Wednesday, November 26, 2014

Trận Chiến Ngoại Tệ Sắp Tới

Việt Long & Nguyễn-Xuân Nghĩa, Ngày 141126
"Diễn đàn Kinh tế"
 
Hiện tượng "cát chuồi" cũng là khi nghiêng quá thì sẽ lật   
 
000_Hkg7377881.jpg
* Đồng Yên Nhật và Nhân Dân Tệ Trung Quốc, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP* 


Trong khi đồng Mỹ kim cứ lên giá liên tục so với các ngoại tệ chính yếu khác thì đồng Yen của nền kinh tế đứng hàng thứ ba thế giới là Nhật Bản lại sụt giá mạnh và còn có thể sụt nữa. Vì sao lại như vậy và hậu quả cho các nền kinh tế khác trên thế giới sẽ là gì? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu nguyên do và ảnh hưởng của sự chuyển động ấy qua phần phân tích cùa chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin quý thính giả theo dõi cách Việt Long nêu vấn đề như sau đây.

 

Thế giới sẽ gặp biến động về ngoại hối


Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Cách đây một tháng, khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra một dự báo bi quan về tình hình kinh tế toàn cầu, thì trên diễn đàn này ông nói đến việc Mỹ Kim lên giá so với các ngoại tệ khác và nhấn mạnh là thế giới sẽ gặp nhiều biến động về ngoại hối. Từ mấy ngày qua, người ta lại thấy đồng Yen của Nhật sụt giá mạnh so với tiền Mỹ và nhiều loại ngoại tệ khác. Nhật Bản có sản lượng kinh tế đứng hàng thứ ba của thế giới sau Hoa Kỳ và Trung Quốc và là một quốc gia xuất cảng rất mạnh. Khi tiền Nhật sụt giá như vậy thì ảnh hưởng sẽ ra sao cho các nền kinh tế khác? Chúng tôi nêu vấn đề trong mục đích tìm hiểu về những biến động ngoại hối mà ông đã nhắc đến từ tháng trước.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng hôm Thứ Ba 17 vừa qua, Thủ tướng Nhật là ông Shinzo Abe loan báo quyết định giải tán Quốc hội để tổ chức bầu cử sớm vào ngày 14 tháng tới. Việc ấy xảy ra sau khi có thống kê xác nhận kinh tế Nhật lại bị suy trầm nữa trong Quý Ba vừa kết thúc vào Tháng Chín. Trước đó, vào ngày 31 Tháng 10, Ngân hàng Trung ương Nhật cũng quyết định sẽ lại bơm thêm tiền theo phương pháp gọi là "gia tăng mức lưu hoạt có hạn định" hay "quantitative easing" gọi tắt là QE với số lượng cực lớn, dự trù là tương đương với hơn 700 tỷ đô la mỗi năm, cho đến khi kinh tế ra khỏi suy trầm hoặc lạm phát lên tới 2% thì mới ngưng.

Khi đồng Yen mất giá thì hàng hóa của Nhật lại trở thành rẻ hơn, tức là dễ xuất khẩu hơn, nên sẽ gây sức ép cho các nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, thí dụ như kinh tế Đức và Trung Quốc.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Những biến cố dồn dập ấy giải thích vì sao tiền Nhật mất giá so với các ngoại tệ khác như Mỹ Kim hay đồng Euro của Âu Châu. Nếu nhìn trong dài hạn thì việc đồng Yen mất giá là sự chuyển động dễ hiểu với hậu quả có thể là một trận chiến về ngoại tệ giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới khiến nhiều quốc gia khác, kể cả Trung Quốc, sẽ lâm vào khó khăn trong các năm tới.

Việt Long: Chúng ta lần lượt tìm hiểu hiện tượng này để phần nào thấy trước được biến động ấy. Trước hết, xin ông nói về kinh tế Nhật và những lý do khiến tiền Nhật sẽ còn mất giá nữa.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhật Bản có vấn đề trường kỳ là nạn dân số sút giảm với tỷ trọng rất lớn của người cao niên lớn tuổi – mà người ta gọi là nạn "lão hóa dân số". Lý do sâu xa này khiến mức tiêu thụ sút giảm và hàng họ mất giá. Trong khi đó, vì mở ra làm ăn với toàn cầu, kinh tế Nhật vẫn có ưu điểm là nơi đầu tư ổn định khiến thiên hạ trút tiền mua đồng Yen để tìm cơ hội kiếm lời trên thị trường Nhật. Kết hợp hai chuyện 1) dân số và tiêu thụ giảm khiến kinh tế bị nạn giảm phát – disinflation hay deflation – và 2) nội tệ lên giá dẫn tới hiện tượng giá cả trong nước sụt đều làm người dân càng tiết kiệm và đình hoãn chi tiêu để chờ khi giá hạ hơn nữa. Hoàn cảnh éo le ấy khiến các doanh nghiệp Nhật bị điêu đứng. Đầu tư giảm vì mức lời sụt dẫn tới việc cắt lương và mở ra vòng xoáy lẩn quẩn: lương hạ càng đánh sụt mức tiêu thụ và làm kinh tế đình trệ.

- Sự chuyền động lớn này giải thích vì sao kinh tế Nhật bị suy trầm liên tục từ hai thập niên đã qua. Thế rồi, chiếm đa số áp đảo sau cuộc bầu cử vào cuối năm 2012, Chính quyền của Thủ tướng Abe mới áp dụng chánh sách cải cách táo bạo, được gọi là Abenomics, nhắm vào ba hướng gọi là "ba mũi tên". Thứ nhất là cố tình gây lạm phát qua biện pháp tăng chi để bơm tiền vào kinh tế theo cái ý khuyến khích dân chúng hãy mua ngay đi kẻo mai này hàng lên giá. Thứ hai là cải tiến môi trường kinh doanh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư bằng cách giảm thuế doanh nghiệp, khi đó thuộc loại cao nhất địa cầu. Thứ ba là cải tổ toàn bộ cơ chế kinh tế, xã hội và chính trị Nhật để tìm sức bật mới.... 

- Việc tăng chi chưa có kết quả thì Ngân hàng Trung ương Nhật áp dụng biện pháp tăng mức lưu hoạt, tức là bơm thêm tiền vào kinh tế, với một số lượng tương đối cao gấp đôi Hoa Kỳ. Vì thế mà tiền Nhật mới mất giá. Khi đồng Yen mất giá thì hàng hóa của Nhật lại trở thành rẻ hơn, tức là dễ xuất khẩu hơn, nên sẽ gây sức ép cho các nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, thí dụ như kinh tế Đức và Trung Quốc.


Đồng đôla Mỹ và euro Âu Châu. AFP PHOTO.
Đồng đôla Mỹ và euro Âu Châu. AFP PHOTO.
 
Việt Long: Xin được hỏi ông một câu là vì biện pháp tăng chi ngân sách, Nhật Bản hiện mắc nợ nhiều nhất, có thể lên tới 250% tổng sản lượng kinh tế. Thưa ông, đấy không là một vấn đề sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đấy là một vấn đề, nhất là khi ta nhớ đến khoản tiền lời phải thanh toán, có khi chiếm một tỷ trọng lớn của các khoản chi ngân sách, thí dụ như nếu phân lời đi vay mà lên tới 2% thì tiền lời sẽ lên tới 80% của số tổng thu về thuế khóa cho ngân sách.

- Nhưng, có một thực tế văn hóa và tâm lý mà mình nên chú ý. Khoản công trái rất cao của Nhật có hai đặc tính. Thứ nhất, tuyệt đại đa số là "nội trái", được yết giá bằng đồng Yen, tức là "Nhật nợ Nhật" chứ không nợ ngoại quốc. Thứ hai, chủ nợ của đa số các khoản nợ ấy lại là Ngân hàng Trung ương Nhật, nghĩa là chủ nợ cũng là chủ nhà in giấy bạc và nhờ vậy có quyền quyết định về phân lời cao thấp khi bơm tiền ra. Vì thế, thị trường tài chánh Nhật vẫn ổn định và không bị giao động nặng - trong khi dân Nhật bấm bụng bảo nhau cho nhà nước vay tiền trong tinh thần liên đới gọi là "rau cháo có nhau". Khi Trung Quốc càng tỏ vẻ hung hăng đe dọa quyền lợi của Nhật thì người dân Nhật lại càng chịu đựng và hậu thuẫn chính quyền để cố gắng vượt khó khăn kinh tế. Bây giờ ta mới nói đến chuyện ngoại hối là hối suất đồng Yen....

 

Nguy cơ suy sụp


Việt Long: Như ông vừa trình bày thì có phải chăng là việc tiền Nhật mất giá là một hiện tượng có những lý do sâu xa và lâu dài hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là câu chuyện còn rắc rối hơn vậy nếu ta nhìn trong trường kỳ.

- Khoảng 40 năm trước, có lúc tiền Nhật quả thật là quá rẻ mà nhiều người đã quên mất rồi vì phải hơn 300 đồng Yen mới ăn một Mỹ Kim. Khi kinh tế toàn cầu bị tổng suy trầm vào các năm 2008-2009 và tiền Mỹ mất giá thì là lúc đồng Yen lên giá, một đô la chưa ăn được 80 Yen vào năm 2011. Nó chỉ bắt đầu sụt vào cuối năm 2012, rồi dập dình cả năm 2013 qua tới 2014 ở mức trăm đồng ăn một Mỹ Kim. Bây giờ mới sụt mạnh và còn sụt nữa, có thể tới 150 hay thậm chí 200 đồng vào một hai năm tới. Nhưng so với cái giá 300 hay 350 vào những năm 1970-1975 thì vẫn chỉ bằng phân nửa mà thôi.

Việt Long: Thưa về lâu dài thì ý nghĩa sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhìn trong lâu dài thì điều ấy có nghĩa là gì? Là trong khoảng 40 năm, có lúc tiền Nhật tăng giá gấp bốn so với đô la và doanh nghiệp Nhật bị thất thế khi cạnh tranh với doanh nghiệp Hoa Kỳ hay với thiên hạ. Họ phải tìm lợi thế bằng cách khác, chứ không nhờ tiền rẻ mà dễ bán hàng hơn.

Một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách cứ tưởng như bất ngờ. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Việt Long: Bây giờ ta mới nhìn qua xứ khác. Thưa ông, đồng Yen mà mất giá như vậy thì hậu quả sẽ là thế nào với các nước khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin lấy một thí dụ nổi bật nhất là nền kinh tế đứng sau nước Nhật và cũng lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu, đó là kinh tế Đức. Sau đó mới tới Nam Hàn và Trung Quốc.

- Trong giai đoạn khó khăn sau vụ Tổng suy trầm thì doanh nghiệp Nhật bị mất sức cạnh tranh so với doanh nghiệp Đức, có thể là mất tới hơn một phần ba trong các năm 2010 đến 2012. Thí dụ như tại Mỹ này thì ta thấy xe hơi của Đức bán chạy hơn xe Nhật. Ngoài lợi thế từ chuyện tiền Nhật lên giá, ta không quên rằng khi đó Trung Quốc dốc sức đầu tư vào khu vực nội địa là xây dựng hạ tầng cơ sở như cầu đường và gia cư địa ốc hơn là xuất khẩu. Nhờ vậy mà Đức trở thành đầu máy cứu vãn cả khối Euro. Bây giờ, cả hai lợi thế ấy của kinh tế Đức đều hết vì tiền Nhật mất giá và kinh tế Trung Quốc co cụm, mất khả năng nhập khẩu. Khi kinh tế Đức cũng suy trầm như người ta bắt đầu thấy từ tháng trước thì cả Âu Châu sẽ lâm nạn, nhất là khi các nước phải chấp hành chính sách cải tổ hệ thống ngân hàng theo yêu cầu của Hội đồng Ổn định Tài chính.

Việt Long: Phải chăng vì vậy mà hồi nãy ông mới nói đến một trận chiến ngoại tệ giữa các quốc gia khi tiền Nhật sụt giá?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả thật là Ngân hàng trung ương của Âu Châu có phản ứng bơm thêm tiền khiến đồng Euro sẽ mất giá. Nam Hàn cũng vừa có động thái hạ lãi suất, y như trường hợp của Trung Quốc. Ít ai nói ra cái chữ dễ sợ là "một trận chiến ngoại tệ" nhưng sự thật thì xứ nào cũng kích thích kinh tế qua các biện pháp tiền tệ hay tín dụng với hậu quả là làm giảm tỷ giá đồng bạc so với các ngoại tệ khác. Các nước Á châu hiện lâm vào hoàn cảnh đó.

- Khốn nỗi, người ta không thể xuất khẩu lên cung trăng để phục hồi kinh tế mà phải bán hàng cho nhau. Khi kinh tế trì trệ thì các nước nhập khẩu ít hơn và xứ nào sống nhờ xuất khẩu sẽ bị hại nhất vì dù có làm giảm giá đồng bạc thì cũng chưa thoát hiểm mà còn phải trả hóa đơn cao hơn khi mua hàng xứ khác với đồng tiền mất giá. Đấy cũng là bài toán nan giải cho ngân hàng trung ương của Việt Nam.

- Một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách cứ tưởng như bất ngờ, và ngoài khối công nghiệp hóa, có chín nền kinh tế lớn bị nhiều bất trắc nhất, đó là Trung Quốc, Liên bang Nga, Brazil, Chile, Argentina, Ấn Độ, Indonesia, Turkey và Nam Phi. Ngoại lệ duy nhất vẫn là Hoa Kỳ dù tiền Mỹ lên giá, và hôm qua Thứ Ba 25, bộ Thương mại Hoa Kỳ đã điều chỉnh đà tăng trưởng theo hướng cao hơn.

Việt Long: Ông vừa nói đến sự kiện là "một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách bất ngờ". Cách đây hơn một năm, trong dịp phân tích Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ bảy tại Hà Nội, ông có nói đến hiện tượng mà các nhà vật lý gọi là "cát truồi", nghĩa là một cách chậm rãi người ta cứ lặng lẽ tích lũy thêm những yếu tố thất quân bình cho tới khi có sự sụp đổ bất ngờ. Phải chăng, chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng đó khi các nước đều cố hạ giá đồng bạc để thoát hiểm mà rốt cuộc lại kéo nhau vào khủng hoảng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng cái gọi là trật tự kinh tế chính trị của các nước là điều gì đó vô cùng phức tạp vì là kết quả của nhiều động thái khác nhau.

- Về trường hợp Việt Nam thì tờ World Affairs vừa có bài bút ký khá dài của nhà báo Michael Totten với đề tựa rất lạ, đó là "Phải chăng đã đến ngày tàn của đảng Cộng sản Việt Nam"? Ra khỏi chuyện Việt Nam thì ta nhớ tới kế hoạch Nga bán năng lượng cho Tầu. Họ tưởng khôn khi nhận tiền bằng đồng Nguyên của Tầu thay vì đô la Mỹ. Nào ngờ dầu thô sụt giá và đồng Nguyên sẽ còn mất giá nữa trong trận chiến ngoại hối sắp tới trong khi đô la lên giá. Kết quả là Nga thu về đồng bạc mất giá trong khi vẫn phải trang trải các khoản nhập khẩu khác bằng tiền Mỹ. Tức là Tổng thống Vladimir Putin có thể hoành hành tại Ukraine và cùng Trung Quốc thì coi thường Hoa Kỳ chứ đang bị thiệt cả hai đầu. Những chuyện như vậy đang chậm rãi xảy ra trước mắt chúng ta mà ít ai chịu để ý!

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo này.

Tuesday, November 25, 2014

Di Dân, Nhu Cầu và Thách Đố



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt ngày 141124
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Tổng thống Barack Obama đang hoàn tất việc "cải tạo" nước Mỹ


* Cậu bé quàng khăn đỏ Barach Obama và việc phá hoại nước Mỹ *


Cùng lúc với quả bom pháp lý và chính trị của Tổng thống Hoa Kỳ, khi ông Obama đòi đơn phương giải quyết vấn đề di dân nhập lậu bằng Sắc lệnh Hành pháp, nhiều nước Âu Châu cũng nhứ đầu với chuyện di dân. Xin hãy tìm hiểu về vấn đề chung này, trước khi trở về Hoa Kỳ, nhìn từ bên ngoài....



Hôm 23 Tháng 11, Tổng trưởng Nội vụ Vương quốc Anh là Theresa May cho biết Chính quyền của Thủ tướng David Cameron sẽ phải điều chỉnh lại chỉ tiêu hạn chế di dân như đã trù tính trong Dự luật về An ninh và Chống khủng bố sẽ đệ nạp Quốc hội. Số là trước sức ép của đảng Độc lập Anh (United Kingdom Independence Party – UKIP) thuộc xu hướng cực hữu, chống Âu Châu và đề cao tinh thần dân tộc lẫn chủ trương tự do tuyệt đối, Chính phủ liên minh giữa đảng Bảo Thủ của ông Cameron với đảng Tự Do Dân Chủ đề nghị thu hẹp số di dân được nhập cư mỗi năm vào khoảng vài chụ ngàn thay vì 10 vạn. Sau cùng họ đành phải bỏ dự tính này vì khó thành.

Nhưng đồng thời, bà May cho biết là Chính phủ đã và sẽ có thêm biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa nạn khủng bố Hồi giáo đang xâm nhập cộng đồng người Anh gốc di dân từ Nam Á và Phi Châu. Dĩ nhiên là đảng Lao Động thuộc khuynh hướng thiên tả thì đả kích quyết định có vẻ bất nhất đó của chính quyền đương nhiệm, từ bốn năm nay đã phải giải quyết hồ sơ nhức đầu này.

Đồng thời, một vương quốc hiền hòa tại Bắc Âu là xứ Thụy Điển đang phải xử lý hồ sơ di dân trước đòi hỏi của đảng Dân Chủ Thụy Điển, một chính đảng tương tự với UKIP của Anh, và phần nào giống phong trào Tea Party có tinh thần tự do tuyệt đối Libertarian của Mỹ. Tính theo dân số, năm 2013, Thụy Điển là quốc gia tiếp nhận nhiều dân tỵ nạn nhất thế giới và xưa nay vẫn có chánh sách trợ cấp hào phóng nhất. Nhưng, mối nguy khủng bố Hồi giáo cùng khó khăn kinh tế khiến đảng cầm quyền có thể mất đa số vì sức mạnh của đảng Dân Chủ - và dân Thụy Điển nay đang xét lại tinh thần rộng lượng của họ, như nhiều quốc gia khác tại Âu Châu.

Nói chung, trong ba bốn thế kỷ liền, nhiều Đế quốc Âu Châu theo nhau khai thác thuộc địa. Đến giữa thế kỷ 20, khi Âu Châu lụn bại dần thì các quốc gia này nhận vào rất nhiều di dân từ các thuộc địa Á, Phi hay vùng quần đảo của biển Caribbe tại Trung Mỹ. Hiện tượng dân số co cụm và nạn lão hóa dân số khiến các nước Âu châu cần đón nhận di dân, thành phần nghèo đói hơn và có sinh suất cao hơn, để giải quyết nhu cầu lao động của họ. Nhưng ngày nay khi kinh tế khó khăn và khủng bố Hồi giáo tung hoành trong gan ruột của nhiều nước, việc hạn chế di dân được đặt ra. Trong lâu dài, cùng bài toán di dân còn có nhu cầu bảo tồn bản sắc văn hóa của từng nước Âu Châu khi nhiều thành phần di dân Á Phi chối từ hội nhập. Hoặc thậm chí đòi hưởng trợ cấp trong tinh thần "ăn của địch để đánh địch" – cho bõ ghét.

Riêng khu vực Bắc Âu lại có đặc tính khác. Chủ trương kinh tế bao cấp và tinh thần đề cao nhân quyền khiến khu vực này là nơi thu hút di dân tứ xứ, nhất là từ các nước bị chiến tranh tàn phá. Cho đến khi tỷ trọng "di dân và bản xứ" cùng nạn khủng bố và phong trào Hồi giáo cuồng tín đã khiến các quốc gia nhân hậu này phải xét lại hồ sơ di dân.

Trường hợp Hoa Kỳ lại khác hẳn.

Đấy là vùng đất hứa của di dân Âu Châu bị bách hại về tôn giáo và khát khao tự do. Bốn thế kỷ sau, Hoa Kỳ là quê hương của mọi loại di dân. Họ đến xứ này để theo đuổi giấc mơ tự do thịnh vượng – hai khái niệm ấy bổ túc cho nhau – rồi là công dân của một quốc gia hình thành từ một quy ước thay vì là một nhóm sắc tộc chính. Quy ước đó là sự trung thành với khái niệm "Hiệp Chủng" – United States – và lời nguyện hy sinh để bảo vệ Hiến pháp. Người ta gọi dân Anh là English của xứ England, dân Pháp là Français của xứ France chứ khó gọi dân Mỹ là "United Statiens" hay "United Statish". Ngay chữ "America" từ nguyên thủy cũng không là định đề Mỹ, hay Bắc Mỹ, nếu ta nhớ tới South America....

Yêu nước Mỹ là bảo vệ các giá trị tinh thần đã làm nên sức mạnh của Hoa Kỳ ngày nay và sau này, chứ không vì nghĩa vụ với các bậc quốc phụ thời lập quốc hay vì niềm kiêu hãnh với các sắc tộc đã xây dựng ra nước Mỹ từ nhiều thế kỷ trước.

Một điểm khác nữa là dân số Hoa Kỳ ngày nay tương đối còn trẻ nếu so với Âu Châu nên không phải cấp bách tiếp nhận di dân để bù vào sự thiếu hụt của lực lượng lao động đến độ gặp bài toán văn hóa chính trị đang dội ngược vào tinh thần hội nhập của Liên hiệp Âu châu và có sự nghi ngờ hay kỳ thị di dân đến từ miền Nam hay các xứ lạ. Ung nhọt của Hoa Kỳ là từng đón nhận và kỳ thị di dân bị cưỡng bách là người nô lệ từ Phi châu vào, người Mỹ da đen. Ngày nay, nước Mỹ vẫn chưa hết trả giá cho chuyện đáng tiếc ấy.

Chúng ta trở lại với một Tổng thống lai da đen, mà không là con cháu của người Mỹ da đen.

Obama chủ trương cải tạo xã hội Mỹ theo tư tưởng nhuốm mùi cực tả từ thành phần trí thức thân cộng ông tiếp nhận khi còn trẻ - thậm chí thuộc Đệ tam Thế giới Á Phi là thù ghét các nước Âu Mỹ - như ta có thể đọc thấy trong cuốn hồi ký viết để chuẩn bị tranh cử về "Những Giấc mơ từ Thân phụ".

Ngay sau khi đắc cử, ông có hai năm 2009 và 2010 với đa số Dân Chủ tại cả lưỡng viện để giải quyết vấn đề di dân và cứu giúp gần 12 triệu người nhập lậu. Đấy là việc chính đáng về đạo lý, tương tự số phận của 30 triệu người không có bảo hiểm y tế. Về chuyện y tế, Obama giải quyết với sự gian trá của đạo luật ObamaCare - một sự gian trá đang bị phanh phui và sẽ còn gây khủng hoảng trong nhiều năm tới.

Trong bốn năm sau đó, Obama đưa ra mọi lý do thoái thác hồ sơ di dân, như không có thẩm quyền pháp lý. Lần cuối là hôm 16 vừa rồi trong một cuộc họp báo bên lề Thượng đỉnh G-20 tại Brisbane của Úc. Sau đó, ngày 20 thì Tổng thống Mỹ đảo ngược mọi lý luận, kể cả viện dẫn các tiền lệ Cộng Hoà thời Ronald Reagan và George W. Bush để đơn phương giải quyết hồ sơ này bằng Sắc lệnh của Hành pháp, bất chấp quan điểm và quyền hạn của Lập pháp sắp vào tay đối lập Cộng Hoà.

Mâu thuẫn đó, nhiều người nói tới, viết ra, kể cả tổ chức kiểm chứng sự trung thực chính trị (FactCheck.org) của trung tâm Annenberg thuộc Đại học Pennsylvania. Quý độc giả có thể vào đó tham khảo để phần nào biết ra sự thật.

Điều đáng tiếc - và đáng ngại - là nhiều lãnh tụ Dân Chủ lại ủng hộ thái độ nhập nhằng ấy của Obama, có khi nhằm giăng bẫy đảng Cộng Hoà cho kỳ bầu cử 2016. Người ta đã vì lý do chính trị ngắn hạn lấy những quyết định có hậu quả lâu dài và bất ngờ cho nước Mỹ, như Âu Châu tàn tạ đang gặp ngày nay....

______________________


Chuyện chỉ xảy ra tại nước Mỹ

Hôm Thứ Năm 20, một tòa kháng án liên bang của Michigan đã truất quyền dùng nệm hơi của một tù nhân. Richard Boone II bị vào tù Pugsley của thị trấn Traverse City về tội ăn cướp nhưng đòi nệm ngủ bằng hơi cho mềm vì có thương tật ở đùi và chân. Nhà Trừng Giới địa phương từ chối đòi hỏi vì 1) tù nhân nên tập thể dục để bớt đau và vì 2) tiền lệ ấy khiến họ phải trang bị 40 ngàn tấm nệm cho các tù nhân khác. Một tòa dưới đã ra phán quyết ủng hộ quan điểm của tù nhân, cho tới khi bị ba thẩm phán toà phá án phủ nhận với đa số tuyệt đối. Chi tiết rất Mỹ là chàng Boone viện lý do: "không có nệm bơm hơi, tớ sẽ ghiền ma túy vì phải dùng thuốc giảm đau". Tuyệt vời thay, giấc mơ Hoa Kỳ!

Friday, November 21, 2014

Vén Bức Màn Bên Kia



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 141120

Thông tin, tuyên truyền và hai góc trái phải của bộ não người Nga  


* Vladimir Putin hấp tấp rời Thượng đỉnh G-20 để ra về sớm *



Sau Thượng đỉnh vừa qua của nhóm G-20 (gồm 20 quốc gia có nền kinh tế giàu mạnh nhất địa cầu), thế giới tưởng như văn minh của chúng ta đã tiếp nhận loại thông tin sau đây: Tại thành phố Brisbane của nước Úc là quốc gia đăng cai tổ chức Thượng đỉnh vào hai ngày 15 và 16, các lãnh tụ Tây phương có thái độ lãnh đạm và gay gắt đả kích Tổng thống Vladimir Putin về vụ xâm lấn Ukraine đến nỗi ông Putin phải rời hội nghị trước lễ bế mạc.

Nếu lọc được tin này qua hàng loạt tin tức và bình luận của từng quốc gia – nào chuyện nội tình nước Úc của Thủ tướng Tony Abbot, những phê phán của dư luận về Tổng thống Barack Obama sau cuộc bầu cử tại Mỹ, hoặc phản ứng của thị trường về chánh sách kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe, v.v.... – ta có thể kết luận rằng ông Putin vừa bị một gáo nước lạnh, và rằng các nước dân chủ Tây phương vừa thắng một keo.

Và đấy là kết luận sai!

Hãy nói về bối cảnh của sự việc đã.

Ngày năm Tháng Chín vừa qua, các nước liên hệ đến vụ khủng hoảng Ukraine đã đạt một số thoả thuận ngưng bắn tại miền Đông xứ Ukraine do Putin đề nghị với Tổng thống Petro Poroshenko của Ukraine tại thủ đô Minsk của xứ Belarus, trước sự chứng giám của Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu châu (Organization for Security and Cooperation in Europe), Liên hiệp Âu châu và Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO, v.v....

Putin coi thỏa thuận Minsk này là "nguyên trạng" và đòi các nước tôn trọng. Nhưng ngay sau đó, ông lại vi phạm và tiếp tục yểm trợ võ khí, kỹ thuật và cả nhân sự cho các nhóm tự xưng là ly khai mà thực chất là thân Nga, hay đúng hơn, tay sai của Nga. Họ không che giấu ý định thôn tính một số thành phố có tính chất chiến lược ở miền Đông Ukraine, kể cả Mariupol, một hải cảng sẽ nối liền miền Đông với bán đảo Crimea và là đường tiếp vận của Nga.

Lãnh đạo và kinh tế của Ukraine bị dồn vào thế kẹt nhưng NATO bất động, Liên Âu bất lực, Hoa Kỳ lửng lơ vì Obama lo chuyện bên trong, còn Thủ tướng Đức thì cố làm con thoi hòa giải giữa Kyiv và Moscow. Trong hoàn cảnh ấy, nguyên thủ các nước lần lượt gặp nhau tại Thượng đỉnh APEC ở Bắc Kinh, rồi Hội nghị khối ASEAN tại Miến Điện và Thượng đỉnh G-2- tại Úc.

Đấy là khi chiến hạm Nga xuất hiện ngoài khơi nước Úc sau khi tiềm thủy đĩnh Nga bị Thụy Điển phát giác ở biển Bắc, sau khi một tầu ngầm nguyên tử Nga thao dượt gần Đan Mạch giữa một hội nghị về an ninh tại Bắc Âu. Và khi oanh tạc cơ của Putin bỗng lảng vảng trong vùng Vịnh Mexico, sát nách Hoa Kỳ!

Những hành vi khiêu khích ấy xảy ra khi Hoa Kỳ và Âu Châu đã tăng mức độ trừng phạt kinh tế. Vì thế, chẳng nên ngạc nhiên khi Thủ tướng Canada là Stephen Harper gọi Putin là phường lưu manh và nói láo. Và Putin bỏ về sớm, để lại cho các lãnh tụ Tây phương một thành quả biểu kiến. Nếu cho rằng đấy là một thắng lợi của các nước dân chủ Tây phương chống lại một lãnh tụ độc tài nhiều tham vọng thì người ta lầm to.

Đấy là thắng lợi vô dụng trên một con dốc nguy hiểm.

Tuy nhiên, nhờ theo dõi được tin bên Tầu, hay Miến Điện, hay Úc, Âu, Mỹ, Nhật, v.v... ta thử bước qua bên kia bức màn, xem truyền thông Nga loan tin tức ra sao về Putin và những hành động điên rồ này? Chúng ta mới là những người điên khi tưởng dân Nga cũng nghĩ như mình về Vladimir Putin!

Hình ảnh của Putin qua ống kính văn minh là một lãnh tụ phong phanh mặc áo banh ngực và có vẻ... hỗn như gấu cũng vì quá khứ là nhân viên KGB đáng ghét. Truyền thông Nga đưa ra hình ảnh và nhiều ấn tượng khác.

Putin là tay hùng biện ngang tầm Ronald Reagan hay F. D. Roosevelt của Mỹ, hoặc de Gaulle của Pháp, trong cách ăn nói bình dị thiết thực. Ông thường xuất hiện dưới ống kính truyền hình của Nga như một lãnh tụ quan tâm đến đời sống người dân khi mạt sát các Bộ trưởng là chẳng lo cho dân nghèo. Putin chỉ có một mục tiêu là sự giàu mạnh của nước Nga và sự thịnh vượng của dân Nga. Gần 15 năm sau khi lên cầm quyền rồi lãnh đạo, Putin đã làm đời sống của dân Nga có vẻ khá giả hơn. Chẳng những vậy, ông còn làm thế giới phải nể trọng nước Nga như dưới thời Xô viết.

Vì thế, hậu thuẫn chính trị cho Putin cứ ngất ngưởng trên đỉnh và ông ta sẽ lại tái đắc cử vào năm 2018 này để sẽ là người lãnh đạo nước Nga trong 24 năm liên tục!

Còn chuyện Ukraine? Đấy cũng là một công lao khác của Vladimir Putin. 

Quốc gia này xưa kia thuộc về Liên bang Xô viết, chẳng khác gì bán đảo Crimea vừa được Putin giải phóng và thu hồi về cho Đất Mẹ sau một cuộc trưng cầu dân ý. Bước kế tiếp sẽ là giải phóng Ukraine. Với dân Nga thì đấy là chuyện cực kỳ chính đáng, tức là có chính nghĩa.

Vì sao vậy?

Vì họ được biết rằng đất Ukraine ngày nay đang nằm trong tay một bọn phát xít. Lực lượng Phát xít mới này là hậu thân của bọn Banderovsi xưa kia đã can tội giết dân Nga và người Do Thái trong Đệ nhị Thế chiến. Ngày nay chúng vừa cướp chính quyền tại Kiev (người Nga không gọi thủ đô của Ukraine là Kyiv theo tiếng Ukraine), với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Chứng cớ ư?

Hình ảnh Nghị sĩ John McCain biểu tình tại quảng trường Maidan hoặc lời phát biểu của Phó Tổng thống Joe Biden được truyền hình Nga đưa ra dồn dập. Thêm một con số chắc nịch: giới ngoại giao Mỹ xác nhận đã chi ra năm tỷ đô la cho Ukraine!

Sự thật là thế nào? Sau khi kế nhiệm Boris Yeltsin, Putin lặng lẽ xóa bỏ chế độ tự do báo chí - mới chỉ xuất hiện từ năm 1992 rồi bị bóp nghẹt. Từ đó truyền thông Nga trở thành công cụ tuyên truyền theo một phương châm là nói đi nói lại những lời dối trá thì đấy sẽ là sự thật.

Chứ sự thật kia lại khác.

Chính trường Ukraine quả là có một đảng cực hữu được truyền thông Tây phương gọi là Neo-Nazi. Nhưng đảng này không được nổi 5% số phiếu nên chẳng có đại biểu trong Quốc hội! Còn số năm kia? Năm tỷ đô la Hoa Kỳ viện trợ cho Ukraine quả là sự thật do một Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ nói ra. "Từ khi Ukraine giành lại độc lập vào năm 1991, nước Mỹ đã đầu tư hơn năm tỷ đô la để giúp dân Ukraine". Dân Nga chỉ được xem thấy một giây của sự thật ấy trong một bài diễn văn dài tám phút rưỡi của nhà ngoại giao Mỹ, nên chẳng biết rằng đấy là năm tỷ viện trợ trải dài từ 1991 đến nay. Qua gần 24 năm, chứ không phải là 24 tháng hay 24 ngày qua ngả tài trợ mờ ám của CIA!

Còn nhiều con số khác nữa chứ!

Đa số dân Nga ngày nay tin rằng cuộc sống của họ có cải tiến kể từ khi Putin lên cầm quyền (làm Thủ tướng từ 1999) rồi lãnh đạo (từ năm 2000). Họ chỉ không nhớ là từ đó giá dầu đã tăng từ 14 đồng lên hơn trăm đồng một thùng, mà chẳng do công lao của Putin. Họ càng không biết rằng cái "được" về kinh tế đã che giấu nhiều cái "mất" khác. Giá dầu tăng làm tăng đồng rúp và gây đắt đỏ khiến các món hàng khác của Nga khó cạnh tranh - trừ Vodka và võ khí! Và dầu thô đã hút tư bản từ các ngành khác, khiến kinh tế Nga thực tế bị rỗng ruột và lệ thuộc nhiều hơn vào năng lượng.

Ngày nay, khi giá dầu đang và còn giảm, dân Nga sẽ được giải thích là vì tội ác của Tây phương! Họ càng oán ghét các nước Âu-Mỹ, nhất là Hoa Kỳ, và sẽ siết chặt hàng ngũ đằng sau Putin.

Sống trong các chế độ văn minh, nhiều khi ta thấy bực mình khi truyền thông có vẻ thiên vị với cánh tả - hay đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ. Chưa thấm vào đâu so với Nga.

Truyền thông Nga gõ mạnh vào bên phải của não bộ người dân để tác động vào cảm quan hơn là lý trí nằm bên trái. Mãi rồi dân Nga đã tự tạo lấy một cái lọc tâm lý để chặn hết mọi thứ thông tin nằm ngoài "dòng chính", do Putin và ban tham mưu khơi ra và be bờ rất kín. Ngưởi dân Trung Quốc và Việt Nam thật ra cũng chẳng khác dân Nga, nạn nhân của một kế hoạch tẩy não tinh vi.

Khi nhắc đến chuyện Putin, nên thấy rằng chúng ta đang trôi xuống con dốc chiến tranh lạnh. Mà hình như lại không biết.

Hết chuyện "Đại Gia Không Chết"

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 141119
Diễn đàn Kinh tế 
Vì ngân hàng quá lớn nên phải được cấp cứu - và càng ỷ thế làm bậy...
 
Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Brisbane. Australia đón tiếp các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho hội nghị thượng đỉnh G20 ở Brisbane vào ngày 15 và 16, 2014
* Australia đón tiếp các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới tại Thượng đỉnh G20 ở Brisbane vào ngày 15 và 16, 2014 - Ảnh AFP * 





Tại thượng đỉnh tuần qua của nhóm G20, một kế hoạch kiểm soát tài chính được nguyên thủ của 20 quốc gia giàu nhất thế giới thông qua nhằm chấm dứt hiện tượng gọi là "doanh nghiệp quá lớn để có thể cho phá sản". Hiện tượng đó là gì và tại sao lại có một kế hoạch kiểm soát như vậy? Mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, ta được biết là nhiều chính quyền phải tung tiền cấp cứu các ngân hàng bị nguy cơ phá sản để tránh nạn sụp đổ dây chuyền. Sáu năm sau, vào tuần qua tại hội nghị cấp cao của nhóm G-20 tổ chức ở thành phố Brisbane của Australia, nguyên thủ các nước đã phê chuẩn kế hoạch kiểm soát tài chính nhằm chấm dứt hiện tượng gọi là "quá lớn để sụp đổ". Xin ông phân tích cho thính giả của chúng ta một vấn đề quá chuyên môn như vậy. Hiện tượng gọi là "too big to fail" là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang gặp một vấn đề kỹ thuật phức tạp và thật sự có chi phối sinh hoạt kinh tế tài chính mà nhiều người lại không được biết.

- Ta nhớ rằng trong vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ năm 2008, khi tập đoàn đầu tư Lehman Brothers hay tập đoàn bảo hiểm AIG bị nguy cơ vỡ nợ, và trước đó khi hai trong ba hãng xe lớn nhất của Mỹ là Chrysler và General Motors có thể phá sản, thì một vấn đề được đặt ra. Đó là nhà nước có nên lấy tiền thuế của dân để cấp cứu các doanh nghiệp ấy không? 

- Vấn đề sở dĩ gây tranh luận không chỉ tại Hoa Kỳ mà ở bên Âu Châu và nhiều xứ khác là vì nếu nhà nước không cứu các đại doanh nghiệp ấy thì hậu quả sẽ lan qua khu vực khác. Đó là hiện tượng gọi là "quá lớn để có thể cho phá sản". Nhưng ngược lại, chính là do kích thước quá lớn với nguy cơ dây chuyền cho cả hệ thống kinh tế mà doanh nghiệp càng dễ ỷ thế làm liều, như các đại gia ỷ vào hậu thuẫn của nhà nước mà trở thành bất cẩn và lấy rủi ro lớn về kinh doanh. Tôi xin dùng một chữ cho thính giả của chúng ta dễ hiểu và dễ nhớ, đó là "hễ là đại gia thì không chết được".

Vấn đề sở dĩ gây tranh luận không chỉ tại Hoa Kỳ mà ở bên Âu Châu và nhiều xứ khác là vì nếu nhà nước không cứu các đại doanh nghiệp ấy thì hậu quả sẽ lan qua khu vực khác. Đó là hiện tượng gọi là "quá lớn để có thể cho phá sản. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Về bối cảnh thì suốt sáu năm qua các quốc gia bị lâm nạn, từ Âu Châu đến Hoa Kỳ, đều cùng tăng cường kiểm soát để không cho khủng hoảng tái diễn. Nhưng việc kiểm soát ấy tập trung vào khu vực ngân hàng vì ngân hàng mà phá sản thì cả khách nợ lẫn chủ nợ đều mắc nạn. Người ta gọi nỗ lực đó là "chấm dứt chuyện đại gia không chết".

Vũ Hoàng: Một cách cụ thể thì kế hoạch kiểm soát này thành hình như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nói tiếp về bối cảnh vì vấn đề này cực kỳ khó hiểu cho nhiều người trong chúng ta. Người ta nghiệm thấy một hiện tượng tâm lý chung là khi khủng hoảng bùng nổ, thí dụ như vụ Tổng khủng hoảng năm 1929-1933, các chính quyền và thị trường đều hốt hoảng và tăng cường luật lệ kiểm soát để khủng hoảng khỏi tái diễn.

- Như Hoa Kỳ thì có Đạo luật Ngân hàng mang tên hai tác giả là Glass-Steagal Act năm 1933 để quy định là các ngân hàng thương mại mà nhận tiền ký thác của công chúng thì phải tuân thủ những tiêu chuẩn chặt chẽ về đầu tư và tín dụng hầu không lấy tiền của thân chủ mà làm bậy và gây rủi ro vỡ nợ. Nhưng sau cơn khủng hoảng, khi mọi chuyện trở thành bình thường thì người ta lại phát huy sáng tạo theo kiểu "ngựa quen đường cũ" và tháo gỡ hệ thống kiểm soát nên gây ra những rủi ro khác. Đó là khi đạo luật Ngân hàng nói trên được Chính quyền Bill Clinton thu hồi năm 1999 để các ngân hàng thương mại vẫn có thể tham gia nghiệp vụ đầu tư. Mươi năm sau thì quả nhiên là khủng hoảng tái diễn vào năm 2008 - mà không chỉ riêng ở Hoa Kỳ.

- Khi ấy, các ngân hàng trung ương có nhiệm vụ kiểm soát nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng bị đặt trước hai vấn đề khác biệt. Vấn đề thứ nhất là nhiều ngân hàng đã lấy rủi ro đầu tư quá lớn. Vấn đề thứ hai là các ngân hàng, cả đầu tư lẫn thương mại hay doanh nghiệp tài chính và chủ nợ trái phiếu, lại cho nhau vay quá nhiều. Họ dệt thành mạng lưới tín dụng chằng chịt, khiến một ngân hàng vỡ nợ thì kéo theo ngân hàng khác làm doanh nghiệp vay tiền ngân hàng bị ách tắc tín dụng là tìm không ra vốn luân lưu và khủng hoảng tài chính biến thành khủng hoảng kinh tế.

Nhưng sau cơn khủng hoảng, khi mọi chuyện trở thành bình thường thì người ta lại phát huy sáng tạo theo kiểu "ngựa quen đường cũ" và tháo gỡ hệ thống kiểm soát nên gây ra những rủi ro khác Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thưa ông, khi ấy các nước đã giải quyết hai vấn đề khác biệt này ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một đằng thì chính quyền, là chính phủ, quốc hội và ngân hàng trung ương, phải tung tiền cấp cứu ngân hàng lâm nạn qua thủ tục tôi xin tạm gọi là "chuộc nợ" hay "bail out". Trong khi đó người ta biểu quyết các đạo luật kiểm soát nghiệp vụ ngân hàng để tránh rủi ro cho tương lai. Nhưng song song, các nước còn có một nỗ lực thứ ba rất khó hiểu là bắt các chủ đầu tư vào ngân hàng phải chịu một phần thiệt hại gọi là "bail in", tôi xin dịch là "châm vốn" cho dễ hiểu. Tức là nếu làm ăn bất cẩn thì phải chịu trách nhiệm chứ không thể ỷ vào cái lưới cấp cứu của nhà nước, tức là ỷ vào tiền thuế của dân vì nhà nước có bao giờ làm ra tiền đâu?]

- Đấy là bối cảnh của những biện pháp cải cách đã được Thượng đỉnh của nhóm G-20 biểu quyết vào các năm 2009, 2010. Một cách cụ thể thì các nước lập ra một Hội đồng Ổn định Tài chính năm 2009 và qua năm sau thì đề nghị của Thượng đỉnh G-20 tại Seoul được hiệp hội các ngân hàng chấp nhận và nâng cấp thành tiêu chuẩn Basel III. Nôm na là các ngân hàng sẽ phải có thêm tài sản đảm bảo những khoản tín dụng đã cho vay và tuân thủ việc kiểm soát khắt khe hơn.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì có lẽ thính giả của chúng ta mường tượng ra một phần của vấn đề khi có tin là Chủ tịch của Hội đồng Ổn định Tài chính đã công bố một kế hoạch cải cách vừa được Thượng đỉnh G-20 chấp thuận tại Brisbane tuần qua. Thưa ông, kế hoạch đó gồm có những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ông Chủ tịch Hội đồng Ổn định Tài chính có phạm vi hoạt động toàn cầu hiện cũng là Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh quốc. Hôm Thứ Hai mùng 10 vào tuần trước, ông ta có trình bày kế hoạch này nhằm giải quyết một lúc hai vấn đề khác biệt mà liên hệ với nhau như tôi vừa trình bày. Tức là thứ nhất giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng với đòi hỏi phải gia tăng mức tài sản bảo đảm các nghiệp vụ cho vay và bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Thứ hai là đòi các chủ đầu tư phải tự châm vốn và nâng cao khả năng chịu lỗ chứ họ không thể trông cậy vào tiền thuế của dân. Mục tiêu thứ hai này là để mạng lưới tín dụng chằng chịt mình vừa nói ở trên sẽ có sức chịu đựng cao hơn và nếu sụp đổ thì tự bung ra từng mảng riêng chứ không lây lan qua kinh tế. Một cách nôm na dễ hiểu là nếu có gan làm giàu thì cũng phải có gan chịu lỗ.

Để kết luận thì hệ thống ngân hàng của Âu Châu có đầy kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ cao mà còn khủng hoảng thì loại ngân hàng tân tòng của TQ và VN mới chỉ xuất hiện sau này dưới sự bao che của đảng và nhà nước sẽ còn phải học nhiều kinh nghiệm về khủng hoảng.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Nếu chúng tôi hiểu không lầm thì từ nay các ngân hàng sẽ có thể vỡ nợ chứ không nhờ cậy vào chính quyền hay ngân hàng nhà nước. Thưa ông, có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một cách nôm na thì quả thật là như vậy. Nhưng kế hoạch này cũng làm nhiều ngân hàng thương mại xưa nay làm ăn cẩn trọng than phiền là vừa bị kiểm soát chặt chẽ hơn vừa phải dốc thêm tiền để đạt mức dự phòng rủi ro cao hơn.

Vũ Hoàng: Thưa ông, hậu quả của những biện pháp phức tạp này sẽ là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng ta khó có một câu trả lời chung vì tình hình ở mỗi nơi lại mỗi khác. Thí dụ như tại Hoa Kỳ hay Anh quốc, hệ thống doanh nghiệp có nhiều cách gọi vốn tinh vi và đa diện trên thị trường trái phiếu nên sẽ không gặp nhiều trở ngại. Tại Âu Châu, kế hoạch diệt trừ các đại gia ngân hàng ỷ thế làm liều có khi lại gây khủng hoảng cho khối Euro vì các doanh nghiệp loại trung và nhỏ thì chỉ huy động vốn kinh doanh qua hệ thống ngân hàng mà các ngân hàng đều sẽ bị kẹt vì phải tăng vốn. Trong ba chục ngân hàng loại lớn của thế giới, với khả năng gọi là "gây họa cho cả hệ thống thì" có 11 cái là ở tại Âu Châu. Kết cục thì biện pháp kiểm soát chủ yếu là nhắm vào các ngân hàng Âu Châu lại gây vấn đề cho kinh tế Âu Châu, ít ra là trong ngắn hạn và vì vậy lại gia tăng rủi ro khủng hoảng cho khối Euro.

Vũ Hoàng: Câu hỏi sau cùng, thưa ông, còn các ngân hàng Trung Quốc và Việt Nam thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng họ sống trong một thế giới khác!

- Trong 30 đại gia toàn cầu mình vừa nói ở trên thì có ba ngân hàng là của Trung Quốc. Nhưng đấy là các ngân hàng quốc doanh có nhà nước Bắc Kinh ở đằng sau và là công cụ cho chính sách tài trợ tăng trưởng kinh tế bất kể lời lỗ. Trung Quốc cũng chẳng tôn trọng gì những đòi hỏi cải tổ và kiểm soát của quốc tế và sẽ viện dẫn lý do là môi trường bên trong có khác thiên hạ. Vả lại, họ cũng chưa có một thị trường trái phiếu đủ rộng lớn để hỗ trợ yêu cầu tăng vốn của ngân hàng.

- Trường hợp Việt Nam cũng không khác vì hệ thống ngân hàng thương mại vẫn chủ yếu là do nhà nước làm chủ và chi phối. Nhiều ngân hàng thuộc loại cổ phần của tư nhân chỉ có cái vỏ là tư nhân chứ vẫn là cơ sở của tay chân nhà nước nên cứ ỷ thế làm liều. Lâu lâu mới có đại gia sa lưới thì cũng do những tranh đoạt quyền bính trên thượng tầng mà thôi.

- Để kết luận thì hệ thống ngân hàng của Âu Châu có đầy kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ cao mà còn khủng hoảng thì loại ngân hàng tân tòng của Trung Quốc và Việt Nam mới chỉ xuất hiện sau này dưới sự bao che của đảng và nhà nước sẽ còn phải học nhiều kinh nghiệm về khủng hoảng. Và thời của các "đại gia" vẫn chưa chấm dứt đâu, sau khi một mớ phải vào tù.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về một chương trình quả thật là rắc rối phức tạp.

Sunday, November 16, 2014

Múa Đôi Hoa Mỹ



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo141115

Hoa Kỳ phải quan niệm lại đối sách với Trung Quốc - từ nay đến 2016  


* Tập Cận Bình và Barack Obama tại Bắc Kinh *



Tại Thượng đỉnh APEC vừa qua ở Bắc Kinh, lãnh đạo Hoa Kỳ và Trung Quốc đạt một thỏa thuận được các con vẹt Dân Chủ và bọn "ôm cây", các nhóm bảo vệ môi sinh, đánh giá là mang ý nghĩa thời đại: hai bên đồng ý về nhu cầu tiết giảm khí thải để bảo vệ địa cầu khỏi nạn nhiệt hoá trong thế kỷ này. Giới bình luận đểu cáng thì nói rằng "vào chi tiết mới ra chuyện độc", nhưng ít ra Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình đã có dịp cười toe trước ống kính về một thành quả biểu kiến. Còn lại là sự trống vắng.

Bài này bàn về chuyện lấp đầy khoảng trống đó.

Ngay từ nhiệm kỳ đầu, vào đầu Tháng Giêng 2009, Chính quyền Obama đã đánh giá sai quan hệ Mỹ-Hoa, khi Ngoại trưởng tân nhậm Hillary Clinton tới Bắc Kinh khẳng định rằng không để chuyện nhân quyền chi phối việc làm ăn giữa hai nước. Nhân đó bà kêu gọi các đấng con trời tiếp tục mua trái phiếu Mỹ, tức là tiếp tục cho Mỹ vay tiền. Clinton chẳng hiểu rằng Bắc Kinh có tiền mà không gửi qua Mỹ thì làm gì cho đồng tiền khỏi mất giá?

Hai năm sau, cũng qua ngòi bút Clinton và ý kiến của ban tham mưu trong Bộ Ngoại giao, Chính quyền Obama nói đến việc "chuyển trục" về Đông Á, làm các nước Á Châu nức lòng tin tưởng. Nhưng Chú Cuội chỉ múa với Chị Hằng được một con trăng, màn chuyển trục hay "pivot" được sửa thành "tái quân bình". Rồi để đó từ năm 2012.

Không, trước đà bành trướng của Bắc Kinh khiến các nước Á Châu lo ngại, năm 2012, Chính quyền Obama còn mời Trung Quốc tham dự cuộc thao dượt quân sự RIMPAC với 22 quốc gia trong vành cung Á châu Thái bình dương, lần đầu tiên kể từ năm 1971. Cũng hợp lý thôi: không mời em vào chơi để phơi của quý thì làm sao biết của quý của em nó quý đến cỡ nào!

Hãy nói về chuyện sinh tử hơn vậy.

Từ hai chục năm nay, qua bốn nhiệm kỳ của hai Tổng thống cả Dân Chủ lẫn Cộng Hoà, lãnh đạo Hoa Kỳ đều theo đuổi một chánh sách có tính chất lưỡng đảng - và hai mặt. Mặt tích cực là nên kết ước với Trung Quốc, cứ hợp tác làm ăn để cường quốc mới nổi này trở thành đối tác biết điều và cùng Hoa Kỳ gánh vác thiên hạ sự từ hai bờ biển Thái bình. Nhưng đồng thời cũng phải có ý phòng thủ nếu Bắc Kinh lại chẳng biết điều mà chơi bạo. Đó là mặt kia.

Chánh sách đó từ thời Bill Clinton mới cho Trung Quốc quy chế "tối huệ quốc" rồi được Quốc hội Cộng Hoà nâng cấp thành "quan hệ mậu dịch bình thường và thường trực" để mở đường cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ cuối năm 2001 và vươn lên thành một thế lực kinh tế trong vùng. Nhưng cũng Chính quyền Clinton vào Tháng Ba năm 1996 đã gửi hai hàng không mẫu hạm vào Eo biển Đài Loan khi Bắc Kinh bắn hỏa tiễn qua đầu đảo quốc này trong lúc dân chúng lần đầu tiên đi bầu Tổng thống theo thể thức phổ thông đầu phiếu.

Xin nhắc lại: lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm mà dân Tầu trực tiếp đi bầu lãnh tụ nhưng Bắc Kinh lại không ưa một tiền lệ nguy hiểm như vậy và tìm cách phá bĩnh nên mới phóng hỏa tiễn qua không phận Đài Loan để hăm dọa. Cho tới khi Mỹ gửi chiến hạm vào làm nguội cái hỏa khí trên đầu Thiên tử đỏ!

Ngay từ đây rồi, một viên tướng của Bắc Kinh đã giở giọng hỗn khi hỏi một nhà ngoại giao Mỹ: quý quốc có thể hy sinh Los Angeles hay San Francisco để bảo vệ Đài Loan không? Lối suy nghĩ ấy cho thấy rằng hai chục năm sau là ngày nay, Hoa Kỳ cần duyệt lại chánh sách hai mặt kết ước và phòng thủ với Trung Quốc. Vì phần kết ước thì có lợi cho Trung Quốc, khía cạnh phòng thủ có tính chất dương cương thì chưa có tác dụng thuyết phục.

Hai chục năm sau, lãnh đạo Bắc Kinh không biết điều hơn. Bên trong còn tập trung quyền lực và gia tăng chà đạp nhân quyền. Với bên ngoài thì uy hiếp lân bang, trong khi không che giấu tham vọng quân sự là kiểm soát vùng Tây Thái bình dương được gọi là "quyền lợi cốt lõi" Lý luận ngoại giao thì đầy chất mị dân: "Á châu là của người Á" - không phải của Mỹ. Mà người Á ở đây là "thiên hạ" ngàn đời dưới sự lãnh đạo của Thiên triều. Về mặt quân sự đang tiến hành thì đó là chiến lược ngăn cản chiến hạm  Hoa Kỳ đi vào vùng biển mà Trung Quốc gọi là của mình.

Sự thật này đã càng tỏ lộ trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống George W. Bush, khi Mỹ lún sâu vào trận chiến chống khủng bố toàn cầu và bận rộn với hai chiến trường nóng là Afghanistan và Iraq. Vì vậy, người ta chờ đợi là qua triều đại Obama, từ đầu năm 2009, lãnh đạo Hoa Kỳ phải có chánh sách mới.

Quả nhiên là mới - và lạ. Hoa Kỳ tiếp tục kết ước và còn ra sức hòa dịu với Bắc Kinh để Tổng thống rộng tay cải tạo nước Mỹ ở bên trong. Khi Trung Quốc tỏ vẻ hung hăng thì Obama nói đến việc chuyển trục cho bảnh, rồi cho cái trục xoay trong chân không. Khi Ngoại trưởng Cliton tới Bắc Kinh mời chào trái phiếu của Mỹ thì cũng là lúc ngân sách Hoa Kỳ bị bội chi tới đáy. Vài năm sau, khi Hoa Kỳ hăm dọa sẽ đưa 60% phương tiện hải quân vào biển Thái bình thì cũng là lúc ngân sách quốc phòng bị cắt.

Chẳng ai ngạc nhiên là Bắc Kinh nhân dịp mở rộng khu vực kiểm soát phòng không ADIZ, thè cái lưỡi bò đòi liếm lung tung và tung phương tiện vào không gian điện toán để xục xạo bí mật an ninh và kinh tế của Hoa Kỳ. Sáu năm vừa qua đã thấy quan hệ Mỹ-Hoa trở nên tồi tệ hơn và nước Mỹ mất dần sự khả tín. Đồng minh không tin mà đối thủ cũng chẳng sợ.

Nhưng may là Hoa Kỳ có nền dân chủ và sau khi mua hớ những lời hứa nhảm thì dân Mỹ cũng có thể sửa sai bằng lá phiếu. Trong cuộc bầu cử tuần qua, họ mạnh tay trao lại quyền kiểm soát cho đảng Cộng Hoà tại Quốc hội. Và trong hai năm tới, Hành pháp Obama rơi vào cảnh "vịt què"....

Hiến pháp Hoa Kỳ giới hạn quyền Tổng thống bằng các định chế bên trong như Quốc hội hay Tối cao Pháp viện. Khi lâm vào thế yếu và muốn để lại danh tiếng cho đời thì một Tổng thống Mỹ vịt què chỉ có thể tìm kiếm thành quả về đối ngoại - qua một bản hiệp định về khí hậu chẳng hạn! Nhưng với đảng Cộng Hoà đa số tại Thượng viện, quyền phê chuẩn hay nhượng bộ cũng lọt khỏi tay đảng Dân Chủ. Và sau cuộc bầu cử 2014, dân Mỹ còn có tổng tuyển cử vào năm 2016.

Trong hai năm tới, phe Cộng Hoà sẽ rà soát và xiết lại những nhượng bộ đã qua và vì viễn ảnh bầu cử Tổng thống năm 2016, phải vạch ra một đối sách khác với Trung Quốc. Hai năm đó cũng là giai đoạn khó khăn cho lãnh tụ Tập Cận Bình khi phải cải cách kinh tế ở nhà, với đà tăng trưởng giảm sút chưa từng thấy từ mấy chục năm nay, trong khi đồng Mỹ kim cứ vùn vụt lên giá.

Bối cảnh đó khiến chúng ta lần lượt xét lại việc Trung Quốc và Hoa Kỳ tái lập cái thế quân bình trên vùng biển Thái bình dương trước sự thẩm xét của các nước Á châu. Và chỉ nên coi dự án cải thiện khí hậu như một điệu vũ cho vui.

Một cảnh múa đôi huê dạng.