Thứ Năm, tháng 3 23, 2017

Tài Trợ Phát Triển và Lạm Dụng Dân Nghèo



Nguyễn-Xuân Nghĩa & Nguyên Lam - RFA Ngày 170322
Diễn đàn Kinh tế

Dân nghèo không có quyền lên tiếng và các chuyên gia thì làm ngơ!

Đôi bàn tay của một cậu bé làm việc trong xưởng đóng tàu ở Bangladesh chụp hôm 18/2/2016. *


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/EconomicForum/humand-rights-and-development-nxn-03222017135421.html 


Ngân hàng Thế giới World Bank và chi nhánh là Công ty Tài trợ Quốc tế IFC đã gián tiếp gây ô nhiễm môi sinh, nạn tận thu và cưỡng chế đất đai nhà cửa ở khu vực Đông Nam Á. Trên đây là lời cáo buộc do Tổ chức Inclusive Development International (IDI) nêu ra trong phúc trình vừa công bố hôm 17 Tháng Ba 2017. Được thành lập như một định chế tài trợ phát triển cho các nước nghèo, vì sao Ngân hàng Thế giới lại có thể gây hậu quả đó? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về các nguyên nhân còn sâu xa hơn qua phần phân tích của kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, tuần qua thì một tổ chức vô vụ lợi thành lập tại Hoa Kỳ là Inclusive Development International, mà ta có thể dịch là “Hỗ tương Bao hàm trong Phát triển Quốc tế”, đã gây chấn động trong dư luận quan tâm đến việc phát triển các nước nghèo khi phê phán Ngân hàng Thế giới và bộ phận tài trợ tư doanh là Công ty Tài trợ Quốc tế IFC gián tiếp gây ô nhiễm môi sinh và nhiều tệ nạn khác trên thế giới, tại Đông Nam Á và cả Việt Nam. Họ còn nói rằng trong sáu tháng tới sẽ tiếp tục công bố kết quả kiểm tra từ nhiều năm qua để yêu cầu Ngân hàng Thế giới cùng Công ty IFC thay đổi chính sách tài trợ nhằm thực sự cứu dân nghèo thay vì gây thêm tai họa cho các nước. Từng được Ngân hàng Thế giới huấn luyện từ ngày xưa và là tư vấn kinh tế cho các nước nghèo, ông nghĩ sao về lời cáo buộc này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi có để ý đến lời cáo buộc ấy và cả sự chống chế mà thiếu cải tiến của cơ quan IFC lẫn Ngân hàng Thế giới khi bị các tổ chức phi chính phủ đả kích từ nhiều năm qua và chúng ta sẽ còn phải theo dõi những phát giác kế tiếp của tổ chức Inclusive Development International. Phần mình, từ môi trường sinh hoạt ấy mà ra, tôi nghĩ rằng vấn đề nó sâu xa nghiêm trọng gấp bội nên xin đề nghị là chúng ta cùng kiên nhẫn tìm hiểu từ đầu vì nếu không cải sửa thì những hậu quả tai hại vẫn chưa hết đâu. Trước hết, về Ngân hàng Thế giới thì ta cần trở về mối họa từ đầu nguồn, khi định chế này ra đời hơn 70 năm trước.

- Cuối Đệ nhị Thế chiến, vào năm 1944, Hoa Kỳ cùng các nước dân chủ Tây phương chuẩn bị dựng lại kiến trúc tài chính toàn cầu để tránh vụ Tổng khủng hoảng xảy ra từ 1929-1933 và là một trong nhiều nguyên nhân của đại chiến. Trong Chính quyền Mỹ khi đó có kinh tế gia Harry Dexter White nổi tiếng tương tự như ông John Maynard Keynes người Anh. Là công trình sư soạn thảo văn kiện thành lập Ngân hàng Thế giới với chủ trương sau này là Điều IV, Khoản 10, ông White viết rằng “Ngân hàng Thế giới và nhân viên không nên xen vào nội bộ chính trị của các nước hội viên…” tức là không bị chi phối bởi đặc tính chính trị của các nước “mà chỉ nên quan tâm đến yếu tố kinh tế”.

Nguyên Lam: Nguyên Lam và quý thính giả của chúng ta đã quen dần với cách nhìn của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa khi ông trở về bối cảnh sâu xa của những biến cố hiện đại. Nhưng vì sao ông lại trở ngược đến tận năm 1944 để nói về một vấn đề của năm 2017?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Có lẽ tôi cần trở ngược sâu xa hơn vậy nữa! Ngay từ năm 1941, ông White đã bày tỏ sự khâm phục thành tựu kinh tế của Liên bang Xô viết. Khi ấy, người ta tưởng đấy chỉ là một nhận thức cá nhân của ông ta, như của nhiều chuyên gia trí thức ngây dại khác. Vả lại trong Thế chiến II, khi Đức Quốc Xã hủy bỏ hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô mà tấn công nước Nga thì phe Tây phương cần hợp tác với Liên Xổ để chống kẻ thù chung. Khi ông White chủ trương là Ngân hàng Thế giới không nên quan tâm đến thể chế chính trị thì cũng để mong định chế này sẽ có Liên Xô là hội viên.

- Điều không ngờ mà người ta chỉ biết về sau là kinh tế gia Harry Dexter White cộng tác với tình báo Xô viết từ lâu mà các chính quyền Franklin Roosevelt và Harry Truman không biết, hoặc không tin. Mãi sau này, nhờ một dự án tối mật của hệ thống quân báo Hoa Kỳ mà lãnh đạo chính trị cũng không biết, người ta mới thấy ra sự thật này. Và năm 1997,  20 năm trước, “Dự án Venona” mới được Quốc hội công khai hóa với vai trò nghiêm trọng của ông White cùng nhiều viên chức dân sự cao cấp khác của Hoa Kỳ. Nhưng cái mầm họa bị cấy trong định chế tài trợ phát triển là Ngân hàng lại còn nguyên vì vậy chẳng ai ngạc nhiên sau này khi Ngân hàng Thế giới tài trợ các chính quyền độc tài tham nhũng hoặc nhiều dự án phát triển của Trung Quốc đã gây ô nhiễm môi sinh mà ít ai nói tới vì sợ mất phần ăn với Tầu. Đấy là lẽ cái thứ nhất mà chương trình của chúng ta có đề cập tới khi nêu vấn đề vì sao mầm dân chủ khó mọc tại Đông Á, là nơi có nhiều thành tựu kinh tế được các định chế quốc tế ngợi ca.

Nguyên Lam: Ông vừa nói rằng “đấy là cái lẽ thứ nhất”, nghĩa là ông cho rằng còn có nhiều lẽ khác nữa hay sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một sai lầm đầu tiên của các định chế quốc tế lẫn nhiều chuyên gia kinh tế là cố tình tránh né yếu tố chính trị. Thành phần chuyên gia thư lại ấy được trả lương cao và còn miễn thuế để gọi là giúp nước nghèo mà họ không được nhắc đến chính trị trong phúc trình chuyên môn của họ. Đa số thì chỉ muốn làm xong việc rồi đi nơi khác chứ sợ bị chế độ độc tài làm phiền. Thành ra đôi bên ở trên đều báo cáo tốt đẹp chứ sự thật bên dưới chẳng như vậy. Sự thật bên dưới là nhiều khi dân nghèo bị đuổi khỏi vùng đất sống của họ để “giải phóng mặt bằng” mà không được đền bù tương xứng nhằm thực hiện các công trình dự án do quốc tế tài trợ với sự chỉ đạo kỹ thuật của các chuyên gia. Sự thật là nhiều dự án xâm hại môi trường sinh sống của dân cư sở tại mà các chuyên gia bất cần. Khi bị nạn thì kỹ sư quốc tế lại được mời qua cải sửa với thù lao rất cao được tính vào ngân khoản viện trợ! Mọi người đều vui với thành quả ấy, trừ đám dân nghèo. Hàng năm, giới chuyên gia quý tộc ấy vẫn họp hành trong khung cảnh sang trọng để nói về thành tựu của họ mà sau cùng lại ngẩn ngơ khi khủng hoảng bùng nổ ở nơi này nơi khác. Cho nên vấn đề không chỉ là đặc tính “phi chính trị” của hệ thống tài trợ phát triển mà còn là “phi nhân quyền” và “phi nhân phẩm”! Đấy là lẽ thứ hai….

Nguyên Lam: Khi nhìn vào một số dự án có vấn đề hiện nay tại Việt Nam thì có lẽ thính giả của chúng ta hiểu ra một thực tế tiêu cực ở bên ngoài, hay bên dưới mà ông Nghĩa vừa nêu ra, thưa ông, có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một tổ chức tài trợ tư doanh như Công ty IFC có thể chủ trương việc rất ư phải đạo là “phát triển tư doanh”. Nhưng các chuyên gia và tư vấn tài chính kinh tế được họ gửi vào các nước nghèo và độc tài thì không thể không biết rằng dự án tài trợ, thí dụ như lập ra ngân hàng này ngân hàng nọ, chỉ là một trong nhiều chi nhánh của một tập đoàn kinh tế nhà nước do một nhân vật lãnh đạo nào đó thật sự điều khiển qua tay chân và thân tộc trong mạng lưới làm ăn của ông ta. Các chuyên gia ngoại quốc ấy chẳng dại gì nêu vấn đề vì bị thiệt hại hoặc phiền nhiễu nên chỉ làm cho xong. Rồi quốc tế bèn khen rằng Việt Nam hay xứ nọ đã có thêm một số “ngân hàng tư nhân” dù tư doanh thật thì vẫn khó tìm ra tín dụng để làm ăn. Sau đó, nếu ngân hàng do Công ty IFC yểm trợ để thành hình mà cung cấp tín dụng cho loại dự án vô giá trị về kinh tế hoặc xâm nhiễm môi trường sinh sống của người dân thì đấy là trách nhiệm của các nước nghèo đã được viện trợ! Đâm ra mục tiêu viện trợ có đặc tính phi chính trị lại xâm phạm nhân quyền, nhân phẩm của người dân đáng lẽ ra là đối tượng cần ưu tiên giúp đỡ.

- Nhiều người Mỹ qua Việt Nam làm ăn cứ hỏi tôi vì sao Việt Nam có quá nhiều người giầu như vậy? Câu trả lời có thể là Việt Nam đang công nghiệp hóa, nay có 90 triệu dân thay vì chỉ có 22 triệu tại miền Bắc và 24 triệu tại Việt Nam vào cuối thời chiến tranh! Nhưng câu trả lời thực tế nhất vẫn là “chủ nghĩa tư bản thân tộc” và quy định quái đản về đất đai, vốn “thuộc quyền sở hữu của toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” mà lại do tay chân của đảng và nhà nước toàn quyền phân phối. Những người Mỹ ấy không biết đến các dự án thủy điện hay công nghiệp làm trăm ngàn người khốn khổ, trong khi báo chí chỉ nói tới các đại gia chẳng còn có vẻ gì là cộng sản và cho rằng chủ nghĩa tư bản đã cảm hóa họ. Chế độ là sự cộng sinh giữa độc tài và tham nhũng mà chuyên gia quốc tế chẳng cần biết nên là đồng lõa cho cái xấu mà có lẽ cũng bất cần.

Nguyên Lam: Ông Nghĩa hai lần nhắc tới tình trạng ông gọi là phi nhân phẩm hay xâm phạm nhân quyền. Phải chăng đấy là một nguyên nhân sâu xa khiến việc tài trợ phát triển lại không được dân nghèo hưởng ứng hay ủng hộ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho là dân đen còn oán các tổ chức quốc tế khi mờ sáng thấy đoàn xe ủi đất lững lững đi vào, có khi được công an bảo vệ, để san bằng ruộng vườn của họ. Sau đó họ mới thấy dựng lên vài tấm bảng giới thiệu một công trình kỹ nghệ sẽ được thực hiện trên vùng đất của ông bà tổ tiên, mà lợi ích kinh tế tài chính lại chảy vào túi của ai khác trên thành phố. Nhà báo ngây ngô được vào đó chụp hình một dự án hiện đại hóa cái xứ nghèo nàn này trong khuôn khổ của chương trình viện trợ để cứu đói giảm nghèo. Chuyện như vậy xảy ra quá nhiều nên không là một tai nạn đơn lẻ mà là một trào lưu đáng ngại cho các nước Á Phi.

- Nếu xứ sở có thể chế dân chủ và luật pháp nghiêm minh thì người dân được quyền biết và lên tiếng về các dự án sẽ thực hiện tại địa phương và vấn đề hay đề nghị mà họ nêu ra phải được chuyên gia ghi vào phúc trình nghiên cứu tính chất khả thi của dự án. Rốt cuộc thì người ta phải quan niệm lại vai trò của viện trợ cho các nước nghèo lẫn trách nhiệm của các chuyên gia.

Nguyên Lam: Như vậy, ông Nghĩa đang dẫn chúng ta đến phần kết luận của câu chuyện phức tạp này. Thưa ông, kết luận ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong bảy thập niên, giới chuyên gia kinh tế tranh luận từ hai giác độ tả hữu về việc tạo ra thịnh vượng, với một kẻ tốt nghiệp Đại học Harvard như ông White mà còn u mê tin rằng hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung sẽ đẩy lui sự nghèo đói! Kết cuộc thì chủ nghĩa cộng sản tự phá sản và ta thấy kinh tế thị trường mới có ưu thế nên các chế độ cộng sản như tại Trung Quốc và Việt Nam bèn cải cách hay đổi mới, mà vẫn sai! Cái sai đầu tiên là từ kẻ sùng chuộng tư bản chủ nghĩa vì cho rằng thịnh vượng kinh tế sẽ thay đổi chế độ chính trị, chẳng khác gì lý luận duy vật Mác-xít. Cái sai kế đó là từ đám chuyên gia Tây phương khi tưởng là việc xóa đói giảm nghèo qua các kế hoạch, chương trình hay dự án từ trên ban xuống sẽ đem lại thịnh vượng. Họ sai vì các chế độ độc tài theo đúng phép đó, dùng chuyên gia kinh tế làm công cụ để nói tới xóa đói giảm nghèo mà làm giàu cho bọn có quyền qua tham nhũng và phá hủy môi sinh lẫn nhân phẩm. Thành thử, vấn đề không là số liệu về lợi tức mà quốc tế cứ tung hứng và báo chí loan truyền. Vấn đề là quyền lên tiếng của dân nghèo, là nhân quyền, dân quyền và nhân phẩm của người nghèo trước sự toa rập của bọn chuyên gia quốc tế và các chế độ côn đồ. Thế giới đang dần dần thấy ra thực tế phũ phàng đó và sẽ phải đổi thay nữa.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Thứ Bảy, tháng 3 18, 2017

Pháp Đi Về Đâu Trong Cõi Âu Châu Sắp Rã?



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo 170316

Sau bầu cử tại Hòa Lan và Pháp, hãy nhìn vào mầm tan rã của Liên Âu…   


* Geert Wilders và Marine Le Pen tự chụp hình - ảnh của Journal du Dimanche *


Vương quốc Hòa Lan hiền hòa tại Tây Âu là một trong sáu nước sáng lập hệ thống Âu Châu thống nhất từ 60 năm trước. Với diện tích có 41 ngàn cây số vuông và dân số 17 triệu, Hòa Lan lại giữ vai trò quan trọng trong cơ chế Liên hiệp Âu châu hiện nay vì là biểu tượng cho tinh thần hội nhập các quốc gia Âu Châu sau nhiều thế kỷ chinh chiến.

Ngày 15 tuần qua, Hòa Lan vừa có bầu cử và dư luận Âu-Mỹ thở phào nhẹ nhõm khi thấy lãnh tụ Geert Wilders thuộc đảng Tự Do theo xu hướng cực hữu bị thất cử và Thủ tướng Mark Rutt của đảng Nhân Dân Tự Do Dân Chủ theo khuynh hướng trung hữu đã tái đắc cử. Nhưng dư luận khắp nơi cứ mừng hơi sớm và đánh giá sai một trào lưu đáng ngại sẽ tái xuất hiện còn dữ dội hơn tại Pháp trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng tới….

Sự kiện một nhân vật kỳ dị - kỳ lạ và dị hợm - như Geert Wilders lại về nhì và đảng Tự Do của ông chiếm được 20 ghế trong Quốc hội Hòa Lan là điều khó tưởng tượng nổi mới chỉ mươi năm trước. Ông ta chống Âu Châu, chống di dân, ra mặt kỳ thị Hồi giáo và đề cao chủ nghĩa quốc gia dân tộc mà người ta cho là hẹp hòi và đáng khinh. Thế thì ai đưa một người như vậy vào hệ thống chính trị cổ điển và “phải đạo” của Hòa Lan? Tại Pháp cũng thế, việc bà Marine Le Pen của đảng Mặt Trận Quốc Gia (Front National) thuộc khuynh hướng cực hữu có thể dẫn đầu trong cuộc bầu cử Tổng thống vào ngày 23 tháng tới là một chỉ dấu đáng quan ngại về một trào lưu mới trong hệ thống chính trị Âu Châu và Hoa Kỳ.

Bài này sẽ viết về trào lưu đó vì nó báo hiệu sự phân rã của Âu Châu mà cột báo này đã nói từ lâu, trước khi Donald Trump làm nhiều người xốn xang….

***

Sau khi dân Anh quyết định ra khỏi Liên Âu hôm 23 Tháng Sáu năm ngoái, giới lãnh đạo Âu Châu và truyền thông thuộc “dòng chính” đã lầm khi cho là các nhân vật như Donald Trump, Marine Le Pen hay Geert Wilders là biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc có thể đe dọa nền dân chủ Âu Mỹ.

Người ta quên là chính chủ nghĩa quốc gia dân tộc phát sinh cùng trào lưu dân chủ hóa từ cuối Thế kỷ 18, khi bùng nổ hai cuộc Cách mạng vì độc lập tại Hoa Kỳ (1776) rồi vì dân chủ tại Pháp (1789). Người dân chứ không phải các Hoàng đế hay vua chúa mới quyết định về phạm vi của quốc gia và quyền lực của công dân. Nền dân chủ thành hình từ thời ấy được xây dựng trên nền móng của các quốc gia đã giành lại quyền tự chủ. Quyền tự chủ đó khiến các công dân ý thức được – và còn thấy hãnh diện – là họ thuộc về một quốc gia có khác biệt với một quốc gia bên cạnh, hay bên kia đại dương. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc thành hình từ đó.

Nói cho gần với chúng ta, Hoa Kỳ là một quốc gia đa chủng, hình thành từ di dân. Khỏi đi quá xa về quá khứ với người Mỹ bản địa gốc Á bị gọi là dân Da Đỏ, lớp di dân đầu tiên sẽ lập ra Hoa Kỳ là những người Anh cập bến ở Jamestown (thuộc tiểu bang Virgnia ngày nay) vào đầu Thế kỷ 17. Sau đó, nhiều đợt di dân khác đã phát triển và củng cố quốc gia. Họ trở thành công dân của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ qua ba điều kiện.

Một bậc quốc phụ thời ấy là Thomas Jefferson vạch ra hai điều kiện đầu tiên là 1/ phải học và dùng ngôn ngữ chung là Anh ngữ; và 2/ phải hiểu được và chấp nhận trật tự chung của cả tập thể. Điều kiện thứ ba là một thực tế kinh tế là di dân phải có cơ hội mưu sinh, là làm lại cuộc đời để sống trên đất mới.

Lời thơ của bà Emma Lazarus khắc dưới chân bức tượng Nữ thần Tự do nói về lý tưởng mà không là một cơ sở thực tế nếu di dân lầm than không có cơ hội sống trong quốc gia này. Muốn sống - kiếm ra việc và làm ra tiền - thì di dân phải biết Anh ngữ và chấp nhận luật pháp quốc gia, rồi dần dần hội nhập để trở thành công dân Hoa Kỳ.

Điều kiện thứ ba này – không do các nhà lập quốc Hoa Kỳ đặt ra – là vấn đề của Âu Châu ngày nay.

Khi di dân chối từ hội nhập, như không muốn học ngôn ngữ chính thức hoặc không chia sẻ các giá trị tinh thần của quốc gia tiếp cư, họ không thể trở thành công dân mà chỉ là “khách trú”, kẻ tạm cư vì lý do tiện ích hoặc an ninh. Nếu họ lại đả phá nền móng tinh thần hay pháp lý của quốc gia tiếp cư thì họ gặp phản ứng tinh thần của người dân sở tại. Người dân có quyền, thể hiện một cách dân chủ, là nêu vấn đề về loại “di dân khách trú” đó. Người Mỹ đầy từ tâm khó chấp nhận một nước Trung Hoa trong Hoa Kỳ và càng e ngại một xứ Mễ trong nước Mỹ!

Chúng ta đang có cuộc tranh luận về di dân nhưng hình như nhiều người lại hiểu sai thực tế.

Các xã hội Âu-Mỹ có một thành phần ưu tú vẫn đề cao lý tưởng đại đồng – thiên hạ một nhà – và chủ trương rộng rãi đón nhận di dân. Nếu nước Mỹ rộng lượng mở cửa cho 2% của những người nghèo nhất thế giới trong tinh thần của lời thơ Lazarus thì nên nhận thêm 140 triệu người nghèo đói của tứ phương, chưa kể các nạn dân của chiến tranh ở nhiều nơi khác?

Thành phần ưu tú đó – có học hay có tiền – thật ra không sống cùng di dân, trừ phi đấy là gia nhân!. Họ cũng chẳng trả giá cho lòng hảo tâm vì có nhiều cách lách thuế. Chính là dân nghèo tại Âu Châu và Hoa Kỳ mới tiếp cận với di dân và đụng vào thực tế phũ phàng, như cách sống, cách nói, cách hành xử khác biệt với nhiều tệ nạn xã hội phần ưu tú không thể gặp trong cái không gian kín cổng cao tường của đám quyền thế có tiền. Hãy lảng vảng vào thành đồng của giới ưu tú đó tại San Francisco thì biết!

Mà vấn đề không chỉ là cạnh tranh nghề nghiệp để kiếm sống.

Vấn đề là các giá trị truyền thống của Hòa Lan, Pháp, Đức, Mỹ lại không được nhiều di dân tôn trọng. Khi thành phần trung lưu thấp hoặc hạ lưu (theo định nghĩa kinh tế, là dân nghèo, chứ không theo định nghĩa luân lý) có phản ứng vì thiết tha với bản sắc quốc gia hay căn cước công dân của họ trước làn sóng di dân thì họ lại bị thành phần ưu tú đả kích là dốt nát, kém văn minh, thậm chí có tinh thần kỳ thị chủng tộc: Chủ nghĩa quốc gia dân tộc của dân nghèo chỉ là chủ nghĩa phát xít, nguyên nhân của chiến tranh tại Âu Châu!

Hóa ra truyền thông dòng chính phản ảnh quan điểm lý tưởng mà xa vời của thành phần ưu tú nên đang vô tình mở ra một cuộc… đấu tranh giai cấp!

Thành phần thấp kém ở dưới thấy số phận của họ không được sự đoái hoài của giới ưu tú có tiền, có quyền hay có học ở trên vì thành phần thượng lưu ấy sống trong môi trường khác nhờ tài sản, khả năng di động tự do và nhờ vào quan hệ mở rộng ra khỏi biên cương quốc gia. Giới thượng lưu là công dân quốc tế trong khi những dàn xếp quốc tế lại làm giới bần cùng thấy họ nghèo hơn xưa trong một nước mà kỷ cương quốc gia bị pha loãng, thậm chí bị phá hoại. Ngoài yếu tố kinh tế là nhiều người thấy bị nghèo đi vì trào lưu toàn cầu hóa, yếu tố văn hóa là bản sắc hay căn cước quốc gia bị đe dọa. Không muốn rơi vào cảnh vong căn thất cước thì họ mang tội là rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hoặc đề cao chủ nghĩa phát xít.

Bối cảnh ấy mới giải thích những hiện tượng đáng ngại trong các cuộc bầu cử vừa qua tại Âu Châu và Hoa Kỳ.

***

Tại Hòa Lan, sự kiện ứng cử viên Geert Wilders lại thất cử chỉ là bọt sóng ở ngọn.

Chìm sâu ở dưới là người gọi dân Maroc là heo và đòi đóng cửa các đền thờ Hồi giáo lại có quần chúng để về hai trong cuộc bầu cử dân chủ cho thấy một hiện tượng bất thường của xứ này. Và giới thượng lưu càng đả kích ông ta là phát xít hay kỳ thị, như một ấn bản dị hợm của Donald Trump tại Hoa Kỳ, lại càng tung thêm màn khói che phủ sự thật là có nhiều người Hòa Lan tử tế không thấy yên tâm về tương lai xứ sở.

Liên Âu muốn xóa bỏ ranh giới và bản sắc quốc gia nhưng nhập nhằng về một thực tại là có nhiều khác biệt giữa các quốc gia đã cấu thành cơ chế quốc tế này và trong khi cơ chế Liên Âu coi chủ nghĩa quốc gia là cái tội lại vẫn phải bám vào đó. Mâu thuẫn giữa chủ quyền quốc gia và ước vọng dân chủ của người dân trong các nước thành viên là một nhược điểm của Liên Âu.  Việc Geert Wilders vẫn hiện hữu cho thấy là cuộc bầu cử vừa qua chỉ là dấu mốc ở trên, chứ tâm lý quần chúng ở dưới vẫn có những hậu quả khác mà cái nón phát xít không che giấu nổi.

Bước qua Pháp có 60 triệu dân, tình hình còn nguy hơn vậy. Ra khỏi cái bóng phát xít của thân phụ là Jean-Marie Le Pen - tới độ trục xuất ông khỏi đảng Mặt Trận Quốc Gia - Marine Le Pen là một thực thể có dáng vẻ bình thường hơn mà còn đáng sợ hơn Geert Wilders của Hòa Lan.

Cuộc bầu tử Tổng thống Pháp sẽ qua hai vòng, ngày 23 Tháng Tư rồi ngày bảy Tháng Năm nếu không ai được đa số trên 50%. Hai ứng cử viên dẫn đầu ở vòng một sẽ tranh cử ở vòng hai và đấy là lúc người ta gom phiếu để đạt đa số. Từ cuộc trưng cầu dân ý về Brexit tại Anh vào năm ngoái tới cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ vào ngày tám Tháng 11, ta thấy đa số dự đoán đều trật lấc. Vì vậy, mình nên thận trọng khi muốn tiên báo việc này hay chuyện nọ.

Nhưng các cuộc khảo sát ý kiến tại Pháp đều cho thấy Marine Le Pen sẽ dẫn đầu ở vòng một. Như trước đây, qua vòng hai thì các chính đảng tả hữu đều tìm cách gom phiếu để Le Pen không thể là Tổng thống của nền Đệ ngũ Cộng hòa Pháp. Nhưng vì sao Marine Le Pen dẫn đầu? Nước Pháp hết người rồi sao?

Hãy nhìn vào chuyện ngắn rồi mới nói tới những chuyển động sâu xa hơn của cường quốc này.

Kinh tế Pháp đang lụn bại với thất nghiệp trung bình khoảng 10%, mức cao nhất từ 35 năm nay. Trong số thất nghiệp, tỷ lệ cao nhất, tới 25%, là giới trẻ dưới 24 tuổi. Tình trạng lầm than đó tập trung tại hai khu vực địa dư là miền Nam và vùng Đông Bắc. Đây là nơi Marine Le Pen được ủng hộ nhiều nhất và đảng của bà đã thắng trong các cuộc bầu cử địa phương trước đây. Miền Nam của Pháp cũng tựa miền Nam Âu Châu, vốn có cái nghiệp suy sụp từ lâu. Nhưng vùng Đông-Bắc từng là một trung tâm kỹ nghệ tiên tiến bây giờ lại sa sút làm cư dân thất vọng.

Nạn suy thoái kinh tế Pháp không chỉ kết tinh vào nạn thất nghiệp. Mô hình phát triển của Pháp đã đụng đỉnh và tốc độ tăng trưởng chỉ lập lờ ở mức 0,1% hay 0,2% như trong quý ba năm ngoái là mừng! Kinh tế Pháp lệ thuộc vào xuất cảng, tới 30% của Tổng sản lượng, hơn gấp đôi Hoa Kỳ, và ngoại thương sút giảm là kinh tế khó tăng trưởng. Marine Le Pen đã hốt phiếu của thành phần lao động xưa nay vẫn bỏ phiếu cho cánh tả ngay trong thành trì của các đảng Xã Hội và đám mây mù từ cực tả tới cộng sản.

Trong khi nước Pháp lụn bại như vậy thì quốc gia láng giềng là nước Đức tương đối vẫn xoay trở khả quan hơn và chính là vai trò trưởng tràng của Đức trong khuôn khổ Âu Châu và khối tiền tệ Euro mới là vấn đề khác khả dĩ giải thích vì sao Marine Le Pen lại dẫn đầu.

Xưa nay, Pháp từng là cường quốc Âu Châu, lại còn là ngọn hải đăng cho quốc tế với bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 (Déclaration des droits de l'homme et du citoyen) và dạy dỗ thế giới về ba lý tưởng Tự do, Công bằng và Bác ái. Nhưng sau khi lật đổ nền quân chủ và chặt đầu ông vua, Pháp thành lập Đế chế của Napoléon Bonaparte và gây chiến với cả Âu Châu lẫn Đế quốc Nga trong 10 năm từ 1804 tới 1814, rồi lụn bại dần trước trào lưu thống nhất và vững mạnh hơn của nước Đức.

Bị Đức khuất phục ba lần, vào các năm 1871, 1914 và 1939, Pháp chỉ còn là vang bóng thời xưa và trong 40 năm Chiến tranh lạnh liên kết với Đức để có tiếng nói cao hơn khả năng kinh tế, lại còn nhấp nhổm dựng ra tam giác Mỹ-Pháp-Nga để có ảo giác là cường quốc thế giới.

Khi Liên Xô tan rã và nước Đức tái thống nhất thì mâu thuẫn giữa thế và lực của Pháp đã hiện hình. Nhiều người Pháp có thể tự hỏi rằng nước Pháp là gì, có còn là một cường quốc như xưa không, mà tại sao không? Muốn chinh phục lại ưu thế cũ thì tính sao về nước Đức, về Liên Âu và đồng Euro như một bệ phóng của kinh tế Đức?

Đã vậy, từng là cường quốc thực dân, Pháp đón nhận dân Hồi giáo từ các nước Bắc Phi hay Phi Châu. Thành phần này hiện hữu từ lâu trong xã hội Pháp và không ít người lại chẳng hội nhập mà cư xử như “khách trú” trong nhiều khu vực riêng. Pháp có mật độ Hồi giáo cao nhất Âu Châu (7,5% tính tới năm 2010) mà không kiểm tra dân số nữa để chứng minh tính chất đại đồng, không phân biệt chủng tộc: đã sống trên đất Pháp thì là người Pháp!

Có hai thành phần không chấp nhận điều ấy: một số cư dân Hồi giáo và một số công dân Pháp. Cư dân Hồi giáo càng chống Pháp hay càng dung túng hoạt động khủng bố thì công dân Pháp càng khó chịu. Họ chống chánh sách xóa bỏ biên cương của Âu Châu trong Hiệp ước Schengen, đả kích chủ trương tiếp nhận di dân của Đức và ào ạt… bỏ phiếu cho Marine Le Pen.

Những chuyển động nói trên tại Anh, Pháp hay Hòa Lan không chỉ hạn chế vào kết quả bầu cử trong ngắn hạn. Dù không đắc cử, Geert Wilders hay Marine Le Pen vẫn là biểu tượng của cái gì đó sâu xa lâu dài hơn. Cái gì đó là sự tan rã của trật tự cũ. Sự hình thành của một trật tự mới có thể kéo dài cả chục năm, trên những mảnh vụn của Liên Âu và đồng Euro bị sứt mẻ. Còn lạnh mình hơn kịch bản Marine Le Pen là Tổng thống Pháp!