Thứ Ba, tháng 5 24, 2016

Quan Hệ Kinh Tế Việt-Mỹ

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160524
"Diễn đàn Kinh tế"  


Bình thường hóa quan hệ với một chế độ bất bình thường

000_B54OH.jpg
* Tổng thống Mỹ Barack Obama (trái) nói chuyện với các doanh nhân tại DreamPlex, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 24 tháng 5 năm 2016. AFP photo*    




Chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama được dư luận Việt Nam và quốc tế chú ý vì cả lý do an ninh lẫn kinh tế, hơn hai chục năm sau khi bang giao Việt-Mỹ được tái lập.


Nguyên Lam: Xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng thống Barack Obama cho thấy Hoa Kỳ đã bình thường hóa gần như toàn diện mối quan hệ với Việt Nam, nhưng tiến trình ấy phải qua một giai đoạn kéo dài mất hơn hai chục năm, là điều gì đó khá bất thường, ông nghĩ sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ vừa bình thường hóa quan hệ mọi mặt với một chế độ bất thường vì chế độ này chưa hề bình thường hóa quan hệ của nó với chính người dân. Về diễn tiến thì có lẽ chúng ta cần nhắc lại vài dấu mốc căn bản sau đây:

- Sau khi bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế năm 1994, Hoa Kỳ tái lập bang giao với Việt Nam năm 1995. Từ đấy, các chính quyền cả Dân Chủ lẫn Cộng Hoà, đều tích cực giúp Việt Nam cải thiện kinh tế với cao điểm là năm 2001, khi Tổng thống Bill Clinton cho ký hiệp định thương mại song phương Mỹ-Việt gọi là BTA, bên trong có điều khoản tạm chấp nhận quy chế tối huệ quốc, là mậu dịch bình thường – hay NTR – được tái xét hàng năm. Sau đấy, quy chế NTR trở thành vĩnh viễn và thường trực từ năm 2007 khi Hoa Kỳ thời ông George W. Bush mở cửa cho Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Lý do chính thức là nếu cải thiện kinh tế sẽ cải thiện chính trị, nhưng Hà Nội lại gọi đó là "âm mưu diễn biến hoà bình" và chẳng hể cải thiện về chính trị mà bám chặt lấy ách độc tài! Đấy là một lẽ bất thường.

Nguyên Lam: Thưa ông, thế rồi từ những năm đó, tình hình kinh tế Việt Nam có thay đổi không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ đó, tình hình kinh tế Mỹ-Việt có đổi khác. Tôi xin được nêu vài con số về sự đổi khác nhưng nhấn mạnh rằng đời sống đa số người dân Việt Nam thì vẫn chưa. 

- Từ 1994 đến cuối năm 2008 là sau khi gia nhập tổ chức WTO, xuất khẩu của Việt Nam qua Mỹ đã từ 50 triệu Mỹ kim tăng đến hơn 12.000 triệu, tức là hơn 12 tỷ, gấp 250 lần. Ngược lại, xuất khẩu của Mỹ qua Việt Nam chỉ tăng từ 172 triệu Mỹ kim lên gần hai tỷ bảy - gấp 15 lần thôi. 

- Về đại thể, từ 1995 Việt Nam liên tục đạt xuất siêu - là xuất nhiều hơn nhập - với Hoa Kỳ. Kỷ lục là năm ngoái xuất gần 38 tỷ mà nhập có bảy tỷ, xuất siêu gần 31 tỷ Mỹ kim. Tức là Việt Nam có lợi lớn trong quan hệ buôn bán với Mỹ. Vắn tắt thì thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chính là Hoa Kỳ, khốn nỗi, được xuất siêu bao nhiêu với kinh tế Mỹ thì Việt Nam bị nhập siêu bấy nhiêu với kinh tế Trung Quốc. Thực tế thì kinh tế Việt Nam là vệ tinh của kinh tế Trung Quốc và dần dần khối kinh tế Âu-Mỹ-Nhật đều biết điều ấy.

- Nếu bảo rằng Hoa Kỳ bang giao với Việt Nam để tư bản của Mỹ trục lợi nhờ nhân công rẻ của Việt Nam thì người ta lại lầm nữa vì trong quan hệ kinh tế giữa hai nước, Việt Nam có lợi hơn và các doanh nghiệp Mỹ cũng chẳng dẫn đầu trong số đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.


Chuyện dân chủ


Nguyên Lam: Trở lại mục tiêu ban đầu của việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Hoa Kỳ có thể chủ trương là nếu giúp Việt Nam cải thiện kinh tế thì xã hội cũng sẽ cải thiện về chính trị và tiến dần sang chế độ dân chủ, ông nhận xét như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đấy là một lầm lẫn lớn từ cả hai phía.

- Hoa Kỳ có thể cả tin rằng sức mạnh kinh tế thị trường sẽ dẫn tới chuyển hóa chính trị là điều không tất nhiên, vì các chế độ độc tài vẫn có thể áp dụng quy luật thị trường có chọn lọc để củng cố chế độ, là điều đã thấy tại Trung Quốc và sẽ thấy tại Cuba. Ngược lại, Hà Nội cho rằng Mỹ có dụng ý chính trị để chuyển hóa chế độ theo kiểu diễn biến hòa bình. Thật ra Hoa Kỳ có nêu khuyến cáo hoặc thậm chí gây áp lực, nhưng chuyển hóa hay không thì vẫn là quyết định của Việt Nam. Hoa Kỳ đã từng có quan hệ khá chặt chẽ với nhiều chế độ độc tài, nếu có thêm một chế độ Hà Nội nữa thì cũng chẳng làm nước Mỹ thay đổi chính sách. Tổng kết lại thì có muốn dân chủ hay không là chuyện của dân Việt Nam, không là một yêu cầu tiên quyết của nước Mỹ.

Thật ra Hoa Kỳ có nêu khuyến cáo hoặc thậm chí gây áp lực, nhưng chuyển hóa hay không thì vẫn là quyết định của Việt Nam. Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyên Lam: Trong trường hợp đó, ông giải thích thế nào về nỗ lực của Tổng thống Hoa Kỳ trong hiệp ước xây dựng đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta nên xét kỹ rằng nỗ lực đó có lợi cho Mỹ hay cho Việt Nam?

- Nếu muốn gia nhập hệ thống TPP này mà Việt Nam cải thiện quy chế lao động, có công đoàn tự do và tôn trọng nền tảng luật lệ minh bạch thì điều ấy có lợi cho người Việt Nam hơn là cho nước Mỹ. Trong 12 quốc gia thành viên của hệ thống TPP, Việt Nam được đánh giá là có lợi nhất vì sẽ tăng xuất khẩu được hơn 30% và nhờ đó, sản lượng kinh tế được thêm 10% kể từ khi áp dụng cho tới năm 2030.

- Ngoài ra còn có hai yếu tố quan trọng khác về phẩm hơn là về lượng. Thứ nhất, kinh tế Trung Quốc phải chuyển hướng với giá nhân công cao hơn và mất lợi thế là công xưởng toàn cầu cho nên giới đầu tư nhắm vào Việt Nam cùng khoảng 18 thị trường khác là giải pháp thay thế. Nếu là thành viên của TPP thì Việt Nam dễ khai thác lợi thế ấy với khả năng sản xuất và cung ứng các ngành dệt sợi, đồ gỗ, đồ da hay sản phẩm gia dụng của công nghiệp nhẹ lẫn hàng điện tử. Thứ hai, vì Trung Quốc không ở trong hệ thống TPP nên đây là cơ hội cho kinh tế Việt Nam ra khỏi tình trạng lệ thuộc kinh tế Trung Quốc.   


000_B5492.jpg-400.jpg
Tổng thống Mỹ Barack Obama (giữa) xem một triển lãm nhỏ về du lịch tại DreamPlex tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 24 tháng 5 năm 2016. AFP photo



Nguyên Lam: Nếu như vậy, thưa ông, phải chăng Chính quyền Obama muốn qua hiệp ước TPP mà yểm trợ an ninh của Việt Nam trước sức ép của Trung Quốc như nhiều giới chức ngoại giao Mỹ đã nói ra?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng đấy lại là một lầm lẫn khác. Hoa Kỳ đang làm ăn buôn bán với Trung Quốc có hơn một tỷ 350 triệu dân thì chẳng có lý do gì mà huy động 90 triệu người Việt vào chiến tuyến chống Tầu về mặt kinh tế. Tôi thiển nghĩ rằng an ninh của nước Việt, hay nhân quyền và dân chủ của người Việt, phải xuất phát từ Việt Nam, chứ không thể lệ thuộc vào chính sách thất thường của nước Mỹ.

- Nhưng Hà Nội cũng chẳng thể quên rằng Quốc hội và dư luận Hoa Kỳ vẫn tiếp tục lên án nạn vi phạm nhân quyền và đàn áp dân chủ của Hà Nội vì dân Mỹ không muốn dân Việt mãi mãi là nạn nhân của một chế độ tồi tệ. Hoa Kỳ là nơi mà “quyền lực mềm” có sức mạnh thực tế, nó không xuất phát từ chính sách quân sự hay kinh tế của Chính quyền Obama mà một cách tự phát từ xã hội dân sự, trong đó có cả cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Quyền lực đó có thể giúp người ta thấy ra mối nguy của Bắc Kinh và lối ăn nói nước đôi của Hà Nội. Trong 20 năm qua, chính là những nỗ lực tự phát của xã hội Mỹ lẫn các tổ chức thiện nguyện về giáo dục, y tế và văn hóa đã làm xã hội Việt Nam thay đổi nhiều hơn là người ta thường nghĩ.


TPP sẽ tới đâu

Nguyên Lam: Cho tới nay thì hình như Quốc hội Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn Hiệp ước TPP dù 12 nước đã hoàn tất việc thương thuyết từ ngày năm Tháng 10 năm ngoái và chính thức ký kết vào Tháng Hai vừa qua. Thưa ông, diễn biến của hồ sơ này sẽ là gì trong thời gian tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Theo đúng thủ tục sau khi ký kết vào Tháng Hai vừa qua, 12 quốc gia sẽ có hai năm cứu xét và phê chuẩn, hạn chót là vào Tháng Năm năm 2018. Từ nay đến đó, từng nước cũng phải cải thiện luật lệ để áp dụng và có quyền yêu cầu điều chỉnh theo quan điểm quyền lợi của mình. Sau cùng, nếu các thành viên có sản lượng kinh tế cao bằng 85% của sản lượng toàn khối thì Hiệp ước đó vẫn thành hình. Điều ấy có nghĩa là nếu hai nền kinh tế giàu nhất khối là Hoa Kỳ và Nhật Bản mà đồng ý thì các nước kia sẽ phải theo.

Nguyên Lam: Thưa ông, trở ngại về phía Việt Nam là gì? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng trở ngại lớn nhất là lãnh đạo Việt Nam thuộc trình độ bán hàng xén mà nghĩ là ta đã lên tới cấp bán hàng bách hóa để rồi sẽ mở siêu thị. Họ nghĩ rằng sẽ lại lừa được thế giới như trong thời chiến tranh - là điều tương đối dễ vì trình độ nhận thức nông cạn của trí thức và chiến lược gia Hoa Kỳ thời ấy - nhưng quên rằng thế giới đã thay đổi.

- Trước hết, nói về quan hệ kinh tế Việt-Mỹ từ hai chục năm qua thì dù được các thành phần tả khuynh hay thân cộng nâng đỡ, Hà Nội vẫn chưa vượt qua rào cản của Quốc hội Hoa Kỳ nên chưa tranh thủ được quy chế đặc miễn GSP hay Generalized System of Preferences để bán vào Hoa Kỳ khoảng 5000 sản phẩm khỏi bị thuế quan, gọi là duty free. Lý do chính vẫn là nạn chà đạp nhân quyền, trong khi nhiều xứ nghèo hơn đã được quy chế này.

Tôi nghĩ rằng trở ngại lớn nhất là lãnh đạo Việt Nam thuộc trình độ bán hàng xén mà nghĩ là ta đã lên tới cấp bán hàng bách hóa để rồi sẽ mở siêu thị. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Quan trọng hơn vậy chính là hồ sơ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP. Dù Việt Nam được lợi nhất về lý thuyết, về thực tế thì sự tình lại phức tạp hơn, nhất là trong bối cảnh của cuộc tranh cử tổng thống năm nay tại Mỹ. Muốn hưởng mối lợi ấy của TPP thì Việt Nam phải cải cách, là điều các nước mong muốn mà Hà Nội lưỡng lự vì sợ cơ sở mất đỉnh chung bổng lộc. Thứ nữa, dù có cam kết, Hà Nội vẫn giữ quyền bội tín và gặp phản ứng mạnh của xu hướng “chống toàn cầu hóa” và “bảo hộ mậu dịch” trên chiến trường và thị trường quốc tế. Trong khi ấy, vì cuộc tranh cử Tổng thống, cả ba ứng cử viên còn lại của hai đảng lớn đều nói khác và hết tin tưởng gì vào toàn cầu hóa mà lại còn nêu ra chủ trương bảo hộ mậu dịch. Vì vậy, việc Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn Hiệp ước TPP này là điều xa vời.

Nguyên Lam: Thưa ông, kết cuộc thì liệu Việt Nam có triển vọng tham gia vào Hiệp ước này hay không sau chuyến thăm viếng của Tổng thống Hoa Kỳ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi đoán rằng Tổng thống Mỹ đã kín đáo gây áp lực rất mạnh với lãnh đạo Hà Nội nhưng cũng chẳng muốn họ bị mất mặt mà công khai nói ra điều ấy, nhất là sau nạn vi phạm nhân quyền quá trắng trợn vừa qua. Nhưng Hà Nội lại chẳng biết rằng vì những nhược điểm nói trên, về cả nhân quyền lẫn bảo vệ môi sinh, mà Việt Nam có thể bị Quốc hội Mỹ gạt ra ngoài TPP như một điều kiện phê chuẩn, với thiệt hại rất cao cho người dân và các doanh nghiệp. Lý do là lãnh đạo Việt Nam vẫn không tuân thủ các cam kết trong khi lại có lợi nhiều nhất nhờ TPP. Đây sẽ là niềm thất vọng cho Tổng thống Barack Obama vì hiệp ước TPP là một di sản ông muốn để lại. Thêm một lần nữa, Hà Nội sẽ lại lỡ cơ hội và người Việt vẫn bị thiệt hại trong khi viễn ảnh khủng hoảng kinh tế vì vụ khủng hoảng môi trường nay đã cận kề.   
 
Nguyên Lam: Xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.  

Hoa Kỳ Gỡ Bỏ Lệnh Cấm Vận Võ Khí

Linh Nguyễn/Người Việt (tổng hợp) Ngày 160523

Người gốc Việt, dân cử Mỹ, và phản ứng về việc bỏ cấm vận vũ khí VN

* Tổng thống  Obama gỡ lệnh cấm vận võ khí sát thương - Tranh hý họa của báo Mỹ *






LITTLE SAIGON, California (NV) - Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận hiệu lực từ nửa thế kỷ, về việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, trong cuộc họp báo Hôm Thứ Hai, 22 Tháng Năm, cùng Chủ Tịch CSVN Trần Đại Quang, tại Hà Nội. Người Mỹ gốc Việt và một số giới chức dân cử Mỹ có những phản ứng khác nhau về quyết định này.



Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (Giáo sư môn Chính trị học và Bang giao Quốc tế tại Đại Học George Mason – Virginia, và là thành viên cao cấp của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quan Hệ QuốcTế CSIS của Hoa Kỳ).

"Quyết định của TT Obama là điều Việt Nam trông đợi. Nhưng quyết định này cũng làm một số người ngạc nhiên. Có lẽ phía chính quyền của ông Obma đã có quyết định rồi nhưng chọn đúng thời điểm khi ông Obama công du Việt Nam để loan báo hòng tạo được ảnh hưởng lớn. Về bối cảnh bang giao Việt – Mỹ, quyết định bỏ cấm vận võ khí cho Việt Nam là hoàn tất tiến trình bình thường hóa bang giao giữa Washington và Hà Nội, từ việc bình thường hóa ngoại giao dưới thời Tổng Thống Clinton, rồi bình thường hóa quan hệ kinh tế thời Tổng thống Bush, và bây giờ là bình thường hóa quân sự thời Tổng thống Obama. Đối với Hà Nội, quyết định này là biểu tượng quan trọng là Washington ủng hộ họ và Việt Nam có sự cộng tác mật thiết với cường quốc mạnh nhất thế giới và cũng giúp cho chính quyền Hà Nội có một sự chính thống nào đó trong quan điểm của người Mỹ đối với đảng cộng sản và chính quyền hiện tại. Còn đối với ông Obama thì đây là quyết định lịch sử, một di sản lịch sử mà ông để lại như những di khác khác là bang giao với Cuba, ký việc ước cấm phổ biến võ khí nguyên tử với Iran và bây giờ là bỏ cấm vận võ khí với Việt Nam. Những di sản này của ông Obama sẽ tạo thuận lợi cho những người thừa kế ông làm việc. Còn đối với nước Mỹ, thì đây là bước tiến tạo nên lòng tin chiến lược giữa hai nước và khuyến khích Việt Nam càng ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong cán cân quyền lực tại Á Châu để chống lại chính sách khống chế của Trung Quốc tại Biển Đông mà sự khống chế này sẽ làm hại quyền lợi của nước Mỹ.   
  
NV: Thưa giáo sư, trước chuyến công du Việt Nam của TT Obama, một số dân biểu, nghị sĩ Mỹ kêu gọi ông Obama nêu vấn đề nhân quyền tại Việt Nam với giới lãnh đạo Hà Nội, vậy mà ông Obama cho Hà Nội được quyền mua võ khí nhưng không đạt thỏa thuận nào về nhân quyền, vậy khi về lại Mỹ, ông Obama liệu có gặp khó khăn nào với phía Lập pháp không?  
 
G.S Hùng: Tôi không nghĩ ông Obama sẽ gặp khó khăn nhưng trước khi ông đi Việt nam đã có những chỉ trích và áp lực rồi và ngay sau khi ông công bố quyết định bỏ cấm vận võ khí Việt Nam thì lập tức có một số người, một số đoàn thể và cơ quan chỉ trích. Nhưng nên nhớ là báo chí cho biết ông Obama đã liên lạc rất thường xuyên với quốc hội nên tôi tin là ông Obama đã tiên đoán được những phản ứng này. Nhưng phía Hà Nội đã thả Linh mục Nguyễn Văn Lý trước khi ông Obama bỏ cấm vận võ khí; còn phía chính quyền Mỹ thì đã nói việc bỏ cấm vận võ khí chỉ là mở đầu về nguyên tắc thôi, còn mỗi khi Việt Nam mua võ khí thì Mỹ sẽ quyết định theo từng trường hợp và mỗi trường hợp đều gắn liền với vấn đề nhân quyền. Ngoài ra, hiệp ước TPP đã trù liệu Việt Nam phải thi hành quyền lao động và Mỹ cũng đã yêu cầu Hà Nội thi hành và soạn những luật để thi hành quyền này và Mỹ s8ãn sàng giúp đỡ để làm luật đó.

NV: Giáo sư nghĩ sao về lời tuyên bố của TT Obama là việc bãi bỏ lệnh cấm bán võ khí cho Việt Nam không nhắm vào Trung Quốc?  

G.S Hùng: Ông Obama nói thế thôi chứ Ngoại trưởng Mỹ Kerry đã tuyên bố bỏ cấm vận võ khí nhằm giúp Việt Nam có khả năng phòng thủ thì đó là rõ ràng nhắm vào Trung Quốc rồi.


Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa (Nhà bình luận)

Thời Chiến tranh lạnh, vào năm 1976, Quốc hội Hoa Kỳ đã có Đạo luật Kiểm soát Xuất cảng Võ khí (Arms Export Control Act - AECA) theo đó, Tổng thống được phép quyết định việc xuất nhập cảng võ khí và dịch vụ liên quan tới quốc phòng. Khai triển đạo luật ấy là Những Quy định về Giao dịch Võ khí Quốc tế (International Traffic in Arms Regulations – ITAR) được trao cho Bộ Ngoại giao thi hành nhằm bảo vệ an ninh và quyền lợi của Hoa Kỳ, để các loại võ khí siêu hạng không rơi vào tay đối thủ hay kẻ thù. Việt Nam rơi vào những quy định của ITAR từ năm 1984 vì lý do vi phạm nhân quyền. Sau khi hai nước thiết lập bang giao từ năm 1995, Việt Nam vẫn còn bị những hạn chế đó.Từ năm 2014, Chính quyền Barack Obama đã có ý gỡ bỏ những cản trở cho Việt Nam nhưng phải đi từng bước, với từng loại quân trang rồi quân cụ từ cấp thấp nhất. Việc Tổng thống Obama thông báo tại Hà Nội hôm 23 rằng từ nay Việt Nam sẽ hết bị cản trở là bước sau cùng để hoàn toàn bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.  

Điều đáng tiếc là ông Obama lại phải khẳng định rằng quyết định ấy “không nhắm vào Trung Quốc” là một phát biểu không cần thiết. Đáng tiếc hơn vậy là ông gạt qua một bên mối quan tâm về tình trạng vi phạm nhân quyền quá trắng trợn của Hà Nội đã được Quốc hội và các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền nêu ra. Và ông được chế độ đáp lễ bằng cách ngăn cản việc ông tiếp xúc với một số nhân vật bất đồng chính kiến, thậm chí còn giam giữ họ để họ khỏi gặp Tổng thống Mỹ.  

Hai điều ấy gây thất vọng cho nhiều người về sự quyết đoán của tổng thống Hoa Kỳ.  

Nhưng dù quyết định gỡ bỏ việc xuất cảng võ khí được thông báo một cách ngoạn mục – hay nhục nhã – sự thật thì việc Hà Nội mua võ khí của Hoa Kỳ vẫn sẽ được cứu xét qua từng hồ sơ và Quốc hội Mỹ vẫn có tiếng nói trong từng quyết định ấy để các loại võ khí siêu hạng của Hoa Kỳ không lọt vào tay một đối thủ, là Trung Cộng, cường quốc chống lưng cho chế độ Hà Nội, và yếu tố nhân quyền sẽ còn chi phối từng quyết định xuất cảng. Quả thật Hoa Kỳ muốn bình thường hóa quan hệ với một chế độ không bình thường trong quan hệ của chế độ với chính người dân của mình. Lại một thành tích khác của Barack Obama! Không đáng ngạc nhiên nhưng đáng buồn.




Tiến Sĩ Nguyễn Bá Tùng(Trưởng Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam) 

"Mỹ bỏ cấm vận là chuyện đương nhiên, thuần túy lợi ích kinh tế. Tôi thấy xót xa, vì cố tìm chữ nhân quyền trong những lời nói của Tổng Thống Obama, nhưng không thấy. Có lẽ cộng đồng người Việt ở hải ngoại không đủ mạnh để Tổng Thống Obama quan tâm."   

Tiến Sĩ Lê Minh Nguyên (Thành viên Mạng Lưới Nhân Quyền)  

Chính quyền Obama đã nhịn nhục Đảng CSVN một cách quá đáng. Để được gì? - Một hy vọng (hay là một cam kết trong bí mật?) là Việt Nam sẽ ngã về phía Hoa Kỳ trong vấn đề an ninh và thương mại, phục vụ cho chủ trương xoay trục của Hoa Kỳ?

Nhân quyền thì luôn luôn bị nằm nguội lạnh phía sau (back burner). Nhìn CSVN cư xử nhân quyền trong chuyến Obama viếng thăm này:
- Thả LM Nguyễn Văn Lý sớm được hơn 1 tháng.
- Bắt công dân Mỹ Nancy Nguyễn.

- Đàn áp thô bạo người dân quan tâm môi trường.


Chính quyền Obama chỉ hổ trợ nhân quyền Việt Nam trên đầu môi chót lưỡi. 


Rồi nhìn cách CSVN cho người ra phi trường Nội Bài đón ông Obama tối Chủ Nhật 22/5: chỉ là hai nhân vật cấp thấp của Bộ Ngoại Giao (Thứ Trưởng Hà Kim Ngọc) và Phủ Chủ Tịch (Chủ Nhiệm Văn Phòng Đào Việt Trung) - Một sự hạ thấp vị thế của Tổng Thống Obama cũng như của siêu cường số một thế giới.  

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, tờ báo thuộc cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, hôm 19/5 viết rằng việc “Việt Nam tiến lại gần hơn Mỹ là một tiến trình tự nhiên đối với việc phát triển nền kinh tế dựa vào xuất khẩu ở Đông Nam Á, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc Hà Nội có ý định xa lánh Trung Quốc..." “Nếu Hoa Kỳ tính dùng Việt Nam để khống chế Trung Quốc thì đó là điều vô vọng." Nó cho thấy hai điều: (1) Trung Quốc vẫn khống chế toàn diện Đảng CSVN và (2) Đảng CSVN chỉ lợi dụng Hoa Kỳ.  


Chính quyền Obama tương nhượng đến thế là cùng!   


Tạ Phong Tần (Blogger)  


"Năm 2012, tôi đọc báo Nhân Dân phỏng vấn ông Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam thời đó rêu rao quân đội Việt Nam chính quy, hiện đại, nhưng sự thưc hải quân CSVN quá yếu. Ngay cả khi ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc tấn công, có bảo vệ gì được cho dân. Không có vũ khí để tranh chấp trên biển."


"Năm 2014, Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry tuyên bố bỏ một phần cấm vận. Lập tức truyền thông trong nước cho đó là một thắng lợi cho Việt Nam. CSVN quên rằng người Mỹ có câu thòng rằng, phải được Tổng Thống Mỹ phê duyệt. Như thế bỏ cấm vận vẫn như chưa bỏ mà thôi."


"Ngày nay, Tổng Thống Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận hoàn toàn, là một người dân thường, trên thực tế làm sao biết có câu thòng nào hay không? Không ai biết chi tiết!"


"Tóm lại ai cũng thấy Trung Quốc leo thang ở biển Đông, họ coi cứ như ở ao nhà của mình. Việt Nam không có khả năng chống. Khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận thì CSVN buộc phải theo Mỹ thôi!"



Loretta Sanchez
(Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ)


Dân Biểu Loretta Sanchez (CA-46), phát biểu rằng Hạ Viện Hoa Kỳ tuần trước thông qua phần đề nghị tu chính của bà, rằng sự gia tăng liên hệ về quân sự với Việt Nam phải tùy thuộc điều kiện Việt Nam thực thi cải tổ về nhân quyền.


Trích Thông Cáo Báo Chí:  


"Tôi sợ rằng sớm bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, Hoa Kỳ làm suy yếu một cách nguy hiểm đòn bẩy của chúng ta để bảo đảm cải cách nhân quyền tại Việt Nam trong tương lai. Bây giờ, còn ưu đãi gì để dành cho chính phủ Việt Nam thấy ý nghĩa, để thực hiện những cải cách nhân quyền và tôn trọng các quyền dân sự của người dân Việt Nam? Chúng ta đã cho họ một vé miễn phí kèm theo một cảnh báo nghiêm khắc mà Việt Nam có thể dễ dàng bỏ qua."   


"Tổng thống Obama sẽ gặp các nhà hoạt động nhân quyền vào sáng mai tại Hà Nội. Nhưng hầu hết, nếu không nói là tất cả, các nhà hoạt động này đã bị quản thúc tại gia hoặc bị công an bắt giữ. Vì thế, ngay trong chuyến thăm của tổng thống, chính phủ Việt Nam tiếp tục có các hành vi vi phạm nhân quyền trắng trợn, có hệ thống và nghiêm trọng đối với người dân Việt Nam, từ việc hành hung và giam giữ các nhà hoạt động ôn hòa, nhà báo và gia đình của họ; để đàn áp dữ dội về tự do ngôn luận, bất đồng chính kiến và tự do báo chí. Tôi sẽ tiếp tục lên tiếng quan ngại nghiêm trọng của tôi về triển vọng ưu tiên thương mại hoặc sức mạnh quân sự mà không có nhân quyền."   


"Hôm qua, Phụ Tá Ngoại Trưởng Patrick Murphy, đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, gọi tôi và chúng tôi đã có một cuộc thảo luận về chính sách mới của chính quyền. Tôi đã nói với ông Murphy rằng sự lựa chọn của chính quyền Mỹ trong việc theo đuổi các chính sách mới này sẽ được các sử gia đánh giá gay gắt. Theo ông Murphy việc thả Linh Mục Lý sớm trước khi mãn hạn tù, là một sự nhượng bộ lớn cho chính phủ Việt Nam, tuy nhiên đó vẫn không đủ. Chính phủ Việt Nam phải thả tất cả các tù nhân chính trị nhằm thể hiện cam kết của họ để cải thiện nhân quyền. Đó là một ngày buồn cho chính sách đối ngoại của Mỹ và nhân quyền."    



Alan Lowenthal
(Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ)


Trích Thông Cáo Báo Chí:


“Quyết định của Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam là quá sớm và thất sách. Tôi vô cùng thất vọng khi chúng ta mất đi thêm một cơ hội nhằm thúc đẩy chính quyền Việt Nam đưa ra bất kỳ cam kết nào về việc cải thiện nhân quyền của người dân Việt Nam."

“Bằng bất kỳ phương thức đo lường nào, Việt Nam gần đây vẫn chưa có tiến triển hướng tới việc tôn trọng những quyền tự do của chính người dân của họ. Chỉ trước thời gian Tổng Thống Obama đến ViệtNam, chính quyền CSVN đã đàn áp các cuộc biểu tình vì thảm họa môi trường đang xảy ra tại bốn tỉnh Miền Trung Việt Nam và sau đó là cuộc bầu cử Quốc Hội CSVN được dựng lên và các ứng viên độc lập không được Đảng Cộng Sản phê chuẩn đã bị loại bỏ. Ba ngày trước đây, một người Mỹ gốc Việt hoạt động vì nhân quyền là cô Nancy Nguyễn từ Nam California đã bị mất tích tại Việt Nam. Trong ngày Tổng Thống Obama đặt chân đến Việt Nam, các nhà hoạt động và một số ký giả dự trù sẽ gặp Tổng Thống đã bị ngăn chặn bởi các thế lực của chính quyền CSVN."


“Việt Nam tiếp tục bắt giam các tù nhân lương tâm thuộc mọi giới, từ các luật sư nhân quyền, bloggers, cho đến các nhà hoạt động vì quyền lao động và các vị lãnh đạo tôn giáo. Nếu Việt Nam muốn xây dựng một mối quan hệ mạnh mẽ hơn với Hoa Kỳ, và trước khi Hoa Kỳ bán bất kỳ vũ khí sát thương nào cho Việt Nam, thì chính quyền CSVN phải bắt đầu tôn trọng các quyền tự do và căn bản của người dân Việt Nam.”

Tự Cô Lập hay Can Thiệp Quốc Tế?



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 160523
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Động lực hợp lý nhưng đôi khi vô đạo của ngoại giao Hoa Kỳ

 * Tại sao phải hèn thế, Obama? *


Trong cuộc tranh cử tổng thống hiện nay lại Hoa Kỳ, hai ứng cử viên dẫn đầu của hai đảng chính là Hillary Cliton bên Dân Chủ và Donaltd Trump bên Cộng Hòa có một khác biệt lớn về lập trường đối ngoại. Hillary có chủ trương thiên về khuynh hướng can thiệp quốc tế không chỉ vì đã từng là Ngoại trưởng mà vì thuộc về dòng chính lưu của đảng Dân Chủ. Tỷ phú Donald Trump có vẻ - có vẻ thôi - như nằm trong một nhánh thiểu số có ảnh hưởng bên Cộng Hòa là dành ưu tiên cho nước Mỹ mà tránh can thiệp vào thiên hạ sự, thường được gọi là chủ trương tự cô lập, isolanionist.

Thật ra, lối phân biệt ấy vẫn phiến diện, diễn nôm là nông cạn, và một cách giải thích đơn giản chính là nhìn vào trường hợp của hai Tổng thống cuối cùng là George W. Bush và Barack Obama.

Khi tranh cử năm 2000, Thống đốc Bush của tiểu bang Texas nêu rõ chủ trương tránh can thiệp vào nội tình xứ khác để giúp người ta xây dựng quốc gia hay phát huy dân chủ theo những giá trị truyền thống của nước Mỹ. Ông còn đả kích Tổng thống Bill Clinton là can thiệp vào Kosovo thuộc Liên bang Nam Tư cũ để xây dựng một trật tự theo quan điểm của nước Mỹ. So sánh với ứng cử viên bên Dân Chủ năm đó là Phó Tổng thống Al Gore, ông Bush thiên về xu hướng tự cô lập và ưu tiên giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội của nước Mỹ. Sau khi đắc cử, ông Bush là một Tổng thống can thiệp nhiều nhất vào chuyện quốc tế với cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu cho đến nay vẫn chưa kết thúc.

Chủ yếu thì chính là vì việc can thiệp mở rộng của ông Bush trước sự mệt mỏi của dân Mỹ mà Nghị sĩ Barack Obama đã đắc cử Tổng thống năm 2008 sau khi chiến thắng Nghị sĩ Hillary Clinton một cách bất ngờ trong vòng sơ bộ của đảng Dân Chủ.

Không chỉ nói đến việc cải tạo nước Mỹ, ứng cử viên Obama còn hứa hẹn triệt thoái khỏi hai chiến trường Iraq và Afghanistan và không áp đặt những giá trị tinh thần rất đáng ngờ của nước Mỹ cho các xứ khác. So với Hillary thì ông gần với khuynh hướng tự cô lập, chẳng khác gì ông Bush năm 2000. Sau khi đắc cử và qua hai nhiệm kỳ, ông Obama đang trở thành một Tổng thống có hành động can thiệp dữ dội nhất, chẳng kém gì ông Bush.

Việc triệt thoái khỏi hai chiến trường kia vẫn chưa xong, Hoa Kỳ còn can thiệp vào Libya và lao vào một cuộc chiến chưa có ngày tàn với các lực lượng quá khích Hồi giáo xưng danh “Thánh Chiến” tại Trung Đông. Ông cũng chủ trương “chuyển trục” về Đông Á từ năm năm trước và đem lại hy vọng cho các nước trong khu vực trước đà bành trướng của Trung Cộng.

Và y như Bush là người đòi phát huy dân chủ để bảo vệ nhân quyền rồi ngồi với lãnh tụ cộng sản Hà Nội dưới bức tượng của Hồ Chí Minh, Obama cũng nói đến nhân quyền cho Việt Nam nhưng quyết định gỡ bỏ lệnh cấm vận võ khí cho Hà Nội. Nhiều người bèn kết luận rằng Obama vẫn chỉ là một sao bản của Bush.  

Nhìn từ bên ngoài thì các nghịch lý trên của Hoa Kỳ khiến chúng ta nên tìm hiểu sâu xa hơn về hai trào lưu đối ngoại tưởng như tiêu biểu của nước Mỹ, tự cô lập và can thiệp quốc tế. Sự thể lại không trắng đen rõ rệt như vậy mà có khi chỉ là hai chiến lược của cùng một triết lý chính trị là “Nước Mỹ Trên Hết”. Nếu không hiểu ra điều này, người ta sẽ lại thất vọng nữa.

Nói về quá khứ thì từ trăm năm nay, Hoa Kỳ có vẻ như đong đưa giữa hai chủ trương đối ngoại kể trên. Thí dụ như có nên tham gia vào Hội Quốc Liên (League of Nations) hoặc can thiệp vào Âu Châu hay không là hai chọn lựa. Phe tự cô lập thì cho là nên tránh để bị lôi vào các tranh chấp ngoại giao, khủng hoảng hoặc chiến tranh ở nơi khác. Phe can thiệp quốc tế thì lý luận rằng nếu không dính vào thiên hạ sự thì Hoa Kỳ sẽ mất ảnh hưởng và rốt cuộc thì thiên hạ sự lại đe dọa an ninh của nước Mỹ. Từ khác biệt quan điểm ấy, người ta thấy Hoa Kỳ tham gia Thế chiến I khá trễ, ba năm sau khi chiến cuộc bùng nổ tại Âu Châu, và cũng khá trễ trong Thế chiến II, sau khi bị Nhật tấn công Trân Châu Cảng vào cuối năm 1941.

Sự thật lại quái đản hơn vậy.

Giới lãnh đạo Hoa Kỳ có thể tranh luận về việc có nên góp phần làm thay đổi trật tự tại Âu Châu không – như chủ trương của Donald Trump ngày nay là “không nên” – nhưng cùng lúc đó, xu hướng tự cô lập không hề can gián việc tích cực liên hệ đến Trung Quốc, tới độ gửi pháo hạm và viện trợ quân sự cho Trung Hoa Dân Quốc. Chẳng hóa ra Mỹ tránh chuyện Âu Châu mà lao vào Châu Á? Sự thật thì lãnh đạo Hoa Kỳ chỉ phân vân giữa hai chiến lược bảo vệ quyền lợi của nước Mỹ là nên can thiệp nhiều hay ít và theo hướng nào mà thôi.

Sự thật còn không đơn giản khi chúng ta châm thêm yếu tố đạo lý.

Hiến pháp Hoa Kỳ nêu rõ tự do dân chủ là giá trị tinh thần của nước Mỹ và giá trị ấy mới là kim chỉ nam soi sáng đường lối đối ngoại. Vì vậy, nhiều quốc gia vẫn coi Hoa Kỳ là lãnh đạo trào lưu dân chủ toàn cầu và nhiều đời tổng thống đã viện dẫn điều ấy, người sau cùng là Tổng thống Obama. Nhưng trong lịch sử và ngay hiện tại, Hoa Kỳ vẫn có thể khắng khít hợp tác với các chế độ độc tài và vô đạo để chiến thắng một chế độ vô đạo hơn. Liên bang Xô viết là điển hình trong Thế chiến II để thắng Đức Quốc Xã. Trung Cộng là trường hợp kia vào cuối thời Chiến tranh lạnh để đánh gục Liên Xô.

Và Việt Nam Cộng Sản là một ví dụ mới nhất, nhưng để làm gì thì ta còn phân vân!

Trong việc nối dáo cho giặc, xu hướng can thiệp quốc tế có thể phản bác chủ trương tự cô lập vì “không can thiệp để ngăn ngừa tội ác thì cũng là đồng lõa với tội ác”. Việc Chính quyền Obama nhảy vào cuộc nội chiến tại Libya là tiêu biểu cho chiến lược phát huy giá trị luân lý của nước Mỹ. Nó chẳng có nhiều khác biệt so với lý luận “Tân Bảo Thủ” bên đảng Cộng Hòa dưới thời Bush. Việc Obama vừa xả cảng cho chế độ Cộng sản Hà Nội có thể khiến những ai yêu chuộng dân chủ phải nhíu mày, nhưng chiến lược đối ngoại ấy lại có một lý do hay lý cớ là giúp Hà Nội có thêm phương tiện tự vệ, trước đà bành trướng của Trung Cộng, một đối tác chiến lược của nước Mỹ mà Obama phải hèn hạ nói rằng việc dỡ bỏ lệnh cấm vận võ khí cho Việt Nam không nhắm vào Trung Quốc.

Vì thế, luân lý của nước Mỹ có thể là chuyện co giãn. Nhưng quyền lợi tối thượng của Hoa Kỳ là cái gì đó không dời đổi. Xứ nào hiểu lầm thì ráng chịu!