Thứ Ba, tháng 6 28, 2016

Brexit và Hậu Quả

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người-Việt Ngày 160627

"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Nhảy ra khỏi cháo nóng – và rơi xuống lò than 

* Ủng hộ hay theo Âu Châu - Khảo sát của YouGov *

* Kết quả trưng cầu dân ý hôm 23: khác hẳn! *


Hơn bốn năm qua, mục “Kinh tế cũng là Chính trị” đã nhiều lần nói về vụ khủng hoảng của khối tiền tệ Euro nằm trong sự phân rã chậm rãi mà khó tránh của Liên hiệp Âu châu. Vì vậy, biến cố “Brexit” tuần qua không thể là chuyện lạ. Bất ngờ ở đây là vì sao người ta lại ngạc nhiên, và tại sao các thị trường tài chánh lại bàng hoàng rớt giá và mất cả ngàn tỷ đô la?

Đâm ra, sự ngạc nhiên ấy mới là điều đáng ngạc nhiên! Tại sao vậy?

Từ nhiều năm rồi, Liên Âu trôi vào giai đoạn đình trệ kinh tế, với tốc độ tăng trưởng ngày một thấp hơn. Chiều hướng ấy thật ra khởi sự từ 1970, với đà tăng trưởng sản xuất của cả Âu Châu cứ giảm dần, từ 3,2% một năm xuống 2,5 rồi 2,2 và chỉ còn 1,2% một năm khi thế giới bước vào Thế kỷ 21. Tình hình trở thành nguy kịch hơn sau vụ khủng hỏang tài chánh năm 2008, nhưng người ta cứ cho là tại nước Mỹ mà không thấy ra những yếu kém tương tự tại Âu Châu trong các thị trường gia cư và ngân hàng. Trong khu vực Liên Âu có 28 nước và khối Euro có 18 thành viên, tình trạng khủng hoảng kinh tế đặc biệt nổi bật tại các quốc gia ở miền Nam, từ Pháp trở xuống, với số thất nghiệp thường xuyên mấp mé 10%.

Hệ thống Liên Âu không thể vận hành hoàn hảo. Vậy mà một số người cho rằng về dài thì cũng sẽ giải quyết được bài toán ấy và còn nói rằng Vương quốc Anh Thống nhất United Kingdom có thể là góp phần là giải pháp nên cũng có lợi. Họ là những ai? Là những người chủ trương việc Anh Quốc vẫn nên ở trong Liên Âu.

Dẫn đầu trường phái lạc quan đó là các thành phần có tiền, có quyền, và có tiếng. Có tiền là giới đầu tư tài chánh; có quyền là các chính khách; và có tiếng là truyền thông thuộc dòng chính, những người thừa chữ nghĩa và lý luận để hướng dẫn dư luận.

Giới đầu tư thì đầy khả năng kiếm tiền, dù thị trường lên hay xuống giá, khi kinh tế suy trầm hay tăng trưởng. Họ chỉ e ngại một điều là sự bất trắc khó lường. Vì vậy, có thể là từ trong tiềm thức họ đã thiên về giải pháp lạc quan là duy trì hiện trạng, là Anh Quốc không đi. Và họ tự củng cố niềm tin ấy qua việc tiếp xúc hay vận động các thành phần có quyền và có tiếng.

Vì vậy, nhận định chung của giới ưu tú này đã có sự thiên lệch – mà họ không biết.

Sở dĩ không biết vì khi kiểm chứng với các cơ quan thăm dò ý kiến thì ai cũng thấy trào lưu “Ở” vẫn chiếm đa số nếu so với trào lưu “Đi” (Remain vẫn đông hơn Brexit).

Có một lý do khác giải thích hiện tượng này. Các ccơ quan khảo sát đều dùng phương trình khoa học tinh vi để xác định dân số mẫu và tiến hành việc thăm dò chủ yếu qua điện thoại với mã số địa phương là cách định vị đối tượng. Nhưng thế giới đã đổi thay, điện thoại cố định ở nhà là sản phẩm bị điện thoại di động thay thế trên thị trường. Dân nghèo và cao niên còn dùng điện thoại cố định, chứ giới trẻ, thành phần có học và có tiền thì dùng điện thoại thông minh, dù giữ mã số địa phương thì người chủ đã bay bổng làm việc ở nơi khác. Vì vậy kết quả khảo sát bị sai lệch. Chưa kể là nhiều cơ quan thăm dò ý kiến lại thực hiện việc thăm dò cho các thân chủ, là giới có tiền, có quyền hay có tiếng.

Một thí dụ kiểm nghiệm tại “hiện trường” Anh Quốc vào đêm 23 rạng 24 là dự báo tỷ lệ Đi/Ở là 48/52 ngay sau khi các phòng phiếu đóng cửa. Nhưng kết quả sau đó là hoàn toàn trái ngược! Kết quả ấy cũng khác hẳn nhiều cuộc thăm dò về tâm lý chống hay thuận với Âu Châu tại từng địa phương trong Vương quốc Anh Thống nhất.

Nói vắn tắt thì những người lạc quan không kịp thấy nhiều đổi thay sâu xa và cứ nghĩ như nhau, rằng ngày mai trời lại sáng. Chưa kể là họ còn có thói khinh thường đối lập.

Với họ, thành phần đòi rũ áo ra đi chẳng biết gì về sự tinh vi của trung tâm tài chánh City, chỉ có tinh thần dân tộc bảo thủ, già nua, hoặc thất thế vì không theo kịp sự tiến hóa của nhân loại. Các lãnh tụ chủ trương ra đi như Nigel Farage của đảng UK Independence Party hay cựu Đô trưởng Boris Johnson của đảng Bảo Thủ Anh cũng cực đoan dị hợm chẳng khác gì nhân vật Donald Trump của Hoa Kỳ!

Hiện tượng ấy không là đặc thù của Anh Quốc mà là một sự phổ biến.

Thành phần ưu tú của một thế giới toàn cầu hóa, là doanh gia, chính khách, trí thức hay bình luận gia quốc tế không thèm để ý rằng thế giới ở dưới chân họ đã có sự chuyển dịch đáng ngại. Thành phần bình dân và giới trung lưu đang thất thế từ nhiều năm nay có cái nhìn khác về tương lai và muốn thay đổi bằng lá phiếu. Họ không tin vào đẳng cấp ngồi trên và đòi một trật tự khác. Giới ưu tú thì cho rằng mình thừa sức vượt qua làn sóng bất mãn này mà không ngờ là bị quét vào bờ.

Còn trật tự mới là gì thì chưa ai biết!

Vấn đề không chỉ là kỷ cương ngân sách, biện pháp giảm chi để trả nợ, hoặc chánh sách kinh tế tự do hay thiên tả. Liên Âu mất tám năm tranh luận về các giải pháp ấy mà chẳng hiệu quả. Vấn đề không chỉ là quyền quyết định của các quốc gia khi tung tiền chuộc nợ cho ngân hàng, có quyền bội chi ngân sách quá một tỷ lệ nào đó, hay phân phối hạn ngạch tiếp nhận di dân, v.v… Vấn đề không là tình trạng mặc nhiên xé rào của nhiều thành viên, như Pháp, Ba Lan hay Hung, mà chẳng chịu hậu quả.

Vấn đề cũng chẳng thu hẹp vào sự đối lập của 52% dân Anh với các công chức nặc danh mà có đầy quyền hạn tại thủ đô Bruxelles của Liên Âu hay quyền tự quyết của người Anh trước các hồ sơ an ninh hay kinh tế. Nhìn từ Hoa Kỳ, vấn đề cũng không chỉ là phản ứng bực bội của dân Anh sau khi Tổng thống Barack Obama qua tận London để răn đe rằng nếu Anh Quốc ra khỏi Liên Âu thì sẽ nối đuôi đứng ở cuối hàng để xin làm ăn với nước Mỹ! Chẳng những Obama can thiệp vào cuộc tranh luận nội bộ của Anh mà còn lời hăm dọa, không chỉ xếp hàng mà còn đứng ở dưới đuôi. Ông là tiêu biểu cho thành phần ưu tú.

Vấn đề thuộc về lãnh vực chính trị hơn kinh tế, là trong các xã hội dân chủ, phân nửa dân số lại không biết và chẳng thèm đối thoại với phân nửa kia. Và những kẻ quyền thế nhất lại thiếu trí tưởng tượng để tìm ra sự thật ở ngoài vòng quen biết cố hữu của họ. Vì vậy, họ cứ tưởng rằng hiện trạng có thể tiếp tục, cho tới khi hiện trạng chấm dứt với biến cố Brexit.

Sau khi Ngoại trưởng của sáu quốc gia sáng lập Âu Châu thống nhất là Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hòa Lan và Luxembourg, lên giọng răn đe Anh Quốc hôm Thứ Sáu, rằng nếu đã muốn đi thì hãy đi cho sớm, hôm Thứ Bảy 25 họ phải xuống giọng xề trong bản thông cáo chung.

Rằng Liên Âu công nhận nhiều cấp tham vọng khác biệt của các thành viên trong tiến trình hội nhập Âu Châu, sẽ tập trung nỗ lực giải quyết những thách đố này bằng đáp án chung, để lại cho các cấp quốc gia và địa phương thẩm quyền giải quyết những vấn đề kia. Tức là sau khi dân Anh rũ áo, giới lãnh đạo trôi vào khủng hoảng, nhiều nước khác thì vùng vằng do dự, Liên Âu đang lui về tư thế của một câu lạc bộ kinh tế. Nói văn hoa là một khu vực tự do thương mại hơn là một tập thể thống nhất về chính trị.

Sau 70 năm có tham vọng hội nhập thành một Liên bang Âu châu, Liên hiệp Âu châu vừa tuột xích và đang tìm một trật tự khiêm nhường hơn mà chẳng thỏa mãn một ai. Thực tế trước mắt thì ác ôn hơn vậy vì thị trường và chính trường cứ chao đảo như chảo rang. Các đại gia đầu tư mất tiền, các chính đảng truyền thống bị đảo chánh hợp pháp ngay trước mắt thiên hạ.

Nhiều người muốn nhảy ra khỏi cái chảo nóng, và có khi rơi xuống lửa. Đó là thời sự của mấy ngày tới, trong khi thế giới Hồi giáo hực lửa và nhiều nơi khác tự bảo nhau, rằng đừng học theo phương thức hội nhập trong hòa bình của Âu Châu!.... Bắc Kinh vừa mất đầu cầu London để chinh phục thị trường Liên Âu nhưng lại được một lợi thế tuyên truyền: đừng theo Tây phương mà dại.

Dễ sợ biết mấy.


Thứ Bảy, tháng 6 25, 2016

Từ Mắt Bão Nhìn Ra



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 160624

Brexit và Địa Chấn Âu Châu đã bắt đầu….















* Sáu Ngoại trưởng của các nước sáng lập Liên Âu ra tối hậu thư cho Anh Quốc: đã đòi đi thì hãy đi cho sớm!" *



Cho đến mấy ngày và vài giờ cuối, hầu hết các nhà đầu tư tài chánh, giới bình luận chính trị và cả dân cá độ đều đoán trật kết quả của cuộc trưng cầu dân ý hôm 23 tại Anh Quốc.

Ít ai ngờ là có tới 72% cử tri tham gia việc bỏ phiếu - kỷ lục chưa từng thấy kể từ năm 1992. Sau vài giờ đếm phiếu vào lúc nửa đêm, mọi người chưng hửng với kết quả: đa số gần 52% quyết định ra khỏi Liên hiệp Âu châu. Hôm sau, khi thị trường tài chánh mở cửa, các sàn giao dịch đều xanh mặt đỏ sàn….

Chúng ta vừa chứng kiến một cơn động đất địa dư chính trị tại Âu Châu, với hậu quả toàn cầu.

Vì sao giới có tiền, có quyền và có học lại đoán trật là một đề tài hấp dẫn về tâm lý xã  hội học - nhưng thật ra vô vị. Những gì xảy ra sau này mới là chuyện đáng chú ý vì một trật tự xây dựng từ 70 năm nay đang từ từ sụp đổ trước mắt chúng ta. Như trong một khúc phim quay chậm về một trận động đất hay sóng thần…. Mà đây không là phim ảnh giải trí.

Từ trong mắt bão là Liên hiệp Âu châu mà nhìn ra, đây là những rủi ro bất trắc sẽ tiếp tục gieo thêm sóng gió cho khu vực này.

Rủi ro tài chánh sẽ đe dọa tám nước: Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ireland, Luxembourg cho tới Cyprus và Malta tại Địa Trung Hải. Xa xôi quá! Rủi ro kinh tế mới đáng sợ hơn, cho hàng loạt quốc gia khác, từ Thụy Điển tới Đức, Hòa Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Ireland về tới…. Hoa Kỳ sau khi dìm Anh Quốc vào nạn suy trầm. Chưa đáng sợ! Bất trắc chính trị tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mới có thể lan rộng thành một làn sóng chống Âu Châu - hoặc phát huy chủ nghĩa dân tộc – tại Pháp, Ba Lan, Đan Mạch, Hòa Lan, Hung, Áo, Ý, Hy Lạp….

Chỉ mới điểm danh như vậy, ai cũng có thể thấy rằng Liên Âu đang bị khủng hoảng, khi một người tình rũ áo ra đi.

Người ta sở dĩ có thể dự đoán sai về nguyên nhân và hậu quả chỉ vì quá chú ý đến khía cạnh kinh tế, là chủ điểm lợi và hại do hai phe “Đi” hay “Ở” trình bày cho cử tri Anh Quốc.

Quả thật rằng chuyện “được/mất” của quyết định Đi/Ở có yếu tố quan trọng về kinh tế nhưng chưa ai có thể ước tính được rõ ràng vì đây là trường hợp chưa có tiền lệ sau khi Anh Quốc gia nhập Âu Châu 43 năm về trước. Cho nên, mọi chuyện đều chỉ là dự đoán, với ít nhiều ẩn ý chính trị là dọa hay dụ. Chưa ai có thể kiểm chứng được lẽ đúng sai của những dự đoán kinh tế ấy thì đã thấy kinh tế không là tất cả. Cử tri Anh Quốc không bỏ phiếu bằng tấm chi phiếu.

Họ quan tâm đến điều khác mà giới kinh tế tài chánh lại không nhìn ra.

Thứ nhất, họ không tin vào thiểu số có tiền, có chữ hay có quyền. Các chính khách có thế giả của hai đảng lớn tại Anh Quốc – hay tại Hoa Kỳ và nhiều xứ khác của Âu Châu qua tới… Trung Quốc – đều bị họ nghi ngờ. Giới có tiền hay các nhà bình luận có chữ nghĩa cũng chẳng khá hơn sau khi chứng tỏ tài năng từ vụ khủng hoảng tài chánh 2008 và kinh tế 2010. Bọn có tiền chỉ là chủ nợ đáng ghét, kẻ có chữ thì cũng chỉ luận giải từ tháp ngà để bảo vệ trật tự cũ.

Việc cử tri Anh Quốc đòi rũ áo ra đi phản ảnh sự bất mãn đó mà nhiều người chưa thấy rằng đấy là phản ứng hay lây. Nó sẽ lan qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Ba Lan, và nhiều xứ khác.

Thứ hai, nhiều người đang trở lại câu hỏi căn bản về quyền dân, chù quyền hay dân chủ, những khái niệm tưởng như là đã trở thành giá trị truyền thống của Tây phương mà bị lãng quên. Sau ba cuộc chiến lớn – 1870, 1914, 1939 - các nước Âu Châu đều muốn sống chung hòa bình bằng cách hy sinh một số quyền hạn quốc gia cho một cơ chế siêu quốc gia. Rằng người Âu Châu sẽ có căn cước mới, khả dĩ thay thế bản sắc Anh, Pháp, Ý, Đức, v.v… Thẻ thông hành hay đồng bạc là một biểu hiện dễ thấy nhất của tinh thần hợp quần gây sức mạnh.

Khốn nỗi Liên Âu, hay khối Euro, hoặc năm Chủ tịch Âu Châu và một vạn công chức quốc tế tại thủ đô Bruxelles của Âu Châu, không làm nên việc! Khủng hoảng Euro, khủng hoảng di dân và khủng bố là những nhắc nhở khiến dân hải đảo Anh Quốc rằng họ hy sinh quyền lợi quốc gia cho một thực thể quốc tế chẳng có thực lực, ngoài cái tài củng cố một hệ thống kinh tế bao cấp do chính họ phải tài trợ một phần.

Họ lui về chủ nghĩa quốc gia, dưới lá cờ dân chủ, và đòi lại quyền quyết định về tương lai. Giới có học gọi họ là bọn quốc gia dân tộc cực đoan, nhuốm mùi phát xít, và họ bèn trả lời bằng lá phiếu dân chủ. Hệ thống siêu quốc gia trở thành những thằng ngọng đứng xem chuông!

Sau Anh Quốc, người dân của các quốc gia văn minh và tử tế như Ý, Pháp, Thụy Điển, Bỉ, Ba Lan hay cả Đức đều tự hỏi: có nên tổ chức trưng cầu dân ý hay chăng? Trào lưu nghi ngờ Âu Châu đang thắng thế và có khi thiên hạ lại bị bất ngờ nữa!

Sau đó mới là số phận, hay tương lai của Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO là cây cầu bắc qua hai đại lục Âu-Mỹ. Bài toán cho Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ….

Thứ Sáu, tháng 6 24, 2016

Lợi Hại của Ngoại Thương

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160624
"Diễn đàn Kinh tế" 
 
 
Chỉ có 34% dân Mỹ chống tự do mậu dịch so với 58% ủng hộ
 
 
000_7O26Q-622
* Biểu tình phản đối Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP tại Washington DC, Hoa Kỳ hôm 5/2/2016. AFP * 


Trong cuộc tranh cử Tổng thống năm nay tại Hoa Kỳ, nguyên tắc tự do mậu dịch bị các ứng cử viên cùng đả kích và tinh thần hoài nghi lợi ích của việc giao dịch tự do giữa các quốc gia khiến Quốc hội Mỹ chưa phê chuẩn Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP. Vì sao lại như vậy?

Khai thác nỗi lo của người dân trong năm bầu cử

 

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Trong một tháng nữa, Quốc hội của Việt Nam sẽ thảo luận về bản Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP mà 12 quốc gia đã hoàn tất từ Tháng 10 năm ngoái và ký kết vào Tháng Hai vừa qua. Người ta chờ đợi là trong kỳ họp vào Tháng Bảy này, Quốc hội Việt Nam sẽ phê chuẩn văn kiện quan trọng đó vì Việt Nam là quốc gia được coi là có lợi nhất khi hội nhập kinh tế vào luồng trao đổi tự do giữa 12 nước trên vành cung Thái Bình Dương. Ngược lại, Hoa Kỳ là quốc gia đã đề xướng hiệp định này từ năm 2009 thì chưa có chiều hướng thông qua văn kiện đó vì sự phản đối của một số dư luận, tiêu biểu nhất là lập trường của hai ứng cử viên dẫn đầu hai đảng lớn trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay. Thưa ông, tại sao quốc gia vẫn thường cổ võ cho tinh thần tự do mậu dịch là Hoa Kỳ lại có sự ngần ngại đó?


Trước sự chuyển động ấy của kinh tế và xã hội, một số chính trị gia đã chẳng giải thích được sự thật về tự do ngoại thương mà lại khai thác nỗi lo của người dân trong một năm bầu cử. Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ có thể chế cộng hòa, là nơi mà dân chúng bỏ phiếu chọn người đại biểu để giải quyết công vụ của quốc gia. Năm nay, Hoa Kỳ có tổng tuyển cử để người dân bầu ra Tổng thống, Phó Tổng thống, tất cả 435 dân biểu của Hạ viện, 34 nghị sĩ Thượng viện và 11 ghế Thống đốc các tiểu bang cùng nhiều chức vụ dân cử tại các địa phương. Trong một năm tranh cử, ý kiến của cử tri được các ứng cử viên đặc biệt quan tâm và riêng về lĩnh vực thương mại thì nhiều người Mỹ không thấy ra mối lợi của tự do mậu dịch nên các ứng cử viên còn ngần ngại và Quốc hội khóa 114 được bầu lên từ kỳ trước chưa muốn đưa Hiệp định TPP ra thảo luận để phê chuẩn. Có hai lý do giải thích hiện tượng khá bất thường ấy.


Nguyên Lam: Nguyên Lam xin đề nghị ông trình bày cho hai lý do đó vì nhiều người chưa hiểu vì sao Tổng thống Barack Obama đã vận động rất mạnh việc thông qua bản Hiệp định mà Quốc hội vẫn chưa có quyết định đưa ra thảo luận.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lý do ngắn hạn là kinh tế Hoa Kỳ chưa hoàn toàn phục hồi sau vụ Tổng suy trầm năm 2008-2009 khiến nhiều người mất việc và lương bổng không tăng. Dù tỷ lệ thất nghiệp chính thức đã giảm, số người thật sự tham gia thị trường lao động vẫn quá thấp nên họ không mấy tin tưởng vào tương lai trước mắt. Lý do dài hạn hơn là đà tiến hóa quá nhanh của khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ tin học với rất nhiều ngành đã được tự động hóa, khiến khu vực chế biến chiếm một tỷ trọng nhỏ hơn của cả hệ thống sản xuất và nhiều thành phần lao động không kịp đáp ứng nên càng ít tin tưởng vào tương lai.

- Trước sự chuyển động ấy của kinh tế và xã hội, một số chính trị gia đã chẳng giải thích được sự thật về tự do ngoại thương mà lại khai thác nỗi lo của người dân trong một năm bầu cử. Theo cuộc khảo sát ý kiến của viện Gallup vào Tháng Hai năm nay thì chỉ có 34% dân Mỹ là chống tự do mậu dịch so với 58% là số người ủng hộ. Nhưng thiểu số này có thành phần đầy nhiệt tình và tích cực nhất nên họ gây ra ấn tượng sai là đa số dân Mỹ chống tự do mậu dịch.


000_Mvd6744057-400
Biểu tình phản đối Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP tại Santiago, Chile hôm 4/2/2016. AFP PHOTO.


- Nhìn trong trường kỳ thì ta chẳng nên ngạc nhiên về hiện tượng ấy. Khi còn là Nghị sĩ, ông Barack Obama cũng bỏ phiếu chống Hiệp ước Tự do Thương mại Trung Mỹ và đòi xét lại Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ, gọi tắt là NAFTA, được Chính quyền Bill Clinton bên đảng Dân Chủ thương thuyết và ban hành năm 1994 với hậu thuẫn của đảng Cộng Hòa trong Quốc hội. Khi lên lãnh đạo và hiểu ra quyền lợi thực tế của tự do mậu dịch, ông Obama mới ủng hộ và thúc đẩy việc đàm phán Hiệp định TPP kể từ năm 2009 và nay đang gặp trở ngại từ đảng Dân Chủ của ông trong Quốc hội. Chi tiết ấy còn cho thấy một điều nữa, là Tổng thống Hoa Kỳ không có toàn quyền quyết định, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và đối nội. Đấy mới là một ưu thế của nền cộng hòa Hoa Kỳ, chứ không phải là Tổng thống muốn làm gì cũng được.


Nguyên Lam: Như vậy, Nguyên Lam xin đề nghị ông phân tích cho sự lợi hại của tự do thương mại, nhìn từ quan điểm của quyền lợi quốc gia.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sức mạnh của nền dân chủ tùy vào dân trí và trong lĩnh vực kinh tế thì tùy thuộc vào sự hiểu biết của người dân về các khía cạnh quá chuyên môn rắc rối. Trong cuộc bầu cử năm nay tại Hoa Kỳ, người dân tỏ vẻ nghi ngờ các chính trị gia chuyên nghiệp và một thiểu số tích cực nhất thì khai thác nỗi bất mãn hay sự lo âu này mà gây ra ấn tượng sai về giá trị của tự do thương mại mà nước Mỹ vẫn cổ võ từ gần trăm năm qua trên thế giới.

- Thứ nhất, từ 240 năm nay, thế giới đã dần dần ra khỏi nhận thức lạc hậu rằng chế độ bảo hộ mậu dịch hay chính sách ngăn sông cấm chợ là cách bảo vệ quyền lợi quốc gia có giá trị nhất. Chính sách ấy chỉ làm quốc gia nghèo thêm và mất dần khả năng cạnh tranh như chúng ta đã chứng nghiệm tại Trung Quốc hay Việt Nam trước thời cải cách hay đổi mới. Trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa các nước, không hề có hiện tượng được/thua, hoặc “hơn bù kém”, theo ý đấu tranh là nước này mà có lợi thì nước kia bị thiệt. Khi mở rộng việc buôn bán tự do thì xứ nào cũng có thể tìm ra ưu thế cạnh tranh có lợi nhất và thị trường càng mở rộng thì nhà tiêu thụ hay sản xuất càng có thêm cơ hội làm giàu.

Chung cuộc thì ai cũng có lợi

 

Nguyên Lam: Nhưng ông giải thích thế nào về sự kiện kinh tế Hoa Kỳ bị nhập siêu, tức là mua nhiều hơn bán, và bị quá lâu, quá nhiều nên người ta mới cho rằng nước Mỹ bị thiệt vì tự do mậu dịch?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thực tế kinh tế còn có một ý nghĩa này mà chúng ta nên hiểu ra: trong quan hệ ngoại thương giữa các nước, không hề có chuyện nước này làm ăn với nước kia theo lối tranh giành quyền lợi quốc gia với tinh thần được/thua. Đấy là kết quả kinh doanh hàng ngày hàng giờ của cả triệu người, trong vai trò của nhà sản xuất và người tiêu thụ. Kết quả kinh doanh ấy khiến người ta sản xuất ra nhiều món hàng rẻ hơn và giới tiêu thụ mua được nhiều hơn và chung cuộc thì ai cũng có lợi.


Nếu mà mỗi khi bị nhập siêu là làm kinh tế bị nghèo đi thì trong mấy chục năm qua làm sao kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng? Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Riêng về lĩnh vực nhạy cảm và gây ấn tượng sai là Hoa Kỳ bị nhập siêu kinh niên - hình như chỉ được xuất siêu là xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu là vào năm 1981 - sự thật nó hoàn toàn khác. Kết quả của việc mua bán được tổng hợp vào cán cân thanh toán hay vãng lai và số nhập siêu hay thất thâu về thương mại có nghĩa là Hoa Kỳ được nhập siêu về tư bản, tức là nhận tiền từ nước ngoài vào với ngạch số tương đương. Nếu mà mỗi khi bị nhập siêu là làm kinh tế bị nghèo đi thì trong mấy chục năm qua làm sao kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng?


Nguyên Lam: Ông vừa trình bày một sự kiện hơi khó hiểu cho nhiều độc giả của chúng ta, đó là Hoa Kỳ bị nhập siêu về thương mại, là nhập nhiều hơn xuất khẩu, nhưng đấy cũng là được nhập siêu về tư bản với ngạch số tương đương. Thưa ông, sự thể ấy là thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đây là một khái niệm về kế toán quốc gia quả thật là hơi khó hiểu. Cán cân thương mại là kết số của việc mua bán hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân qua một thời hạn nhất định. Nhìn theo giác độ kế toán quốc gia thì đấy cũng là kết số của tiết kiệm và đầu tư nội địa. Hoa Kỳ có nền kinh tế mang hai đặc tính là tiết kiệm ít, tiêu thụ nhiều và cán cân thương mại bị thiếu hụt vì mua nhiều hơn bán cũng có nghĩa là được thặng dư về tư bản là nhận tư bản vào nhiều hơn. Đấy là hai mặt của một đồng tiền mà người ta chỉ nhìn thấy một mặt và than rằng Mỹ thua sút vì mua nhiều hơn bán. Còn một chi tiết đáng kể hơn nữa là kinh tế Mỹ chỉ lệ thuộc vào xuất khẩu có chừng 14%, so với 16% của Nhật và nhất là 36% của Trung Quốc, nên không bị hiệu ứng điêu đứng khi các nước khác tiết giảm số tiêu thụ, như trường hợp khá nguy kịch hiện nay của Trung Quốc.


Nguyên Lam: Nói về Trung Quốc, nhiều người cho rằng vì kinh tế Hoa Kỳ bị nhập siêu nên mới cần Trung Quốc mua Công khố phiếu của Mỹ, tức là cho Mỹ vay tiền để tiêu xài và nếu Bắc Kinh không mua Công khố phiếu Mỹ nữa thì Hoa Kỳ sẽ bị điêu đứng. Thưa ông, sự thật thì như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta cứ cho là trong quan hệ thương mại Mỹ-Hoa, giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, nước Mỹ ở vào thế bất lợi và dân Mỹ bị mất việc vì dân Tầu lĩnh lương rẻ hơn. Từ đó, Trung Quốc mới là chủ nợ của nước Mỹ nên có thể chi phối chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Đấy là một ấn tượng sai về kinh tế lẫn chính trị.

- Quả thật là giới chuyên gia kinh tế có tính ra, rằng việc nhập khẩu hàng từ Trung Quốc làm khu vực chế biến hàng tiêu dùng của Mỹ mất gần một triệu việc làm trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến cao điểm là 2007, nhưng người ta quên hẳn tính năng động của kinh tế Hoa Kỳ khi một tháng có chừng một triệu bảy trăm nghìn công nhân mất việc và tìm ra nhiều việc khác. Chuyện thứ hai là số nhập khẩu hàng Trung Quốc vào Hoa Kỳ có tăng, từ 1% Tổng sản lượng vào năm 2000 lên tới 2,6% vào năm 2011, rồi từ đấy hết tăng. Chuyện thứ ba là qua gần 10 năm, Trung Quốc tưởng chiếm lợi thế nhờ giữ tỷ giá đồng bạc thấp để bán hàng cho rẻ và thu về ngoại tệ làm dự trữ mà thật ra lại gây thiệt hại cho người dân và nay đang cần chuyển hướng. Khối dự trữ ấy có tăng từ 300 tỷ Mỹ kim vào năm 2000 lên tới gần bốn nghìn tỷ nhưng ngày nay đang giảm. Nếu nhìn trên toàn cảnh thì Trung Quốc chỉ thay thế Nhật Bản trong tiến trình sản xuất và giao thương nên đạt xuất siêu với Hoa Kỳ và gây lo ngại như nhiều người Mỹ đã lo ngại và mở ra phong trào bài bác nước Nhật cách nay ba chục năm. Giờ đây, chẳng ai nói đến việc Nhật Bản đã đầu tư và là chủ nợ của nước Mỹ nữa mà chỉ e ngại sự suy sụp kéo dài của kinh tế Nhật. Kinh tế Trung Quốc cũng đang bước vào giai đoạn suy sụp đó.


Nguyên Lam: Thưa ông, thế còn ý nghĩa thật của việc Bắc Kinh tung tiền mua Công khố phiếu của Mỹ là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việc Trung Quốc mua Công khố phiếu của Mỹ không hề có nghĩa là họ làm chủ nước Mỹ vì Nhật Bản cũng mua hơn ngàn tỷ, chỉ sau Trung Quốc thôi, mà cả hai đều chỉ làm chủ một khoản nợ rất nhỏ trong tổng số nợ của Hoa Kỳ. Nếu có nơi đầu tư an toàn và có lợi hơn thì Bắc Kinh đã chẳng đẩy tiền qua Mỹ, nhiều giới chức Bắc Kinh còn than phiền từ mấy năm trước, rằng dù ghét Mỹ lắm họ vẫn cứ phải đầu tư vào thị trường Hoa Kỳ! Vả lại từ đầu năm nay, họ đã bán Công khố phiếu Mỹ mà chẳng gây hậu quả tai hại như nhiều người đã cảnh báo trong khi ấy, chính Bắc Kinh mới đang lo sợ nạn thất thoát tư bản và năm qua khối dự trữ ngoại tệ đã mất khoảng 800 tỷ đô la. Tôi cho rằng Hoa Kỳ nên cảnh cáo Bắc Kinh về chế độ ngoại hối giả tạo để bán hàng cho rẻ hơn, nhưng ảnh hưởng vào ngoại thương của Mỹ thật ra cũng rất giới hạn. Sau cùng, qua cơn sốt chính trị của năm tranh cử, nếu Hoa Kỳ phê chuẩn Hiệp định TPP thì đấy mới là cách chuyển trục thực tế và có lợi nhất về Đông Á trước thái độ hung hăng của Bắc Kinh.


Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông về bài phân tích này.

Thứ Năm, tháng 6 23, 2016

Liên Bang Miến Điện?



Hùng Tâm - Hồ Sơ Người-Việt Ngày 160623


Miến Điện thực hiện giấc mơ dang dở từ 70 năm trước  

* Bà Aung San Suu Kyi và di ảnh của thân phụ, Thiếu tướng Aung San *



Tháng Bảy này, lãnh tụ Aung San Suu Kyi của Liên minh Quốc gia vì Dân chủ Miến Điện (NLD) sẽ tái diễn lịch sử với “Hội nghị Panglong của Thế kỷ 21”. Bà tái diễn lịch sử vì Tháng Hai năm 1947, thân phụ của bà là Thiếu tướng Aung San đã chủ tọa một hội nghị tại trị trấn Panglong trong tiểu bang của tộc Shan (Đàn) cùng nhiều sắc tộc khác để thảo luận về quy chế liên bang cho Miến Điện trong tương lai. Khi ấy, xứ này còn là thuộc địa của Đế quốc Anh, và Tướng Aung San vừa đạt thỏa ước với Chính quyền Anh rằng Miến Điện sẽ có độc lập trong kỳ hạn một năm.

Không ngờ là Tháng Bảy năm đó, ông lại bị ám sát trong Phủ Bộ Trưởng tại thủ đô Rangoon – Ngưỡng Quang theo tên gọi năm xưa. Khoảng trống chính trị sau khi lãnh tụ tạ thế khiến sáng kiến liên bang cũng tiêu tan dần và nhiều sắc tộc thiểu số còn đấu tranh võ trang với Chính quyền Miến Điện sau khi xứ này có độc lập kể từ 1948. Từ đấy, xứ Miến Điện chẳng có hòa bình và cũng mất luôn dân chủ sau khi quân đội nắm quyền với chế độ độc tài quân phiệt của các tướng lãnh từ năm 1962.

Ngày nay, chế độ quân phiệt bắt đầu thoái lui kể từ năm 2011 và con gái của Tướng Aung San là Aung San Suu Kyi đang trở thành lãnh tụ thực tế của Miến Điện trong tiến trình dân chủ hóa và ổn định xứ sở. Bà tổ chức Hội nghị Panglong của Thế kỷ 21 với ước mơ hâm nóng sáng kiến năm xưa của thân phụ hầu xây dựng một nền móng chính trị khác cho Miến

Hồ Sơ Người-Việt sẽ tìm hiểu tiến trình gian nan này của Miến Điện.


Địa Dư Lịch Sử Miến Điện Là Một Tai Ách

 Địa dư xứ Miến Điện 


Từ 1962 đến 2011, Miến Điện trải qua nửa thế kỷ nội chiến giữa chính quyền trung ương của các tướng lãnh và lực lượng võ trang của các sắc tộc đòi ly khai. Sau đấy, chế độ quân phiệt bắt đầu nhượng bộ và đề nghị giải pháp ngưng bắn trên toàn quốc đổi lấy quyền lợi kinh tế và chính trị cho các sắc tộc thiểu số. Nhưng tiến trình này còn nhiều bất trắc và sau khi Liên minh NLD của mình đại thắng, bà Aung San Suu Kyi đang phải làm một lúc hai việc: thỏa hiệp với quân đội để từng bước dân chủ hóa xứ sở trong khi xây dựng một nền móng chính trị bền vững hơn cho Miến Điện. Nền móng đó phải hội nhập được các sắc tộc thiểu số, nó khó bền vững vì một tai ách xuất phát từ địa dư hình thể.

Về lịch sử thì Miến Điện chưa khi nào là một nước trong ý nghĩa quốc gia dân tộc, nation-state. Lãnh thổ xứ này là một thách đố cho lãnh đạo vì bị địa dư chia cắt thành hai vùng núi đồi hiểm trở của nhiều sắc tộc và tôn giáo từ hay ngả Tây và Đông nhìn xuống bình nguyên phì nhiêu của sông Irrawaddy ở giữa. Các cường quốc cấp vùng, như Ấn Độ tại hướng Tây, Trung Quốc ở mạn Bắc và cả Thái Lan ở phía Đông đều tìm cách khai thác tình trạng bất thường ấy qua các sắc tộc thiểu số và góp phần gây thêm xung đột. Vì vậy, sau khi có độc lập, lãnh đạo Miến mới cần quân đội mạnh để bảo vệ chính quyền trung ương và đối ngoại thì tìm cách tự cô lập để ngăn ngừa ảnh hưởng ngoại bang. Trong thời Chiến tranh lạnh, từ 1949 trở đi, ảnh hưởng ngoại bang còn là các nhóm dân quân cộng sản do Trung Quốc đào tạo và huấn luyện. Những vụ xung đột đầu tiên mà bùng nổ là do hoạt động của các tổ chức cộng sản.

Việc chế độ quân phiệt tập trung sức mạnh vào trung ương không đơn giản là vì quyền lực chính trị hay quyền lợi kinh tế mà còn có một động lực sinh tử hơn: cho quốc gia khỏi tan rã. Yếu tố ý thức hệ - theo chủ nghĩa cộng sản hay xã hội chủ nghĩa sau này – cũng có nhiều lý do khác. Ít ai để ý là Tướng Auug San là sáng lập viên và Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Miến Điện và khi còn là sinh viên tại Anh Quốc, bà Aung San Suu Kyi cũng thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa cực tả khá thịnh hành tại Tây phương vào thời đó. Sau khi Tướng Ne Win đảo chánh từ năm 1961 và nắm chính quyền, chế độ quân phiệt cũng có lúc áp dụng hệ thống kinh tế kế hoạch kiểu xã hội chủ nghĩa.

Vì vậy, từ khía cạnh địa dư, người ta có thể hiểu ra một đòi hỏi của lãnh đạo Miến Điện là có một quân đội mạnh, xây dựng được hệ thống bảo vệ biên phòng và một kế hoạch kinh tế có thể phân bố quyền lợi tương đối hài hòa cho các sắc tộc. Họ đã thiên đô từ Rangoon vào Naypyidaw ở giữa rừng già trên mạn Bắc cũng cho yêu cầu đó, về an ninh.

Huống hồ, từ khía cạnh lịch sử, Miến Điện còn lãnh một di sản dã man khác của Đế quốc Anh: từ trăm năm trước, nước Anh đưa dân Ấn vào phụ trách phần vụ kinh tế, cho sắc dân đa số là người Miến một ít quyền hạn chính trị và hành chánh, nhưng dùng các sắc dân thiểu số vây quanh vào nhiệm vụ bảo vệ an ninh và quân sự. Chỉ sau khi thực dân Anh bị Nhật đánh bại trong Thế chiến II, dân Miến mới được quyền tham gia vào lãnh vực quân sự và từ đó mới dần dần xuất hiện các thế hệ sĩ quan hay tướng lãnh đang cầm quyền ngày nay.

Sinh thời, Tướng Aung San đã phải giải quyết những bài toán quá phức tạp ấy mà không thành. Ngày nay, con gái ông là Phu nhân Aung San Suu Kyi đang xây dựng một chính quyền dân sự với chủ đích tương tự. Bà thừa hưởng uy tín của thân phủ và được kính trọng vì ý chí đấu tranh cho dân chủ, đã qua 15 năm bị các tướng giam lỏng mà không thối chí, nên được đại đa số coi như người mẹ của một nước Miến Điện hiện đại.

Nhưng con đường trước mặt còn nhiều gian nan.


Những Thiểu Số Nổi Loạn


Gian nan trước tiên của Miến Điện là Chính quyền xứ này – dân chủ hay chưa – không thể kiểm soát được vùng biên vực.

Trên lãnh thổ, có hơn hai chục nhóm thiểu số võ trang, với vài trăm hay vài vạn tay súng, đang hùng cứ các vùng biên giới và coi đó là chủ quyền chính đáng của họ. Từ cuối năm 2015, chế độ quân phiệt đã ký một tạm ước định ngưng bắn với tám tổ chức, nhưng có bảy tổ chức vẫn từ chối tham gia, chưa kể nhiều lực lượng mạnh nhất tại vùng biên giới Hoa-Miến thì không được mời vào vòng đàm phán vì họ đang chiếm đóng các khu vực trọng yếu và rộng lớn nhất.

Đa số các nhóm võ trang này đều có đặc tính sơn cước,  giỏi du kích chiến, được trang bị võ khí tinh nhuệ. Họ còn có ưu thế địa dư là có thể vượt biên giới để bảo toàn lực lượng khi bị tấn công và lợi thế kinh tế là kinh doanh ma túy để tìm nguồn tài trợ. Trong hoàn cảnh đó, một số lực lượng võ trang này chưa thấy sự nhượng bộ của Chính quyền trung ương, từ các tướng lãnh hay bà Aung San Suu Kyi, là đủ hấp dẫn.

Khi so sánh các tướng lãnh và đảng đa số hiện nay là Liên minh Quốc gia vì Dân chủ, thì Aung San Suu Kyi tương đối là đáng tin cậy hơn khi đề nghị hòa giải. Hậu thuẫn của quốc tế cho vị nữ lưu này cũng là sức mạnh đáng kể. Vì vậy, trong khung cảnh vẫn còn tranh tối tranh sáng, nhiều nhóm thiểu số đang suy tính lợi hại. Họ có thể tham gia sinh hoạt chính trị thay vì dùng giải pháp bạo động quân sự.

Đấy là một lợi thế cho Aung San Suu Kyi khi đàm phán với các tướng lãnh.


Quân Phiệt và Dân Chủ


Chế độ quân phiệt đang từng bước nhượng bộ kể từ năm 2011 trong tinh thần gỡ bỏ màu sắc quân đội và cho tổ chức bầu cử khiến Liên minh NLD thắng lớn vào Tháng 10 năm ngoái. Thật ra, từ quân phiệt qua “bán độc tài”, chế độ này vẫn nắm dao đằng chuôi với bản Hiến pháp và có thể cản trở việc cải cách của Liên minh NLD. Cũng chính Hiến pháp ấy đã khiến bà Aung San Suu Kyi không thể ra tranh cử Tổng thống và phải đưa tay chân của mình vào một vị trí chỉ còn tượng trưng mà ít thực quyền.

Sau khi bà Aung San Suu Kyi đề nghị đàm phán với mọi khuynh hướng sắc tộc về một thể chế liên bang, là nội dung của Hội nghị Panglong sắp tới, chi tiết của sáng kiến vẫn chưa được công bố. Nhưng các tướng lãnh vẫn có thể nêu ra phản đề nghị. Thí dụ như chỉ có thể nói về thể chế liên bang sau khi các lực lượng võ trang thiểu số tự giải giới.  Hoặc không thể gỡ bỏ các đặc quyền kinh tế sẵn có của quân đội. Nếu giới quân sự đòi hỏi hai điều kiện ấyy thì coi như hội nghị tan vỡ.

Từ mấy tháng qua, một số chỉ dấu cho thấy quan hệ giữa bà Aung San Suu Kyi với giới tướng lãnh đang cải thiện. Họ cho rằng bà có vẻ linh động và hòa hoãn hơn, nhất là giữ niềm sắt son với quân đội mà bà khéo gọi là “Quân đội của cha tôi”. Chính quyền dân sự của bà vẫn cần tới hào quang của Tướng Aung San và các tướng lãnh có thể duy trì được một phần thế lực chính trị của họ nếu dám nhượng bộ. Vả lại, bà Aung San Suu Kui cũng xác nhận rằng việc bảo vệ biên giới là một đòi hỏi chiến lược cho sự tồn vong của xứ sở, nên họ tin rằng lãnh tụ dân sự này không dại khờ đến nỗi cột tay quân đội.

Sau cùng, họ cũng biết Tây phương đang theo dõi nội tình để quyết định về các giải pháp ngoại giao, kinh tế và thậm chí quân sự. Chẳng những các nước Âu-Mỹ có thể gỡ bỏ lệnh cấm vận mà còn nói đến huấn luyện và trang bị quân sự cho Chính quyền Miến.

Tuy nhiên, mấy chục năm mâu thuẫn giữa hàng tướng lãnh và những người đấu tranh cho dân chủ nay đang ngồi trong chính phủ vẫn để lại nhiều chướng ngại. Và sau khi chiếm đa số tuyệt đối trong cuộc bầu cử Quốc hội, Liên minh NLD có vẻ như hết cần tới lá phiếu của các thành phần thiểu số nên bà Aung San Suu Kyi càng có vẻ sát cánh với quân đội thì thành phần này lại càng nghi ngờ.

Và cả hai phe - quân đội lẫn các lực lượng võ trang thiểu số - đều e ngại một điều: Aung San Suu Kyi say đòn chính trị và muốn trở thành lãnh tụ tuyệt đối. Nhiều người đã thấy ra điều ấy.


---

Kết luận ở đây là gì

Hội nghị Panglong chưa thể có kết quả lập tức vì quá nhiều mâu thuẫn chất chứa từ quá lâu.

Bà Aung San Suu Kyi đã được giải Nobel Hòa bình vì đấu tranh bất bạo động cho dân chủ. 

Bây giờ, bà cần hành động tỉnh táo để mở ra một trang sử khác cho Miến Điện.  Không dễ.