Friday, July 25, 2014

Ðường Chiều Lá Rụng



Quỳnh Giao 2013

 




Một buổi chiều cuối năm, chúng tôi cùng hát với nhau dù chỉ được một phần cả Ngàn Lời Ca của Phạm Duy. Trong có 24 tiếng để anh chị em tổ chức một buổi sinh hoạt impromtu mà trang nghiêm trong tinh thần tưởng niệm, Quỳnh Giao nhận lời hát Kỷ Niệm Ðường Chiều Lá Rụng.

Kỷ Niệm là ca khúc vừa sáng tác xong là Phạm Duy đưa cho con bé (Quỳnh Giao) hát trên đài phát thanh. Hơn hai chục năm sau đó, khi mình còn ở miền Ðông và thực hiện lấy băng nhạc Hát Cho Kỷ Niệm theo lối thủ công nghệ, ông cẩn thận gửi lời giới thiệu qua một cassette. Ðấy là kỷ niệm khó phai, nghe lại là nhạt nhòa nước mắt.

Còn Ðường Chiều Lá Rụng là một dấu ấn khác của Phạm Duy, được ông viết khi còn trẻ, vào năm 1965, căn cứ theo tập nhạc “Hát vào Ðời” xuất bản năm 1969. Nhưng trong cuốn “Ngàn Lời Ca,” thì ông viết từ năm 1958, sau khi đi du học bên Pháp về. Ðiều này có lẽ cũng đúng, vì ông đã dùng những điều học được áp dụng cho ca khúc. Ðây là bài hát có nhạc thuật cao nhất của ông, với nét ngũ cung u uẩn và những chuyển đoạn liên tục, vừa khó hát, khó nghe và khó hòa âm.

Năm đó, khi vừa ráo mực, ông đưa tác phẩm cho nhạc sĩ Vũ Thành. Là trưởng phòng văn nghệ của đài Phát Thanh Sài Gòn và trưởng ban nhạc đại hòa tấu và hợp xướng Phương Hoa, Vũ Thành cũng cộng tác với đài Tiếng Nói Tự Do của Hoa Kỳ, chuyên phát các chương trình ra miền Bắc. Nổi tiếng khó tính, Vũ Thành lưỡng lự khi soạn hòa âm, vì Ðường Chiều Lá Rụng không dễ viết.

Nguyên tác của Phạm Duy là nhịp ý dìu dặt thiết tha trên ton Si thứ với nhiều quãng năm giảm (quinte diminué) làm nhiều ca sĩ trẹo lưỡi. Hát đúng giọng thì phải xuống nốt Fa thăng thấp (dưới hàng kẻ ba dòng) và lên nốt Fa thăng cao nhất (dòng kẻ thứ năm). Vũ Thành sửa lại, dùng nhịp 4/4 theo lối chậm rãi kể lể của một bản Slow và viết nhiều nốt liên ba (triolet) trong toàn bài, rồi còn hạ một cung, tức là ton La thứ. Viết xong, Vũ Thành quyết định thu thanh cho chương trình của đài Tiếng Nói Tự Do để phát ra Bắc, và vì thế trong Nam mình không được nghe.

Ông chọn Thái Thanh để trình bày tác phẩm bất hủ này. Ðấy là một chọn lựa tuyệt vời.

Thường ngày Thái Thanh vẫn nổi tiếng là cường điệu. Bà làm cho ca khúc thổn thức rũ rượi hơn và nồng nàn hơn nguyên bản. Nhưng với Ðường Chiều Lá Rụng qua hòa âm Vũ Thành thì mọi lối quằn quại điệu nghệ bỗng nhiên biến mất. Bài hát quá khó, khiến bà phải cẩn trọng từng chữ, hát sai và không theo dàn nhạc thì Vũ Thành “quạt” ngay, chẳng nể nang ai cả!

Thái Thanh hát nghiêm chỉnh, lại có cả dàn phụ họa của Anh Ngọc, Nhật Bằng, Phượng Bằng, Kim Tước, Mai Hương và Quỳnh Giao nữa, nên ca khúc là một tuyệt chiêu.

*

Như có lần người viết đã kể, khi di tản năm 1975, tài sản duy nhất được Vũ Thành đem theo là một số băng ghi âm các ca khúc quý giá ông làm cho đài Tiếng Nói Tự Do. Trong đó có Ðường Chiều Lá Rụng.

Tại hải ngoại, khi thực hiện đĩa nhạc thứ hai với tên Tiếng Chuông Chiều Thu, Quỳnh Giao chọn Ðường Chiều Lá Rụng vì yêu mến tác phẩm trứ danh này. Nhưng đưa cho Duy Cường nghe tape nhạc Vũ Thành thì bị lắc đầu: “Em không bao giờ làm giống ai và chẳng bị ảnh hưởng của ai hết!” Ðúng quá chứ! Rồi Duy Cường cũng loay hoay mãi không viết được. Anh không chịu đổi qua nhịp Slow như Vũ Thành, dù nhịp này dễ hát hơn nhiều.

Cuối cùng Duy Cường hòa âm theo kiểu ad lib, là tự do, chẳng có nhịp gì hết.

Cái khó là xưa nay ca sĩ hát ad lib thì nhạc sĩ đệm theo, chứ bao giờ lại có sự ngược là nhạc sĩ đàn ad lib và ca sĩ phải hát theo! Cường nói: “Chỉ có chị mới hát theo dàn nhạc được, và vì chị nên em mới thử nghiệm điều này.”

Hôm thu âm tại phòng thu Tomlinson, Phạm Duy đến nghe. 

Cô cháu hát thử câu đầu “chiều rơi trên đường vắng có ta rơi giữa chiều” bằng hai cách. Cách thứ nhất gần giống lối diễn tả của Thái Thanh, là láy vào chữ “vắng” và chữ “rơi.” Cách thứ hai là chỉ láy vào chữ “ta” mà thôi. Và hát rất đều giọng, nghiêm trang. Phạm Duy chọn cách thứ hai. Viết lại như vậy để chúng ta hiểu ý người sáng tác.
Cho tới giờ dường như số người hát Ðường Chiều Lá Rụng chỉ đếm trên đầu ngón tay của một bàn tay. Riêng Phạm Duy thì nhắc đến ba người là Thái Thanh, Kim Tước và Quỳnh Giao. Mà người nghe chắc cũng ít. Nhạc đã thế, lời ca lại chẳng nhắm vào cảm quan mà đầy não tính...

Quỳnh Giao đã viết nhiều nên không dám nói thêm về các lời từ của Phạm Duy khi ông đưa tình yêu lên tận cõi chết. Ðường Chiều Lá Rụng là một tiêu biểu rực rỡ và rã rời nhất với hình ảnh đầy chất siêu thực. Nhưng giờ đây, khi ông đã ra đi, mà mình hát lại với nước mắt lưng tròng thì ca khúc lại tái sinh như một bức họa.

Ông chuyển cung như dùng màu sắc để đổi ánh sáng và có nhiều câu báo hiệu lối viết sẽ thấy ở Trịnh Công Sơn về sau.

Một kỷ niệm cuối là khi ghi âm bài này với hòa âm của Duy Cường, Quỳnh Giao đã ỷ vào chỗ thân tình mà xin sửa một chữ ở câu cuối! Phạm Duy nghe lại, gật gù và cho phép!

Chiều tan trên đường tối, có ta như rã rời
Hồn ta như gò mối, đang chờ phút đầu thai.


Quỳnh Giao xin phép hát là “Hồn ta như gò mối, im chờ phút đầu thai...”

Lá đã rụng, ông đã im. Chúng ta đang chờ ông trở lại.



 

Tạp Ghi Quỳnh Giao








Luân Tế - California

Khúc hát càng cao càng ít người thưởng ngoạn
 






















 
 

* Hình bìa cuốn Tạp Ghi của Quỳnh Giao - Ra mắt tài California vào Tháng  102011 *



Khi Quỳnh Giao mời tôi đến trám chỗ vài phút giữa hai bản nhạc trong chương trình ra mắt cuốn Tạp Ghi thì tôi hỏi QG là tôi nên ứng khẩu hay là viết lách đàng hoàng. QG muốn tôi ứng khẩu. Nhưng khi nhận được cuốn Tạp Ghi, bìa mầu tím rất nhã, cầm trong tay, đọc lại một lần nữa những bài đã đọc, thì tôi cảm thấy có thể những lời nói ngẫu hứng của mình không xứng đáng với những gì QG viết nên tôi ngồi xuống viết một bài ngắn dùng làm sườn cho cuộc nói chuyện hôm nay.

Nghệ sĩ Việt Nam thường chỉ làm “đơn nghiệp”, tức là chỉ có một nghề, hay chỉ có một tài.  Nghệ sĩ Cải Lương thỉnh thoảng sang hát vài bài tân nhạc. Ca sĩ có tiếng và đẹp trai hay đẹp gái được mời đóng phim. Nhưng chuyện đổi nghề này vẫn thuộc vào cái gọi là nghệ thuật trình diễn. Không thấy nhà thơ nào đi đóng kịch hay nhà văn nào đi hát, kể cả hát Karaoke.

Vì không sinh hoạt trong cộng đồng, có thể tôi không biết rõ, nhưng có lẽ chỉ có vài người trong giới nghệ sĩ trình diễn có khả năng viết lách. Một trong những người đó là ca sĩ QG.

Người Việt ta có một câu rất đểu là, “văn mình, vợ người”. Văn mình thì guarantee phải hay hơn văn người khác và vợ người khác thì of course, naturellement là đẹp hơn vợ mình.

Tôi cũng có viết được dăm ba cuốn sách, nhưng lúc ngồi ở vườn sau, đọc đến hết trang 415 trong cuốn Tạp Ghi của Quỳnh Giao thì tôi ngửng lên nhìn trời, ngẫm nghĩ, ngậm ngùi cho thân phận viết lách của mình một lúc rồi nhìn vào trong nhà, thấy một bóng dáng thân  thuộc, cảm thấy câu trên là sai, phải sửa lại thành : “Văn người - Vợ mình”. Cuốn sách của QG chứng minh cho vế thứ nhất. Kim Thanh, vợ tôi có mặt hôm nay, là minh chứng cho vế thứ hai.

Tôi biết, hay nói đúng là nghe, QG hát từ hồi còn trẻ. Sau này đi vào giới truyền thanh, văn nghệ nên có dịp gặp QG trên đài phát thanh, đài truyền hình. Sang Mỹ thì cũng chỉ gặp lại nhau vài lần vì tôi không giao thiệp rộng, và vì ở xa nên không có cơ hội tham dự những sinh hoạt cộng đồng, văn hóa, văn nghệ. Khi bạn bè chuyển cho tôi đọc những bài tạp ghi của QG viết trên NGƯỜI VIỆT Online, tôi thấy hay quá, có viết thư khen QG và gửi cho QG những bài tôi viết. Thành ra chúng tôi đã quen nhau hơn 40 năm, không biết nhà nhau, không biết cả số điện thoại, nhưng lại biết về nhau nhiều hơn qua Internet và email.

Trong cuốn Tạp Ghi gồm 67 bài này, mỗi chữ, mỗi dòng được chọn lựa, đặt xuống, kéo qua, dằng lại một cách cẩn trọng. Những câu, những đoạn mang đầy ý nghĩa, mới, lạ, hơi cao một chút nhưng lôi cuốn người đọc vào những chỗ có lẽ họ không muốn tới nhưng không cưỡng lại được. Quý vị cứ tin tôi đi. Ở vào cái tuổi của tôi, tôi không dễ bị lôi cuốn đâu.

QG viết phần lớn là về nhạc nhưng đây không phải là những bài phê bình âm nhạc mà là những cảm nghĩ chân thành của một người yêu nhạc, có một kiến thức rất rộng và đa dạng về âm nhạc, và sống với âm nhạc suốt cuộc đời.

QG viết về những bài hát, những giọng ca cả Việt Nam lẫn ngoại quốc, về những con người đã để lại, không những trong QG mà thôi mà còn ở hầu hết trong chúng ta, một gia sản văn hóa vô giá. Tôi có cái may mắn là đã được quen, được gặp, được nói chuyện với, được biết, được nghe, được xem hầu hết những nhân vật QG nói tới trong cuốn Tạp Ghi. Và mỗi dòng QG viết về từng người, với tôi, là một kỷ niệm.

Từ mái tóc rất nghệ sĩ của Vũ Thành, đến Lê Thương đứng trong lớp vẽ 5 giòng kẻ thẳng tắp trên bảng đen, đến sự nghiêm nghị của Hoàng Trọng, đến tiếng hát một thời ngắn ngủi của Thanh Vũ, đến cái bất cần đời của Phạm Duy, đến tiếng đàn réo rắt của Đan Thọ, đến Phạm đình Chương một tay rượu, một tay thuốc lá lừng khừng trên sân khấu, đến Thái Thanh trong phòng thâu tại đài Tự Do, đến Mai Hương với chiếc răng khểnh, đến Văn Phụng với nét mặt bon papa thiếu một chiếc răng cửa, đến Kim Tước trong thư viện nhạc, đến Anh Ngọc người đóng phim Yêu chung với tôi, đến Nghiêm Phú Phi với nụ cười thật khiêm nhượng so với cái tài thật lớn của ông, đến Hoàng Vĩnh Lộc với giọng nói ngập ngừng…

QG còn viết về các nghệ sĩ ngoại quốc từ Tony Bennett đến Yo Yo Ma đến Charles Aznavour đến Maria Callas đến Nữ Hoàng nhạc Soul Aretha Franklin đến Luciano Pavoratti đến Edith Piaf đến Mozart đến “dòng sông xanh” của Strauss…đến sự tích của “trở về mái nhà xưa – “come back to Sorrento”, Phạm Duy làm lời Việt.

Và khi QG viết về những đề tài này thì “mười phân vẹn mười”, cả đối tượng của bài lẫn văn phong.

Có một nhà văn người Mỹ mà tôi không nhớ tên nói: Những người viết tiểu thuyết thường là chân thật hơn những người viết tiểu sử tự thuật.

Lý do là tiểu thuyết gia biết là mình bịa chuyện và nhận là mình bịa chuyện. Còn những người viết tiểu sử tự thuật lúc nào cũng nghĩ là mình viết ra sự thật. Và cứ đọc mãi những lời mình viết về mình thì đâm ra tin vào những gì mình viết về mình.

Những bài tạp ghi có cùng một mẫu số chung với những tác phẩm tự thuật. Đó là họ thường dùng ngôi thứ nhất – tôi – trong câu văn. QG vì là đàn bà nên được quyền xưng tên một cách rất dễ thương (bạn thử tưởng tượng ra cái cau mày khó chịu của mình khi nghe anh Nguyễn Đình Toàn xưng tên trong bài viết của anh – chẳng hạn như… thay vì “Quỳnh Giao cho là”… thì thành “Nguyễn Đình Toàn cho là”….). Nghe nó làm sao ấy.

Chỉ có cái khác là trong các bài tiểu sử tự thuật, cái tôi là chính, là trọng điểm của bài văn. Còn trong những tạp ghi của QG thì cái tôi được dùng một cách rất khiêm nhượng trong việc đưa tới cho người đọc những cảm nghĩ vụn vặt nhưng lắng đọng và đầy ý nghĩa của tác giả về một bài hát, một giọng ca, một nhạc sĩ, một cây đàn, một sự kiện trong lịch sử âm nhạc có thể ai cũng biết, ai cũng nghe, nhưng ít khi ngừng lại để suy nghĩ, phân tích và viết xuống.

Khác với những người viết tiểu sử tự thuật, người viết tạp ghi chủ quan nhưng không đề cao cái tôi của mình (Muốn tìm biết QG đã làm những gì thì quý vị phải đọc ở trang bìa sau, với một tấm ảnh nhỏ mặc áo dài tím, đeo kiềng vàng rất xinh). Cho nên viết Tạp Ghi thật là dễ và cũng thật là khó. Và tạp ghi của QG rất chủ quan vì nó đưa ra những nhận định riêng của người viết.

Chẳng hạn như:

-Về bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” của nhạc sĩ Hùng Lân, QG viết :

“UY NGHI, LẪM LIỆT VÀ NHÂN BẢN NHẤT VÌ PHƠI PHỚI HỒN NƯỚC MÀ KHÔNG SẮT MÁU ĐÒI PHANH THÂY UỐNG MÁU QUÂN THÙ”.

Đã từ lâu tôi vẫn mong một ngày nào đó VNMCTD được chọn làm quốc ca vì thấy bài này hay quá, hùng tráng quá. Tôi chỉ biết là mình muốn mà không biết tại sao. QG đã giải thích cái tại sao đó cho tôi bằng câu trên.

Viết về nhạc sĩ Lê Thương, tác giả của Hòn Vọng Phu và của Tuổi Thơ và Thằng Cuội – Cuội ơi ta nói Cuội nghe, ở trên trăng mãi làm chi… QG viết :

“Ở MỘT HOÀN CẢNH TỐT ĐẸP KHÁC, NƯỚC TA ĐÃ PHẢI CÓ 
MỘT VƯỜN HOA THIẾU NHI MANG TÊN ÔNG”.

Mấy ai nghĩ đến chuyện vinh danh cho người nhạc sĩ có công lớn với văn hóa này? Tôi nghĩ đây là một nhận xét đầy nhân bản, đầy văn hóa của một nghệ sĩ về một nghệ sĩ.

- Muốn biết tại sao người ta gọi QG là Ca sĩ mà không là “Hát sĩ”? Mà gọi thế là đúng. Quý vị về mở computer xem một vài cái YouTube ghi lại những hình ảnh các ca sĩ trình diễn ngày xưa rồi mở cuốn Tạp Ghi, đọc đến trang 281, thì biết.

- Nói về những tác phẩm tạm gọi là “Bán Cổ Điển Tây Phương” của Việt Nam, QG viết: 

Những nhạc sĩ đó muốn nâng cao trình độ nghệ thuật và mở ra những chân trời khác. Chúng ta thấy họ là những người cô đơn. Họ sáng tác cho chính họ và nhiều khi cũng chẳng mong đợi là tìm ra người tri kỷ trong đám đông”.

QG đã viết dòng này thay cho một số không nhỏ những nghệ sĩ sáng tác, gồm đủ mọi bộ môn văn hóa, nghệ thuật.

- Khi nói về Debussy, tác giả của La Mer, QG nhắc lại một câu trả lời của ông lúc còn bé đi học nhạc: “Nghe thấy sướng là nhạc pháp.” Các nhà phê bình văn học có thể đem văn chương của QG ra mổ xẻ từng dòng từng chữ. Nhưng riêng tôi, sau khi đọc xong tập Tạp Ghi này, tôi chỉ biết nói là: “Đọc thấy sướng là văn phong”.

Khi đọc Tạp Ghi QG, chúng ta còn khám phá ra cái thường được gọi là “những viên ngọc nho nhỏ” trong văn chương. Ví dụ như:

-Đây là một vài dòng nói về bản nhạc “Bolero” nổi tiếng:

“Ban đầu nó mơ hồ cất lên từ hư vô, nhưng chỉ sau vài giây đã có gì đó day dứt lay gọi. Sau đó, nó là tiếng sáo bay bổng giữa dàn giây làm người nghe muốn đứng dậy, uốn éo….Nó là một vũ khúc ngày càng dậm dật thôi thúc với nhiều nhạc cụ đan lượn nỗi day dứt ban đầu, rồi cứ trào dâng, lả lơi, mời gọi….”

-Quý vị thử nghe câu này QG viết về lúc người ca sĩ không còn ca nữa, kịch sĩ không còn đóng kịch nữa:

…Cũng như nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật giã từ sân khấu là phải….để cho đời thèm…”.

Có những đầu bếp muốn người ăn nhiều đến khi bội thực. Có những nghệ sĩ muốn chết già trên sân khấu. Ít người nghĩ đến chuyện này. Lại càng ít người thực hiện được chuyện này.

-Về Văn Cao, QG viết:

“QG cứ buồn mãi về hoàn cảnh đất nước và tâm trạng riêng của ông khiến các ca khúc đã gây xúc động cả CHIẾN TRƯỜNG lẫn TÌNH TRƯỜNG”.

Câu này chúng ta có thể gán cho nhiều nhạc sĩ như…Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trần Thiện Thanh. Ai cũng biết điều đó nhưng viết thành một câu, dùng những chữ CHIẾN TRƯỜNG lẫn TÌNH TRƯỜNG” như trên chắc chưa ai làm được.

-Trong một bài khác, QG viết:

Người hát hay làm thính giả yêu bài ca, làm hồi sinh khúc nhạc, làm lời ca sống mãi…Sau rồi…người ta quên cả nhạc sĩ lẫn ca sĩ, chỉ còn nhớ tác phẩm và những rung động mà bài hát cũ đã gợi lại”.

Thật vậy, có những bản nhạc tôi nghe say mê từ hồi còn mê nhẩy đầm và nhớ mãi. Có một bài bắt đầu là: “Yêu nhau trong cuộc đời, mơ duyên tình dài, gắn bó đôi lời.” Lúc đó tôi không biết tác giả là ai, ai hát, chỉ biết tên bài là “Ngăn Cách”. Nhưng khi “Ngăn Cách” được hát lên với giai điệu boston trong vũ trường thì thế nào tôi cũng phải kéo đào ra sàn nhẩy. Bây giờ mỗi lần có “Ngăn Cách”  là tôi kéo vợ ra sàn nhẩy.

QG còn cho tôi cơ hội học thêm tiếng Anh. Chẳng hạn như khi cô dùng chữ “Tâm Ca Da Đen” để dịch điệu nhạc “Soul” thì thật là tuyệt vời. Tôi là một dịch giả. Và tôi cũng đã nhiều lần tìm cách dịch chữ “Charisma” một cách thật “nhuyễn” trong tiếng Anh sang tiếng Việt nhưng chưa làm được thì QG đã làm hộ tôi bằng cách dịch chữ này là: “Sự cuốn hút thiên bẩm”. Lại còn thêm dấu chấm hỏi (?) đằng sau như thể không biết mình dùng chữ thế có đúng không. Thank you very much, madam!

Trong bài Hội Hoa Đăng, nói về nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, QG viết:

Khúc hát càng cao càng hiếm người thưởng ngoạn.”

Chúng ta thay hai chữ “Khúc Hát” bằng những chữ như thơ, văn, kịch, tranh, tượng vv…và câu này vẫn đúng.

Tôi muốn dùng một câu tương tự để kết luận về cuốn Tạp Ghi của Quỳnh Giao: “Sách của Giao kén người đọc”;  cũng như tiếng hát của QG kén người nghe….Nhưng người sáng tác, nghệ sĩ trình diễn không dễ gì đi ngược lại bản chất cố hữu của mình. Và vì thế tôi hy vọng là QG sẽ còn viết nhiều, nhiều nữa. Hát nhiều, nhiều nữa.

Và cám ơn Quỳnh Giao đã cho tôi cơ hội lên đây nói chuyện tâm tình với một thành phần khán thính giả rất chọn lọc.

__________________

Bài phát biểu của kịch sĩ, nhà văn và dịch giả Luân Tế trong buổi ra mắt sách Quỳnh Giao tại miền Nam California,

Trung Quốc Muốn "Thoát-Mỹ" – Mà Không Dễ

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 140724
Ghét Mỹ lắm mà vẫn phải cho vay tiền đề kiếm chút cháo - cho an toàn
 
000_Hkg3450821.jpg-305.jpg
* Nhân viên một ngân hàng tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc đang xếp đôla Mỹ bên cạnh đồng nhân dân tệ
AFP PHOTO*




Tình trạng "Mỹ thuộc" của nền kinh tế Trung Quốc là một nghịch lý mà chúng ta nên nhìn ra. Diễn đàn Kinh tế giải thích điều ấy hầu quý độc giả qua phần trao đổi sau đây của Vũ Hoàng cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa...

 

Vấn đề sinh tử của Bắc Kinh  


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, thống kê từ bộ Ngân khố Hoa Kỳ ngày Thứ Tư 16 tuần qua cho thấy Trung Quốc mua Công khố phiếu Mỹ tới mức dồn dập chưa từng thấy kể từ năm 1977 là khi Hoa Kỳ bắt đầu bút ghi loại nghiệp vụ này. Theo dõi thị trường tín dụng Mỹ, ông giải thích thế nào về hiện tượng ấy khi người ta cứ cho rằng Bắc Kinh nắm dao đằng chuôi và có thể gây khó cho Hoa Kỳ khi giảm dần số lượng Công khố phiếu họ vẫn mua của Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ đây là cơ hội cho chúng ta nhìn ra quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để thấy là ngược với nhận thức của nhiều người, kể cả các chính trị gia Mỹ, kinh tế Trung Quốc quá lệ thuộc vào nước Mỹ! Và đây là vấn đề sinh tử của Bắc Kinh.

- Trước hết, xin nói về bối cảnh thì từ vụ khủng hoảng rồi Tổng suy trầm năm 2008, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ có biện pháp kích thích kinh tế bất thường là hạ lãi suất tới sàn rồi mua vào trái phiếu và trả bằng tiền được tá ghi trong sổ sách kế toán của ngân hàng để các ngân hàng có thêm thanh khoản nên cho vay ra dễ dàng. Từ Tháng Năm của năm ngoái, khi kinh tế Mỹ có chiều hướng khả quan hơn thì Ngân hàng Trung ương Mỹ làm thế giới chấn động qua dự tính "vuốt nhọn" chính sách tiền tệ, tức là giảm dần mức độ bơm tiền và còn có thể nâng lãi suất.

Khi thu vào Mỹ kim thì họ làm gì để tiền đó đó khỏi mất giá? Họ mua tài sản tại Mỹ, mà loại tài sản có mức an toàn nhất vì coi như được Chính quyền Mỹ đảm bảo chính là Công khố phiếu. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Khi đó, các thị trường dự đoán là phân lời trái phiếu cùng lãi suất tại Mỹ sẽ tăng. Điều ấy chưa xảy ra, phân lời trái phiếu Mỹ lại giảm và giá công khố phiếu lại tăng. Tức là có chủ nợ sẵn sàng cho Mỹ vay tiền bằng cách mua vào Công khố phiếu vì thế giá mới tăng và phân lời mới hạ. Lúc đó, người ta mới thấy vai trò của Trung Quốc là năm nay họ mua thêm Công khố phiếu Mỹ với mức chưa từng thấy và tính đến cuối Tháng Năm vừa qua thì làm chủ một khoản nợ gồm Công khố phiếu và cả trái phiếu ngắn hạn lên tới một ngàn 271 tỷ Mỹ kim, bằng 10,6% tổng số Công khố phiếu Mỹ.

Vũ Hoàng: Ông vừa cho biết Trung Quốc làm chủ hơn 10% tổng số nợ dưới dạng Công khố phiếu của Mỹ mà lại nói rằng kinh tế Trung Quốc lệ thuộc vào Hoa Kỳ thì nhiều thính giả của chúng ta tất nhiên là không hiểu. Vì vậy, để khởi đầu, xin ông giải thích cho nghịch lý đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong chuyện này, ta tìm hiểu hai lĩnh vực là tài chính và thương mại, hay ngoại hối và ngoại thương, thì may ra sẽ thấy được nghịch lý ấy.

- Trước hết, ta bay qua bên kia đại dương để xem giới hữu trách kinh tế tại Bắc Kinh suy tính gì. Từ Đại hội 18, họ cứ nói đến tái cân bằng cơ chế kinh tế, cụ thể là nâng sức tiêu thụ nội địa và giảm dần sự lệ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu. Họ chưa làm được chuyện ấy mà vẫn cố bán hàng nhiều hơn với giá rẻ hơn. Một cách kích thích xuất khẩu là can thiệp vào thị trường ngoại hối, là mua vào Mỹ kim và bán ra đồng nội tệ, tức là đồng Nguyên mà họ cứ gọi là "Nhân dân tệ" trong tinh thần mị dân. Khi thu vào Mỹ kim thì họ làm gì để tiền đó đó khỏi mất giá? Họ mua tài sản tại Mỹ, mà loại tài sản có mức an toàn nhất vì coi như được Chính quyền Mỹ đảm bảo chính là Công khố phiếu. Nôm na là Bắc Kinh bóp cổ người dân để bán hàng rẻ, và thu về một dự trữ ngoại tệ cứ được ca tụng là kỷ lục của thế giới, vì lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la, rồi suy đi tính lại thì vẫn lại cho Mỹ vay tới hơn một phân tư chỉ vì đấy là nơi chọn mặt gửi vàng an toàn nhất!

 

“Bụt chùa nhà không thiêng” 



Một nông dân Trung Quốc tận dụng những mảnh đất để trồng rau, phía sau là dự án nhà cao từng ở An Huy, Trung quốc. AFP
Một nông dân Trung Quốc tận dụng những mảnh đất để trồng rau, phía sau là dự án nhà cao từng ở An Huy, Trung quốc. AFP



Vũ Hoàng: Ông trình bày từ giác độ của Trung Quốc, nhưng nhiều người ở tại Hoa Kỳ lại cứ lo Trung Quốc có thể tẩy chay thị trường trái phiếu Mỹ tức là không cho Hoa Kỳ vay tiền nữa. Ông giải thích thế nào về chuyện đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng nhiều khi báo chí và các chính trị gia không hiểu hoặc muốn tác động vào dư luận theo chủ ý riêng của họ nên cứ hăm dọa chuyện khôi hài đó.

- Trên diễn đàn này, cách đây mấy năm chúng ta có nhắc đến lời than của một viên chức cao cấp tại Bắc Kinh, rằng "ghét Mỹ lắm mà vẫn phải mua Công khố phiếu của Mỹ"! Thật ra, trị trường trái phiếu Mỹ có hai ưu điểm là sâu rộng và an toàn hơn hẳn mọi thị trường khác trên thế giới. Sâu vì lớn hơn tổng số thị trường của năm nước lớn nhất sau Mỹ và an toàn vì có thanh khoản cao, tức là khi cần rút ra để lấy về tiền mặt thì rất nhanh và dễ. Nhìn cách khác, nếu có tài sản mà muốn lưu giữ dưới dạng ngoại tệ, ta có thể chọn đồng Euro, đồng Yen Nhật, đồng Anh kim hay Phật lăng Thụy Sĩ, v.v.... Trong số này, nhiều đồng bạc có khi vững giá hơn Mỹ kim, nhưng thị trường lại quá nông và hẹp, thí dụ như nếu rút ra 100 tỷ là gây chấn động và có khi bị lỗ nặng.

- Sau cùng cũng cần nói thêm chuyện "bụt chùa nhà không thiêng". Người ta cứ ca tụng kinh tế Trung Quốc, nhưng nếu đầu tư vào thị trường ấy mà an toàn và có lời thì tại sao Bắc Kinh phải gửi tiền qua biển cho Mỹ vay?

Vũ Hoàng: Từ lĩnh vực tài chính ta bước qua lĩnh vực ngoại thương. Thưa ông, nếu kinh tế của Trung Quốc lệ thuộc vào Hoa Kỳ thì tại sao nước Mỹ cứ bị nhập siêu, tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, khi mua bán với Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả thật là nước Mỹ có gặp vấn đề ấy, nhưng nó được khuếch đại và gây ấn tượng sai lạc, có khi là với chủ đích chính trị mà truyền thông không hiểu rõ. Một lối nhìn khác là ta nên thấy ra mối lo của Bắc Kinh khi kinh tế mắc bệnh nghiện xuất khẩu!

- Hoa Kỳ có một nhược điểm kinh tế mà lại là ưu điểm xã hội là có mức tiêu thụ quá cao, tới 70% Tổng sản lượng GDP. Tôi nói là ưu điểm xã hội vì cho thấy tư thế và khả năng chọn lựa của người dân, là điều Trung Quốc không có vì tiêu thụ bị đè nén và giảm dần từ nhiều năm qua.

- Thế dân Mỹ tiêu thụ những gì? Họ chủ yếu mua hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, xin tính tròn cho dễ nhớ là tới 88% tổng số tiêu thụ là của nội địa, chỉ có 12% là nhập từ ngoài, trong số này nhiều sản phẩm lại do doanh nghiệp Mỹ góp phần làm ra và xuất ngược về Mỹ. Nghĩa là chỉ có 12% thị trường tiêu thụ của Mỹ mà lại là nguồn sống cho rất nhiều quốc gia trên thế giới.

Vũ Hoàng: Ông vừa nói trong số hàng nhập vào Mỹ lại có nhiều sản phẩm do doanh nghiệp Mỹ chế tạo từ bên ngoài, thí dụ như tại Trung Quốc, nên có thể kiếm lời ngay từ gốc. Phải chăng, con số gọi là nhập siêu của Mỹ với Trung Quốc thật ra lại không nặng như vậy.

Người ta cứ ca tụng kinh tế Trung Quốc, nhưng nếu đầu tư vào thị trường ấy mà an toàn và có lời thì tại sao Bắc Kinh phải gửi tiền qua biển cho Mỹ vay? Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Cho dễ nhớ thì tôi xin nêu vài thí dụ.

- Thứ nhất là trong số hàng tiêu thụ nhập vào Mỹ, chỉ có gần 3% là đến từ Trung Quốc, bên trong thì hơn phân nửa là do công ty Mỹ nắm lấy từ khi hàng cập bến bên Tầu, chở qua đây bán cho nhà tiêu thụ cuối cùng ở Mỹ. Nói nôm na thì khi mua một đô là hàng "Made in China", dân Mỹ chi 55 xu cho người Mỹ tại Mỹ đã. Mà 45 xu kia cũng chẳng lọt hết vào tay Trung Quốc. Thí dụ kia từ một kinh tế gia của Ngân hàng Dự trữ Mỹ tại Dallas sẽ làm rõ ra điều ấy.

- Giả dụ như tôi bỏ ra 500 đô la để mua tại Cali một cái iPhone ráp chế bên Tầu. Về nhà tìm hiểu thêm mới biết là để có món hàng loại sang gọi là "Made in China" thì Trung Quốc phải mua bộ nhớ và âm thanh của Mỹ mất 11 đồng, mua linh kiện xử lý và thu hình từ các xứ khác mất 162 đô la, tổng cộng là mất 173 đô la. Rồi tốn thêm bảy đồng ráp chế trước khi bán qua Mỹ được 180 đồng. Các doanh nghiệp Mỹ tốn 180 đồng để mua một sản phẩm ráp chế bên Tầu rồi tính thêm chi phí này nọ trước khi bán cho tôi lấy 500 đồng.

- Từ nghiệp vụ ấy, bà nhân viên Bộ Thương Mại Hoa Kỳ thì bấm máy ghi rằng Mỹ bán hàng vặt cho Tầu được có 11 đồng mà mua của Tầu 180 đồng nên bị nhập siêu mất 169 đồng! Đó là 162 đồng do Trung Quốc bỏ ra để mua linh kiện từ xứ khác, cộng thêm bảy đồng ráp chế. Trong khi ấy, cô bí thư tại Bắc Kinh lè lưỡi ghi bằng bút chì phần đóng góp của Trung Quốc cho dự án iPhone đó là vỏn vẹn có bảy đồng!

Vũ Hoàng: Qua mấy con số rất vui đó thì có lẽ ta thấy sức nặng ngoại thương của Trung Quốc với Mỹ thật ra không nặng như người ta thường nghĩ! Thưa ông, có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi tin là lãnh đạo Bắc Kinh ý thức được nhược điểm bên trong mà chưa thể cải sửa hay cải tiến được. Họ tự khoe là công xưởng toàn cầu, thực ra thì bán hai chục triệu cái áo hay chục triệu đôi giầy mới đủ tiền mua một máy bay Boeing. Mà loại sản phẩm ráp chế như giày dép áo quần, hay cả máy điện thoại loại khôn thì doanh nghiệp Mỹ có thể làm hoặc mua của xứ khác, chứ Trung Quốc không có nhiều chọn lựa khi phải mua máy bay.

- Ta thấy ra sự khác biệt của nền kinh tế khi Hoa Kỳ, hay Âu Châu, Nhật Bản và cả Nam Hàn đã tiến tới hình tháí hậu công nghiệp với trị giá gia tăng rất cao của dịch vụ và trí tuệ mà Trung Quốc mới chỉ đi vào lĩnh vực chế biến ở ngọn chứ không có gốc. Cũng vì vậy nên Bắc Kinh cố đi tắt bằng thủ đoạn ăn cắp sản phẩm trí tuệ và bí mật kỹ thuật của xứ khác, mà vẫn không xong.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì có lẽ thính giả của chúng ta hiểu ra nghịch lý mà ông nói là kinh tế Trung Quốc ở vào tình trạng "Mỹ thuộc". Kết luận của ông là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Kinh tế Hoa Kỳ và cả Âu Châu nữa có nội lực riêng nên ít lệ thuộc vào xuất nhập cảng, tức là ít lệ thuộc vào xứ khác. Kinh tế Trung Quốc thì lệ thuộc vào xuất cảng đến gần phân nửa, tức là gấp đôi Hoa Kỳ và thực tế thì nằm trong vòng kiềm tỏa của Mỹ. Chuyện phũ phàng ấy, lãnh đạo Bắc Kinh có biết và cũng muốn thoát mà không xong. Với khối dự trữ ngoại tệ khổng lồ, họ được cái danh hão để hù dân là trở thành chủ nợ của nước Mỹ với một ngàn hai trăm tỷ Công khố phiếu Hoa Kỳ ở trong tay. Thật ra, họ cứ nơm nớp lo là khoản tài sản đó mất giá. Bây giờ còn lo thêm là vì nội tình bất ổn, và nhân công có tay nghề thì ít nên cứ đòi tăng lương làm cho giới đầu tư sẽ tìm xứ khác làm ăn. Tôi nghĩ lãnh đạo Bắc Kinh muốn "Thoát Mỹ" mà không nổi!

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi hữu ích này.



Thursday, July 24, 2014

Phỏng Vấn Quỳnh Giao



TẢN MẠN VỚI NỮ CA SĨ QUỲNH GIAO VỀ CA KHÚC VIỆT NAM TRƯỚC 1975
Đoàn Hưng



* Quỳnh Giao trình bày một ca khúc nghệ thuật với dàn nhạc của Nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng *



Nói về nền tân nhạc Việt Nam, rất nhiều người có cùng nhận xét: khán giả cả trong nước lẫn hải ngọai vẫn thích nghe những ca khúc sáng tác trước 1975 hơn là sau này. Cũng chỉ trong khoảng thời gian ba thập niên, những nhạc sĩ Việt Nam trong giai đọan 1945-1975 đã để lại một gia sản ca khúc đồ sộ, vô giá, mà có lẽ các thế hệ sau còn lâu mới bắt kịp.

Bình luận về ca khúc Việt Nam trong giai đọan này, đó phải là công trình cả ngàn trang giấy của các nhà phê bình âm nhạc. Những người hâm mộ thuộc thế hệ hậu bối như tôi, thường thì say mê ca khúc chỉ bằng cảm nhận khi nghe qua tiếng hát của một ca sĩ nào đó. Tôi nghĩ những ca sĩ thường hiểu bài hát và tác giả hơn là người nghe. Sang đến thể kỷ 21 này, tôi giật mình khi nhận thấy rằng những ca sĩ mà mình yêu mến ngày nào như Thái Thanh, Khánh Ly, Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú… đang dần dần trở thành quá khứ!

Tôi vội vàng tìm cách xin gặp nữ ca sĩ Quỳnh Giao, người em út trong lớp ca sĩ thế hệ vàng, để ghi nhận lại một vài suy nghĩ của chị về ca khúc Việt trước 1975…

Hiện nay, chị Quỳnh Giao cũng đã ít xuất hiện trên sân khấu đi nhiều. Lần gần đây nhất là trong đêm nhạc Dương Thiệu Tước - Tiếng Xưa Của Chúng Ta - vào tháng 7/08. Họat động âm nhạc thường xuyên nhất của chị bây giờ là dạy piano tại nhà riêng của chị. Có một điều khán giả hâm mộ như tôi ít biết đến: chị Quỳnh Giao là một pianist được đào tạo chuyên nghiệp có hạng, dỗ thủ khoa của Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn từ năm 1965, trước 1975. Có lẽ là do chị hay xuất hiện trước khán giả như là một ca sĩ hơn. Nhưng nếu có dịp được nghe lại những CD chị tự đệm đàn piano cho mình hát, chúng ta sẽ thấy rằng cả tiếng hát và tiếng đàn đều đẹp như nhau.

Khi được hỏi đâu là giá trị của những ca khúc Việt trước 1975, khiến cho khán giả ngày nay vẫn còn say mê nghe và hát, chị Quỳnh Giao trả lời có lẽ là ở tâm hồn của người nhạc sĩ.

Hãy tưởng tượng khi Cung Tiến viết Hương Xưa năm 18 tuổi, Phạm Duy viết Khối Tình Trương Chi ở lứa tuổi đôi mươi, thì tâm hồn của những nhạc sĩ này đã trưởng thành như thế nào so với thanh niên cùng lứa của thế hệ hôm nay. Có thể nói rằng xã hội ngày nay với nền khoa học tiến bộ đã làm thế hệ trẻ rất giàu về mặt kỹ thuật, nhưng lại nghèo đi về mặt tâm hồn. Người nghệ sĩ ngày xưa, với những phương tiện đơn giản, đã dùng niềm đam mê, sự rung động thật của tâm hồn để sáng tác, cho nên những ca khúc của họ có chiều sâu để đi vào lòng người.

Tuy nhiên, chị Quỳnh Giao còn cho rằng yếu tố kỷ niệm cũng đã góp phần làm cho đời sống của các ca khúc trước 1975 dài hơn. Bởi vì rất nhiều người trong chúng ta hay gắn một phần đời tươi đẹp của mình trong quá khứ với một bản nhạc, một lời ca. Khi viết bài Ly Rượu Mừng, có lẽ Phạm Đình Chương đã cảm hứng từ không khí xuân rộn ràng, lạc quan vào tương lai của Miền Nam Tự Do. Rồi từ đó, cứ mỗi độ xuân về, mỗi lần nâng chén chúc nhau trong ngày đầu năm, người dân miền Nam lại cùng nhau nghe, cùng nhau hát Ly Rượu Mừng, để cùng có cảm giác “… hương thanh bình đang phơi phới…”. Bài hát này đã trở thành biểu tượng của mùa xuân miền Nam như vậy đó. Những cảm xúc của chúng ta dành cho bài hát này có thể không có ở những người sống ở miền Bắc, hoặc thế hệ trẻ lớn lên ở hải ngoại.

Một bài hát muốn trở thành bất tử thì bản thân nó phải là một bài nhạc hay. Chị Quỳnh Giao phân biệt ca khúc ra làm hai lọai: ca khúc phổ thông và ca khúc nghệ thuật. Ca khúc phổ thông thì dễ nghe, dễ hát. Đặt một giai điệu, rồi đặt lời vào là đã có một bài hát. Những ca khúc nghệ thuật thì đòi hỏi nhiều hơn. Phải có sự phối hợp giữa nhạc và lời. Tiết tấu, giai điệu và cả phần hòa âm cùng góp phần hình tượng hóa nội dung của lời hát. Là một trong những ca sĩ hay trình diễn ca khúc nghệ thuật, chị Quỳnh Giao cảm nhận được sâu sắc giá trị của những ca khúc này.

Nghe Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước, ta có cảm giác mình đang lướt trôi trên một dòng sông, qua những bến sông êm đềm, cảm nhận những nhịp sóng vỗ vào mạn thuyền theo mái chèo đưa. Nghe Qua Suối Mây Hồng trong Đạo Ca của Phạm Duy, ta như đang xem cuộc chiến tranh dành Mỵ Nương của Sơn Tinh và Thủy Tinh, nghe Thủy Tinh làm mưa, dâng nước lũ qua lời hát “…sóng ầm ầm, sóng ầm ầm nổi dậy…”. Hoặc nghe Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương, ta phân biệt được rõ ràng đời sống ba miền Bắc-Trung-Nam trên ba dòng sông Hồng, Hương Giang và Cửu Long… Những ca khúc như vậy là một tác phẩm nghệ thuật, không nhiều trong nền âm nhạc Việt Nam sau 1975. Chị Quỳnh Giao nói những nhạc sĩ lớn thường có trình độ về âm nhạc lẫn bề dầy về văn hóa, cho nên họ mới có được những tác phẩm để đời.
 
Nhiều nhà phê bình âm nhạc quốc tế cho rằng những tác giả lớn của nền âm nhạc cổ điển Tây Phương như Beethoven, Tchaikovski… đều đem được nguồn nhạc dân gian của dân tộïc mình vào trong tác phẩm. Theo chị Quỳnh Giao, điều này cũng đúng với ca khúc Việt Nam. Dân ca là suối nguồn tâm linh của người nhạc sĩ. Để có giá trị lớn ở tầm vóc quốc tế, những ca khúc Việt cần tạo chỗ đứng của riêng mình bằng cách dựa trên nền dân nhạc.

Tác giả nào thành công nhất trong lĩnh vực này?

Đó chính là Phạm Duy. Ông là người đã đem dân ca vào ca khúc của mình một cách tự nhiên nhất, thậm chí cải biên để cho dân ca trở nên phổ biến hơn trong nền tân nhạc Việt Nam. Những tác phẩm viết về quê hương như Tình Hoài Hương, Tình Ca, Nương Chiều,…  đều trở thành bất tử dưạ trên nền dân ca Việt Nam. Còn nhiều nhạc sĩ khác cũng làm được điều này.

Nhạc sĩ Lê Thương sáng tác không nhiều, nhưng Hòn Vọng Phu của ông xứng đáng là một tác phẩm để đời, mang đậm chất dân ca. Mặc dù Dương Thiệu Tước được nhắc đến nhiều với những ca khúc mang đậm nét cổ điển Tây Phương, nhưng hai nhạc phẩm rất được yêu thích của ông là Đêm Tàn Bến Ngự và Tiếng Xưa đều có âm hương dân ca.


Một đặc điểm nữa của những ca khúc trước 1975 là rất giàu cá tính.

Nhiều nhạc sĩ tạo được màu sắc riêng trong những tác phẩm của mình. Giai điệu và lời của nhạc Trịnh Công Sơn như của một kẻ rong ca, không lẫn được với nhạc của ai khác. Ca khúc của Lê Uyên Phương đầy những tình cảm mãnh liệt của đôi uyên ương chưa muốn rời xa nhau. Nhạc Văn Phụng là nhạc của những người hạnh phúc, yêu đời… Những ca khúc đầy cá tính này lại còn được trình bày bởi những giọng ca cũng đầy cá tính nữa chứ.

Chị Quỳnh Giao có cùng nhận xét với tôi là những ca sĩ trong nước bây giờ, giọng hát có thể rất điêu luyện, nhưng lại giống nhau quá! Chứ ngày xưa, từ Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu cho đến Thanh Thúy, Mai Lệ Huyền…, khán thính giả chẳng thể lẫn lộn được. Tại sao vậy? Bởi vì ca sĩ ngày xưa ít có ai được học hát trong những trường dạy thanh nhạc chuyên nghiệp. Họ tự nhiên hình thành giọng ca của mình.

Bản thân chị Quỳnh Giao cũng chỉ đi học thêm kỹ thuật hát sau khi đã thành danh. Lại càng ít có chuyện ai bắt chước giọng ai. Người nghe thời ấy tha hồ mà lựa chọn giọng ca cho riêng mình. Nhạc sĩ cũng lựa chọn ca sĩ cho hợp với ca khúc của mình. Ai hát nhạc Trịnh hay hơn Khánh Ly? Ai có thể hát Bà Mẹ Gio Linh thống thiết hơn Thái Thanh? Nhạc Sĩ Vũ Thành thì cho rằng Quỳnh Giao hát Tiếng Chuông Chiều Thu mới là “tuyệt chiêu”. Đời sống tinh thần thời đó nhờ thế mà phong phú làm sao!

Tôi hỏi chị nam ca sĩ nào chị thích nhất, chị trả lời: Anh Ngọc.

Giọng hát của ông là giọng hát của một “đại trượng phu”. Ông hát nhạc tình một cách từng trải, như người đã đứng trên những niềm vui nỗi buồn trong tình yêu mà kể lại, độc đáo vô cùng…Trong khi đó, giọng Sĩ Phú tình cảm hơn, kể chuyện tình nhiều cảm xúc hơn. Vì vậy, Sĩ Phú hát Cô Láng Giềng là nhất rồi. 

Thế còn nữ ca sĩ? Chị Quỳnh Giao nói ngay: "Thái Thanh. Cô Thái là một hiện tượng, không ai có thể so sánh được. Nhưng nhiều khán giả chưa thích giọng hát này khi còn trẻ. Phải trưởng thành một chút, càng nhiều kinh nghiệm, vui buồn trong đời, nghe giọng cô Thái càng hay…"

Nói chuyện với chị Quỳnh Giao về ca khúc Việt Nam trước 1975 như nói với người tri kỷ, không dứt ra được. Khi chia tay, chị còn gởi cho tôi vài CD của một số ca khúc Vũ Thành hòa âm trước 1975. Chị bảo rằng sau này nhiều nhạc sĩ cũng có dàn dựng lại, với kỹ thuật âm thanh cao hơn, nhưng không thể so sánh được với version này. Chị bảo đó là những món quà vô giá dành cho khán thính giả Việt Nam. Tôi nghĩ thầm (dù chị không hề nhắc): chị cũng là một phần trong món quà vô giá đó, đối với thế hệ sau như tôi… 



_______________________

Xin đăng lại một bài phỏng vấn Quỳnh Giao được bạn bè gửi cho. Tác giả là một tay đàn lục huyền cầm, con trai một nhà văn lớn của chúng ta.