Thursday, April 24, 2014

Duy Ngô Nhĩ và An Ninh Đông Nam Á



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt 140422

Dân Thiểu Số Đông Thổ Và Bài Toán Quốc Tế Của Bắc Kinh

 * Dân Duy Ngô Nhĩ trong một trại tạm cư Thái Lan, ngày 14 Tháng Ba 2014 *


Vụ xung đột hôm 18 tại cửa Bắc Phong Sinh của tỉnh Quảng Ninh tiếp giáp với Trung Quốc đã khiến bảy người thiệt mạng, kể cả hai sĩ quan biên phòng của Việt Nam. Biến cố ấy khiến ta nên chú ý tới những vấn đề sâu xa hơn của Bắc Kinh trong cách giải quyết bài toán Duy Ngô Nhĩ, với hậu quả lan rộng vào cả khu vực Đông Nam Á. "Hồ Sơ Người-Việt" sẽ tìm hiểu chuyện này.


Từ Đông Thổ tới Duy Ngô Nhĩ


Trong các sắc dân tại Trung Á, người Hồi Hột hay Đột Quyết đã từng có nền văn hóa và lịch sử lâu dài trước khi bị Hán tộc xâm chiếm và dần dần đồng hóa từ đời Mãn Thanh cho đến thời nay.

Tên gọi là Uighurs hiện nay là do dân Nga đặt ra dưới thời Xô viết, được người Trung Hoa dùng lại và phiên dịch thành Duy Ngô Nhĩ. Sắc dân này thuộc gốc Thổ (Turkic) tương tự như người dân tại các nước Kazakhstan, Kyrgyzstan, Azerbaijan, Turkmenistan hay Turkey, v.v... Đa số của họ theo đạo Hồi. Nhưng nếu người dân của các nước trên đều có một quốc gia riêng thì dân Uighurs lại không có lãnh thổ vì xứ sở bị Bắc Kinh thôn tính và sát nhập vào đất Trung Quốc từ năm 1949, với tên gọi là "Khu Tự trị Dân tộc Duy Ngô Nhĩ" ở Tân Cương.

Chính cái tên Tân Cương, biên cương mới, là do nhà Thanh đặt ra năm 1884 sau khi chinh phục vùng đất mà người Đột Quyết gọi là Đông Thổ (đất của dân Thổ miền Đông). Quốc tế gọi đó là East Turkestan, với chữ "stan" có nghĩa là "đất của". Nói đến Đông Thổ là hàm ý nhắc lại gốc tích khác biệt, độc lập, hay "không phải là Trung Quốc" của dân địa phương. Sau thời Nội chiến, năm 1949, Mao Trạch Đông hoàn tất việc thôn tính với chánh sách biến đất Tân Cương thành vùng trái độn quân sự được Hán hóa, và dân Duy Ngô Nhĩ bị đồng hóa, thành sắc dân thiểu số.

Chủ trương này cũng được áp dụng tại Tây Tạng.

Ngày nay, lãnh thổ Tây Tạng cùng Đông Thổ hay Tân Cương, được lãnh đạo Bắc Kinh gọi là "quyền lợi cốt lỗi", hay "hạch tâm nghĩa lợi". Dĩ nhiên là dân Tây Tạng và Đột Quyết không muốn vậy. Nhưng nếu dân Tây Tạng đấu tranh tương đối ôn hòa theo chủ trương của đức Đạt Lai Lạt Ma - họ chỉ xin được quyền tự trị chứ không đòi độc lập - thì dân Đột Quyết hay Hồi Hột lại có đường lối cực đoan hơn.

Họ không từ chối giải pháp bạo động để giành lại độc lập, có tổ chức chính trị như Đảng Hồi giáo Turkestan thì cũng có lực lượng bán quân sự như ETIM, Phong trào Hồi giáo Đông Thổ (East Turkestan Islamic Movement), một tổ chức bị Bắc Kinh kết án là khủng bố.

Nhìn lại lịch sử và tấm bản đồ Trung Quốc thì Hán tộc tập trung tại khu vực Trung Nguyên ở miền Đông đã từng bị các dị tộc tấn công và làm chủ hơn 60% của khoảng thời gian trên ngàn năm vửa qua. Vì vậy, lãnh đạo Trung Quốc qua các thời kỳ đều muốn khống chế biên vực và lập ra vùng trái độn quân sự để bảo vệ Trung Nguyên. Ngược chiều kim đồng hồ từ vùng Đông Bắc trở xuống thì đấy là đất Mãn Châu, Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng.

Nơi có vấn đề nặng nhất chính là đất Tân Cương.

Do hai khía cạnh sắc tộc là gốc Thổ và tôn giáo là theo đạo Hồi, nỗ lực đấu tranh của dân Đột Quyết hay Hồi Hột, Duy Ngô Nhĩ, tại Tân Cương có mối quan hệ đến nhiều xứ Hồi giáo khác, kể cả nước Turkey (hay Thổ Nhĩ Kỳ) ở rất xa. Bên trong lãnh thổ Trung Quốc, do chính sách dời dân để dễ đồng hóa của Bắc Kinh, dân Hồi Hột hiện sống tản mác ở nhiều nơi ngoài đất Tân Cương, kể cả Hồ Nam hay Vân Nam.

Việc đấu tranh của họ gây ra nhiều biến động liên tục và kết thúc với nhiều vụ thảm sát mà thế giới bên ngoài không chú ý. Sau vụ khủng bố 9-11 năm 2001 tại Hoa Kỳ, Bắc Kinh còn khéo lợi dụng tâm lý của quốc tế và nước Mỹ, để đưa các tổ chức đấu tranh của dân Hồi Hột vào danh mục khủng bố.

Một bước ngoặt của việc đấu tranh này là vụ thảm sát tại Côn Minh, thủ phủ của Vân Nam, vào đầu Tháng Ba vừa qua.


Vụ Thảm Sát Côn Minh


Xưa nay, dân Hồi Hột có áp dụng phương pháp bạo động khi tấn công đồn bót hay trụ sở công an, chủ yếu là trong khu vực Tân Cương, và nhắm vào cán bộ hay cảnh sát của Trung Quốc. Hôm mùng một Tháng Ba vừa qua, các nhóm dân quân của họ lại ra tay theo đường lối khác hẳn.

Họ tấn công thường dân, và tại nhà ga hỏa xa của Côn Minh. Khoảng một chục người rút dao chém bừa trong nhà ga khiến 29 người thiệt mạng và 130 người bị thương. Cảnh sát bắn chết bốn hung thủ ở tại chỗ, bắt được một nghi can là phụ nữ và truy lùng những người còn lại mà chưa ra tông tích.

Biến cố xảy ra khi lãnh đạo Trung Quốc đang chuẩn bị "lưỡng hội" là hai hội nghị của Quốc hội và Hiệp chính (Hội nghị Hiệp thương Chính trị, một cơ chế tư vấn của đảng) nhưng đáng chú ý vì nhắm vào thường dân vô tội và ở ngoài khu vực Tân Cương.

Đáng chú ý hơn cả chính là địa điểm Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam.

Vân Nam là một tỉnh bị khóa trong lục địa (land-locked province), tiếp giáp với Tây Tạng, tỉnh Quảng Tây, Miến Điện, Lào và Việt Nam. Đây là một tỉnh nghèo, có mức thất nghiệp cao, thường xuyên bị động vì sự bất mãn của người dân chống chính quyền tham ô và bọn cường hào ác bá có liên hệ đến đảng viên cán bộ. Vân Nam còn nổi tiếng vì ba đặc sản là 1) các tổ chức ma túy, 2) các nhóm buôn lậu qua biên giới và 3) mâu thuẫn giữa các sắc tộc thiểu số với nhau.

Ờ một cấp độ cao hơn, về an ninh và kinh tế, Vân Nam còn là bàn đạp cho Bắc Kinh mở đường giao thương với Lào, Miến, Thái Lan và tiến xuống vùng Đông Nam Á. Tiến tới Đông Nam Á ở hướng Tây Nam, thay vì hướng Đông Nam như qua vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa và eo biển Malacca.

Ngay sau vụ thảm sát tại Côn Minh, một lãnh tụ của đảng Turkestan Islamic Party và có liên hệ với tổ chức võ trang ETIM là Abdullah Mansour đã ra thông cáo ngợi ca hành động này. Ông ta hiện lẩn trống trong khu vực biên giới giữa Afghanistan và Pakistan.

Dù sao trong vụ Côn Minh, có thể là các nhóm võ trang ô hợp và rời rạc của dân Duy Ngô Nhĩ đã "tiện đâu đánh đấy" chứ cũng chẳng có một chủ trương hay lãnh đạo thống nhất. Nhưng mà nhìn từ Bắc Kinh thì mối liên hệ giữa dân Duy Ngô Nhĩ với các nhóm khủng bố Hồi giáo hoạt động rải rác từ Trung Á đến Nam Á và Đông Nam Á mới là chuyện đáng lo.

Còn người Việt chúng ta nên tự hỏi là vụ Côn Minh và Bắc Phong Sinh có liên hệ gì với nhau? "Hồ Sơ Người-Việt" tìm câu trả lời... tại Thái Lan.



Thái Lan và Hồi Dân Nhập Lậu


Mươi ngày sau khi xảy ra vụ thảm sát thường dân tại Côn Minh, thời sự quốc tế loan một cái tin quá nhỏ.

Hôm 13 Tháng Ba, Chính quyền Thái Lan tại quận Sadao trong tỉnh Songkla bắt hai nhóm Hồi giáo nhập lậu vào Thái, một nhóm 218 người, một nhóm 78 người. Họ theo đạo Hồi, tự xưng là người Thổ (Turkish) nhưng nếu tinh ý thì ai cũng biết là Đông Thổ, hay Uighurs. Giới chức Thái tinh ý biết ngay vì năm ngoái họ đã bắt giử 112 người tỵ nạn Hồi giáo, và sau vụ Songkla mươi ngày thì chặn thêm 15 người Hồi giáo tỵ nạn xâm nhập từ Cam Bốt vào tỉnh Sa Kaeo. Ngần ấy người tỵ nạn đều có chung đạo Hồi, xuất xứ Uighurs và... có tiền.

Họ không là khủng bố mà là nạn dân đã trả tiền, có khi tới gần hai chục ngàn đô la, để ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc. Tức là Thái Lan vừa bắt thêm một mẻ lưới trong mạng lưới di dân Hồi Hột. Có kinh nghiệm về nạn dân - chuyện thuyền nhân của chúng ta là một – và có vấn đề về Hồi giáo tại các tỉnh miền Nam, Chính quyền Thái bèn mở cuộc điều tra và tìm cách đối phó.

Họ thấy người Duy Ngô Nhĩ có mạng lưới nhiều ngả để ra khỏi Trung Quốc, đi qua bốn nước hạ vực Mekong là Miến, Lào, Miên, Việt để tới miền Nam Thái Lan rồi Mã Lai Á. Từ Malaysia, di dân Hồi giáo hy vọng được giấy thông hành để tới xứ Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc một xứ văn minh dân chủ là Úc.

Thái Lan tìm ra điều mà Bắc Kinh đã biết từ lâu.

Lãnh đạo Trung Quốc tất nhiên là biết rằng dân Duy Ngô Nhĩ của họ đã tìm cách liên lạc với thế giới bên ngoài để qua ngả Tây Nam của lãnh thổ mà tìm đất sống ở nơi khác qua sự can thiệp hay trợ giúp của quốc tế, kể cả Cao ủy Tỵ nạn Liên hiệp quốc. Trên đường đào thoát qua ngả Tây Nam, Côn Minh của tỉnh Vân Nam là một trạm quan trọng vì 1) được Bắc Kinh dùng làm bàn đạp kinh tế xuống Đông Nam Á; 2) dân Hồi giáo đã bị đẩy khá đông về đây sau vụ nổi dậy đẫm máu năm 2009 tại Ô Lỗ Mộc Tề (Urumqi) của Tân Cương; và 3) trong các mặt hàng buôn lậu sở trường của tỉnh Vân Nam, nhiều người Hoa đã khai thác thêm món nạn dân Hồi giáo.

Với Bắc Kinh thì đây là vấn đề chính trị vì phơi bày thực trạng Hồi giáo tại Tân Cương, nhưng biến thành an ninh sau vụ thảm sát tại Côn Minh, và trở thành tiêu chuẩn về ngoại giao. Bắc Kinh yêu cầu các nước Đông Nam Á phải giải giao người Hồi giáo nhập lậu về cho họ vì đấy là những kẻ liên hệ đến khủng bố.

Ngẫu nhiên sao – hoặc tiện lợi chừng nào - vụ thảm sát tại Côn Minh hôm mùng một Tháng Ba, rồi vụ xung đột tại Bắc Phong Sinh của Việt Nam hôm 18 vừa qua, lại chứng minh là Bắc Kinh có lý! Trả dân khủng bố Duy Ngô Nhĩ về cho Trung Quốc là điều hợp lý.

Khi theo dõi kỹ chuyện này, người ta có thể thấy ra một quy tắc chung. Vì biết trước số phận đen tối của nạn dân, các quốc gia tương đối có tư thế mạnh đều đắn đo ngần ngại trước lời đòi hỏi của Bắc Kinh, như trường hợp của Mã Lai và Thái Lan. Chính quyền Thái còn tìm cách liên lạc với quốc tế hay một quốc gia đệ tam như Turkey để xin họ đón nhận nạn dân Duy Ngô Nhĩ.

Các nước bị sức ép quá nặng của Bắc Kinh thì mau mắn chấp hành và cũng chấp nhận luôn lý luận của Trung Quốc: người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ là khủng bố. Vụ Bắc Phong Sinh nên được nhìn lại theo ý nghĩa đó.

Cụ thể là trên đường vượt tuyến có cả đàn bà con trẻ thì có mấy ai đi tỵ nạn mà nổ súng? Biết đâu chừng, kẻ nổ súng chính là người dẫn đường?

______________________


Kết luận ở đây là gì?

Bắc Kinh có thể uy hiếp an ninh của các lân bang Đông Á, mà lại gặp vấn đề an ninh bên trong. 

Một trong các vấn đề ấy là dân Duy Ngô Nhĩ, khiến Trung Quốc lại xuất cảng nạn dân. Dù dán nhãn khủng bố lên món hàng này, Bắc Kinh cũng khó che giấu nổi cái tội đàn áp nhân quyền.

Các quốc gia bị Trung Quốc uy hiếp về an ninh có nên giúp Bắc Kinh bảo vệ an ninh và dẫn độ người Hồi cho họ hay chăng? Nếu không muốn tiếp tay với Trung Quốc thì họ có thể làm gì?

Tại sao không quốc tế hóa hồ sơ này và yêu cầu các nước cùng tham gia giải quyết? Quốc tế hóa chuyện nạn dân Duy Ngô Nhĩ có khi dễ hơn chuyện lưỡi bò chín khúc ngoài Đông hải, mà còn được tiếng là bảo vệ nhân quyền.

Wednesday, April 23, 2014

Kích Thích Kinh Tế

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 140423
Diễn đàn Kinh tế 

Nhà nước kích cầu, nhà giàu rất sướng và nhà nghèo lại khổ  


Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (ảnh minh họa)
* Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (ảnh minh họa) RFA files* 
 


Nghe bài này


Kinh tế Việt Nam đang có một số dấu hiệu đình đọng có thể giảm đà tăng trưởng và gây ra tình trạng suy trầm. Trước sự thể đó, một số kinh tế gia trong nước nói đến việc Chính phủ nên có một gói hỗ trợ kinh tế qua biện pháp kích cầu trong khi nhiều người lại nêu ra những yếu tố khiến người ta nên thận trọng về kích cầu. Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về việc kích cầu này. Xin quý thính giả theo dõi phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, khi Ngân hàng Thế giới vừa đưa ra một báo cáo có nội dung lạc quan về tình hình kinh tế Đông Á Thái Bình Dương trong năm nay và năm tới thì tại Việt Nam, người ta lại thấy một vài chỉ dấu đình đọng, gọi là giảm phát hay thiểu phát về kinh tế Việt Nam. Vì thế, có người đã nói đến việc Chính phủ phải hỗ trợ kinh tế bằng một gói kích cầu, nhưng nhiều nhà nghiên cứu kinh tế lại cho là nên cẩn trọng với việc kích cầu và tránh chuyện lợi bất cập hại. Trên diễn đàn này, ông cũng thường nói tới một hiện tượng là "liều thuốc đổ bệnh" khi nhà nước chẩn đoán sai và tung ra biện pháp kinh tế với hậu quả bất lường và có hại. Vì vậy, xin đề nghị ông nêu ý kiến về chuyện kích cầu này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi rất thận trọng khi đề cập đến việc này và sẽ đi từng bước để thính giả của chúng ta hiểu ra sự hợp lý trong tiến trình quyết định về chính sách can thiệp kinh tế.
-
 Tôi cho rằng ta nên ý thức được hoàn cảnh bất thường của việc quản lý kinh tế ở cấp quốc gia khi kinh tế toàn cầu đang ở vào tình trạng phục hồi vẫn còn bấp bênh trong nhiều năm biến động và trước những nguy cơ khủng hoảng khác, về cả an ninh lẫn kinh tế. Chẳng hạn như từ chuyện Ukraine đến việc Trung Quốc phải chuyển hướng và Hoa Kỳ điều chỉnh lại chính sách kích thích kinh tế bằng biện pháp tiền tệ. Đó là về bối cảnh cho Việt Nam.

Vũ Hoàng: Nói về bối cảnh cho Việt Nam, ông nghĩ là người ta nên thận trọng như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là tình trạng "mơ hồ" hay ambiguity của hệ thống thu thập thống kê thiếu rõ ràng. Một thí dụ ai cũng nói tới là sự mơ hồ của khối nợ xấu, không sinh lời và sẽ mất của các ngân hàng. Thí dụ khác là dấu hiệu đình trệ kinh tế của Quý một mà có người gọi là "giảm phát" hay "thiểu phát". Người ta thật ra chưa thống nhất ý kiến về các dấu hiệu này.


Một công trình xây khách sạn đang hoàn thành . AFP
Một công trình xây khách sạn đang hoàn thành. AFP


- Thứ hai là tình trạng bấp bênh hay bất định của môi trường kinh tế khiến cho không ai biết chắc là việc gì sẽ xảy ra. Đây là sự thể khách quan của lãnh đạo nhiều nước chứ không riêng gì của Việt Nam. Thứ ba là hiện tượng tôi xin gọi là "trồi sụt bất ngờ" hay "volatile", là khi mà kinh tế toàn cầu đang khúc quanh với giá nguyên nhiên vật liệu, thương phẩm, nông sản và lương thực lẫn tỷ giá đồng bạc có thể thăng giáng khá bất ngờ và gây hậu quả cho kinh doanh và kinh tế. Thứ tư và sau cùng, khi tổng hợp lại thì ta phải thấy rằng sinh hoạt kinh tế có yếu tố phức tạp từ bên trong ra lẫn từ bên ngoài tác động vào, chứ không là một bài toán đơn giản.

- Trong cái khung bốn góc là mơ hồ, bất định, trồi sụt và phức tạp của tình hình, người lãnh đạo kinh tế hoặc lãnh đạo bất cứ một lĩnh vực nào cũng phải nhìn thấy trước những gì mà người khác chưa thấy ra. Rồi từ đó xác định được thực tại và đề ra mục tiêu sẽ phải thi hành. Thông thường thì ta dễ rơi vào hoàn cảnh bất động nên chẳng dám làm gì và càng ở trên cùng thì càng dễ bị tê liệt. Trong khi ở dưới thì nhìn sự thể một cách đơn giản hơn nên tưởng là cứ làm việc này việc kia là xong. Lãnh đạo giỏi là người phải dám làm trên cơ sở của các dữ kiện thật ra chưa hoàn hảo. Đó là về bối cảnh chung, sau đó là mới nói đến kích cầu hay không.

Khi một nền kinh tế còn phương tiện sản xuất dư dôi mà chưa đạt hết công xuất hoặc chưa giải phóng hết tiềm lực và vì vậy bị đình trệ hay suy trầm thì nhà nước có thể can thiệp. Biện pháp can thiệp thông dụng cứ được nói tới là kích thích số cầu trên thị trường - Nguyễn-Xuân Nghĩa


Vũ Hoàng: Nhưng trước hết thưa ông, thính giả của chúng ta muốn biết "kích cầu" là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi đơn giản này thật ra rất hay vì giúp mình hiểu được là đang nói về chuyện gì.

- Trong một giai đoạn khá lâu, người ta cứ cho là kinh tế vận hành theo quy luật tự nhiên và tự động tìm ra một quân bình tối hảo nào đó. Thật ra, kinh tế là kết quả tổng hợp của nhiều quyết định kinh doanh của cả triệu cả tỷ tác nhân, là doanh nghiệp, nhà sản xuất hay giới tiêu thụ và có những chu kỳ lên hay xuống, tăng hay giảm. Khi một nền kinh tế còn phương tiện sản xuất dư dôi mà chưa đạt hết công xuất hoặc chưa giải phóng hết tiềm lực và vì vậy bị đình trệ hay suy trầm thì nhà nước có thể can thiệp. Biện pháp can thiệp thông dụng cứ được nói tới là kích thích số cầu trên thị trường, hay nói cho dễ hiểu là tạo ra sức hút. Nếu số cầu gia tăng thì doanh nghiệp hay con người sẽ tận dụng những phương tiện có sẵn, mà dư dôi vì chưa dùng tới, để nâng cao sản lượng và tạo thêm việc làm tức là gia tăng lợi tức cho người khác.

- Do đó, kích cầu chỉ là kích thích số cầu trên thị trường, để từ đó nâng mức cung và đem lại điều kiện lý tưởng mà ta gọi là "toàn dụng" hoặc tận dụng các phương tiện sản xuất có sẵn.


Một phiên giao dịch
Một phiên giao dịch "đỏ sàn"; tại một công ty chứng khoán Việt Nam trước đây, ảnh minh họa. AFP

Vũ Hoàng: Thưa ông, thế tại sao nhiều người lại nói đến nguy cơ lạm phát của biện pháp kích cầu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì người ta chưa hiểu hai chuyện quan trọng. Thứ nhất là phương tiện sản xuất dư dôi chưa được tận dụng. Nhà máy của tôi có thể sản xuất ra 1000 sản phẩm một ngày nhưng vì thị trường chỉ mua có 800 thì tôi không tận dụng công xuất để làm thêm 200 món hàng sẽ nằm chất đống trong kho. Nếu nhà nước có biện pháp kích cầu là nâng số cầu từ 800 lên 1000 thì nhà máy của tôi sẽ chạy hết công xuất, nhân viên có thêm việc làm và lợi tức.

Khu vực kinh tế nhà nước thì có năng suất kém mà vẫn cứ được nhà nước nâng đỡ và kích thích vì thế lực của các nhóm lợi ích. Họ cần phương tiện của nhà nước qua ngân sách, công chi và các dự án của khu vực công, để đi làm những chuyện không có lợi cho kinh tế quốc dân mà có lời cho họ - Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Thứ hai là chênh lệch cung cầu. Khi phương tiện sản xuất dư dôi ấy không có, như đất đai, thiết bị hay nhân công mà chưa có sẵn hoặc chưa sẵn sàng cho sản xuất mà người ta vẫn kích cầu, tức là vẫn bơm tiền vào kinh tế thì lượng tiền đó không tạo ra sức hút mà người ta trông đợi. Lượng tiền được bơm ra như vậy không khởi động cái nhà máy đã chạy hết công xuất mà chỉ làm nóng máy và gây ra một thất quân bình khác là quá nhiều tiền chạy theo những hàng hóa có giới hạn và đấy là nguyên do lạm phát. Nói chung, biện pháp can thiệp theo lối kích cầu như vậy phải đáp ứng tình hình thực tế để nhất thời khai thông một ách tắc giai đoạn. Khốn nỗi, bơm tiền ra thì dễ, chứ hút vào mới khó và yêu cầu nhất thời thường gây ra tai họa lâu dài.

Vũ Hoàng. Từ sự mô tả đó, ông có thể minh diễn vào hoàn cảnh của Việt Nam như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta để ý thấy là đã có các chuyên gia kinh tế trong nước nêu ra hai vấn đề về kích cầu. Thứ nhất kích thế nào, vào đâu? Thứ hai là không nên kích dàn trải hoặc lại chạy theo nhu cầu của một số nhóm lợi ích thì lợi bất cập hại.  


Ông Dương Chí Dũng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines đã phê duyệt vụ mua sắm ụ nổi cũ kỹ gỉ sét 83M với giá hơn 24 triệu USD
Ông Dương Chí Dũng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines đã phê duyệt vụ mua sắm ụ nổi cũ kỹ gỉ sét 83M với giá hơn 24 triệu USD


- Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ta chứng kiến hai chuyện. Đầu tiên là khu vực kinh tế nhà nước thì có năng suất kém mà vẫn cứ được nhà nước nâng đỡ và kích thích vì thế lực của các nhóm lợi ích. Họ cần phương tiện của nhà nước qua ngân sách, công chi và các dự án của khu vực công, để đi làm những chuyện không có lợi cho kinh tế quốc dân mà có lời cho họ. Tiêu biểu mà ai cũng thấy là chuyện Vinashin hay Vinalines. Khi ấy, kích cầu chỉ là biện pháp nuôi béo thành phần này và phí tổn của biện pháp đó thì người khác phải gánh qua nạn bội chi ngân sách chẳng hạn. Vì vậy người ta mới hoài nghi chuyện kích cầu. Thật ra, nhà nước càng kích cầu thì dân càng khổ, chỉ có tay chân của nhà nước là sướng.

- Chuyện thứ hai là bên dưới hệ thống kinh tế nhà nước, cả triệu xí nghiệp tư nhân thì khốn đốn vì thiếu phương tiện cho sản xuất, thí dụ như vay tiền không được, hoặc phải vay với cái giá rất đắt từ tay chân của nhà nước. Ai cũng biết và nói rằng tư doanh mới tạo ra nhiều việc làm hơn và có hiệu năng đầu tư cao hơn là quốc doanh, tức là tốn ít mà lời nhiều về kinh tế. Nhưng tư doanh lại chết lâm sàng vì bị quốc doanh ớm bóng. Tôi nghĩ rằng vấn đề không phải là "kích cầu" mà "kích cung".
Để tư doanh góp phần nâng cao khả năng cung ứng, tức là làm ăn được dễ dàng và có lời. Muốn như vậy thì không chỉ có biện pháp nhất thời và vô dụng là giảm thuế theo một kỳ hạn nhất định mà phải giản lược hoá thủ tục hành chính và gia tăng mức độ minh bạch trong sáng của luật lệ kinh doanh để giải trừ được nạn tham nhũng Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Chúng tôi hiểu rằng ông bắt đầu đi vào giải pháp. Thưa ông, thế nào là kích cung?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta biết rằng nhà nước cần và nên can thiệp vào kinh tế để tạo điều kiện phát triển hài hòa qua tăng trưởng có phẩm chất - chứ không nên chú mục vào mức tăng trưởng và sùng bái tốc độ tăng trưởng.

- Khi can thiệp thì nhà nước có thể nhắm vào về cầu để nhất thời tạo sức hút cho doanh nghiệp có sẵn phương tiện sản xuất dư dôi mà chưa dùng hết. Nhưng nhìn trong trường kỳ thì nhà nước còn phải nhắm vào vế cung, là khai thông những ách tắc để đẩy mạnh khả năng cung ứng. Tại Việt Nam, người ta cứ máy móc nói đến chữ "kích cầu" thay cho chữ "kích thích kinh tế" ở cả hai vế cung cầu. Ách tắc của Việt Nam là ở số cung khiến tiềm lực kinh tế mới bị nghẽn.

Vũ Hoàng: Phải chăng ông muốn nhắc tới lý luận hay học thuyết kinh tế gọi là "trọng cung" với biện pháp cắt thuế khá nổi tiếng tại Hoa Kỳ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ hoàn cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị của mỗi nước lại mỗi khác nên mình không thể máy móc áp dụng một cách đồng dạng hay đồng hạng được.

- Thông thường, khi kinh tế bị đình trệ hay suy trầm, hoặc tệ hơn vậy là bị suy thoái nghĩa là có mức tăng trưởng thuộc số âm, thì ai cũng có thể nghĩ đến các biện pháp tín dụng là hạ lãi suất và bơm tiền cho vay, hoặc ngân sách là tăng chi hay giảm thuế. Những biện pháp ấy đều có thể công hiệu nhưng luôn luôn di hại với hậu quả bất lường nếu kéo dài quá lâu hoặc bơm không đúng chỗ và thổi lên bong bóng, lại còn tạo ra thói quen vay mượn mà khỏi nghĩ đến lúc trả nợ. Trường hợp của Việt Nam cũng có nhiều lúc như vậy khi ta nhớ đến lượng tín dụng ào ạt bơm ra và gây thất quân bình trong mấy năm trước.

- Tuy nhiên, vẫn nằm trong tinh thần phải nhắm vào vế cung hơn vế cầu, Việt Nam cần khai thông nhiều ách tắc để tư doanh góp phần nâng cao khả năng cung ứng, tức là làm ăn được dễ dàng và có lời. Muốn như vậy thì không chỉ có biện pháp nhất thời và vô dụng là giảm thuế theo một kỳ hạn nhất định mà phải giản lược hoá thủ tục hành chính và gia tăng mức độ minh bạch trong sáng của luật lệ kinh doanh để giải trừ được nạn tham nhũng và bắt bí tư nhân.

- Song song, Việt Nam cần cải cách để giảm thiểu vai trò và sức tác hại của khu vực kinh tế nhà nước và chấn chỉnh lại hệ thống ngân hàng lẫn thủ tục ngân sách để dẹp bớt các dự án được nhà nước tài trợ với lý cớ là kích cầu. Tôi cho rằng lãnh đạo kinh tế xứ này đều biết là cần làm như vậy và từ nhiều năm nay có nói tới cải tổ cơ chế mà chẳng đi tới đâu vì không vượt khỏi rào cản của các trung tâm quyền lợi nằm ngay trong hệ thống kinh tế chính trị của xứ này. Cách hay nhất để kích thích kinh tế là nhà nước nên thu bàn tay của mình về và đừng nói chuyện kích cầu nữa!

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Tuesday, April 22, 2014

Đồng Minh, Đồng Tính và Đồng An



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 140421
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Tổng thống Obama thiếu... "đàn ông tính"? Theo David Brooks.

 * Lời thì thầm của Obama trong Thượng đỉnh tại Seoul 2012 *


Tuần này, Tổng thống Barack Obama có năm ngày Á du để lần lượt thăm viếng bốn nước Đông Á là Nhật Bản ngày 23, Nam Hàn ngày 25, Mã Lai Á ngày 26 và Phi Luật Tân ngày 28. Sau hai lần lỡ hẹn vì việc nhà – tranh luận về ngân sách – chuyến công du Á Châu của Tổng thống Mỹ được chú ý vì sẽ xác định lại quyết tâm "chuyển trục" về Châu Á của Hoa Kỳ.

Trước khi ông lên đường, ban tham mưu của ông đã chuẩn bị dư luận qua những tiết lộ có chọn lọc để cho thấy mối quan tâm của lãnh đạo về một khu vực thiết yếu cho quyền lợi của nước Mỹ, và là nơi sinh hoạt của hai tỷ 300 triệu dân với sản lượng kinh tế gần bằng một phần ba của sản lượng thế giới.

Trong khi đó, tâm tư của ông Obama vẫn lan man với cuốn lịch và tấm bản đồ.

Tại Đông Á, lù lù một khối là Trung Quốc, cường quốc kinh tế hạng nhì và mối quan tâm hạng nhất của nhiều nước đồng minh như Nhật Bản, Nam Hàn (vì ảnh hưởng của Bắc Kinh tới Bắc Hàn) và các nước Đông Nam Á, như Phi Luật Tân, Mã Lai, và cả Việt Nam.

Tấm lịch ở trong đầu Obama có ghi đậm nét hai thời điểm then chốt cho lãnh đạo Bắc Kinh và Hoa Kỳ.

Tháng 11 năm 2013 là khi Hội nghị kỳ ba của Ban chấp hành Trung ương khoá 12 của đảng Cộng sản ra nghị quyết về cải cách kinh tế. Tháng Ba năm 2014 là khi Quốc hội của Bắc Kinh nhóm họp và khai triển nghị quyết để "đưa vào áp dụng". Có áp dụng được hay không là điều đáng chú ý vì ảnh hưởng đến tình hình kinh tế thế giới trong những năm tới. Nhưng với Tổng thống Mỹ, hai thời điểm 11/2013 và 03/2014 cũng đóng chốt vụ khủng hoảng Ukraine - và đóng đinh vào chánh sách cải thiện quan hệ của ông với lãnh đạo Liên bang Nga, chuyện "reset" mà bộ Ngoại giao của Hillary Clinton đã dịch sai sau khi Phó Tổng thống Joe Biden nói sai!

Thật ra, sai lầm về nội dung mới là điều quan trọng.

Sau khi Obama nhậm chức năm 2009, Chính quyền của ông đánh giá sai nội tình lãnh đạo Nga. Cứ tưởng Tổng thống Dmitry Medvedev là nhân vật cải cách có thể kéo Thủ tướng Vladimir Putin theo cái hướng hiếu hòa và thân thiện hơn với Tây phương để cùng Hoa Kỳ giải quyết nhiều hồ sơ nóng của thế giới. Sự thật thì Medvedev chỉ là một trong nhiều thủ lãnh của phe "civiliki", yếu thế hơn phe "siloviki", nhưng là thuộc hạ thân tín của Putin. Chàng được đưa ra tranh cử năm 2008 và giữ ghế Tổng thống cho Putin trở về hầu tuân thủ Hiến pháp là không làm Tổng thống sau hai nhiệm kỳ liên tiếp (từ 2000 đến 2008).

Tới năm 2012, quả nhiên là Putin trở về và dễ dàng vượt làn sóng chống đối để hoàn tất việc chinh phục lại những ảnh hưởng đã mất của nước Nga từ thời Xô viết.

Tháng Tư năm 2012, Obama vẫn còn sai khi nói thầm tại Seoul với Tổng thống Medvedev, rằng "nhắn với Vladimir là sau cuộc tranh tử Tổng thống lần cuối, tôi sẽ có khả năng linh động hơn". Sau đó là bẽ bàng lịch sử khi Putin cho một kẻ tiết lộ tin mật bị Hoa Kỳ truy tố là Edward Snowden được tỵ nạn tại Nga khiến Obama phải hủy bỏ thượng đỉnh Mỹ-Nga để bày tỏ sự thất vọng.

Dù sao mặc lòng, Obama vẫn linh động trông cậy vào Putin để giải quyết hai hồ sơ nóng tại Trung Đông là kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm của Iran và nạn tàn sát đối lập của chế độ Bashar al Assad tại Syria. Kết quả lại gây thất vọng nữa: Putin góp phần hóa giải lệnh cấm vận Iran để triệt tiêu sức ép của Hoa Kỳ, trong khi chế độ al Assad vẫn tồn tại ở Damascus, trên thi hài của gần hai trăm ngàn nạn nhân.

Tại Thế vận hội mùa Đông ở Sochi, Chính quyền Obama dũng cảm bày tỏ thái độ theo kiểu dáng riêng: vì Putin kỳ thị dân đồng tính, phái đoàn lực sĩ Hoa Kỳ xuất hiện với người đồng tính đưa cờ vào khán đài. Với Putin thì đấy là trò ấu trĩ. Với dư luận ở nhà thì đấy là điểm son của Obama trong thế giới đồng tính. Nhìn từ bên ngoài, khác biệt giữa hai người về tầm quan trọng của từng loại vấn đề là chuyện đáng chú ý!

Từ cuốn lịch nhìn qua bản đồ, ta lại thấy ra chuyện khác.

Giữa cơn hỗn mang ở nhà, lãnh đạo Bắc Kinh hả hê theo dõi màn đấu trí Mỹ-Nga. Vụ Ukraine càng gay go và áp lực của Tây phương càng mạnh thì Putin càng khó cải thiện quan hệ với Nhật Bản, khó gia tăng ảnh hưởng tại Trung Á và sẽ càng muốn tìm khách hàng mua khí đốt của mình. Với cái giá dễ thở hơn cho Trung Quốc. Ta có thể thấy chuyện trả giá này khi Putin thăm viếng Bắc Kinh.

Nhưng ông Obama không chỉ gặp khó khăn khi thuyết phục Âu Châu về một đối sách thống nhất và có hiệu quả với Putin. Tại mỏm Viễn Đông của đại lục địa Âu-Á, Obama còn phải hòa giải mâu thuẫn căng thẳng nhất kể từ hơn sáu chục năm nay giữa hai đồng minh chiến lược của Mỹ là Nhật Bản và Nam Hàn.

Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Shinzo Abe, chủ nghĩa quốc gia và chủ trương cứng rắn của Tokyo có thể chặn đà bành trướng của Bắc Kinh và giảm bớt trách nhiệm của nước Mỹ. Nhưng lại gây lo ngại và khó chịu cho Đại Hàn. Cùng thái độ hung hăng của Bắc Hàn Cộng sản, việc sinh viên Đài Loan gay gắt phản đối chánh sách hòa hoãn với Hoa lục của Chính quyền Mã Anh Cửu càng gây thêm rủi ro cho khu vực Đông Bắc Á. Nghĩa là thêm bận tâm cho Hoa Kỳ.

Khốn nỗi, mối bận tâm lớn nhất của Obama khi lên đường Á du lại xuất phát ngay ở nhà, từ Quốc hội.

Quốc hội Mỹ sẽ có cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ váo Tháng 11 này, và đấy là ưu tiên trong mọi ưu tiên của các dân biểu nghị sĩ cần ra tái tranh cử.

Nhu cầu an ninh tại cả hai mỏm Âu và Á khiến phe Cộng Hoà đòi hỏi một đối sách cứng rắn hơn, và tốn kém hơn về quốc phòng, kể cả việc chuyển trục và sức mạnh quân sự qua Đông Á. Trong khi đó, trận đánh về Obamacare vẫn được đảng Cộng Hoà hâm nóng. Bên này chiến hào, nhu cầu xã hội lại khiến phe Dân Chủ gây áp lực bảo hộ mậu dịch, ngăn chặn nỗ lực thương thảo hiệp ước Xuyên Thái Bình dương TPP và cả quyền thương thảo về tự do thương mại của Hành pháp Obama. Điều ấy khiến các đồng minh của Mỹ, kể cả Nhật Bản, thất vọng không ít về sự bất nhất của Hoa Kỳ.

Đã vậy, Thượng viện do đảng Dân Chủ đang kiểm soát còn đả kích sự bất nhất của Chính quyền Obama:
dù nhấn mạnh tới trọng tâm Á Châu, ngân sách điều hành và viện trợ của bộ Ngoại giao cho khu vực này lại quá mỏng (chỉ có 8% và 4%) so với phương tiện đổ ra cho Trung Đông.

Và một bỉnh bút của tờ New York Times, nổi tiếng từ năm 2008 vì tâm phục Nghị sĩ Obama, còn phả khói vào hào khí Obama với lời phê ác liệt hơn: "Tại Trung Đông, và với al Assad hay với Putin, Obama có vấn đề về dũng khí - a manhood problem." Thiếu chất trượng phu? Thiếu đàn ông tính?

Đối chọi với hình ảnh Putin cởi trần cưỡi ngựa như tay đầu gấu ngang tàng, chữ manhood của David Brooks khiến ta mường tượng ra dáng vẻ đàn ông mặc váy. Loà xòa huê dạng.

______________________

Chuyện chỉ xảy ra tại nước Mỹ


Nói đến đòn dũng cảm trừ gian, ai ơi xin đừng học thói ngang tàng của viên quản lý một siêu thị Kroger tại Arlington của Texas. Thấy một khách hàng chôm chĩa đồ đạc trong tiệm và còn rút dao hăm dọa, viên quản lý bèn ra tay theo kiểu Texas. Tên ăn trộm có tiền án bị tước võ khí và đo ván. Nhưng viên quản lý thì mất việc, vì phép hành xử đi ngược quy cách ôn nhu của hãng Kroger. Người viết trộm đoán người hùng thất nghiệp này bỏ phiếu Cộng Hoà và không mấy tin vào... Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc!

Friday, April 18, 2014

Hoa Kỳ Xoay Trục... Vào Vô Định



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 140718

Trách nhiệm không thuộc về Kerry hay Clinton


* Bây giờ mới tập Thái Cực Đạo!.... *


Lãnh đạo là tiên liệu. Người ta thường nói như vậy, và khi tiên liệu còn có cả việc dự đoán điều bất ngờ.

Khi lên lãnh đạo Hoa Kỳ từ đầu năm 2009, Tổng thống Barack Obama có trù tính một số việc. Trước hết là lần lượt triệt thoái khỏi hai chiến trường nóng là Iraq và Afghanistan, và quan niệm lại đối sách Hoa Kỳ với thế giới Hồi giáo theo khảo hướng mới, được ông trình bày trong hai bài diễn văn tại Cairo của xứ Egypt (Ai Cập) và Ankarra của Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ). Với Liên bang Nga, ông Obama cũng muốn cải thiện quan hệ (chuyện "reset the button") để sẽ cùng Vladimir Putin, (khi đó còn là Thủ tướng) giải quyết nhiều hồ sơ nóng của thế giới, trong đó có kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm của Iran.

Quan trọng nhất, và ý thức được nhược điểm của hai nhiệm kỳ Bush là quá tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo và vào hồ sơ Trung Đông, ông Obama nói đến việc "chuyển trục" về Đông Á.

Là Ngoại trưởng của Obama trong nhiệm kỳ đầu, bà Hillary Clinton đã trước tiên thăm viếng Á Châu ngay từ Tháng Hai năm 2009. Qua năm sau, bà tuyên bố tại Hà Nội một quan điểm cứng rắn hơn với Bắc Kinh và rằng ưu tiên ngoại giao của Hoa Kỳ là giải quyết tranh chấp về chủ quyền giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á. Tháng 10 năm 2011, một tháng trước khi Tổng thống Obama công du Châu Á, bà đã (cùng Phụ tá Đặc trách Đông Á và Thái bình dương Kurt Campbell) có bài tiểu luận gần sáu ngàn chữ trên tạp chí Foreign Policy trình bày khái niệm "chuyển trục". Hoa Kỳ là một cường quốc Á Châu, có quyền lợi gắn bó với khu vực này....

Tuy nhiên, trong toàn bộ chủ trương và chánh sách của Barack Obama, ưu tiên vẫn là đối nội để cải tạo xã hội Hoa Kỳ, với nhiều công sức dành cho việc cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế.

Chuyện bất ngờ của một chính quyền thiếu tiên liệu là những trục trặc liên miên sau khi Đạo luật Y tế Obamacare được ban hành. Bất ngờ hơn nữa là Tổng thống Mỹ đã hai lần hủy bỏ thượng đỉnh Á Châu và việc thăm viếng nhiều đồng minh trong khu vực chỉ vì bận đối phó với trận đấu về ngân sách ở nhà.

Tuần tới, Barack Obama lại có chuyến công du Châu Á - để chính thức thăm viếng Nhật Bản, Nam Hàn, Mã Lai Á (Malaysia) và Phi Luật Tân (Philippines) - thì gặp chuyện bất ngờ khác từ một người ông đặt nhiều kỳ vọng là Vladimir Putin: vụ khủng hoảng Ukraine.

Vụ Ukraine sẽ còn kéo dài nên ớm bóng lên chuyến Á du vào mùa Thu tới đây, khi Tổng thống Mỹ qua thăm Trung Quốc, Miến Điện và Dúc Đại Lợi (Australia). Việc chuyển trục về Đông Á của Barack Obama gặp sự bất ngờ - mà ai cũng có thể đoán trước – là trở thành chuyện hão. 

Ai cũng có thể đoán trước, trừ Chính quyền Obama. Vì sao như vậy?


***


Câu hỏi đầu tiên, rất Mỹ, vẫn là tiền đâu?

Tuần qua, Thượng viện trong tay đảng Dân Chủ vừa công bố một phúc trình của Ủy ban Đối ngoại do Nghị sĩ Robert Mendendez làm Chủ tịch, với một nhận định có màu sắc... Cộng Hoà: "Những diễn văn hay tuyên bố chính trị không dựa trên khả năng thực hiện chỉ gây ra khoảng cách lớn giữa kỳ vọng và thực tế". Khả năng thực hiện – hard deliverables – dễ hiểu là ngân sách của bộ Ngoại giao.

Trong dự chi ngân sách của tài khóa 2015, Hoa Kỳ dành 300 triệu (0,3 tỷ) Mỹ kim cho khu vực Đông Á Thái bình dương, nơi sinh sống của hai tỷ 300 triệu dân và sản xuất ra 31% sản lượng toàn cầu. So với một tỷ sáu dành cho khu vực Trung Đông, nơi chỉ có 400 triệu dân và sản xuất ra 5% sản lượng, thì đòn bẩy của Mỹ tại Đông Á có kích thước của một cái que.

Nói về thực chất và ấn tượng thì đấy là que diêm.

Một cách đếm khác là ngân sách ngoại viện: Hoa Kỳ dành 4% ngân sách viện trợ cho khu vực chiến lược này! 

Không có ngoại viện thì ta có thể dùng đòn bẩy ngoại thương. Nhưng Chính quyền Obama lại bị nội thương khi đảng Dân Chủ bị áp lực của các nghiệp đoàn trong một năm có bầu cử nên gây khó cho việc thương thuyết hiệp ước tự do mậu dịch với 12 nước trong vùng Á châu Thái bình dương. Sáng kiến xây dựng Đối tác Chiến lược Xuyên Thái bình dương TPP coi như bị đình đoạn, sau khi đã lỡ cuộc hẹn 2013, tiêu chí của Obama.

Thế rồi sau khi Hoa Kỳ tuyên bố từ nay đến năm 2020 sẽ đưa 60% chiến cụ của Hải quân và Không quân về Châu Á Thái bình dương, Bộ Quốc phòng nói tới việc cắt giảm ngân sách.

Hậu quả nhãn tiền là năm qua, Trung Quốc mở rộng vùng kiểm soát phòng không ADIZ tại Đông Á và quan hệ Hàn-Nhật, hai đồng minh chiến lược của Mỹ, trôi vào khoảng trũng nhất kể từ sau Thế chiến II. Và tháng tới, Putin sẽ qua Bắc Kinh nói về hợp tác năng lượng: Nga có thể bán khí đốt cho Trung Quốc để tìm lối thoát nếu bị mất khách Âu Châu do vụ khủng hoảng Ukraine. Còn giải pháp xuất cảng năng lượng của Mỹ để hóa giải áp lực của Putin với Âu Châu thì chưa đi tới đâu!

Rõ ràng là Hoa Kỳ chuyển trục vào cõi vô định. Hình ảnh bắt mắt và dễ hiểu hơn, là "quay như chong chóng"!


***

Nhiều người lạc quan, hay nhân nhượng, thì nói đến sự khác biệt hay thoái bộ của Chính quyền Obama trong nhiệm kỳ hai.

Khi Hillary Clinton làm Ngoại trưởng thì ít ra Hoa Kỳ có bày tỏ ý chí chuyển trục, mà rồi để lỡ vì chuyện bất ngờ. Khi John Kerry làm Ngoại trưởng thì chánh sách đối ngoại của nước Mỹ tuột dốc. Lạc quan hay nhân nhượng, ta có thể quy ra trách nhiệm của người thi hành chánh sách. Của John Kerry. Hoặc gián tiếp đề cao nhân vật sau này sẽ ra tranh cử Tổng thống bên đảng Dân Chủ, là Hillary.

Nhưng sự thật lại chẳng vuông tròn như vậy.

Quả thật là trong nhiệm kỳ hai, Chính quyền Obama đã dám lấy nhiều rủi ro có tính toán khi mở cuộc thương thuyết với Iran, hoặc bán cái cho Putin giải quyết chuyện Syria, để nước Mỹ khỏi phải động binh như trong nhiệm kỳ một tại Libya (với hậu quả là bốn cái tang tại Benghazi khiến hào quang của Hillary bị ố). John Kerry cũng tích cực giải quyết hồ sơ Palestine với Chính quyền Israel.

Tuy nhiên, kết quả vẫn là sự đáng buồn: dự án Palestine tan vỡ, chế độ độc tài đa sát của Bashar al Assad vẫn tồn tại, Iran chưa hề nhượng bộ và Putin lại nhấn tới và sau khi thôn tính bán đảo Crimea lại còn thọc sâu hơn nữa vào miền Đông xứ Ukraine.

Thật ra, trong nhiệm kỳ hai, ngoài John Kerry, một người tự khoe là Tây nhất, ban tham mưu đối ngoại của Obama cũng có các nhân vật Âu Tây nhất, như Cố vấn An ninh Quốc gia Suzan Rice và Đại sứ tại Liên hiệp quốc là Samantha Power. Đây là những người thấm nhuần lý tưởng Âu Châu là đề cao nhân quyền và bảo vệ giá trị tinh thần của nền dân chủ - miễn là khỏi động binh.

Kết cuộc thì nhân quyền bị đạn ở Syria và nền dân chủ non yếu của Ukraine đang nằm trong tầm nhắm của Putin. Và chế độ chưa mấy dân chủ của các tướng lãnh tại Ai Cập thì thất vọng với nước Mỹ trước sự o bế của Liên bang Nga. Trong khi Trung Quốc vẫn lừng lững bước tới.

Ngần ấy chuyện xảy ra không vì John Kerry bất tài. Sự bất tài của ông ta được minh chứng từ lâu, chứ không đợi tới trận đối đầu với Ngoại trưởng Nga hay việc thuyết phục Âu Châu về một đối sách chung tại Ukraine. Ngần ấy chuyện xảy ra là do nhận thức của chính Barack Obama về thiên hạ sự.

Ông ta cứ tưởng thiên hạ cũng như cử tri Mỹ, rất dễ mềm lòng vì thuật hùng biện của mình. Cho nên, chẳng ai nên ngạc nhiên về kết quả hội nghị bốn phe về chuyện Ukraine vào Thứ Năm 17 vừa qua tại Geneva, giữa Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Ukraine và Liên hiệp Âu Châu.

Liên Âu không đầu thì có mấy mảnh chưa thống nhất về những biện pháp ứng xử với Putin nên núp sau Hoa Kỳ. Nước Mỹ thì hùng dũng quân viện cho Ukraine bằng cách đưa thêm khẩu phần cho lính cầm hơi. Chứ súng đạn là phạm vào đức hiếu sinh của kẻ văn minh. Còn Liên bang Nga đòi Ukraine cải tổ hiến pháp để công nhận dân quyền của người thiểu số, dĩ nhiên là Nga, rồi mới nói chuyện xuống thang....
 
Và lãnh đạo Ukraine thì đứng giữa chợ đời để ca bài dở khóc dở cười. Họ nói chữ "buồn thiệt" mà người Mỹ tưởng như tiếng "bull shit" đầy thô tục. 

Xin đợi 2017 thôi....