Thứ Tư, tháng 7 27, 2016

Là Ngoại Tệ Dự Trữ Thì Được Gì?

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160727
Diễn đàn Kinh tế 
 
Nên mong cho đồng Nguyên vào giỏ ngoại tệ dự trữ - rồi vào rọ!   
 
 
000_Hkg3595085-622.jpg
* Đồng đô la Mỹ và đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. AFP * 


Đầu Tháng Chín này, Trung Quốc sẽ chủ trì hội nghị cấp lãnh đạo của nhóm G-20 tổ chức tại thành phố Hàng Châu của tỉnh Chiết Giang. Đây cũng là lúc giới lãnh đạo Bắc Kinh ngợi ca việc đồng Nguyên của họ được đưa vào giỏ ngoại tệ dự trữ gọi là Quyền Trích Xuất Đặc Biệt SDR kể từ mùng một Tháng 10. Nhưng mặt trái của vị trí tôn quý ấy là gì?


Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, theo quyết định năm ngoái của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, với sự đồng ý của các nước thành viên, kể cả Hoa Kỳ và Tây phương, thì vào Tháng 10 tới đây, đồng bạc Trung Quốc được đưa vào giỏ ngoại tệ của bốn loại tiền thông dụng nhất thế giới là đồng Mỹ Kim, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng Yen Nhật. Chắc là tại thượng đỉnh của nhóm G-20 gồm hai chục nền kinh tế dẫn đầu thế giới, năm nay được tổ chức tại Hàng Châu vào đầu Tháng Chín, lãnh đạo Bắc Kinh sẽ chào đón biến cố ấy và nói đến sự đóng góp của Trung Quốc cho thịnh vượng và ổn định tài chính của thế giới. Nhưng sự thật của biến cố này là gì và phải chăng điều ấy báo hiệu việc đồng Nhân Dân Tệ hay đồng Nguyên của Trung Quốc sẽ thay vị trí đồng đô la Mỹ như Bắc Kinh mong muốn từ lâu?


Nếu họ muốn đồng bạc tổng hợp, rồi đồng Nguyên sẽ thay đô la Mỹ thì họ lầm to vì kinh tế Trung Quốc không chịu đựng nổi trách nhiệm nặng nề ấy của một ngoại tệ phổ biến nhất. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong vụ này, chúng ta có hai ba vấn đề cần phân tích vì lý do khá chuyên môn khó hiểu. Một ngoại tệ dự trữ, trước tiên phải là một đồng bạc được các nước sử dụng làm phương tiện thanh toán việc mua bán một cách phổ biến nhất; sau đó phải là loại tài sản đáng tin cậy để các nước lưu giữ trong khối dự trữ ngoại tệ của mình. Vì vậy, ngoại tệ ấy được dùng làm cơ sở so sánh trị giá của các đồng bạc khác, gọi là tỷ giá hay hối suất. Trong ý đó, sau Thế chiến II, Mỹ kim là ngoại tệ dự trữ phổ biến nhất từ 70 năm về trước, và ngày nay vẫn duy trì vị trí đó khi chiếm 64% khối dự trữ ngoại tệ của các nước trên thế giới, trước đồng Euro của Âu Châu, đồng Bảng Anh và đồng Yen Nhật.

- Thứ hai là sau vụ khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ năm 2008, các nước như Pháp, Đức, Nga, Tầu, hay cả Ấn Độ và Brazil tại Nam Mỹ, đều yêu cầu tăng cường vai trò của một ngoại tệ dự trữ khác để thay đồng Mỹ kim. Đó là một giỏ có nhiều ngoại tệ do Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF quy định, gọi là Quyền Trích Xuất Đặc Biệt, hay Quyền Đặc Trích, dịch từ Special Drawing Rights, viết tắt là SDR. Thứ ba, do sức mua bán phổ biến của nền kinh tế có sản lượng thứ nhì thế giới, Trung Quốc muốn đưa đồng Nguyên của họ vào giỏ ngoại tệ đặc biệt ấy và đã được IMF đồng ý từ năm ngoái. Nhưng nếu họ muốn đồng bạc tổng hợp này rồi đồng Nguyên của họ sẽ thay đô la Mỹ thì họ lầm to vì kinh tế Trung Quốc không chịu đựng nổi trách nhiệm nặng nề ấy của một ngoại tệ phổ biến nhất. Nhìn từ giác độ Việt Nam, tôi còn mong rằng họ sẽ đi tới đó và sớm gặp khủng hoảng của một con ếch mà muốn to bằng con bò!


Nguyên Lam: Thưa ông, ông vừa nói đến một khái niệm khá bất ngờ là “trách nhiệm nặng nề của một ngoại tệ dự trữ phổ biến nhất”. Điều ấy bất ngờ vì xưa nay người ta vẫn cho là nhờ vị trí ngoại tệ dự trữ phổ biến mà Hoa Kỳ chiếm ưu thế và gần như trục lợi trên lưng các nước khác. Rồi, với đà phát triển của mình, Trung Quốc cũng mong có ngày tiến lên vị trí ấy để có ưu thế như Hoa Kỳ. Bây giờ, ông lại nói là mong Trung Quốc lên tới đó và sớm gặp khủng hoảng! Ông giải thích thế nào về nghịch lý này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đây là một trong nhiều hiểu lầm phổ biến nhất của thiên hạ, kể cả các chuyên gia kinh tế ít quan tâm đến kế toán quốc gia. Người ta cứ cho rằng Mỹ chiếm lợi thế, thậm chí lợi thế bất chính, là nhờ vai trò ngoại tệ dự trữ của đồng Mỹ kim, nhưng chẳng biết là ưu thế ấy đem lại những trách nhiệm mà chỉ nền kinh tế và chính trị Hoa Kỳ mới chịu nổi.



000_Hkg3450821.jpg-305.jpg
Một nhân viên ngân hàng đang xếp tiền đô la Mỹ và đồng nhân dân tệ của Trung Quốc tại một ngân hàng ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc hôm 08/4/2010.



- Quả thật là từ mấy chục năm nay rồi, nhiều quốc gia ghen tức với thế lực Hoa Kỳ và nhiều nhà bình luận kinh tế cứ nói là nhờ vai trò dự trữ của Mỹ kim, nước Mỹ có thể tiêu thụ và vay mượn thả giàn vì các nước đều mua tiền Mỹ dưới dạng Công khố phiếu. Thứ hai, nhờ các nước mua công khố phiếu, hay phiếu quốc trái, hay trái phiếu của quốc gia, nên phân lời trái phiếu hạ làm lãi suất tại Mỹ giảm và điều ấy có lợi cho kinh tế Hoa Kỳ. Sự thật nó lại rắc rối gấp bội.

- Thứ nhất, do vị trí ưu đãi của đồng Mỹ kim, dân Mỹ phải tiêu nhiều hơn chứ chưa hẳn là được tiêu xài nhiều hơn như thiên hạ vẫn lầm tưởng; thứ hai, vì các nước phải mua Công khố phiếu Mỹ nên lãi suất mới giảm tại Hoa Kỳ một cách giả tạo. Nếu nhớ tới hai vế cung cầu về tư bản trong kế toán quốc gia thì ta biết là khi thiên hạ ào ạt mua Mỹ kim thì hối suất đô la sẽ tăng làm giới sản xuất bị bất lợi và thất nghiệp có thể tăng. Khi ấy, Mỹ phải ứng phó bằng cách tăng mức tín dụng tiêu thụ hay nâng số vay nợ của nhà nước, tức là chính sách kinh tế tài chính của quốc dân Hoa Kỳ bị xứ khác chi phối. Tôi gọi đó là gánh nặng.


Gánh nặng và trách nhiệm của đồng Mỹ kim

 

Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta có thể khó hiểu yếu tố chuyên môn phức tạp này, vì vậy, Nguyên Lam xin đề nghị ông giải thích thêm cho rõ. Có phải là việc Mỹ kim là ngoại tệ dự trữ phổ biến nhất khiến ngân hàng trung ương và giới hữu trách về kinh tế tài chính Hoa Kỳ phải đối phó với quyết định mua bán hay lưu giữ đồng đô la Mỹ của các nước khác chăng? Và nếu Trung Quốc tiến tới vị trí đó thì họ không thể xoay trở nổi với cái mặt trái của ưu thế tượng trưng này, thưa ông, có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước khi nói tới Trung Quốc thì hãy nghĩ đến hoàn cảnh Nhật Bản khi đồng Yen vọt lên giá vì biến động sau vụ Anh Quốc vừa quyết định ra khỏi Liên Âu vừa qua. Biến cố ấy gây bất lợi cho kinh tế Nhật chứ không làm dân Nhật vênh mặt như dân Tầu khi đồng tiền của họ được chiếu cố như một ngoại tệ mạnh. Sự thật thì vị trí ngoại tệ dự trữ trên trường quốc tế có mặt trái là khiến các nước khác chi phối số cầu nội địa và gây khó cho chính sách kinh tế bên trong. Thí dụ khác là năm 2011, Bắc Kinh ào ạt mua đồng Yen, và mặc nhiên hạ thấp vị trí của ngoại tệ phổ biến là Mỹ kim, thì Nhật phản đối dữ dội và ráo riết mua đô la để trung hòa sự chiếu cố của Tầu, tức là nhường lại cho Mỹ cái ưu thế bất chính mà Trung Quốc và nhiều nước khác vẫn đả kích! Lý do chuyên môn rất khó hiểu ở đây là kế toán quốc gia.


Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất có khả năng tiếp nhận tư bản nước ngoài ào ạt đổ vào hay rút ra, tức là chịu nổi gánh nặng hay trách nhiệm của đồng Mỹ kim là ngoại tệ phổ biến nhất. Trung Quốc thì còn lâu!  Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Theo định nghĩa kế toán thì cán cân vãng lai hoặc cán cân chi phó là kết số chi thu ngoại tệ, nó cũng là sai biệt giữa tiết kiệm và đầu tư. Nếu tiết kiệm nhiều hơn đầu tư thì cán cân vãng lai được thặng dư. Khi Tầu mua tiền Nhật và trả bằng đồng Nguyên thì điều ấy có nghĩa là tư bản Tầu trút vào Nhật. Nếu Nhật Bản tiết kiệm ít và thiếu tiền đầu tư ở bên trong thì sẽ hoan hỉ đón nguồn tư bản ngoại nhập ấy, nhưng họ không cần và nếu Tầu ào ạt mua tiền Nhật thì tất nhiên tiết kiệm của Nhật phải giảm cùng mức độ của thặng dư vãng lai. Khi đó tiêu thụ của Nhật sẽ tăng cùng mức độ với số nợ ngoại quốc, là điều Nhật Bản không thể chịu nổi. Và khi đó thất nghiệp tại Nhật sẽ tăng là điều còn khó chịu đựng hơn nữa. Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất có khả năng tiếp nhận tư bản nước ngoài ào ạt đổ vào hay rút ra, tức là chịu nổi gánh nặng hay trách nhiệm của đồng Mỹ kim là ngoại tệ phổ biến nhất. Trung Quốc thì còn lâu!


Nguyên Lam: Cho tới nay, hầu hết mọi người đều nói là nhờ vị trí của Mỹ kim mà dân Mỹ mặc sức tiêu thụ với lãi suất hạ và điều ấy khiến nước Mỹ mắc nợ nhiều hơn, tiết kiệm ít hơn và bị nhập siêu quá nặng, tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Đã vậy, Hoa Kỳ còn chiếm ngôi bá chủ kinh tế nhờ ưu thế của đồng bạc do họ tự nhiên phát hành trong khi các nước có thể bị điêu đứng vì dòng tư bản chảy vào hay rút ra trong các giai đoạn bất ổn. Thưa ông, sự thật lại không phải như vậy hay sao? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đến thành ngữ Trung Hoa là “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”! Trung Quốc chưa đi tới chỗ ấy nên mới mơ chuyện hão…

- Người ta lầm tưởng là các nền kinh tế đều cần đầu tư nước ngoài vì tư bản đưa vào sẽ tài trợ yêu cầu phát triển của mình. Thật ra, đầu tư nước ngoài chỉ có lợi cho quốc gia tiếp nhận nếu là kỹ thuật hay kiến năng mới về tổ chức và kinh doanh và nếu kinh tế không tiết kiệm đủ cho nhu cầu về đầu tư. Sự thật thì Hoa Kỳ là xứ tiên tiến về công nghệ và nếu tiết kiệm giảm thì tại vì đầu tư ngoại nhập khi thiên hạ mua tiền của Mỹ về làm ngoại tệ dự trữ. Người ta ít hiểu ra nghịch lý ấy vì thuần về kế toán hay tính toán sổ sách, nếu đầu tư quốc ngoại chảy vào Mỹ, cũng tựa như các nước xuất khẩu tư bản vào thị trường Hoa Kỳ, sai số hay thặng dư về đầu tư so với tiết kiệm tại Mỹ tất nhiên bằng với số thặng dư về tiết kiệm trên đầu tư của xứ khác. Vì chuyện này khó hiểu, người ta mới oán nước Mỹ là trục lợi bất chính. Trong khi đó, chính là tư bản ngoại quốc chảy vào Mỹ góp phần thổi lên sự phồn vinh trong các năm 2002-2007 khi giá cổ phiếu và nhà cửa tăng vọt. Khi ấy ai cũng ca tụng khả năng tiêu thụ và công ăn việc làm được tạo ra trong mấy năm thịnh đạt. Thế rồi khi bùng nổ vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, sức tiêu thụ sa sút và thất nghiệp tăng đã dẫn tới nạn Tổng suy trầm. So với ngần ấy quốc gia bị lao đao từ 2010 đến nay thì Hoa Kỳ vẫn phục hồi mau nhất và nếu muốn tránh sự dao động ghê gớm ấy thì nước Mỹ nên áp dụng chế độ kiểm soát tư bản, là từ bỏ vị trí ngoại tệ dự trữ của đồng đô la. Hoa Kỳ không làm như vậy và vẫn cáng đáng vai trò này trong khi Trung Quốc thì chưa thể đảm nhận nổi và sẽ loạn to nếu cũng xả cảng cho tư bản tự do chảy ngược xuôi.


Nguyên Lam: Như vậy, một cách cụ thể, thì sau khi đồng Nguyên được nhận vào rổ Đặc Trích SDR từ đầu Tháng 10, thưa ông, những gì có thể xảy ra? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là chẳng có gì cả ngoài cái danh hão mà lãnh đạo Bắc Kinh mua về cho thần dân u mê của họ! Đồng ngoại tệ tổng hợp SDR có năm ngoại tệ, theo tỷ trọng do IMF quy định kể từ Tháng 10 này là 41,37% cho Mỹ kim, 30,93% cho Euro, 10,92% cho đồng Nguyên, 8,33% cho đồng Yen Nhật, và 8,09% cho đồng Anh kim. Nếu ngân hàng trung ương nào mua trái phiếu yết giá bằng đồng SDR giả tạo đó thì Quỹ IMF có thể đóng chốt bằng cách mua vào năm ngoại tế ấy với cùng tỷ lệ thì sự thể chung cuộc lại chẳng có gì khác. Nếu Bắc Kinh muốn đồng Nguyên có thế giá hơn thì có thể mua đồng bạc này, hoặc nếu họ muốn đánh hạ vai trò của đô la Mỹ như họ vẫn nói thì mua các ngoại tệ kia nhiều hơn tỷ trọng ấy. 

- Điều này chẳng bao giờ xảy ra và cho tới nay, chính Bắc Kinh cứ mua tiền Mỹ và củng cố vai trò của đô la vì nếu không xuất khẩu tư bản vào Mỹ thì sẽ bị thất nghiệp và bị còn nặng hơn nếu đồng Nguyên được chiếu cố! Vì vậy, những ai ngợi ca phép lạ kinh tế Trung Quốc, kể cả giới tuyên truyền của Bắc Kinh, cứ chỉ nói cho vui, chứ ngày nào mà Trung Quốc mon men đưa đồng bạc vào cấp quý tộc thì ngày đó họ bị thất nghiệp cao và gặp động loạn kinh tế tài chính lẫn chính trị!

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích này.


Thứ Ba, tháng 7 26, 2016

Nền Kinh Tế Quỷ Nhập Tràng



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày160725
"Kinh Tế cũng là Chính Trị"

Dân Chủ Hoa Kỳ và Đảng Trị Trung Quốc   


* Đầu tư vào Trung Quốc là... giỡn với tử thần! *



Sau một Đại hội Cộng Hòa kỳ diệu là tránh được trận nội chiến giữa các đại biểu ngay trên sàn Cleveland, Đại hội Dân Chủ tại Philadelphia lại phơi bày nhiều rạn nứt: Chủ tịch đảng là Debbie Wasserman Schultz phải từ chức trước khi gõ búa khai mạc đại hội vì tội dùng bộ máy đảng ngầm ngầm ủng hộ Hillary Clinton. Người sẽ tạm xử lý là Donna Brazile cũng chẳng khá hơn vì có cùng một tội!

Nhìn từ bên ngoài, kẻ nhẹ dạ có thể ngao ngán với nền dân chủ bát nháo này và thầm mơ một sự “nhất trí” giữa các lãnh tụ - như tại Trung Quốc!

Đúng là nhẹ dạ…. Mục “kinh tế cũng là chính trị” kỳ này xin nói về chuyện nhất trí và sự nhẹ dạ đó.

Về Hoa Kỳ, chi tiết đáng chú ý là cả hai ứng cử viên tổng thống, bên Dân Chủ và Cộng Hòa, đều chọn người đứng phó có khả năng bổ sung cho mình. Donald Trump đã chọn Thống đốc Indiana là Mike Pence vì ông này có lập trường bảo thủ rõ rệt, dù xuất thân từ phong trào Tea Party lại khá điềm đạm, chứ không lang ba vi bộ từ tả qua hữu hoặc bay lên trời, như người thụ ủy liên danh Trump-Pence. Hillary Clinton cũng vậy, đã chọn Nghị sĩ Tim Kaine của Virginia không chỉ vì vị trí bản lề của tiểu bang này mà còn vì lập trường ôn hòa của ông, xin hiểu là trung dung hay trung tả, chứ không cực tả như người thụ ủy liên danh Clinton-Kaine vì bà phải vượt qua hàng rào cực tả của Nghị sĩ Bernie Sanders trước khi được đảng Dân Chủ tấn phong.

Cả hai đều vớt cá hai tay - vì cần lá phiếu cử tri. Dân chủ là vậy, là phải biết xin và đếm phiếu. Vì thế, cả hai đều có thể thoải mái với mâu thuẫn lập trường ở bên trong. Như về kinh tế, cả hai ứng cử viên Phó Tổng thống đều kín đáo ủng hộ tự do mậu dịch, khác với lập trường nghi ngại của hai người cầm đầu liên danh.

Bây giờ, hãy nhìn qua Trung Quốc, nơi mà sự nhất trí – chữ của người Hà Nội – được định chế hóa như một chân lý chắc nịch.

***

Nếu không quá bận theo dõi cuộc tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ, ngay từ Tháng Năm, ta đã thấy mâu thuẫn giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng lý Quốc vụ viện Lý Khắc Cường, hai nhân vật đứng hàng thứ nhất và thứ nhì của Thường vụ Bộ Chính Trị gồm có bảy mạng.

Khác Hoa Kỳ là nơi mọi chuyện đều được phơi bày, mọi chuyện tại Trung Quốc chỉ được thấy hoặc được phỏng đoán qua bức màn khói, màn tre hay màn sắt. Người trong cuộc mà đoán sai là mất nghiệp!

Từ ngày chín Tháng Năm, tờ Nhân Dân Nhật Báo của Bắc Kinh có bài tiểu luận trích dẫn một “viên chức có thẩm quyền”, với nội dung đả kích chánh sách kinh tế của người có trách nhiệm chính thức là Thủ tướng Lý Khắc Cường. Ai là kẻ có gan nuốt búa mà đòi phê phán nhân vật thứ hai của đảng?

Còn ai trồng khoai đất này? – Chính là Tập Cận Bình, người đang thâu tóm quyền lực vào trong tay, của hầu hết mọi khu vực quân sự, an ninh lẫn kinh tế và chỉ huy các Tiểu tổ Lãnh đạo về lý luận để toàn đảng và toàn dân cùng nhất trí mà nhìn chung một hướng. Vì vậy nhiều nhà quan sát mới nói tới nạn thanh trừng chính trị và tranh đoạt quyền lực trên thượng tầng của đảng.

Nó âm u mờ ám chứ không om xòm công khai như các đại hội đảng tại Hoa Kỳ!

Sau đó, hôm mùng bốn vừa qua, trong một kỳ họp của Quốc Vụ Viện là Hội đồng Chính phủ, người ta lại thấy mâu thuẫn Tập-Lý về vai trò của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Trong khi Lý Khắc Cường nêu ý kiến về việc chuyển hướng kinh tế theo quy luật thị trường và cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước cho tinh giản thì Tập Cận Bình lại khẳng định vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp này, như những mũi nhọn cho nền kinh tế Trung Quốc.

Khác biệt quan điểm chấm dứt vào ngày 21 vừa qua vì Lý Khắc Cường phải cúi đầu ngợi ca chủ trương kinh tế của Tập Cận Bình. Ít ai bên Mỹ này chú ý chuyện đó vì đảng Cộng Hòa vừa hoàn tất Đại hội tại Cleveland.

Chuyện đáng nói hơn những mâu thuẫn chính trị của lãnh đạo Bắc Kinh ở bên trên là thực tế kinh tế ở bên dưới: tình hình trầm trọng tới mức nào? Có nguy kịch như lời cảnh báo của Donald Trump về nước Mỹ không?

Trung Quốc đang bị nguy cơ suy trầm vì sự sa sút của thị trường bất động sản qua các thống kê của Tháng Năm và Tháng Sáu. Kèm theo đó là nạn bội chi ngân sách và nguy cơ vỡ nợ của các địa phương vì đi vay quá nhiều để đầu tư vào các dự án kém hiệu năng từ gia cư tới xây dựng hạ tầng và sản xuất nguyên nhiên vật liệu như xi măng, than thép. Vấn đề thứ ba là gánh nợ quá lớn, từ tín dụng ngân hàng đến trái phiếu, đã vượt Hoa Kỳ trước khi nước Mỹ bị khủng hoảng tài chánh năm 2008.

Mọi chuyện ấy kết tinh vào doanh nghiệp nhà nước mà Tập Cận Bình muốn củng cố thành mũi nhọn, hay nói theo người Hà Nội là “quả đấm thép”! Nói theo giới đầu tư quốc tế, đấy là các doanh nghiệp quỷ nhập tràng, zombie companies. Những xác chết chưa chôn mà cứ bay nhẩy như ma trơi.


***

Vài con số sau đây có thể minh diễn sự lạ đó, để khói mang tiếng xuyên tạc!

Tổng số nợ của Trung Quốc ở khoảng 247% hay 282% Tổng sản lượng GDP. Hãy lấy con số nhỏ của Moody’s Investors Service tính tới cuối năm cho khỏi nhức tim; con số kinh hãi kia là của McKinsey Global Institute công bố từ đầu năm ngoái và nay chắc còn cao hơn nữa.

Tính đến cuối năm 2015 thì tổng số nợ của các doanh nghiệp lên tới 165% GDP, của các hộ gia đình là 40% và của chính quyền trung ương là 22%. Của các chính quyền địa phương là bao nhiêu thì không ai biết, kể cả chính quyền trung ương lẫn các “viên chức có thẩm quyền”.

Bây giờ, nói về các doanh nghiệp mắc nợ tới 165% GDP thì ta có tư doanh và quốc doanh.

Theo cách tính của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF thì hệ thống quốc doanh Trung Quốc có sản lượng là 22% GDP mà lại có dư nợ bằng 55%. Sai biệt giữa xuất lượng là 22% và nhập lượng là khối nợ cao tới 55% giải thích hiện tượng quỷ nhập tràng. Đấy là những xác chết chưa chôn mà cứ bay nhảy như chơi vì nằm trong hệ thống chính trị, do các đảng viên của trung ương và địa phương quản lý nhằm thực hiện chánh sách kinh tế của đảng và nhà nước. Chánh sách này là do chính Tập Cận Bình đề ra sau khi đẩy Lý Khắc Cường qua một bên.

Bây giờ, gom ba chuyện gia cư, ngân sách và nợ nần làm một thì ta hiểu ra thế nào là ôm một mối mơ.

Hiện tượng xác chết chưa chôn trên doanh trường Trung Quốc đã có từ năm năm trước, từ 2011. Nhưng ai dám chôn cất các doanh nghiệp có chức năng đầu tư và tạo ra công ăn việc làm, như đầu tư vào công nghiệp nặng và tạo ra việc làm trong ngành xây dựng và gia cư? Khi thị trường gia cư bể bóng từ Tháng Ba năm 2014 thì tình hình sa sút khiến nhiều doanh nghiệp nhà nước chết lâm sàng, nhất là tại các địa phương. Rồi tín dụng được bơm vào để xác chết đứng dậy. Vì vậy, ta mới thấy kinh tế vẫn tăng trưởng và sản xuất thừa thì vẫn kể là sản xuất, thừa thì phá giá để xuất cảng làm thiên hạ kêu trời.

Nhưng còn các khoản nợ kia thì sao? Thủ thuật kế toán là đổi nợ thành vốn, quyết định do Quốc Vụ Viện Bắc Kinh công bố hôm 18 vừa qua. Đa số chủ nợ là các ngân hàng của nhà nước, từ nay làm chủ đầu tư của các doanh nghiệp quỷ nhập tràng cũng của nhà nước. Đấy là sự nhất trí tuyệt vời của đảng với nhà nước Trung Quốc. Tiếp tục bơm tiền để nuôi xác chết.

Nhưng ở ngoài bãi tha ma kinh tế đó vẫn còn các doanh nghiệp của tư nhân. Họ thấu hiểu kinh tế thị trường theo định hướng của đảng và nhà nước, nên lặng thinh nín thở qua sông, đầu tư ít đi và nếu có tiền thì giấu nhẹm. Hoặc tẩu tán ra ngòai. Vì tư doanh giấu nhẹm, kinh tế Trung Quốc rơi vào cái bẫy xập của thanh khoản: tiền bơm ra để kích thích kinh tế mà chẳng nâng được sản lượng. Đây là kết luận mới nhất của một viên chức thuộc Ngân hàng Trung ương.

Diễn nôm là nhà nước Bắc Kinh đang… đẩy sợi dây.

Thành thử cuộc tranh luận về chánh sách hay tranh đoạt quyền bính chính trị tại Bắc Kinh không đơn giản là màn đấu lực giữa hai họ Tập-Lý. Nó là sự nhất trí giữa ngần ấy phe là làm sao bảo vệ được nguyên trạng kỳ quái này, để may ra còn có thể cải cách sau Đại hội Khóa 19 vào cuối năm tới.

Vì kinh tế cũng là chính trị, ta thấy nền dân chủ bát nháo của Hoa Kỳ vẫn có nét dễ thương, chứ không là chuyện tà ma như tại Trung Quốc! 


Chủ Nhật, tháng 7 24, 2016

Triệu Chứng Suy Trầm tại Trung Quốc

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA ngày 160720
"Diễn đàn Kinh tế"
 
Gia cư suy sụp, ngân sách thiếu hụt và thất nghiệp tăng... 
 
 
000_D91KD-622.jpg
* Ảnh minh họa chụp tại Pudong, Thượng Hải hôm 15/7/2016. AFP*
 
 


Sau hai năm sa sút liên tục, thị trường gia cư Trung Quốc có dấu hiệu khởi sắc từ đầu năm nay và đem lại hy vọng hồi phục cho nền kinh tế đứng hạng nhì thế giới. Nhưng thống kê vừa được công bố hôm Thứ Hai 18 lại cho thấy một viễn ảnh ảm đạm và nếu thị trường nhà cửa lại suy giảm, tình hình kinh tế và chính trị Trung Quốc sẽ gặp vấn đề nghiêm trọng.

Bất lợi về xã hội lẫn chính trị

 

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong hai tháng liền, thị trường gia cư Trung Quốc đã lại gây quan ngại cho các thị trường tài chính quốc tế vì giá nhà đất tại đây có chỉ dấu gia tăng chậm hơn. Người ta biết kinh tế Trung Quốc lệ thuộc mạnh vào sức đầu tư và gia cư địa ốc là khu vực chiến lược vì kéo theo ngành xây dựng và là một nguồn thu ngân sách cho các tỉnh. Nếu thị trường gia cư lại bị đình đọng thì đấy có phải là một dấu hiệu suy trầm hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng trong hoàn cảnh đầy bất trắc của kinh tế thế giới, tình hình kinh tế Trung Quốc đặc biệt được thế giới quan tâm vì có ảnh hưởng đến các nền kinh tế khác. Sau hai năm liền suy sụp, từ đầu năm nay, tình hình gia cư nhìn qua giá nhà đất tại nhiều tỉnh và thành phố Trung Quốc đã có vẻ khả quan hơn. Thế rồi, sau thống kê tháng Năm, các số liệu của tháng Sáu vừa được công bố hôm thứ Hai 18 lại khiến người ta lo ngại vì sức tăng đã giảm mạnh. Chúng ta rất nên tìm hiểu chuyện này vì quả thật là kinh tế Trung Quốc có thêm một dấu hiệu suy trầm nữa và vì khu vực gia cư địa ốc còn ảnh hưởng đến ngân sách các tỉnh.

Nếu dấu hiệu kém khả quan của hai tháng vừa qua lại tiếp tục trong hai quý tới thì kinh tế Trung Quốc sẽ đi vào suy trầm với hậu quả vô cùng bất lợi về xã hội lẫn chính trị. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Về bối cảnh thì từ đầu năm nay, giá nhà đất và số nhà bán tại các thành phố thuộc hạng nhất, hạnh nhì và thậm chí hạng ba đều tăng. Chiều hướng tốt đẹp ấy đem lại hy vọng sau khi thị trường cổ phiếu xứ này tăng vọt rồi sụp đổ vào năm ngoái. Sự sụp đổ ấy phản ảnh nỗi lo của giới đầu tư Trung Quốc sau khi thị trường nhà cửa xứ này bắt đầu giảm sút từ Tháng Ba năm 2014. Nếu dấu hiệu kém khả quan của hai tháng vừa qua lại tiếp tục trong hai quý tới thì kinh tế Trung Quốc sẽ đi vào suy trầm với hậu quả vô cùng bất lợi về xã hội lẫn chính trị.


Nguyên Lam: Như vậy, chúng ta sẽ đi từ đầu, từ vai trò của thị trường gia cư địa ốc cho đà tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Kinh tế của Trung Quốc vẫn lệ thuộc mạnh vào đầu tư  vì lên tới 44% của Tổng sản lượng. Câu hỏi ở đây là nguồn đầu tư ấy đến từ đâu? Trên toàn quốc, đa số đầu tư là từ các chính quyền địa phương, thí dụ như trong năm tháng đầu năm nay, đầu tư của các tỉnh chiếm tới 96% của tổng số đầu tư cố định của Trung Quốc. Mặt khác, số thu về ngân sách của các tỉnh lại chiếm có 50% do chính sách phân bố tài chính công của lãnh đạo Bắc Kinh từ hai chục năm trước. 

- Vì vậy, các tỉnh phải tìm ra nguồn thu phụ trội để tài trợ yêu cầu đầu tư và đấy là bài toán chính trị xã hội vì đầu tư là để tạo ra công ăn việc làm và tránh nạn thất nghiệp. Ở vào hoàn cảnh chi thu khá eo hẹp ấy, chính quyền các tỉnh có giải pháp là khai thác quyền sử dụng đất, nôm na là bán đất do địa phương được quyền quản lý. Từ hai chục năm nay, các tỉnh xoay trở như vậy và ngày càng lệ thuộc vào thị trường gia cư địa ốc, tức là vào giá nhà. Ngoài lý do ngân sách, các tỉnh còn cần tới khu vực gia cư này vì kéo theo ngành xây dựng, thu hút nhân công và, đáng kể không kém, là đem lại mối lợi riêng cho đảng viên cán bộ khi bán tài sản công quyền là đất đai.

 

Tình trạng nợ nần đáng ngại


Nguyên Lam: Thưa ông, đấy là bức tranh toàn cảnh có thể giải thích những động lực kinh tế của các tỉnh thành ở địa phương. Nhưng lãnh thổ Trung Quốc có rất nhiều khác biệt nên phải chăng tình hình mỗi nơi lại mỗi khác?   


000_CC2K9-400.jpg
Ảnh minh họa chụp tại một Trung tâm giao dịch chứng khoán ở Thượng Hải hôm 24/6/2016. AFP PHOTO.


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung về ngân sách công quyền thì bình quân các tỉnh thu được 57% số tổng chi nhờ thuế khóa và các nguồn lợi khác, như bán đất. Nhưng quả thật là tình hình mỗi nơi lại có dị biệt. Thí dụ là các thành phố thuộc hạng nhất như Thượng Hải, Bắc Kinh hay Thiên Tân thì thu được từ 80 đến 90% số tổng chi nên chỉ thiếu hụt chừng 10%-20%. Tại thành phố Thẩm Quyến và Quảng Châu ở miền Nam cũng thế. Nhưng tại nhiều địa phương khác ở bên trong, như Ninh Hạ, Thanh Hải, Cam Túc, Vân Nam hay Quý Châu, kể cả thành phố Trùng Khánh của tỉnh Tứ Xuyên, thì sự thể lại không được tốt đẹp như vậy. Thậm chí, các tỉnh thành thuộc vào hạng ba chỉ thu được chừng mươi phần trăm cho các mục chi của địa phương và ở vào hoàn cảnh nguy ngập khi thị trường gia cư suy sụp vì thu vào còn ít hơn nữa như đã thấy từ năm 2014. 

- Cho nên, ngoài nạn suy trầm sản xuất và rủi ro thất nghiệp, khi thị trường gia cư suy sụp thì ngân sách địa phương càng bị bội chi nặng vì chi nhiều hơn thu, đó là hoàn cảnh của các tỉnh chúng ta vừa nhắc đến và cả Tứ Xuyên, Thiểm Tây hay Hồ Nam, với tình trạng nợ nần đáng ngại của chính quyền lẫn các doanh nghiệp địa phương.


Nguyên Lam: Cám ơn ông đã trình này cho cái chuỗi tương quan giữa thị trường gia cư và ngân sách các tỉnh. Nếu quý thính giả của chúng ta hiểu ra thì hình như là nhiều tỉnh bị bội chi ngân sách từ tình trạng suy sụp của thị trường gia cư và nếu hiện tượng suy thoái này tái diễn trong năm nay thì tình hình sẽ còn nguy ngập hơn nữa, thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng sự thể lại còn đáng ngại hơn vậy. Để dễ nhớ thì với số bình quân là 57%, ta cứ tạm cho rằng nguồn thu ngân sách của các tỉnh chỉ bằng phân nửa nhu cầu chi tiêu và nhiều địa phương bị mắc nợ. Bây giờ, nếu thị trường gia cư lại sa sút nữa và giá nhà còn giảm thì giới đầu tư và các doanh nghiệp sẽ rút tiền khỏi những nơi bất lợi đó mà trút vào các thành phố tương đối có hy vọng tốt đẹp hơn theo kiểu nước chảy chỗ trũng. Một thí dụ dễ hiểu là họ triệt thoải khỏi các thành phố nghèo để dồn tiền vào Trùng Khánh hay Thành Đô của Tứ Xuyên hầu tìm mức lời cao hơn, hoặc ít ra là an toàn hơn. Đâm ra nạn suy trầm sẽ càng đào sâu dị biệt giữa các tỉnh và các địa phương nghèo lại càng nghèo hơn và không có hạ tầng hành chính để thu được thuế và vận dụng được các ngân khoản yểm trợ từ trung ương. Từ đấy họ càng lo ngại tình trạng động loạn xã hội khi thất nghiệp tăng.


Ngoài nạn suy trầm sản xuất và rủi ro thất nghiệp, khi thị trường gia cư suy sụp thì ngân sách địa phương càng bị bội chi nặng vì chi nhiều hơn thu. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Vì vậy, khi có tin là giá nhà bình quân chỉ tăng có 0,8% trong tháng Sáu so với 0,9% trong tháng Năm, ta nên nhớ tới hoàn cảnh nguy ngập của những tỉnh nghèo nhất nếu kinh tế toàn quốc lại bị suy trầm nữa. Chúng ta sẽ không đi vào chi tiết của tổng cộng 70 thành phố lớn nhỏ của Trung Quốc, với các thành phố sung túc ở miền Đông hay Đông Nam, mà chỉ nên nhớ trên toàn cảnh là nhiều địa phương mắc nợ sẽ tụt hậu còn nhanh hơn khi kinh tế suy trầm và đấy là một vấn đề nghiêm trọng về cơ cấu với hậu quả đáng ngại về chính trị. Trong khi đó, giá nhà tại các tỉnh phồn vinh nhất vẫn tăng vọt và vượt khỏi sức mua của nhiều người ở tại đây.

Nguyên Lam: Bây giờ, Nguyên Lam xin đề cập tới chuyện mà thính giả của chúng ta đặc biệt quan tâm là hậu quả của phán quyết do Tòa án Trọng tài Thường trực vừa công bố tuần trước. Người ta thấy là trong khi Bắc Kinh tuyệt đối phủ nhận giá trị của phán quyết này thì tình hình kinh tế bên trong Trung Quốc lại chẳng mấy lạc quan với nhiều hậu quả bất lợi về xã hội. Ông có ý kiến ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh có thể xoay ngược mà giải thích thất bại về ngoại giao và pháp lý như một thắng lợi chính trị vì làm cho người dân suy diễn rằng cả thế giới đang toa rập với nhau để gây khó cho Trung Quốc nên đảng Cộng sản phải bảo vệ họ. Đấy là lý luận tuyên truyển dễ hiểu để diễn giải sự thật một cách thiên lệch.

- Sự thật thì Bắc Kinh đã sai lầm mà coi thường thế giới lẫn các định chế quốc tế nên bị thất bại về ngoại giao. Họ có thể bất chấp quan điểm của quốc tế nhưng từ nay sẽ khó hành xử hơn khi đòi khai thác quyền lợi kinh tế trên một khu vực được quốc tế và các nước lân bang cho là hoàn toàn phi pháp. Nói vắn tắt thì cả vùng quần đảo Hoàng Sa lẫn Trường Sa đều không có cơ sở địa chất lẫn lịch sử để là vùng độc quyền kinh tế của Trung Quốc. Từ nay, khi bước ra đánh cá hoặc khoan dầu mà bị trở ngại thì Bắc Kinh cũng khó ăn khó nói, và càng có quyết định hung bạo về quân sự thì càng bị thế giới lên án. Đúng vào giai đoạn ấy, kinh tế mà suy trầm nặng hơn thì tác dụng tuyên truyền hay xuyên tạc của chế độ cũng bị giới hạn vì người dân ưu tiên lo chuyện cơm áo ở nhà hơn là cái danh hão của đảng với quốc tế.

Nguyên Lam: Câu hỏi cuối thưa ông, sau phán quyết vừa qua của Tòa án Trọng tài Thường trực thì Việt Nam nên làm gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng có nhiều vị thức giả đã trình bày quan điểm chuyên môn về chuyện này. Bản thân tôi thì trộm nghĩ rằng phán quyết đó có hai mặt lợi và hại cho Việt Nam. Nói vắn tắt là lợi ở Hoàng Sa khi đối diện với Trung Quốc trong việc tranh chấp chủ quyền và quyền lợi kinh tế, và hại ở Trường Sa trong quan hệ với Philippines vì tranh chấp trên các cụm đá nổi mà Việt Nam và Philippines đều đòi làm chủ. So sánh thì lợi nhiều hơn hại và việc dàn xếp với Philippines có tính khả thể cao hơn và còn đem lại chính nghĩa cho quan điểm của Việt Nam nếu muốn dàn xếp. Ngược lại, việc dàn xếp với Bắc Kinh tất nhiên là khó hơn.

- Khó nhất chính là lập trường của lãnh đạo Hà Nội mà người dân cho là có sự khiếp nhược hay thậm chí toa rập với Bắc Kinh. Lãnh đạo xứ này đã tự cô lập với quần chúng và với quốc tế khi tránh lấy hành động cần thiết. Họ có thể thận trọng để cân nhắc nhưng ít ra phải cho người dân thấy rằng ưu tiên của họ là quyền lợi của quốc gia hơn là mối giao hảo thiếu cân đối và đầy bất lợi với Bắc Kinh. Nếu thật sự chế độ muốn tồn tại thì trong khi còn đang cân nhắc lợi hại để có hành động thích đáng với Bắc Kinh, Hà Nội vẫn cần nương vào quan điểm của quốc tế để tạo thế mạnh trong việc đối thoại với Bắc Kinh và lấy ngay quyết định về việc khai thác thủy sản trong vùng tranh chấp để bảo vệ tính mạng và tài sản các ngư phủ Việt Nam.


Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này. 


Thứ Ba, tháng 7 19, 2016

Cái Bẫy của Quy Chế Kinh Tế Thị Trường

Cái bẫy của quy chế kinh tế thị trường
* Thủ tướng Trung Quốc tại thượng đỉnh Á -Âu, ASEM, Mông Cổ, ngày 15/07/2016. Reuters * 



Trung Quốc đã thất vọng vì vào giữa tháng 5/2016 Nghị Viện Châu Âu từ chối công nhận là một nền kinh tế thị trường. Quy chế đó là gì và có thực đấy là chìa khóa mở rộng thêm cửa cho hàng «Made in China » vào châu Âu hay không? Với Hoa Kỳ quy chế kinh tế thị trường là một công cụ tinh vi để vẫn có thể trừng phạt một đối tác áp dụng chính sách trợ giá.


Sau 15 năm gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, hy vọng được công nhận là «một nền kinh tế thị trường» của Bắc Kinh lại tiêu tan. Ngày 12/05/2016 với 546 phiếu thuận, Nghị Viện Châu Âu đã từ chối cấp cho Trung Quốc «thẻ thông hành» quý giá này để hàng của Trung Quốc dễ du nhập hơn nữa vào thị trường chung của 28 thành viên trong Liên Hiệp.

Theo quan điểm của Bruxelles, Bắc Kinh chưa hội tụ đủ năm điều kiện để được cấp quy chế kinh tế thị trường. Năm thiếu sót đó là : thứ nhất Nhà nước Trung Quốc còn trực tiếp can thiệp vào các hoạt động của nền kinh tế nước này. Thứ hai là khả năng sản xuất dư thừa quá lớn của Trung Quốc, thí dụ như là trong lĩnh vực công nghiệp luyện kim.



 
Thủ tướng TQ (giữa) tiếp lãnh đạo Liên Hiệp Châu Âu tại Bắc Kinh. Ảnh tháng 7/2016.Reuters



Châu Âu xem đây là mối đe dọa nhắm vào nhiều hoạt động kinh tế của châu lục này. Kèm theo đó là những tác động tai hại về mặt xã hội và đối với thị trường lao động trong lúc bản thân 28 nước thành viên đang phải đối mặt với nhiều thách thức, từ tiến trình phi công nghiệp hóa đến nạn thất nghiệp gia tăng.

Thứ ba là khả năng sản xuất dư thừa của Trung Quốc bắt nguồn từ chính sách trợ giá, không phản ánh đúng luật cung cầu của một nền kinh tế thị trường. Châu Âu cũng chỉ trích Bắc Kinh không phân phối một cách công bằng các phương tiện sản xuất, cụ thể là các tập đoàn Nhà nước dễ dàng huy động vốn, trong lúc khu vực tư nhân thì phải đi vay tín dụng với giá cao hơn. Đó là cơ sở thứ tư để Bruxelles chưa công nhận Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường.

Sau cùng, Liên Hiệp Châu Âu đòi Trung Quốc phải tôn trọng các quyền sở hữu, và chấp nhận mở cửa thị trường trên nguyên tắc có đi có lại. Châu Âu quan niệm thị trường của Trung Quốc còn quá khép kín với các nhà đầu tư phương Tây.

Hiện tại Bruxelles đang đâm đơn kiện phá giá đối với 73 mặt hàng, trong đó có tới 56 hồ sơ liên quan đến Trung Quốc. Tuy nhiên Bắc Kinh thừa biết Liên Hiệp Châu Âu là một khối gồm 28 thành viên, và sẽ còn là 27 một khi Anh Quốc chính thức ra khỏi đại gia đình này, cho nên, mỗi người một ý. Nếu như Paris và Roma quyết liệt đòi Trung Quốc phải cải tổ thì ngược lại, thái độ của Berlin hay Amsterdam được coi là dễ dãi hơn một chút. Hà Lan chẳng hạn, lệ thuộc nhiều vào mức giao thương với Trung Quốc chủ yếu là qua cửa ngõ bến cảng Rotterdam.

Một công trình nghiên cứu của Viện Chính trị Kinh tế EPI chỉ ra rằng nếu như Trung Quốc được công nhận quy chế kinh tế thị trường, kim ngạch nhập khẩu của châu Âu với khách hàng Trung Quốc sẽ tăng mạnh. Sản xuất của châu Âu thì sẽ bị giả đi mất gần 230 tỷ euro một năm và sẽ có thêm từ 1,7 đến 3,3 triệu người lao động trên lục địa Già bị mất việc.

Hiệp hội AEGIS Europe đại diện 30 ngành nghề trong mạng lưới công nghiệp của châu Âu quan niệm «cấp quy chế kinh tế thị trường cho Trung Quốc đồng nghĩa với việc cấp giấy phép cho quốc gia này tự do áp dụng chính sách phá giá».




 
Bộ trưởng Tài Chính Mỹ, J.Lew trong đối thoại Mỹ Trung 2016.Reuters
 
 
 
Mỹ: «vỏ quýt dầy, móng tay nhọn»


Dù muốn hay không, đến cuối năm 2016 Tổ Chức Thương Mại Thế Giới cũng sẽ đưa chủ đề này ra thảo luận. Thế còn về phía Hoa Kỳ thì sao? Mời quý thính giả theo dõi phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa từ California.


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Hoa Kỳ là quốc gia phát huy kinh tế thị trường, tức là Nhà nước không can thiệp vào giao dịch của thị trường mà để quy luật cung cầu được tự do vận hành. Từ triết lý kinh tế chính trị đó, Hoa Kỳ mới chấp nhận «quy chế tối huệ quốc» – sau này được gọi là «quy chế thương mại bình thường» – cho các quốc gia áp dụng quy luật tự do của thị trường.

- Nhưng trong thời Chiến tranh lạnh, đạo luật thương mại của Hoa Kỳ từ năm 1974 đưa ra một số điều kiện đặc miễn cho các nước cộng sản theo kinh tế tập trung kế hoạch tức là không theo kinh tế thị trường khi mua bán với Hoa Kỳ. Trong mục tiêu chính trị, các điều kiện miễn cách đặc biệt ấy cho các nền kinh tế không theo quy luật thị trường vẫn được dễ dàng bán hàng vào Mỹ mà không bị rào cản về thuế nhập nội hay hạn ngạch.

- Tuy nhiên, doanh nghiệp Mỹ có thể bị thiệt hại vì hàng nhập vào thị trường nội địa quá rẻ hay được trợ giá từ các nền kinh tế phi thị trường. Do vậy Hoa Kỳ có thêm đạo luật cho phép các doanh nghiệp bị thiệt hại được quyền khiếu nại và có biện pháp trả đũa nếu chứng minh rằng họ bị cạnh tranh bất chính. Khi thương thuyết việc các nước gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế giới, OMC hay WTO, Hoa Kỳ có chấp nhận cho một số quốc gia được duy trì chế độ kinh tế phi thị trường trong một thời khoảng nhất định.

 - Nhưng trong thời khoảng đó, các quốc gia này vẫn có thể bị doanh nghiệp Mỹ khiếu nại và đòi áp dụng biện pháp trả đũa nếu chứng minh là họ bị thiệt hại. Thời gian ân hạn đó cho Trung Quốc sẽ kết thúc vào ngày 11/12/2016 tới đây và thời hạn cho Việt Nam sẽ kết thúc ngày 11 Tháng Giêng năm 2025.


RFI: Khi thương thuyết việc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã yêu cầu Hoa Kỳ chấp nhận cho quy chế phi thị trường trong một khoảng thời gian nhất định, Trung Quốc được 15 năm và Việt Nam được 18 năm. Kỳ hạn 15 năm của Trung Quốc sẽ chấm dứt vào tháng 12/2016. Khi ấy tình hình sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Các quốc gia này bị mắc bẫy mà cứ tưởng rằng khôn! Họ tưởng rằng khôn khi yêu cầu một thời gian chuyển tiếp để cải cách theo quy luật thị trường mà thật ra chẳng cải sửa gì vì Đảng và Nhà nước vẫn kiểm soát kinh tế để xây dựng chế độ tư bản Nhà nước và tiếp tục thao túng thị trường. Nhưng họ mắc bẫy vì khoản 15 trong Hiến ước gia nhập Tổ Chức Tự Do Thương Mại. Khoản 15 này quy định là trong thời gian đặc miễn, doanh nghiệp của các thành viên khác mà bị thiệt hại vì cạnh tranh bất chính thì có quyền khiếu nại và yêu cầu biện pháp trả đũa.

- Khi chứng minh rằng họ bị thiệt hại thì các doanh nghiệp khỏi cần điều tra từng tiêu chuẩn rắc rối về hối đoái, lương bổng, việc trợ giá, v.v… mà chỉ áp dụng phép ứng trắc vào một nền kinh tế tương tự cũng đủ kết an. Và Trung Quốc hay thành viên vi phạm phải mất tiền chứng minh ngược lại, rằng họ không thao túng thị trường.

- Đã vậy, từ năm 2012, giới luật sư Hoa Kỳ về thương mại còn tìm ra một cách suy diễn khoản 15 này: Sau thời gian đặc miễn, Hoa Kỳ và Liên Âu hay các thành viên khác mà bị thiệt hại vì cạnh tranh bất chính của chế độ kinh tế phi thị trường vẫn có thể kiện và đòi áp dụng biện pháp trả đũa. Khác biệt duy nhất là lần này thì họ phải gánh chịu việc chứng minh là có cạnh tranh bất chính.

RFI: Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây phương đều ngả theo quy chế thị trường và phát triển vững mạnh. Một số quốc gia chuyển hướng từ chế độ cộng sản ra thì áp dụng quy chế thị trường có chọn lọc để bảo vệ khu vực kinh tế của Nhà nước và yêu cầu được đặc miễn. Kết luận của anh là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc tưởng rằng đã có kinh tế đủ mạnh để xây dựng một trật tự mới có thể lật đổ và thay thế trật tự Tây phương, từ quân sự qua kinh tế. Sự thật thì bên trong họ vẫn chưa giải quyết được bài toán quản lý kinh tế, việc chuyển hướng hứa hẹn từ Hội nghị Ba của Ban Chấp Hành Trung Ương vào cuối năm 2013 còn bị đẩy lui và chế độ can thiệp mạnh hơn vào kinh tế như chúng ta vừa thấy trong lãnh vực tài chánh ngân hàng. Bên ngoài thì họ chẳng tôn trọng những cam kết quốc tế, điển hình là Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Cho nên, nếu họ có bị hệ thống luật lệ rất tinh vi của Hoa Kỳ đẩy vào chân tường với quy chế phi thị trường – thực chất là phi cầm phi thú và chẳng giống ai – thì đấy cũng là một bài học.


____

Bài phỏng vấn thực hiện cách nay một tháng nay mới phát thanh vì thời sự dồn dập nhiều chuyện khác! 

Hoa Kỳ Hy Vọng Đổi Mới



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 160718
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Từ cuộc chiến chống Khủng Bố đến cuộc chiến chống Cảnh Sát!  



* Bây giờ, ai sẽ bảo vệ cháu? Hình ảnh sau vụ sát hại cảnh sát tại Baton Rouge *



Hai tuần sau khi chào mừng lễ Độc Lập thứ 240 (1776-2016), dân Mỹ bàng hoàng vì kẻ gian phục kích và bắn hạ cảnh sát, vào ngày mùng bảy tại Dallas rồi ngày 17 tại Baton Rouge. Tổng cộng: 10 người thiệt mạng trong đó có tám cảnh sát viên, nhiều người bị trọng thương.

Hai biến cố này xảy ra giữa khung cảnh bất thường của thế giới:

Ngày 23 Tháng Sáu, Vương quốc Anh quyết định ra khỏi Liên Âu và gây khủng hoảng cho Đông Bán Cầu, là khu vực Âu Châu; ngày 12 Tháng Bảy, Tòa án Trọng tài Thường trực tại The Hague công bố phán quyết về tranh chấp giữa Phi Luật Tân và Trung Quốc ngoài Đông Hải; tối 14 Tháng Bảy là vụ khủng bố bằng xe vận tại hạng nặng tại Nice khiến 84 thường dân bị thảm sát, cả trăm người bị thương; sáng 15 là vụ đảo chánh hụt tại Turkey, khiến 294 người thiệt mạng, sau đó là tám ngàn người bị câu lưu hay bãi chức – tới ba ngàn là các thẩm phán! Đây không chỉ là một biến cố quân sự mà là một chính biến có dàn dựng trong nội tình một thành viên Hồi giáo của Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO, nằm trên nếp gấp giữa Âu Châu và nạn khủng bố cùng di dân tại Trung Đông

Chấn động dồn dập ấy trên thế giới cần tới sự trấn an của siêu cường Hoa Kỳ. Nhưng nước Mỹ lại bị nội thương vì chiến dịch bắn hạ cảnh sát, một ngày trước khi đảng Cộng Hòa gặp biến động sôi nổi không kém Đại hội đảng Dân Chủ năm 1968, là Đại hội Cộng Hòa tại Cleveland của Ohio để giới thiệu liên danh ra tranh cử Tổng thống vào ngày tám Tháng 11 tới đây…

Với nhà báo thì loại thời sự nóng ấy khiến người ta càng yêu nghề khi chạy theo tin để kịp thời loan tải. Với nhà bình luận thì đấy là ác mộng: luận về chuyện gì là có ý nghĩa trong chuỗi lầm than bất tận ấy? Nhất là khi lại luận về Hoa Kỳ - nhìn từ bên ngoài!

***

Với nhiều người Mỹ, Quốc Khánh Fourth July là những ngày nghỉ cuối tuần kéo dài để gia đình tụ tập nướng thịt ngoài sân và kết thúc bằng pháo bông rực rỡ muôn màu. Thật ra, đấy là một biến cố vô tiền khoáng hậu của nhân loại.

Nó đánh dấu nền độc lập, sau tám năm chinh chiến khiến 25 ngàn tử thương. Nếu tính theo dân số thời đó thì số thương vong còn cao hơn tổn thất của Mỹ trong Thế chiến II. Kết quả là sự ra đời của một quốc gia… không có dân tộc.  

So với nhiều xứ khác, công dân Mỹ không sinh từ một đấng quốc tổ mơ hồ nào đó của huyền sử mà là con cháu của nhiều thế hệ di dân tứ xứ đã chọn nơi này làm quê hương. Điều quan trọng không là huyết thống, sắc tộc hay văn hóa của quá khứ mà là một ý chí sống chung trong một dự kiến cho tương lai. Điều nối kết là ước vọng tự do của họ, trước tiên là quyền tự do đối nghịch với chính quyền do họ bầu lên.

Hiến pháp Mỹ có đặc tính là văn kiện thu hẹp quyền lực của nhà nước, và như Thomas Jefferson cảnh báo: cái giá cho tự do là phải tỉnh táo canh chừng nhà nước! Hoa Kỳ là cường quốc có lãnh đạo yếu nhất vì bị người dân canh chừng bằng nhiều ngả, với lưỡng viện Quốc hội, Tối cao Pháp viện và cả lực cản của các thống đốc để cho người dân được tự do.

Sau này, chính khát vọng tự do tại Hoa Kỳ mới là nguồn cảm hứng cho nhiều dân tộc khác để dẫn tới sự hình thành của các chế độ dân chủ, nơi mà mọi người, kể cả giới lãnh đạo, đều có quyền bình đẳng trước pháp luật do đại diện của người dân soạn thảo.

Nhưng khốn thay, ngày nay Hoa Kỳ đã đổi khác.

Nhìn từ bên ngoài, chúng ta thấy rằng nhiều người Mỹ - kể cả gốc Việt, than ôi – vẫn cho rằng quyền tự do ấy là… miễn phí mà chẳng đi đôi cùng trách nhiệm. Tình cho không biếu không! Hãy đọc báo hay xem trên truyền hình, ta có thể thấy dân gian hay cả sinh viên trong đại học  Mỹ chẳng biết gì nhiều về xã hội và cơ chế chính trị. Cha mẹ của lớp người ngơ ngác ấy, nếu là thế hệ di dân mới nhập cư, thì còn mù mờ hơn thế. Họ chỉ biết qua con cháu thông thạo tiếng Anh hơn - mà vẫn dốt - nên tin rằng nhà nước phải chu toàn mọi sự cho mình. Vì vậy, khi bỏ phiếu thì thường chọn các chính khách có hứa hẹn hào phóng nhất.

Với dân trí đó, họ là con mồi của các chính trị gia mị dân, là sản phẩm luôn luôn dư thừa trên thị trường mua phiếu của nước Mỹ. Vì vậy, ít ai quan tâm đến sự kiện một công tố viên của chính phủ, tức là công bộc do dân bầu lên, có thể hăm dọa truy tố tội kỳ thị bất cứ ai nêu vấn đề về vụ các thanh niên Hồi giáo đã bề hội đồng, hãm hiếp tập thể, một bé gái lên năm tuổi. Các chính khách mị dân không dám rớ đến tội ác trong cộng đồng thiểu số vì cần tới lá phiếu của dân thiểu số - mà họ trả bằng tiền thuế của mọi người.

Vì vậy, ngày nay người ta mới than phiền về hiện tượng Donald Trump mà quên rằng trước đó dân Mỹ đã hai lần dồn phiếu cho Barack Obama làm Tổng thống!

Người ta quên lời cảnh báo của Jefferson là phải tỉnh táo canh chừng nhà nước mà cứ cho rằng từ khi có một Tổng thống lai da đen, thuộc diện thiểu số da màu, thì đất nước này hết nạn kỳ thì và ai muốn gì thì cũng được nhà nước chu cấp đầy đủ, từ việc làm đến bảo dưỡng y tế. Với quần chúng ngu ngơ dễ dãi ấy thì tự do là khỏi cần trách nhiệm hay luật lệ.

Hậu quả trái ngược chính là tình trạng vô chính phủ trong thực tế: cảnh sát là ai mà dám cấm tôi làm việc này hay đòi chuyện nọ? Cảnh sát chỉ đại diện cho lực lượng áp bức mà nạn nhân dĩ nhiên là thành phần thiểu số, da màu hay nghèo đói. Các bình luận gia thiên tả hay cực tả có sẵn thống kê ngoa ngụy để chứng minh điều ấy cho những kẻ lười suy nghĩ. Vì lười nên mới phó thác việc canh chừng nhà nước cho ai khác.

Sự thật thì dân thiểu số da vàng tích cực tranh đấu và thành công hơn dân Mỹ da trắng và dân thiểu số da đen lại đội sổ, với mức lầm than và tội ác cao hơn tỷ lệ dân số là 13%. Và nạn nhân của tội ác đó cũng lại là người da đen. Khi ấy, nhà chức trách hay cảnh sát bị đặt vào thế khó xử. Đi vào cộng đồng ấy để vãn hồi trật tự và bảo vệ người da đen là việc tổn thọ, dễ chết. Ngược lại, tích cực thi hành công vụ thì còn dễ chết hơn nếu chẳng may làm một người da đen mất mạng.

Những vụ nổi loạn của người da đen tại Ferguson, Missouri, Baltimore hay Dallas và Baton Roug xuất phát từ đó. Và ở trên cùng, kẻ đổ thêm dầu vào lửa chính là Tổng thống Obama. Dù chửa biết nếp tẻ là gì, ông luôn luôn lên tiếng phê phán cảnh sát và hàm ý rằng người da đen là nạn nhân của sự kỳ thị và quyền mang súng. Tệ hại nhất là khi ông tuyên bố rằng nếu mình có con trai thì nó giống Trayvon Martin, một thiếu niên da đen bị tử thương vì hành hung một người thiện nguyện bảo vệ trật tự của khu phố.

Chính thái độ ấy của Obama mới khuyến khích sự ra đời của tổ chức xưng danh “Black Lives Matter” vào năm 2013, một tổ chức kỳ thị da trắng dưới chiêu bài bảo vệ người da đen. Từ đó mới có thêm chiến dịch phục kích và sát hại cảnh sát. Không có gì éo le và ai oán hơn việc năm cảnh sát viên tại Dallas mất mạng vì bị bắn xẻ khi bảo vệ quyền biểu tình phản đối của người dân, dưới sự huy động của Black Lives Matter.

Nếu có một chút lương thiện, Obama và những người đang gián tiếp cổ võ cho nạn phục kích và hạ sát nhân viên công lực nên nhìn lại vụ Rodney King năm 1992.

Thời ấy, truyền thông thiên tả tường thuật vụ này một cách thiên lệch khi gạn lọc hình ảnh trưng bày cho công chúng khiến ai cũng nghĩ là Rodney King vô tội. Nhưng trước pháp đình, khi được xem trọn bộ hình ảnh thì bồi thẩm đoàn quyết định tha bổng cảnh sát. Khốn nỗi, công chúng đã nuốt trọn ấn tượng sai lạc ngay từ đầu nên có phản ứng dữ dội làm Los Angeles lâm vào đại loạn. Ngày nay, chúng ta đang thấy tái diễn chuyện Rodney King, với cấp số gấp năm.

Và cảnh sát là nạn nhân của nền dân chủ kỳ cục này…. Nếu không kịp nhìn lại, Hoa Kỳ sẽ rơi vào chiến tranh sắc tộc mà trắng đen gì cũng đều thua. 

Tám năm sau khi bầu lên một Tổng thống da đen, dân Mỹ nên nghĩ lại về khẩu hiệu “Hope and Change” của Barack Obama.