nguyễn Xuân Hoàng và Đinh Cường. Tưởng là tháng 7 vui nhưng trong niềm vui đã ươm sẵn mầm mống của nỗi buồn: bạn Nguyễn Xuân Hoàng đang trên con dốc tử sinh (từ của Ngô Thế Vinh). Trong hình chụp thấy Hoàng gầy yếu mà xót xa. Những ngày này còn có tin Hoàng nằm suốt, không bước chân ra khỏi phòng. Tháng bảy buồn còn vì sự ra đi của hai người trong chỗ tình thân: ca sỹ Quỳnh Giao và nhà văn/nhà báo Nguyễn Minh Diễm. Hai người ra đi cùng một ngày của tháng 7 này: ngày 23 tháng 7. 2014. Hôm nay, sau khi hai người bạn không còn nữa, mình ngồi nhớ lại những đoạn đời đã qua cùng những nỗi bi hoan của kiếp sống này.




CD Quỳnh Giao  (Ảnh internet)
CD Quỳnh Giao (Ảnh internet)

Với Quỳnh Giao mình chỉ quen biết lúc đã sang Mỹ. Ngày xưa, trước 1975, ngồi làm việc trong Đài Quân Đội Sài Gòn thỉnh thoảng thấy Quỳnh Giao đi ngang qua (nàng vào hát trong một chương trình của Đài). Mình có cảm tình với Quỳnh Giao là qua dáng người rất thơ và tiếng hát sang trọng, quý phái của nàng. Thêm điều nữa: cũng như Hà Thanh, Quỳnh Giao là người Huế, sinh ở Vỹ Dạ nơi có Vương Phủ của kẻ này. Thế nhưng, như mây trời trôi đi nắng không bến đỗ, phải đợi khi sang tới Mỹ mới quen biết Quỳnh Giao. Cũng không nhớ là khởi đầu từ đâu nữa. Có lẽ từ mình làm báo Phố Văn và gặp ở nhà Nguyễn Mộng Giác hay gặp khi đi nghe một chương trình nào đó có Quỳnh Giao hát. Hồi viết báo Phố Văn, cách đây đã mươi năm rồi, trong mục Tản Mạn Nguyễn đã viết về ngôi nhà thờ con gà Đà Lạt, nhân đó nhắc tới một cuốn phim đã xem thời còn trẻ là cuốn Les Dimanches de Ville d’Avray (Những Chủ Nhật ở Ville d’Avray). Trong phim này có cảnh anh chàng Pierre vì thương và chiều ý cô bé mồ côi Cybèle, đêm Giáng Sinh đã trèo lên đỉnh tháp nhà thờ cao vút lấy con gà bằng sắt xuống cho cô bé.

Trong bài viết của Nguyễn có một chi tiết sai: Nguyễn nói Pierre là một anh chàng thất nghiệp lang thang. Quỳnh Giao đọc được bài này, liền viết thư cho Nguyễn, nói: Anh chàng Pierre là cựu sĩ quan không quân chiến đấu ở chiến trường Đông Dương. Trong một phi vụ gặp nạn, đã tìm cách đáp xuống một khu làng, và trong hoảng loạn đã lỡ giết chết một bé gái. Từ đó Pierre bị ám ảnh bởi cảnh hãi hùng xảy ra, rơi vào trạng thái tâm thần chấn động và mất một phần trí nhớ (chứng amnesia). Giải ngũ trở về, gặp bé gái Cybèle mồ côi mẹ bị cha bỏ vào ký túc xá rồi quên luôn. Pierre tự xưng là cha của Cybèle, mỗi chủ nhật tới lãnh bé ra đi chơi.


Hình QG & Trần Mộng Tú ở Festiaval Văn Hóa Dallas 2005
Hình QG & Trần Mộng Tú ở Festiaval Văn Hóa -  Dallas 2005

Trí nhớ và sự hiểu biết của Quỳnh Giao thật tuyệt vời. Từ đó, tình bạn với Quỳnh Giao ngày càng sâu sắc. Gặp dịp Hiệp Hội Truyền Thông Báo Chí ở Dallas mở Festival Văn Hóa, Nguyễn thay mặt anh em mời một số đông văn nghệ sĩ quen biết tới tham dự. Thử nhớ lại xem, này nhé, có Trần Mộng Tú, Phạm Xuân Đài, Phan Xuân Sinh, Lâm Chương, Nguyễn Trọng Khôi, Nguyễn Ước, Trần Doãn Nho, Trần Trung Đạo, Ngu Yên & Ngọc Phụng và Nguyên Thảo, Hoàng Xuân Sơn, Hải Phương & Queen, Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm, vợ chồng Triều Hoa Đại, Trần Nghi Hoàng và Hoàng Thị Bích Ti, nhà thơ Trần Thị Hà Thân… Dịp này, Quỳnh Giao đi cùng Lê Uyên và Nguyễn Đình Toàn tới. Đó là vào tháng 10 năm 2005. Ngồi ăn bún bò trong quán Tây Đô, Quỳnh Giao nói vui với mọi người: Mới đó mà mình đã gần sáu bó. Nghe ai cũng ngạc nhiên vì Quỳnh Giao trông còn trẻ quá. Trong buổi văn nghệ, Quỳnh Giao hát và độc tấu dương cầm. Hình ảnh Quỳnh Giao nổi bật trên sân khấu. Cả mình và Ninh Hạ Nguyễn Đức Tâm được dịp nói tiếng Huế với Quỳnh Giao. Vui thiệt là vui.


Hình QG trên sân kháu Festival Văn Hóa Dallas 2005
Hình QG trên sân khấu Festival Văn Hóa Dallas 2005


Nhưng hỡi ơi ngày vui ngắn chẳng tày gang (xin lỗi phải dùng tới sáo ngữ mới thấy thấm thía). Kể từ buổi đó không có dịp gặp lại Quỳnh Giao nữa, chỉ thỉnh thoảng gọi điện thăm và gởi tặng sách báo, CD cho nhau. Rồi như sét đánh giữa trời quang mây tạnh, tin buồn tới với bạn bè anh em, trong đó có Đinh Cường, Hải Phương, Nguyễn Trọng Khôi và kẻ này cùng nhiều người nữa: Quỳnh Giao ra đi vào sáng sớm ngày 23 tháng 7. 2014. Thế là chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta mất đi hai ca sĩ tiêu biểu của bầu trời xứ Huế: Hà Thanh và Quỳnh Giao. Mấy hôm nay, trong ánh nắng rực rỡ của mùa hè mà lòng mình cứ chùng xuống. Thỉnh thoảng nhớ tới bạn, đi tìm lại các CD có giọng hát Quỳnh Giao và lục tìm trên lưới những âm thanh và hình ảnh gợi lại một vùng đất vùng trời.

Trong số những ca khúc Quỳnh Giao hát, mình đặc biệt yêu thích hai bài: Hình Ảnh Một Buổi Chiều và Hoàng Hạc Lâu. Ôi, vàng tung cánh hạc bay bay khuất / Trắng một màu mây vạn vạn đời… Xin chia tay cánh hạc vàng của nền âm nhạc Việt Nam.



Nhà báo Nguyễn Minh Diễm (1943 - 2014)
Nhà báo Nguyễn Minh Diễm (1943 – 2014)

Với Nguyễn Minh Diễm, giáo sư triết học, cái tình đậm đà hơn với một bề dày thời gian gần 50 năm. Quen nhau ngày ấy ở Đà Lạt, cùng sống những tháng năm nồng mùi Sir Walter Raleigh, đế Ngô Như Khương, và cà phê chị Yến, những không gian đầy ắp tiếng cười và mộng tưởng. Hồi đó bọn này gồm có Nguyễn Minh Diễm, Nguyễn Quang Tuyến, Trương Toàn, Phạm Kế Viêm và Nguyễn cùng dạy trường Văn Học của Chử Bá Anh. Chơi thân thiệt thân có Diễm, Tuyến, Thái Lãng và kẻ này. Sáng cà phê thuốc lá chiều rượu đế với chân gà cánh gà hầm thuốc bắc. Đời như rứa là vui quá chừng. Nhưng huyễn mộng nhất là chuyện mở quán sách và nhà in Nhân Văn. Khởi đầu cũng là bên ly cà phê và chén rượu. Buổi cuối cùng đi tới quyết định là lúc ngồi ở Nhà Thủy Tạ trên Hồ Xuân Hương. Đó là thời điểm những năm đầu 70 của thế kỷ trước.

Vậy là sau nhiều bàn bạc cả bọn đi tới quyết định mở trước hết là một cái nhà in. Biết anh bạn Nguyễn Duy Diệm giáo sư dạy triết ở Bùi Thị Xuân cũng có máu văn nghệ thích hoạt động sách vở báo chí lại có quen biết rộng chúng tôi mời thêm anh vào nhóm. Sơ khởi mỗi người góp một lượng vàng để mua sắm máy móc và dụng cụ in ấn. Thật ra không anh nào có tiền cả phải vay mượn bà con. Diệm quen với người chủ nhà ở 72 Duy Tân chỗ nhìn lên cái nhà chuồng cu của nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy. Chúng tôi mướn tầng trên làm nhà sách và salon cà phê tiếp. khách, basement ở dưới đặt nhà in. Cơ sở lấy tên Thư Ấn Quán Nhân Văn và bảng hiệu là do anh bạn họa sĩ Đinh Cường cho mẫu chữ và vẽ kiểu. Tiệm có mái auvent bằng vải bạt, bên trong trang trí thật đẹp, kiểu Paris, ai nhìn vào cũng thích. Sách lấy ở các nhà xuất bản như An Tiêm, Lá Bối và kho sách của anh Tùng ở Sài Gòn. Máy in và các bộ chữ cùng dụng cụ linh tinh tôi nhờ ông anh vợ có cơ sở in ấn ở Sài Gòn cung cấp. Thợ chính là bác Lại ở đường Hàm Nghi, những thợ khác là ông Ruẩn và anh Lập do tôi gởi về Sài Gòn học nghề. Thư Ấn Quán hoạt động khá nhộn nhịp, đây là nơi lần đầu tiên Lê Uyên Phương và Lê Uyên hát nhạc của Lộc với sự có mặt của Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Thế Uyên và nhiều anh em văn nghệ sĩ khác. Ôi, một thời thật đẹp và đầy mộng tưởng. Ở đây, Nguyễn Minh Diễm là người đóng vai trò điều hành mọi việc. Cơ sở hoạt động được hai năm thì bán cho linh mục Nguyễn Văn Khoát. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cực vui và lãng mạn. Sau này bọn Nguyễn còn có thêm Thái Lãng, Trần Hữu Lục, Lê Khắc Hùng, ngồi làm việc chung với nhau xuất bản tờ Thời Điểm, bản tin văn hóa hàng tuần, Được mươi số thì ngưng. Diễm và Nguyễn qua cộng tác với tờ Đất Sống của Nguyễn Duy Diệm. Nguyễn phụ trách trang thiếu nhi, Diễm chuyên viết mục phiếm, chứng tỏ một văn tài chín chắn. Điều này còn biểu lộ trong những bài viết sau này khi ra hải ngoại.

Thế rồi biến chuyển dồn dập trong đời mình và đời chung. Nguyễn được cử đi học Trung Cấp Chiến Tranh Chính Trị, ra trường lên công tác ở Pleiku mấy tháng rồi chuyển về Đài Quân Đội Sài Gòn vào đầu năm 1974. Hơn một năm sau thì Cộng Sản Bắc Việt tiến quân vào Miền Nam. Thế là anh em tan tác. Mình đi học tập cải tạo ra tới Miền Bắc. Diễm cũng đi học tập gần ba năm rồi sống lây lất một thời gian, sau đem hết gia đình về Sài Gòn. Bảy năm sau Nguyễn về lại Sài Gòn, Diễm lúc này đã tạm ổn định, nhà ở trong thành Ô-ma. Cuộc vui lại tiếp tục dù trong nỗi khốn khó, nhọc nhằn. Diễm giới thiệu đi làm phấn viết bảng ở trường Đại Học Sư Phạm, kiếm tiền cà phê thuốc lá. Được một thời gian thì rã đám. Thật là rách rưới nhọc nhằn. Nhiều lúc quá nản chí than với Diễm. Diễm nói có gì mà phải lo, tôi nuôi ông cũng được vậy. Ôi muốn rớt nước mắt. May mà nỗi tuyệt vọng rồi cũng qua. Nguyễn tìm được chỗ dạy học chui, rồi dần dần vào dạy ở trung tâm ngoại ngữ Vocatech của Nghiêm Phú Phát rồi trường Sinh Ngữ 2 ở đường Trần Hưng Đạo. Diễm ra mở tiệm phở phát đạt, mình thường đến ăn khỏi trả tiền. Bây giờ thì bia Tiger và xíu quách, lòng heo đều đều. Hai con trai của Nguyễn vượt biên thành công, một năm sau thì có tiền gởi về mỗi tháng. Anh em bây giờ có năm người: Nguyễn Minh Diễm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Thạc, Vũ Sinh Hiên và Nguyễn này. Mỗi tuần thường tụ nhau ở nhà Diễm, nhà Khánh hoặc nhà mình. Rồi thành lệ, mỗi năm Tết đến, anh em kéo tới nhà mình bên bờ sông Thanh Đa vào ngày mùng 4. Diễm đem tới món giả cầy của chị An Thục Đức nấu tuyệt cú mèo, hiền nội thì có nồi măng hầm và cua xào miến. A, cuộc đời đã bớt đắng cay mà có thêm vị ngọt. Cho đến tháng 6. 1995 thì gia đình Nguyễn có giấy đi Mỹ theo diện HO. Dịp này, Nguyễn có in một tập thơ nhỏ để tặng anh em Như Một Lời Chia Tay, lại cũng do Diễm đánh mày và layout rồi đem in. Trước khi lên đường có cuộc họp mặt bạn bè, có hoa cẩm chướng, có rượu và những món ăn ngon. Còn có tiếng đàn dương cầm của Hồ Đăng Tín, tiếng hát của Phùng Văn Hưởng, giọng đọc thơ của Nguyễn Phan Thịnh.

Sang tới Mỹ, một thời gian sau bạn bè lại gặp lại nhau. Vẫn những cuộc họp mặt đông vui, có thêm vài bạn mới – khi thì ở nhà Diễm bên Virginia có lúc ở nhà mình tại Dallas này. Hương vị ngày xưa sống lại nồng nàn trên đất Mỹ với món giả cầy của vợ Diễm và món măng hầm của hiền nội. Diễm lúc đầu làm những việc bình thường trong các siêu thị. Về sau, vào làm Đài RFA, chức vụ Giám Đốc. Đây mới đúng môi trường để Diễm sử dụng tài năng của mình, thực hiện nhiều chương trình lớn: Ký sự về Cải Cách Ruộng Đất, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Những Trang Blog… Những chương trình này hiện còn lưu giữ tại Đài. Nguyễn cũng được cho giữ một trang blog, đóng góp một số bài tản mạn văn học, được một thời gian thì ngưng do trục trặc hành chánh. Hồi làm báo Phố Văn, nhớ lại cuốn truyện của nhà văn Nam Tư Ivo Andrić được giải Nobel mà hồi ở Nhân Văn Đà Lạt anh em rất mê, Nguyễn bèn nhờ Diễm viết về Chiếc Cầu Trên Sông Drina. Diễm viết ngay một bài đặc sắc phong phú, ký tên Nguyễn An, hiện Nguyễn còn giữ được. Nguyễn cũng như Diễm sống ở Mỹ mà hồn còn mơ về Đà Lạt chốn xưa. Tâm tình đó sống lại trong bài viết Đà Lạt, Ở Một Góc Khuất Của Virginia.

Thời gian trôi qua, quá khứ và hiện tại trộn lẫn. Rồi Diễm lâm bệnh cách đây 7 năm. Chứng ung thư bao tử tưởng đã được trị dứt, không ngờ hơn một năm nay trở lại tấn công những bộ phận khác trong cơ thể. Hồi tháng Giêng 2014, Nguyễn sang DC giới thiệu 3 cuốn sách vừa ấn hành, Diễm đã có mặt với một bài nói xuất sắc. Trong buổi gặp gỡ ở nhà Trương Vũ, Diễm kêu mình ra nói riêng về căn bệnh đang trở nặng, giọng nói khá bình thản. Tháng Tư vừa rồi nghe Diễm phải ngồi xe lăn, Nguyễn qua thăm thấy Diễm vẫn nói cười sinh động cũng yên tâm phần nào. Vậy mà Diễm đã ra đi. Chiều nay nhìn mây trôi sao lòng ngổn ngang bao nỗi bi thương. Quỳnh Giao và Diễm ra đi cùng một ngày, giờ đây đâu còn những cuộc vui họp mặt. Ôi, mây kia…

trên đường tôi đi. chiều nay
gió đã cuốn hết những bông hoa đang mùa
magnolia ơi. về đâu
bạn nguyễn minh diễm của tôi ơi. về đâu
“xưa hạc vàng bay vút bóng người”
tiếng hát quỳnh giao chiều nay nghe lại. lòng bỗng như cơn bão cháy rừng
vầng trăng in mặt trên bức tường nhà hát lớn. cũng đã chết theo tiếng đàn thùng. của người nghệ sĩ thân gầy
một chiều yểu mệnh. như trong thơ bích khê
tôi đi
những ngôi nhà khóa kín cửa
không lửa ấm trong chiều
sự sống. và nỗi chết. cùng nắm tay nhau
ôi. một chiều
xanh giấc mộng desdemona


July 2014
Nguyễn Xuân Thiệp

__________________

Nguyễn Minh Diễm là bạn của Nguyễn-Xuân Nghĩa nên Dainamaxtribune xin giới thiệu bài viết của Nguyễn Xuân Thiệp trên blog Trần Thị Nguyệt Mai. Xin theo mạch dẫn vào bài:

 https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2014/07/31/tan-man-ben-tach-ca-phe-quynh-giao-oi-va-diem-oi/

Monday, July 28, 2014

Quỳnh Giao – Lòng Ta Ở Với Người


Quỳnh Giao (1946 - 2014)



Quỳnh Giao sinh tại Vỹ Dạ của cố đô Huế vào ngày tám Tháng 11 năm 1946 với khuê danh là Nguyễn Phước Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang.

Nói theo lối cổ điển về thân thế, Quỳnh Giao thuộc "Hoàng phái" từ song thân là cụ Ưng Quả và danh ca Minh Trang.

Thân phụ là Nguyễn Phước Ưng Quả, hiệu Vân Hán (1905-1951), cháu nội Tuy Lý Vương Miên Trinh - tự Khôn Chương, hiệu Tĩnh Phố, người con thứ 11 của vua Minh Mạng và em vua Thiệu Trị. Nhà giáo Ưng Quả là học giả uyên bác được giới khảo cứu Việt học của Pháp kính trọng và là bậc thầy của một thế hệ giáo sư, sau này có nhiều khoa trưởng của các Đại học thời độc lập. Học giả Ưng Quả từng là Thái tử Thiếu bảo khi dạy học Thái tử Bảo Long, Hiệu trưởng trường Quốc học tại Huế, Giám đốc Nha học chánh Trung Phần thuộc Bộ Học của nước Việt Nam thời Pháp và tác giả của nhiều công trình biên khảo về văn hóa và mỹ thuật Việt Nam, từng phiên dịch văn chương Pháp qua Việt ngữ và văn học Việt qua Pháp ngữ... Ngoài ra, cụ còn là người thẩm âm sành nhạc và gẩy đàn nguyệt khi tiêu khiển.

Cụ Ưng Quả mất vào năm 1951 tại Bộ Học sau một cơn trụy tim, thọ 46 tuổi, khi Quỳnh Giao mới lên năm.

Thân mẫu Quỳnh Giao, nghệ sĩ Minh Trang, có khuê danh là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, là con gái của Thượng thư Nguyễn Hy. Bà là cháu ngoại của Công chúa Công Tằng Tôn Nữ Tốn Tùy, tức Mỹ Lương Công chúa. Công chúa Mỹ Lương được người đương thời tôn xưng là "Ngài Chúa Nhất" vì là chị cả của vua Thành Thái.

Bà Ngọc Trâm sinh năm 1921, tốt nghiệp Tú tài Pháp, làm biên tập viên và xướng ngôn viên song ngữ Pháp-Việt trong lãnh vực phát thanh từ thời Pháp. Bà lấy nghệ danh Minh Trang từ khi hát cho đài Pháp Á vào buổi bình minh của nền tân nhạc Việt Nam. Nghệ danh ấy là sự kết hợp tên của con trai và con gái của bà là hai nghệ sĩ Bửu Minh và Đoan Trang. Bửu Minh là danh thủ violon, ngồi ghế concert master của dàn nhạc hòa tấu Stuttgard Symphony ở Đức. Danh ca Minh Trang đã tạ thế vào Tháng Tám năm 2010 tại California Hoa Kỳ.

Ở tại Huế đến khi lên bảy Quỳnh Giao mới vào Sàigon sống với thân mẫu và kế phụ là Dương Thiệu Tước, một nghệ sĩ đã góp phần khai phá nền tân nhạc cải cách, nhạc sư đàn Tây Ban Cầm và là cháu nội của một danh sĩ Bắc Hà, Thượng thư Dương Khuê.

Do huyết thống và lại sống trong môi trường âm nhạc, Quỳnh Giao có năng khiếu về nhạc từ bé.

Khi danh ca Minh Trang lập ban hát thiếu nhi đầu tiên là Thiếu Sinh Nhi Đồng thì Đoan Trang đã cùng anh trai tham dự, với tiếng hát thiếu nhi của Mai Hương, Bích Chiêu, Bạch Tuyết, Kim Chi, Quốc Thắng và Tuấn Ngọc.... Sau năm 1953, khi hai kịch sĩ Kiều Hạnh và Phạm Đình Sĩ (song thân của Mai Hương) vào Nam thì Minh Trang nhường cặp nghệ sĩ này điều hành ban hát Nhi Đồng và đổi tên ra Ban Tuổi Xanh cho thích hợp với lứa tuổỉ của ca sĩ thiếu nhi. Đấy là lúc xuất hiện những tiếng hát như Hoàng Oanh, Mai Hân, Phương Hoài Tâm, Xuân Thu....

Vừa cắp sách vào lớp trung tiểu học, Quỳnh Giao vừa học nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc (trường có thêm ban Kịch nghệ sau này) và được sự dìu dắt về dương cầm của danh sư Đỗ Thế Phiệt (dì Ngọc Thuyền trong gia đình) và về nhạc lý từ nhạc sĩ Hùng Lân. Với Hùng Lân, Quỳnh Giao là một trong những học trò giỏi nhất của ông. Sau bảy năm học nhạc, năm 1963, Quỳnh Giao tốt nghiệp thủ khoa về dương cầm lẫn nhạc pháp, và sau này còn được sự dìu dắt về thanh nhạc của một giáo sư Pháp, cứ được gọi là Madame Robin.

Là dương cầm thủ xuất sắc, Quỳnh Giao đã trình tấu cùng nhiều danh cầm Việt Nam và ngoại quốc trong Dàn Nhạc Giao Hưởng của trường Quốc gia Âm nhạc dưới sự điều khiển của Nhạc trưởng Đỗ Thế Phiệt và nhiều lần xuất hiện trong các chương trình hòa nhạc tại Đông Nam Á.

Do Minh Trang bị hen suyễn phải giải nghệ, ở tuổi 15, Quỳnh Giao chính thức hát thay mẹ và một cách thường xuyên trong nhiều ban nhạc lớn tại các đài phát thanh. Từ đó, với nghệ danh do nhạc sĩ Hoàng Trọng đặt cho, Quỳnh Giao vừa đi học vừa đi hát tại các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tiếng Nói Tự Do và đài Vô Tuyến Truyền Hình Việt Nam sau này, trong các ban nhạc của Vũ Thành, Hoàng Trọng, Hoàng Lang, Phạm Duy, Anh Ngọc, v.v....

Trong hoàn cảnh thân mẫu về hưu, kế phụ làm công chức, là một nhạc sĩ tài hoa có nhiều đam mê, Quỳnh Giao thực tế hỗ trợ gia đình và được năm em bên dòng họ Dương vô cùng yêu quý. Từ năm 1968, Quỳnh Giao còn dạy dương cầm tại gia về nhạc cổ điển Tây phương và lập gia đình, được một con gái là Dzương Ngọc Bảo Cơ sau này tốt nghiệp Cử nhân về Giáo dục tại Hoa Kỳ.

Trong lãnh vực phát thanh có đào tạo chuyên nghiệp thời trước, các ca sĩ không được chọn ca khúc mà phải trình bày những bản nhạc có hòa âm sẵn theo yêu cầu tại chỗ của nhạc trưởng. Ngoài giọng ca, họ phải biết ký âm pháp, giỏi nhạc, một ngày ứng khẩu hát nhiều bài khác nhau trước máy vi âm được phát thanh trực tiếp. Quỳnh Giao là một trường hợp tiêu biểu cho các ca sĩ đài phát thanh.

Khi biến cố 1975 bùng nổ, Quỳnh Giao cùng gia đình di tản vào Tháng Tư và được anh ruột đón về miền Đông Hoa Kỳ. Bào huynh của Quỳnh Giao là Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Dương khi ấy dạy văn chương Pháp và Trung Hoa trong Đại học Hoa Kỳ. Ông là một trong những người Việt đầu tiên tốt nghiệp Tiến sĩ tại Đại học Harvard và nay sống tại miền Nam California với gia đình Quỳnh Giao.

Tại miền Đông, Quỳnh Giao mở lại lớp dương cầm tại gia và yểm trợ rồi đón nhận thân mẫu cũng các em vượt biên qua Mỹ.

Trong thời gian này, Quỳnh Giao thực hiện lấy hai băng cassette có chủ đề "Hát Cho Kỷ Niệm" vào các năm 1983 và 1988. Tự đệm lấy dương cầm với phần phụ họa của Văn Phụng và vài nhạc sĩ, Quỳnh Giao trình bày lại những ca khúc đẹp nhất của tân nhạc với lời giới thiệu của các nghệ sĩ Vũ Thành, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Cung Tiến, Thái Thanh, Kim Tước, Châu Hà, Mai Thảo, Lê Văn, Duyên Anh, Bùi Bảo Trúc, Phạm Văn Kỳ Thanh, v.v... Qua năm 1986, Quỳnh Giao cũng được nhà văn Duyên Anh mời trình bày đĩa nhạc "Còn Thoáng Chiêm Bao".

Cùng giai đoạn ấy, Quỳnh Giao cộng tác và lưu diễn một số nơi với nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nhưng cơ hội không nhiều vì sinh hoạt văn nghệ chưa phát triển rực rỡ như sau này. Đáng chú ý thì năm 1988 và 1989 đã cùng Kim Tước và Mai Hương trình bày nhạc Cung Tiến với dàn nhạc thính phòng của nhạc công người Mỹ tại miền Bắc, miền Nam California, Chicago và Minnesota.

Đấy là lúc khán giả biết đến những ca khúc mới và thuộc loại khó diễn tả nhất của Cung Tiến, như 10 bài Vang Vang Trời Vào Xuân phổ thơ Thanh Tâm Tuyền. Và nhất là tác phẩm Hoàng Hạc Lâu, phổ thơ Thôi Hiệu qua phần cảm dịch của Vũ Hoàng Chương.

Sau khi tái giá với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa - sau này là nhà bình luận hợp tác với các đài phát thanh quốc tế và các tờ báo Việt ngữ tại Hoa Kỳ - Quỳnh Giao qua California sinh sống kể từ 1991. Trong môi trường sinh động và đông đảo người Việt tại miền Tây Hoa Kỳ, Quỳnh Giao có cơ hội mở rộng hoạt động tân nhạc.

Quỳnh Giao lần lượt thực hiện nhiều đĩa nhạc có giá trị nghệ thuật, đa số với hòa âm của Duy Cường, như Khúc Nguyệt Quỳnh (1992), Tiếng Chuông Chiều Thu (1996), Chiều Về Trên Sông (1997), Ngàn Thu Áo Tím (1998), Hành Trình Phạm Duy (1999), Hình Ảnh Một Buổi Chiều (2000), Tình Khúc Văn Phụng & Hoàng Trọng (2001), Thơ Tình Phổ Nhạc (2002), Hoa Xuân (2003), Trở Về Thôn Cũ (2005) và Tình Khúc Phạm Duy (2006).

Ngoài ra, Quỳnh Giao hợp tác với nhiều trung tâm để hoàn thành đĩa Đêm Tàn Bến Ngự - Tình Khúc Dương Thiệu Tước (1995) với tiếng hát Kim Tước, đĩa Tình Khúc Văn Cao (1995) cùng tiếng hát Mai Hương và có những ca khúc ghi âm riêng lẻ trong nhiều đĩa phát hành từ 1993 đến 2006.

Trong giai đoạn này, Quỳnh Giao còn có hai cống hiến khác cho tân nhạc.

Nhờ Quỳnh Giao sống tại miền Nam California gần Kim Tước và Mai Hương, ba chị em trình diễn với nhau nhiều hơn và khi hợp ca thì tự động chia bè rất ăn khớp với sự điêu luyện độc đáo. Từ đó, Ban tam ca Tiếng Tơ Đồng Hải Ngoại ra đời để nhắc về ban nhạc Tiếng Tơ Đồng nổi tiếng trước 75 của nhạc sĩ Hoàng Trọng khi ấy còn ở trong nước.

Đáng kể hơn, là năm 1997 Quỳnh Giao thực hiện cho ban Việt ngữ đài BBC chương trình Suối Nguồn Tân Nhạc Việt Nam. Được phát thanh hàng tuần qua 20 buổi, chương trình thuộc loại "nhạc sử" vì nói về 60 năm tân nhạc cải cách Việt Nam từ thời phôi thai năm 1938 đến sau này.

Quỳnh Giao phân đoạn theo thời gian, theo thể tài và đọc lời giới thiệu với phần minh diễn của các ca sĩ và phần phát biểu của nhiều nhạc sĩ. Nhờ nội dung phong phú và nhạc hiệu là bản Bến Xuân của Văn Cao do chính Quỳnh Giao diễn tả, Suối Nguồn Tân Nhạc được thính giả yêu thích nên là một trường hợp hiếm hoi được BBC cho phát lại lần thứ hai.

Nguyên nhân sâu xa nữa sẽ được hiểu ra sau này là Quỳnh Giao có ký ức rất sâu, đã sống với tân nhạc từ bé, gần gũi với các nhạc sĩ và ca sĩ như trong một đại gia đình nên nắm vững hoàn cảnh ra đời của từng ca khúc.

Người ta thấy được điều này khi đọc Quỳnh Giao.

Các môn sinh của thầy Ưng Quả trong trường Quốc học thì không ngạc nhiên khi thấy Quỳnh Giao cầm bút. Sinh thời, nhà giáo ngày xưa là người lịch lãm tài hoa với ngón đàn nguyệt mà cũng là một cây bút sắc xảo. Quỳnh Giao tiếp nhận được huyết thống ấy, mà có lẽ khi còn thiếu thời đã không tự biết.

Năm 1986, nhân dịp mừng sinh nhật thứ 65 của nhạc sĩ Phạm Duy, từ miền Đông, Quỳnh Giao đã có bài viết được đăng trên tờ Văn Học xuất bản tại California. Sau đó là một bài về nhạc sĩ Vũ Thành vừa tạ thế vào năm 1987. Được sự khuyến khích của nhà văn Nguyễn Mộng Giác khi ấy phụ trách tờ Văn Học, Quỳnh Giao đã viết nhiều hơn từ tùy bút đến truyện ngắn cho Văn Học và các tờ báo định kỳ khác, kể cả Thế Kỷ 21. Khởi đầu là đề tài âm nhạc, gần như một loại tự truyện về thế giới tân nhạc Việt Nam, sau này, Quỳnh Giao mở tầm viết và gây thích thú cho người đọc....

Quỳnh Giao viết về nhạc thì cũng như kể chuyện về các nghệ sĩ bằng hữu của thân mẫu. Nhưng kiến thức sâu sắc về nhạc và về kỹ thuật trình bày còn giúp người đọc nhớ lại và có sự thưởng ngoạn cao hơn với từng tác phẩm, từng tác giả hay người trình diễn. Nhờ vậy, độc giả cảm nhận được giá trị đích thực của các ca khúc.

Khi mở ra loại đề tài như điện ảnh, văn chương hay mỹ thuật, Quỳnh Giao còn cho thấy sự am hiểu rộng lớn và thấu đáo. Với văn phong nhẹ nhàng, cái nhìn tinh tế và cách nói khiêm nhưòng dí dỏm về mình, Quỳnh Giao lôi cuốn bạn đọc và dần dần có một thành phần bạn đọc riêng.

Những điều ấy trở thành rõ rệt khi Quỳnh Giao cộng tác với giai phẩm Xuân của Việt Báo và nhật báo Người Việt trong mục "Tạp Ghi" với những bài định kỳ mỗi tuần. Tạp Ghi Quỳnh Giao là mục ăn khách trên Người Việt kể từ năm 2005. Cho đến nay thì đã có gần 500 bài.

Không chỉ đọc Quỳnh Giao, người ta còn nghe thấy tiếng nói thanh quý rất ăn micro của người nghệ sĩ. Những ai còn nhớ tới Quỳnh Giao trong chương trình Suối Nguồn Tân Nhạc năm xưa cùa BBC tìm lại được tiếng nói đó qua mục Vòng Chân Trời Văn Học Nghệ Thuật với nhà báo Lê Đình Điểu của đài phát thanh VNCR. Sau này, khi Người Việt TV thành hình từ Người Việt On line, Quỳnh Giao xuất hiện trên màn ảnh trong chương trình "Câu Chuyện Văn Nghệ" cùng Nam Phương hay Lê Hồng Quang. Đấy là lúc khán giả thấy ra "cây bút Quỳnh Giao" bằng xương thịt, với lối ứng khẩu tự nhiên và nhu mì để nói về đủ loại đề tài hấp dẫn.

Trong khi đó, ở nhà, Quỳnh Giao tiếp tục việc dạy đàn và mở lớp luyện giọng.

Tháng 10, năm 2011, tờ Người Việt cho xuất bản Tạp Ghi Quỳnh Giao, một cuốn sách thuộc loại ăn khách với 67 bài trên hơn 400 trang. Qua năm 2012, Quỳnh Giao chuẩn bị hoàn thành cuốn thứ hai thì ngã trong vườn và bị thương nặng. Sau một cuộc giải phẫu công phu vào Tháng Năm, việc sử dụng tay phải đã bị trở ngại. Lớp dạy đàn mở ra từ mấy chục năm trước coi như chấm dứt.


*
Mùa Xuân 2014, Quỳnh Giao tưởng mình ho vì bị cảm lạnh. Sau một tháng chữa trị bình thường mà bệnh vẫn không dứt. Vào một đêm của đầu Tháng Ba khi bị mất giọng, Quỳnh Giao mới được xe cấp cứu đưa nhà thương và hôm sau thì như bị sét đánh. Ung thư phổi. Điều này là bất ngờ vì trước đó không hề có triệu chứng gì, kể từ khi chiếu điện vì gãy cánh tay mặt.

Sau hơn bốn tháng giải quyết bằng hóa trị rồi xạ trị, Quỳnh Giao suy yếu dần về thể lực mà thần trí vẫn minh mẫn lạc quan. Cho đến khi phải thường xuyên dùng ống dưỡng khí và đối phó với nhiều biến chứng thì tình hình trở thành nguy kịch. Đêm Thứ Ba rạng ngày Thứ Tư 23 Tháng Bảy, Quỳnh Giao lặng lẽ gỡ ống dưỡng khí và ra đi thanh thản trong giấc ngủ trước sự bàng hoàng ngơ ngác của chồng con.

Quỳnh Giao làm đẹp cho đời bằng tiếng hát tuyệt vời và những bài viết về nghệ thuật về mỹ thuật. Người ta thấy yêu đời và yêu người hơn khi nghe hay đọc Quỳnh Giao.

"Lòng Ta Ở Với Người" là tên một ca khúc của Trần Dạ Từ mới được Quỳnh Giao ghi âm mà chưa phổ biến. Có lẽ đấy cũng là lời ca rất đúng về tấm lòng của người nghệ sĩ vừa ra đi.... 


_________________

Ngày 29 Tháng Bảy 2014 là lễ phát tang của Quỳnh Giao tại California. Hôm sau là lễ hỏa táng theo nghi thức Phật giáo. Nhân dịp này, Dainamax trình bày tiểu sử gần như là đầy đủ và hoàn chỉnh về người nghệ sĩ....

Quỳnh Giao Viết



Quỳnh Giao Ngày 090102


Trịnh Bách - Tài Hoa Một Cõi

 * Đại danh cầm của thế kỷ 20 - Andrés Segovia *


Có hai nghệ sĩ chơi Tây ban cầm mà có cùng một chí hướng - là mở tiệm bán đàn!

Một người mở tiệm tại phố Hàng Gai ở Hà Nội rồi di cư vào Nam dạy đàn cho tới khi cả nước đứt dây năm 1975. Ðó là Dương Thiệu Tước, nhạc sĩ có công khai phá nền tân nhạc Việt Nam. Ông sinh năm 1915 và tạ thế năm 1995.

Người kia thì ở một cõi xa hơn nhiều.

Ðó là Sophocles Papas, ra đời trước Dương Thiệu Tước chừng chục năm và ra đi cũng sớm hơn mươi năm (1894-1986). Papas là bậc thầy trứ danh và có công quảng bá nghệ thuật Tây ban cầm trong một lớp học kéo dài hơn sáu chục năm tại thủ đô Hoa Kỳ. Y như Dương Thiệu Tước sau này ở thủ đô Hà Nội, Papas mở tiệm bán đàn tại đường Connecticut, một di tích lịch sử đã từng phục vụ từ tổng thống đến người dân giả.

Hai nghệ sĩ ấy còn giống nhau một điểm, là có một đứa học trò... không giống ai!'

Ðứa học trò đã từng thọ giáo Dương Thiệu Tước tại Sàigòn - và luôn luôn nhắc lại điều ấy - sau này sống tại miền Ðông Hoa Kỳ. Thấy trong niên giám điện thoại có quảng cáo tiệm đàn của một bậc thầy là Papas, cậu bé lần mò tìm tới. Chẳng lẽ Sophocles Papas còn sống hay sao? Mà nghe nói tiệm này mở cửa mãi từ 1922...

Bước vào tiệm đàn, cậu bé thấy choáng ngợp trước nhiều cây đàn quý và nhẹ gỡ xuống một cây, cậu bắt đầu gẩy vài tiếng. Chiều đó, tiệm đàn hơi vắng, ngoài nhân viên bán đàn thì chỉ có một ông già cù lần mới bước vào. Quấn khăn áo sù sụ, ông già thơ thẩn trong tiệm, mân mê lau chùi tủ kính. Có lẽ là người phu dọn dẹp.

Ðược thể, cậu bé lả lướt vài đường cho lão già nhà quê kia biết tài dân Việt!

- Cậu là ai, đang làm gì vậy? Ông lão già bước lại nghiêng đầu hỏi.

- Thì đang thử đàn chứ có gì đâu! Cậu vênh váo trả lời và... chộ bịa thêm vài ngón trước đôi mắt trợn tròn của ông lão. Chữ “chộ bịa” này là do chính đương sự kể lại. Mà cụ là ai vậy?

- Mi có tất cả những tật xấu nhất mà tao thấy trong đám học trò của tao!!! Tao phải dạy lại mới được. Tao là Papas!

Chính cậu bé đã kể như vậy về mối duyên vì sao cậu lại được học ngón đàn Sophocles Papas.

Trong thế kỷ 20, có lẽ Papas chỉ nhường bước cho người bạn già là Andrés Segovia. Học trò Tây ban cầm của hai nhân vật huyền thoại ấy đều phải là danh thủ xuất chúng.

Và cậu bé đó chính là Trịnh Bách, diệu thủ guitar classic của Việt Nam!

Không chỉ học Dương Thiệu Tước và Sophocles Papas, Trịnh Bách còn được đến tận nhà ở xứ Tây Ban Nha theo học Andrés Segovia. Chuyện ấy, bây giờ thì ai cũng biết. Ít người ngờ rằng anh còn được danh thủ dương cầm Mieczyslaw Horszowski mời về nhà, và ở lại cả tháng để học hỏi thêm về nhạc. Horszowski gọi đó là “đàm đạo”! Ông cụ sống rất thọ đến 99 tuổi và chỉ lấy vợ khi đã 89 xuân xanh. Bà vợ ông cũng là một diệu thủ dương cầm người Ý. Bà Bice Costa chăm sóc ông chồng thiên tài như một đứa trẻ trong một tuần trăng mật kéo dài mười năm.

Thế giới của giới nghệ sĩ đó không giống như chúng ta thường nghĩ. Trịnh Bách đã học từ những người như vậy. Nhờ thế, mình biết thêm là các bậc đại sư về âm nhạc không truyền thụ như người thường!

Trong một năm thọ giáo ngôi Bắc đẩu về guitar classic của thế giới, Trịnh Bách không học đàn như ta có thể tưởng tượng. Mỗi ngày, hai người trên hai ghế đối diện cùng đánh, lâu lâu Maestro Segovia buông ra một câu. “Chỗ này phải trong hơn. Gẩy lại được không? Phải sáng nữa mới được! Khoảng trống này phải rung cho đầy thì mới đẹp...”

Trong số học trò của Segovia, nay đã là bậc thầy nổi tiếng hoàn vũ, có những danh cầm như John Williams người Úc, Julian Bream người Anh, Christoper Parkening người Mỹ, Michael Lorimer cũng người Mỹ, hay Alirio Diaz người Venezuela, Antonio Mebrado người Tây Ban Nha, v.v...

Như Quỷ Cốc Tiên Sinh trong truyện cổ, Segovia nhận xét về từng môn sinh. Giàu có nhất sẽ là Christopher Parkening. Khó tính nhất là John Williams. Nghệ thuật nhất có lẽ là Michael Lorimer. Còn Trịnh Bách? “Có tâm hồn nhất.”

Nên có khi bỏ đàn!

Trịnh Bách đã trình tấu ở nhiều hội trường danh tiếng của thế giới, kể cả trong Tòa Bạch Cung. Ðôi tay của anh được bảo hiểm bạc triệu - chẳng vậy mà người ta có chữ “diệu thủ” - cho nên khi đi trình diễn và đem theo một cây đàn rất đặc biệt, anh không được quyền ôm. Sợ hư tay. Hãng bảo hiểm quy định như vậy để bảo vệ tài sản được họ bảo lãnh!

Một danh cầm như thế tất nhiên là phải có lúc phục vụ cộng đồng. Trong một lần trình tấu cho cộng đồng người Việt tại Virginia, đến lúc du dương thì anh giật mình. Các cụ ngồi hàng đầu gật gù: “Cậu này lên dây đàn hoài vậy mà sao chưa thấy ca!”

Như một trường hợp khác là Lê Ngọc Chân, bỏ việc dạy nhạc trong một đại học danh tiếng Hoa Kỳ để trở về khôi phục âm nhạc Việt Nam, Trịnh Bách cũng đã buông đàn xuống giữa đời. 

Chữ “xuống” nên được hiểu theo nghĩa đen.

Anh trở về Việt Nam tìm hiểu và khôi phục chèo cổ rồi nhiều bộ môn âm nhạc khác, và vất vả không ít với các ông cán bộ. Anh đi xuống những xã ấp xa xôi hẻo lánh để tìm ra nghệ sĩ cổ truyền đích thực, và còn kiếm tiền giúp họ sinh sống để dạy lại và giữ lại những ngón nghệ thuật sẽ mai một. Anh vận động để một đoàn chèo được qua Mỹ trình diễn và buồn không ít khi những nghệ sĩ thật đã bị gạt lại, để nhân tình của các quan chức được đem chuông đi đấm nước người, và nhún nhẩy trên sân khấu chèo với bước chân ballet học của Cuba trong tranh phục lòe loẹt.

Nếu không là tư vấn của các định chế nổi tiếng tại Hoa Kỳ và được nhiều người Mỹ quyền thế biết tên thì có khi Trịnh Bách đã bị trục xuất hoặc lãnh những cái mũ không thể ngờ trên đầu! Ngày nay, bao người ca ngợi anh đã phục chế nhiều y phục cổ truyền hay bộ môn nghệ thuật cung đình tại Huế. Ít ai ngờ là trước khi những tác phẩm ấy được chú ý, được tòa đại sứ Hoa Kỳ triển lãm, hay được Tổng Thống Bill Clinton ghé thăm, Trịnh Bách đã bị phiền nhiễu không ít. Nhiều vị có chức có quyền đã chụp lấy những “phát hiện” của anh đem ra kinh doanh và muốn xóa luôn vết tích là người nghệ sĩ.

Mấy chuyện ấy, người viết xin nhường cho ba dấu chấm than để khỏi phải viết thêm!!!

Từ đã lâu, ở bên Mỹ, Trịnh Bách đã chú ý tìm hiểu về trang phục cổ truyền của Việt Nam.

Anh gặp xin bà dì của người viết để mượn xem và xem kỹ từng chút nhiều áo dài rất quý còn lại trong nhà. Dì Ngọc Lan của người viết, bà đại sứ Vĩnh Thọ, còn giữ lại những báu vật của hai bên nội và ngoại. Bên họ nội là tấm áo của Tôn Nhân Phủ, bên họ mẹ là chiếc áo dài của Công Chúa Mỹ Lương, con gái vua Dục Ðức và chị vua Thành Thái. Trong đại gia đình, các cô con gái lên xe hoa đều được mặc áo công chúa và chỉ một lần đó thôi. Có tìm hiểu kỹ thì mới biết màu hồ thủy của áo này hay màu tím của áo kia là những biểu tượng hay quy ước rõ rệt về phẩm phục của triều đình. Ðây là những bảo vật sẽ phải được tặng lại cho viện bảo tàng.

Trịnh Bách cũng là người tận tụy giúp đỡ việc cải táng thân phụ của người viết là học giả Ưng Quả. Anh đã liên lạc với nhiều người trong họ, bên dòng Tuy Lý tại Huế, để đưa hài cốt người quá cố ra khỏi sân vườn trước nhà cạnh phủ Tuy Lý lên tới một nơi yên lành hơn, là sân trong chùa Thiên Hòa.

Bài này được viết như một lời tri ân và cảm phục vì từ 15 năm nay, Trịnh Bách cố đưa nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam tới một nơi yên lành để có thể tồn tại. Anh làm được việc ấy vì nhiều người ngoại quốc đã biết và chú ý, nhờ đó mà thiện chí và tài năng của anh không bị cản trở.

Hành trình từ Dương Thiệu Tước, Papas hay Segovia có thể đã dứt vì anh chọn một con đường chông gai hơn, mà đáng quý chừng nào. Bây giờ, Trịnh Bách đã tiệp màu với xã hội Việt Nam, lượn xe hai bánh đi tới những ngõ ngách khốn khổ nhất để tìm ra những nghệ nhân đích thực và tạo điều kiện cho họ dựng lại những gì đẹp nhất, đã có một thời bị coi là phong kiến, đáng chôn vùi.

Tâm hồn ấy của Trịnh Bách khiến chúng ta phải ngậm ngùi và bái phục.

____________________

Từ Việt Nam, Trịnh Bách gửi lại bài này cho "Chị Trang" và tụng kinh niệm chú cho đến ngày 49 của Nghệ sĩ Quỳnh Giao. Dainamax xin giới thiệu lại để thấy rằng chúng ta sống và yêu nghệ thuật đến chừng nào....

Friday, July 25, 2014

Ðường Chiều Lá Rụng



Quỳnh Giao 2013


(1946-2014)


Một buổi chiều cuối năm Quý Tị đầu năm 2013 chúng tôi cùng hát với nhau dù chỉ được một phần cả Ngàn Lời Ca của Phạm Duy. Trong có 24 tiếng để anh chị em tổ chức một buổi sinh hoạt impromtu mà trang nghiêm trong tinh thần tưởng niệm, Quỳnh Giao nhận lời hát Kỷ Niệm Ðường Chiều Lá Rụng.

Kỷ Niệm là ca khúc vừa sáng tác xong là Phạm Duy đưa cho con bé (Quỳnh Giao) hát trên đài phát thanh. Hơn hai chục năm sau đó, khi mình còn ở miền Ðông và thực hiện lấy băng nhạc Hát Cho Kỷ Niệm theo lối thủ công nghệ, ông cẩn thận gửi lời giới thiệu qua một cassette. Ðấy là kỷ niệm khó phai, nghe lại là nhạt nhòa nước mắt.

Còn Ðường Chiều Lá Rụng là một dấu ấn khác của Phạm Duy, được ông viết khi còn trẻ, vào năm 1965, căn cứ theo tập nhạc “Hát vào Ðời” xuất bản năm 1969. Nhưng trong cuốn “Ngàn Lời Ca,” thì ông viết từ năm 1958, sau khi đi du học bên Pháp về. Ðiều này có lẽ cũng đúng, vì ông đã dùng những điều học được áp dụng cho ca khúc. Ðây là bài hát có nhạc thuật cao nhất của ông, với nét ngũ cung u uẩn và những chuyển đoạn liên tục, vừa khó hát, khó nghe và khó hòa âm.

Năm đó, khi vừa ráo mực, ông đưa tác phẩm cho nhạc sĩ Vũ Thành. Là trưởng phòng văn nghệ của đài Phát Thanh Sài Gòn và trưởng ban nhạc đại hòa tấu và hợp xướng Phương Hoa, Vũ Thành cũng cộng tác với đài Tiếng Nói Tự Do của Hoa Kỳ, chuyên phát các chương trình ra miền Bắc. Nổi tiếng khó tính, Vũ Thành lưỡng lự khi soạn hòa âm, vì Ðường Chiều Lá Rụng không dễ viết.

Nguyên tác của Phạm Duy là nhịp ý dìu dặt thiết tha trên ton Si thứ với nhiều quãng năm giảm (quinte diminué) làm nhiều ca sĩ trẹo lưỡi. Hát đúng giọng thì phải xuống nốt Fa thăng thấp (dưới hàng kẻ ba dòng) và lên nốt Fa thăng cao nhất (dòng kẻ thứ năm). Vũ Thành sửa lại, dùng nhịp 4/4 theo lối chậm rãi kể lể của một bản Slow và viết nhiều nốt liên ba (triolet) trong toàn bài, rồi còn hạ một cung, tức là ton La thứ. Viết xong, Vũ Thành quyết định thu thanh cho chương trình của đài Tiếng Nói Tự Do để phát ra Bắc, và vì thế trong Nam mình không được nghe.

Ông chọn Thái Thanh để trình bày tác phẩm bất hủ này. Ðấy là một chọn lựa tuyệt vời.

Thường ngày Thái Thanh vẫn nổi tiếng là cường điệu. Bà làm cho ca khúc thổn thức rũ rượi hơn và nồng nàn hơn nguyên bản. Nhưng với Ðường Chiều Lá Rụng qua hòa âm Vũ Thành thì mọi lối quằn quại điệu nghệ bỗng nhiên biến mất. Bài hát quá khó, khiến bà phải cẩn trọng từng chữ, hát sai và không theo dàn nhạc thì Vũ Thành “quạt” ngay, chẳng nể nang ai cả!

Thái Thanh hát nghiêm chỉnh, lại có cả dàn phụ họa của Anh Ngọc, Nhật Bằng, Phượng Bằng, Kim Tước, Mai Hương và Quỳnh Giao nữa, nên ca khúc là một tuyệt chiêu.

*

Như có lần người viết đã kể, khi di tản năm 1975, tài sản duy nhất được Vũ Thành đem theo là một số băng ghi âm các ca khúc quý giá ông làm cho đài Tiếng Nói Tự Do. Trong đó có Ðường Chiều Lá Rụng.

Tại hải ngoại, khi thực hiện đĩa nhạc thứ hai với tên Tiếng Chuông Chiều Thu, Quỳnh Giao chọn Ðường Chiều Lá Rụng vì yêu mến tác phẩm trứ danh này. Nhưng đưa cho Duy Cường nghe tape nhạc Vũ Thành thì bị lắc đầu: “Em không bao giờ làm giống ai và chẳng bị ảnh hưởng của ai hết!” Ðúng quá chứ! Rồi Duy Cường cũng loay hoay mãi không viết được. Anh không chịu đổi qua nhịp Slow như Vũ Thành, dù nhịp này dễ hát hơn nhiều.

Cuối cùng Duy Cường hòa âm theo kiểu ad lib, là tự do, chẳng có nhịp gì hết.

Cái khó là xưa nay ca sĩ hát ad lib thì nhạc sĩ đệm theo, chứ bao giờ lại có sự ngược là nhạc sĩ đàn ad lib và ca sĩ phải hát theo! Cường nói: “Chỉ có chị mới hát theo dàn nhạc được, và vì chị nên em mới thử nghiệm điều này.”

Hôm thu âm tại phòng thu Tomlinson, Phạm Duy đến nghe. 

Cô cháu hát thử câu đầu “chiều rơi trên đường vắng có ta rơi giữa chiều” bằng hai cách. Cách thứ nhất gần giống lối diễn tả của Thái Thanh, là láy vào chữ “vắng” và chữ “rơi.” Cách thứ hai là chỉ láy vào chữ “ta” mà thôi. Và hát rất đều giọng, nghiêm trang. Phạm Duy chọn cách thứ hai. Viết lại như vậy để chúng ta hiểu ý người sáng tác.
Cho tới giờ dường như số người hát Ðường Chiều Lá Rụng chỉ đếm trên đầu ngón tay của một bàn tay. Riêng Phạm Duy thì nhắc đến ba người là Thái Thanh, Kim Tước và Quỳnh Giao. Mà người nghe chắc cũng ít. Nhạc đã thế, lời ca lại chẳng nhắm vào cảm quan mà đầy não tính...

Quỳnh Giao đã viết nhiều nên không dám nói thêm về các lời từ của Phạm Duy khi ông đưa tình yêu lên tận cõi chết. Ðường Chiều Lá Rụng là một tiêu biểu rực rỡ và rã rời nhất với hình ảnh đầy chất siêu thực. Nhưng giờ đây, khi ông đã ra đi, mà mình hát lại với nước mắt lưng tròng thì ca khúc lại tái sinh như một bức họa.

Ông chuyển cung như dùng màu sắc để đổi ánh sáng và có nhiều câu báo hiệu lối viết sẽ thấy ở Trịnh Công Sơn về sau.

Một kỷ niệm cuối là khi ghi âm bài này với hòa âm của Duy Cường, Quỳnh Giao đã ỷ vào chỗ thân tình mà xin sửa một chữ ở câu cuối! Phạm Duy nghe lại, gật gù và cho phép!

Chiều tan trên đường tối, có ta như rã rời
Hồn ta như gò mối, đang chờ phút đầu thai.


Quỳnh Giao xin phép hát là “Hồn ta như gò mối, im chờ phút đầu thai...”

Lá đã rụng, ông đã im. Chúng ta đang chờ ông trở lại.

_____________________________

Ngay sau khi Phạm Duy tạ thế vào Tháng Giêng năm 2013 thì tại California, nhiều thế hệ yêu nhạc của ông lập tức tổ chức một buổi cùng nhau tưởng niệm người nhạc sĩ trong tiếng hát. Sau đó, Quỳnh Giao viết bài tạp ghi này về ca khúc Đường Chiều Lá Rụng của ông. Dainamax xin giới thiệu lại đây để chúng ta hiểu rõ hơn về Quỳnh Giao, khi lá đã rụng, người đã im... 

Quý vị có thể nghe Quỳnh Giao trong ca khúc bất hủ này qua mạch dẫn sau đây:

 https://www.youtube.com/watch?v=T1mIPJC7POc