Thứ Năm, tháng 9 22, 2016

Khủng Hoảng Syria Là Gì?



Hùng Tâm - Người-Việtngày 160920
Hồ Sơ Người-Việt


Từ Syria Nhìn Ra Thế Giới

 * Giao tranh tại Aleppo - Bao nhiêu tay súng từ bao nhiêu quốc gia? *


Thỏa thuận ngưng bắn tại Syria giữa Hoa Kỳ và Liên bang Nga là văn kiện yểu tử. Chưa đầy một tuần, tối Thứ Hai 19, một đoàn xe vận tải phẩm vật cứu trợ của tổ chức Syrian Arab Red Crescent cho dân chúng lại bị oanh tạc. Một ngày sau, Hoa Kỳ xác nhận rằng chính Liên bang Nga là thủ phạm của vụ oanh kích khiến 18 trong 31 xe vận tải bị tiêu hủy. Liên hiệp quốc cũng quyết định tạm ngưng chương trình cứu trợ nhân đạo vì thiếu an ninh… Qua ngày Thứ Tư 21, Nga thông báo việc đang đưa hàng không mẫu hạm duy nhất của mình là chiếc Đô đốc Kuznetsov vào vùng biển Syria, tại Địa Trung Hải…. Mặc dù Chính quyền Hoa Kỳ trông cậy vào Liên bang Nga để giải quyết cuộc khủng hoảng Syria, việc này vẫn khó thành.

Hồ Sơ Người-Viêt xin mổ xẻ chuyện Syria – và xa hơn – để chúng ta hiểu ra cục diện Trung Đông và vai trò của các nước khác.


NGUYÊN DO KHỦNG HOẢNG


Chuyện Syria không ở xa chúng ta đâu, có khi lại là cái mầm đại chiến.

Chế độ hiện hành của Tổng thống Bashar al-Assad ra đời từ một cuộc đảo chánh năm 1970 (sau nhiều cuộc đảo chánh) của người cha là một viên tướng Không quân Hafez al-Assad. Thuộc hệ phái Alawite trong giáo pháp Shia của đạo Hồi, Hafez al-Assad chủ trương xây dựng một chế độ thế quyền (ngược với thần quyền), theo xã hội chủ nghĩa (cộng sản thân Liên Xô), với keo sơn sắc tộc là dân Á Rập. Ba nguyên lý đó do Gamal Abdel Nasser đề ra tại Ai Cập (Egypt) khiến hai nước Syria và Egyt đã từng thống nhất làm một được ba năm (1958-1961), trước khi tách riêng nhưng vẫn cùng lao vào cuộc chiến với Israel.

Nội chi tiết lịch sử và quốc tế ấy cũng đã là một sự hỗn loạn chưa thể dứt.

Bên trong, gia đình al-Assad là thủ lãnh hệ phái Alawite và xây dựng một nhà nước pháp quyền (ngược với giáo quyền) vây quanh và bảo vệ hệ phái, bằng cách tiêu diệt hết mọi lực lượng khác. Khốn nỗi, hệ phái Alawite (của giáo phái Shia) chỉ chiếm 12% dân số so với đại đa số - từ 60 tới 69%) theo giáo phái Sunni, nên al-Assad phải áp dụng chiến lược chia để trị. Đó là hợp tác với các nhóm thiểu số về tôn giáo và sắc tộc như Thiên Chúa Giáo, Ismailis, Kurd hay Druze) và cả một số phần tử Sunni. Các nhóm thiểu số này tổng hợp được 40% dân số.

Chi tiết sắc tộc và hệ phái đó châm thêm một yếu tố hỗn loạn khác vào cuộc khủng hoảng. Chỉ vì ngay trong hiện tại, nhiều nhóm Sunni vẫn không nổi dậy chống chế độ al-Assad. Các nhóm thiểu số kia cũng vậy.

Ra đời từ năm 1970, chế độ của hai cha con al-Assad bị rung chuyển vào năm 2011 vì biến cố người ta lầm tưởng là cuộc cách mạng dân chủ và gọi là “Mùa Xuân Á Rập”. Chưa thấy dân chủ đâu, trừ ngoại lệ nhỏ là xứ Tunisia, các nước Á Rập Hồi giáo khác đều bị chấn động. Chế độ Alawite của nhà al-Assad dĩ nhiên là cũng e sợ, nhưng may cho họ là các lực lượng đối lập lại bận đối nghịch với nhau hơn là tìm cách lật đổ chính quyền. Nhờ vậy mà dòng al-Assad  thoát nạn và đáng lẽ người ta – Hoa Kỳ - phải thấy rằng chuyển động ấy chẳng dính dáng gì đến dân chủ!

Chính giới và trí thức Hoa Kỳ tưởng lầm rằng chế độ độc tài sở dĩ tồn tại là nhờ đàn áp. Độc tài là phải đàn áp nhưng cũng biết chia chác quyền lợi để có kẻ đàn áp, có người tài trợ việc đàn áp và ngần ấy lực lượng đều phải biết tới cái gốc của thịnh vượng cho họ là chế độ độc tài. Chế độ tồn tại là nhờ ở tinh thần liên đới và chung thủy này.

Khi ấy, người ta mới thấy chế độ độc tài của gia tộc al-Assad khéo biết chia chác quyền lợi để làm chủ được quân đội, lẫn các trung tâm kinh doanh, kể cả buôn lậu và các thành phần ủng hộ chế độ đều biết rằng lợi thế của họ sẽ chấm dứt khi chế độ không còn. Nhờ vậy, Bashar al-Assad vẫn đứng vững dù đã bị Tổng  thống Barack Obama đòi xóa sổ khi nhiều lần vạch ra lằn ranh đỏ hoàn toàn vô dụng và nay lại phải nhờ bàn tay của Nga.

Bây giờ, ta nên nhìn ra khỏi Syria để thấy vai trò và trách nhiệm của các cường quốc khác.


HOA KỲ và SYRIA

Trong cuộc khủng hoảng và nội chiến tại Syria hiện nay, ít ra là có bảy lực lượng tham dự. Tổ chức khủng bố xưng danh Nhà nước Hồi giáo ISIS, tàn dư của tổ chức khủng bố al-Qeada và các chế độ Á Rập theo thế quyền là bên Hồi giáo. Phía bên kia có Hoa Kỳ, Liên bang Nga và Pháp. Và hai lực lượng Hồi giáo có những chủ đích riêng là Iran cùng Turkey. Ở vòng ngoài còn có cường quốc Á Rập Hồi giáo là Saudi Arabia, lãnh tụ của các tiểu vương quốc Hòi giáo.

Trong các nước, Hoa Kỳ đã có mối quan tâm đặc biệt về Syria. Chế độ al-Assad đã khai chiến nhiều lần với Israel, đã trút tiền và võ khí vào Iraq từ năm 2001 tới 2011 và khuynh đảo xứ láng giềng của Iraq là Lebanon mà còn là đồng minh của Iran theo cùng giáo phái Shia. Syria yểm trợ lực lượng Hezbollah tại Lebanon, là nhóm khủng bố do Iran nuôi dưỡng và Syria yểm trợ để chống phá thế lực Hoa Kỳ tại Trung Đông. Khi vụ khủng hoảng và nội chiến Syria bùng nổ, Hoa Kỳ thấy ra cơ hội lật đổ chế độ al-Assad (chuyện lằn ranh đỏ của Tổng thống Obama, nếu Syria vi phạm là sẽ bị tấn công), nhân đó giảm thiểu ảnh hưởng của Iran và tiêu diệt luôn lực lượng Hezbollah.

Nhưng Hoa Kỳ lại do Tổng thống Barack Obama lãnh đạo! Đã không muốn trực tiếp can thiệp vào Syria như đã dại dột tại Libya, Hoa Kỳ còn muốn cải thiện quan hệ với Iran và ngần ngại can thiệp trực tiếp và trông cậy vào Tổng thống Vladimir Putin của Liên bang Nga. Nhằm đẩy lui chế độ al-Assad mà ông Obama tuyên bố là không có tương lai, Hoa Kỳ phải tìm đồng mình bên trong xứ này theo các tiêu chuẩn mâu thuẫn là chống khủng bố xưng danh Thánh Chiến, chống Iran, và chống al-Assad. Làm sao có một lực lượng phù hợp vói những đòi hỏi đó, mà lại có thực lực?

Đấy là lúc tổ chức khủng bố xưng danh Nhà nước Hồi giáo ISIL xuất hiện và chiếm được một phần của Syria và Iraq. Hoa Kỳ lâm thế kẹt vì phải chọn kẻ thù ưu tiên. Lật đổ chế độ al-Assad là giúp ISIL bành trướng. Tấn công ISIL là cho chế độ al-Assad tại thủ đô Damascus và một số nơi khác được rảnh tay tiêu diệt các nhóm dân quân thân Mỹ. Vì vậy, Hoa Kỳ bị sa lầy tại Syria. Trách nhiệm của Obama là không nhỏ trong những chọn lựa này.

Nhưng không chỉ có nước Mỹ phân vân lưỡng lự.


CÁC CƯỜNG QUỐC VÀ SYRIA


Xưa kia, Liên bang Xô viết đã từng yểm trợ Iraq và Syria thì ngày nay Liên ban Nga cũng vẫn yểm trợ Syria. Họ muốn gì ở đó?

Ngược với Barack Obama, Vladimir Putin không muốn chế độ al-Assad sụp đổ. Nhưng làm sao bảo vệ được một chư hầu ở xa khi nước Nga đã bành trướng vào Georgia và Ukraine ở gần hơn vì quyền lợi và an ninh chiến lược của mình nên gây mâu thuẫn với Âu Châu cùng Hoa Kỳ. Putin có thể dụ dỗ Tổng thống Obama về một giải pháp cho Syria nhưng lại mắc kẹt vì không thể thôn tính gọn xứ Ukraine. Đã vậy, dầu thô sụt giá lại gây khủng hoảng kinh tế cho nước Nga và khủng hoảng chính trị cho Putin.

Vì vậy, Putin phải ra vẻ dấn tới tại Syria từ cuối năm ngoái, và thổi phồng khả năng quân sự của mình ở tại đây, như hùng cường mạnh mẽ và dứt khoát hơn Hoa Kỳ. Từ đó, Nga có thế mạnh tại Syria nhưng thật ra chưa có lực tương xứng. Và về căn bản, Nga chưa thể nào làm thay đổi cơ chế chính trị và sắc tộc của Syria, chưa kể tới khả năng can thiệp của Mỹ. Dù chưa dứt khoát, nước Mỹ vẫn có ảnh hưởng tại Syria. Đâm ra, Syria là nơi đấu trí và đấu lực miễn cưỡng cho cả hai cường quốc Nga-Mỹ. Thất bại tuần qua của thỏa ước ngưng bắn tại Syria phản ảnh mâu thuẫn đó!

Hóa ra, cả ba cường quốc gần xa là Iran, Nga và Mỹ đều tung quân và tung tiền vào Syria mà không có khả năng dứt điểm. Trong khi ấy, Liên hiệp Âu Châu chết kẹt với làn sóng di dân từ Syria và các nơi khác vượt Địa Trung Hải vào tỵ nạn tại Âu Châu.

Ngoài nạn khủng bồ dồn dập trong lãnh thổ Pháp từ 19 tháng qua, điều ấy cũng giải thích vì sao Pháp phải nhảy vào Syria bên cạnh Hoa Kỳ và gửi hàng không mẫu hạm suy nhất của mình là chiếc Charles de Gaulle để yểm trợ hoạt động quân sự.

Sau cùng, một cường quốc khu vực khác cũng nhìn vào Syria với sự lo âu. Đấy là Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, hay Turkey, vì những lý do chiến lược, tư tưởng và sắc tộc. Ở vòng ngoài còn có Israel, Saudi Arabia….

Ngần ấy quốc gia lớn nhỏ đều muốn hoặc đã can thiệp vào Syria mà không có kết quả ngã ngũ. Bên trong, xứ này cũng chẳng có giải pháp nào khác hơn là chinh chiến kéo dài.

----
Kết luận ở đây là gì?

Khủng hoảng vì nội chiến tại Syria chưa thể dứt mà còn có thể gây hậu quả bất lường.
  
Năm xưa, một nước Âu Châu là Tây Ban Nha cũng bị nội chiến. Khi ấy, hai nước Phát xít Đức-Ý đều nhảy vào yểm trợ chế độ độc tài, đối diện với Liên bang Xô viết. Khi ấy, cánh tả và thân cộng Âu Châu cũng nhảy vào giúp phe Cộng hòa, trong khi các cường quốc Anh, Pháp Mỹ đều tìm cách lánh xa. Vụ can thiệp quốc tế nửa dứt khoát nửa miễn cưỡng vào Tây Ban Nha có thể là một cuộc thao dượt cho Thế chiến II.

Vụ Syria có tái diễn chuyện cũ không?

Những Chỉ Dấu Khủng Hoảng Trước Mắt

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160921
"Diễn đàn Kinh tế"
 
Trong vòng ba năm tới, khủng hoảng tài chính tại Trung Quốc sẽ gây chấn động toàn cầu... 
 
 
000_FY6ZF.jpg
* Ảnh minh họa chụp tại Qingdao, Shandong, Trung Quốc hôm 9/8/2016. AFP* 


Thế giới đang có quá nhiều chỉ dất bất ổn, trong đó là nguy cơ khủng hoảng tài chính sắp tới tại Trung Quốc. Diễn đàn Kinh tế sẽ cùng chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa tìm hiểu xem người ta đã thấy những gì mà có kết luận u ám này…

Kinh tế Trung Quốc và Âu Châu đáng ngại nhất

 

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do cùng Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong mấy ngày qua, các thị trường tài chính đều chờ đợi xem Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ quyết định thế nào về lãi suất trong hai ngày họp định kỳ vào Thứ Ba và Thứ Tư của một ủy ban chuyên môn về chính sách tiền tệ và tín dụng. Nhưng trong khi đó, thế giới bên ngoài lại có nhiều dấu hiệu đáng ngại hơn là một vụ tăng lãi suất tại Mỹ. Nguyên Lam xin đề nghị ông trình bày cho bức tranh toàn cảnh về các dấu hiệu đáng ngại này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nhìn riêng trường hợp Hoa Kỳ, bản thân tôi thì mong là Ngân hàng Trung ương Mỹ sớm ra khỏi tình trạng quá bất thường và bất lợi khi duy trì lãi suất mấp mé ở số không. Nhưng định chế này phải đắn do cân nhắc nhiều khía cạnh khác nhau nên chắc là chưa tăng lãi suất ngắn hạn kỳ này, và người ta còn phải nghe ngóng tình hình và quyết định về lãi suất vào kỳ sau, trong sáu tuần nữa. Nhưng như cô vừa nêu ra, thế giới bên ngoài có nhiều dấu hiệu kinh tế đáng ngại và tôi cho rằng đáng ngại nhất là tình hình kinh tế Trung Quốc và Âu Châu ở hai đầu Đông Tây của cả đại lục Âu-Á. Kỳ này ta sẽ tập trung vào hai nơi đó.

Nguyên Lam: Như vậy, xin nhờ ông mở đầu và nói về những dấu hiệu này.

Thế giới bên ngoài có nhiều dấu hiệu kinh tế đáng ngại và tôi cho rằng đáng ngại nhất là tình hình kinh tế Trung Quốc và Âu Châu ở hai đầu Đông Tây của cả đại lục Âu-Á. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tại Hoa Kỳ, người ta tưởng niệm vụ khủng bố 9-11 ngày 11 Tháng Chín năm 2001 với hậu quả là 15 năm sau vẫn còn lan rộng ra toàn cầu nhưng đa số lại đã quên vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 với sự sụp đổ của tập đoàn đầu tư Leman Brothers vào ngày 15 Tháng Chín. Về kinh tế, ta không nên quên biến cố đó vì hậu quả vẫn kéo dài cho đến nay chưa dứt. Hôm 15 vừa qua, một thống kê u ám từ Âu Châu cho thấy hậu quả đó, qua ngày 18, vụ bầu cử tại thành phố Berlin của Đức càng xác nhận chuyện này. Sau đó thì ta mới nhìn vào Trung Quốc, là nơi sẽ xảy ra một biến cố còn nguy ngập hơn vụ Lehman Bros. tại Mỹ.


Nguyên Lam: Nguyên Lam hiểu là ông nhìn trên toàn cảnh và chấm vào hai nơi có thể có nhiều biến động kinh tế nhất trong thời gian tới. Xin đề nghị ông giải thích cho chuyện đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa:-  Thứ nhất, thống kê ngoại thương tại Âu Châu cho thấy xuất khẩu của Đức bị giảm 10% trong Tháng Bảy so với năm ngoái. Với sản lượng kinh tế đứng hạng thứ tư thế giới, Đức là một trụ cột của khối Âu Châu vì có nến kinh tế mạnh nhất, nhưng nhược điểm sinh tử của Đức là quá lệ thuộc vào xuất khẩu, với xuất khẩu chiếm 46% tức là gần 50% của Tổng sản lượng. Nếu hàng hóa dịch vụ bán ra ngoài mà sụt thì sản lượng kinh tế Đức có thể giảm 5% và nạn suy trầm tại Đức sẽ gây khó khăn cho Âu Châu. Thật ra Âu Châu đã bị nguy ngập từ năm 2008 và khối Euro bị khủng hoảng từ năm 2010 tới nay chưa dứt.

- Vì vậy, Đức mới tìm cách bán hàng nhiều hơn qua Mỹ và qua Tầu. Khi ấy, và nhìn vào quan hệ tay ba Mỹ, Tầu, Đức, nếu Hoa Kỳ mua của Trung Quốc ít hơn thì xuất khẩu của Đức qua Tầu để bán cho Mỹ cũng sụt. Nếu Hoa Kỳ lại mua của Đức ít hơn thì hậu quả còn tai hại gấp bội. Kinh tế Mỹ lệ thuộc rất ít vào xuất khẩu trong khi khả năng nhập cảng của một thị trường tiêu thụ quá lớn lại là nguồn sống cho các nước xuất khẩu như Đức và Tầu. Mà từ vài năm nay, cơ cấu kinh tế Hoa Kỳ đang chuyển theo hướng tự sản xuất nhiều hơn, nếu Hoa Kỳ mua hàng ngoại ít hơn thì hai nước kia sẽ bị tai họa lớn. Bây giờ ta mới nói qua chính trị và bầu cử.



000_9T2V5-622.jpg
Một trung tâm chứng khoán ở Fuyang, Trung Quốc hôm 20/4/2016.
 
 
Nguyên Lam: Nghe chuyên gia kinh tế trình bày quan hệ mua bán giữa các nước thì thính giả của chúng ta mới hiểu vì sao khi kinh tế toàn cầu còn suy yếu sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, xứ nào càng lệ thuộc vào xuất khẩu thì càng bị rủi ro suy thoái kinh tế, đứng đầu có lẽ là nước Đức và Trung Quốc ở hai đầu của đại lục. Bây giờ ta mới nói tới chuyện chính trị của nước Đức trước khi ngó qua Trung Quốc. Thưa ông, chuyện ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta thấy là qua các cuộc bầu cử hội đồng hàng tỉnh tại Đức từ mấy tuần qua, gần đây nhất là hôm 18 tại Berlin, đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo theo xu hướng trung hữu của Thủ tướng Angela Merkel bị thua nặng. Bên cạnh đó, đảng Dân Chủ Xã Hội theo xu hướng trung tả cũng mất phiếu. Hai đảng truyền thống này mà gom lại cũng chưa đạt 30%. Trong khi đó, các đảng nhỏ ở ngoài lề, từ cực tả đến cực hữu đều thắng lớn. Năm tới, Đức lại có tổng tuyển cử, và nếu chiều hướng phân rã tiếp tục, với sáu đảng mỗi đảng chỉ có chừng 15% số phiếu thì bất ổn chính trị tại Đức ở trung tâm Âu Châu sẽ là bất ổn lớn cho cả khối. Kinh tế suy trầm và chính trị tanh bành là một rủi ro lớn cho Liên Âu, giữa vụ khủng hoảng về di dân và nạn khủng bố. Đấy là lúc ta quan tâm đến báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS cũng vừa công bố hôm 18. Đây mới là chuyện đáng lo nhất.


Nạn vay mượn quá nhiều

 

Nguyên Lam: Dường như ông trình bày bối cảnh chung rồi mới đi vào báo cáo đáng lo ngại này. Thưa ông, Ngân hàng BIS là gì và vừa báo cáo những gì mà ông cho là đáng lo nhất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế giới có Ngân hàng Thanh toán Quốc tế gọi tắt là BIS (Bank of International Settlement), là “ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương”, do các ngân hàng trung ương Âu-Mỹ thành lập từ năm 1930 với chức năng yểm trợ luồng trao đổi tư bản cho thông thoáng và ổn định. Nhưng BIS còn có trách nhiệm quan trọng hơn nữa, là theo dõi tình hình tài chánh toàn cầu để gióng chuông cảnh báo. Các phúc trình kinh tế của họ cho từng quý có giá trị chuyên môn rất cao nên được người ta đặc biệt chú ý.

- Báo cáo mới nhất của họ nêu ra một rủi ro tài chánh lớn cho hệ thống ngân hàng trên thế giới. Dựa trên một số tiêu chuẩn chuyên môn khi so sánh lãi suất với hối suất tức là tỷ giá ngoại tệ, Ngân hàng BIS cho rằng các thị trường tài chính đã có sự lệch lạc tiên báo một vụ khủng hoảng và lần này có thể còn nghiêm trọng hơn vụ Lehman Brothers năm 2008.

- Khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF dự báo một rủi ro suy trầm toàn cầu, với đà tăng trưởng bình quân chỉ ở khoảng 2-3%, thì một vụ khủng hoảng tài chính sẽ là tai họa đáng sợ cho năm tới. Đáng chú ý hơn vậy là việc Ngân hàng BIS cảnh báo rằng chính Trung Quốc lại có thể bị khủng hoảng tài chính trong vòng ba năm tới đây vì nạn vay mượn quá nhiều.


Nguyên Lam: Bây giờ ta mới đi vào trọng tâm của vấn đề là khủng hoảng tài chính bên Trung Quốc. Thưa ông, Ngân hàng BIS nhận định thế nào về Trung Quốc?

Vụ khủng hoảng do Ngân hàng BIS cảnh báo càng dễ xảy ra nay mai. Và triệu chứng tiên báo sẽ là hàng loạt doanh nghiệp vỡ nợ. Vụ khủng hoảng sắp tới tại Trung Quốc sẽ là một chấn động toàn cầu, còn kinh hãi hơn vụ tập đoàn Lehman Bros. sụp đổ… Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin vắn tắt thế này: các chuyên gia kinh tế tài chính thường theo dõi tình hình từng nước và so sánh đà tăng trưởng của tín dụng với đà tăng trưởng của sản lượng kinh tế. Họ đề ra một cái ngưỡng đáng quan tâm là khi tín dụng cao gấp 10 sản lượng thì đấy là chỉ dấu tiên báo quốc gia này có thể bị khủng hoảng tài chánh, là trường hợp xảy ra cho Hoa Kỳ năm 2007 khi thị trường gia cư bị bể và dẫn tới vụ khủng hoảng năm 2008. Khi hệ số này lại có chiều hướng tăng tốc thì tình hình dễ thành nguy ngập.

- Ngân hàng BIS theo dõi tình hình Trung Quốc từ nhiều năm và thấy đà gia tăng ngày càng mạnh. Từ hệ số 6,7 vào năm 2011 đã vọt lên 22,1 vào năm 2014. Năm ngoái thì hệ số này lên tới 24,5 và vừa qua thì đã là 30,1! Nói cho gọn thì mức rủi ro này đã vượt các nước Đông Á trong vụ khủng hoảng tài chánh bùng nổ ngày hai Tháng Bảy năm 1997 và bỏ xa hệ số 10,6 của Mỹ trước vụ Lehman Bros. Tôi xin nhắc lại là Tháng Sáu vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế định chế IMF đã khuyến cáo Bắc Kinh là phải giải quyết chuyện này càng sớm càng hay, nhưng mãi tới nay, chưa thấy ai nhúc nhích vì họ không thể làm khác được là cứ phải theo lao.


Nguyên Lam: Vì chuyện này hơi chuyên môn nên Nguyên Lam xin đề nghị ông giải thích thêm cho thính giả của chúng ta hiểu vì sao mà sự cách biệt gia tăng giữa tín dụng và sản lượng lại là dấu hiệu của khủng hoảng.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thông thường, người ta đi vay với hy vọng dùng tiền đó tạo thêm tài sản cho tương lai và tài sản ấy phải cao hơn số tiền đi vay gồm cả vốn lẫn lời thì mới có lợi. Đấy là chức năng của tín dụng, đối chiếu với kết quả đo lường ở sản lượng. Nếu nghĩ rằng tài sản trong tương lai còn tăng giá mạnh thì người ta càng có khuynh hướng đi vay nhiều hơn và lấy rủi ro lớn hơn. Khi ấy, người ta có tinh thần đầu cơ, tức là đầu tư để kiếm lời nhiều và nhanh, nhưng cũng gặp nhiều rủi ro hơn nữa. Đây là trường hợp mà người ta gọi là bong bóng đầu cơ. Bước thứ ba còn nguy hơn vậy, là người ta vẫn có thể đi vay rất nhiều mà chưa chắc đã có khả năng thanh toán trong tương lai. Thực chất thì đấy là sự lường gạt, rất dễ xảy ra trong một hệ thống tài chính lỏng lẻo về kiểm soát và lệch lạc về chính sách. Trung Quốc đã bị nạn bong bóng đầu cơ và đang bị thêm nạn lường gạt tín dụng hay vỡ nợ vì chính sách.


Nguyên Lam: Ông vừa trình bày ba cấp tín dụng đo lường ở ba cấp rủi ro và giải thích ở chính sách của Trung Quốc. Tức là ông cho là vụ khủng hoảng tài chính sắp tới tại Trung Quốc lại xuất phát từ chính sách của nhà cầm quyền, thưa ông tại sao như vậy?
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Xưa nay, Trung Quốc dùng đầu tư làm đòn bẩy, là sức bật cho sản xuất và sản xuất thừa thì xuất khẩu. Từ vụ khủng hoảng tài chính rồi Tổng suy trầm 2008-2009, số nhập khẩu của các nước có giảm và xuất khẩu của Trung Quốc cũng vậy như chúng ta vừa nói. Nhưng vì chưa thể cải cách cơ chế để lấy tiêu thụ nội địa làm đầu máy tăng trưởng, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn thúc đẩy đầu tư, chủ yếu là để tạo ra việc làm hầu tránh nạn thất nghiệp và họ tài trợ đầu tư bằng tín dụng. Vì tín dụng là từ các ngân hàng của nhà nước, và tài trợ cho các cơ sở sản xuất chủ yếu cũng của nhà nước, các khách nợ thuộc loại quốc doanh này bất kể tới rủi ro và thấy nhà nước bơm tiền thì dùng đồng tiền đó vào việc đầu cơ. Đây là lý do khiến cho lượng tín dụng tăng vọt từ mấy năm nay vì các doanh nghiệp đi vay còn nhiều hơn trước. Và mặc dù sản xuất ra hàng không bán được, hoặc trút tiền vào các dự án xây dựng có tính chất đầu cơ, tức là thổi lên bong bóng, người ta vẫn cứ đi vay, trong tinh thần lường gạt chủ nợ là nhà nước. Vì vậy, vụ khủng hoảng do Ngân hàng BIS cảnh báo càng dễ xảy ra nay mai. Và triệu chứng tiên báo sẽ là hàng loạt doanh nghiệp vỡ nợ. Vụ khủng hoảng sắp tới tại Trung Quốc sẽ là một chấn động toàn cầu, còn kinh hãi hơn vụ tập đoàn Lehman Bros. sụp đổ…
 Nguyên Lam: Ban Việt ngữ và Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

 
 

Trung Quốc Giàu Nghèo


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo ngày 160916

Bốn đồng một ngày cho cả gia đình là một thực tế bên dưới các con số mạ vàng….   


* Cần cẩu và ao ốc ở trên, bên dưới vẫn là sự lầm than... *


Trong Thượng đỉnh G-20 tại Hàng Châu vào tháng trước, Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết là Trung Quốc đã đưa hơn 700 triệu người ra khỏi cảnh nghèo khó. Con số này nghe được vì trong kho dữ liệu thống kê về Trung Quốc, Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra con số 800 triệu. Nhằm nhò gì mức sai biệt có trăm triệu dân từ một biến cố thuộc loại vĩ đại như vậy! Vì thế, mọi người đều có thể đồng ý, với sự khâm phục, rằng từ quãng 1980 tới nay, trong có 36 năm mà một quốc gia đã giúp bảy tám trăm triệu dân thoát khỏi cảnh khốn cùng.

Nhưng coi vậy chuyện không phải vậy! Bài này sẽ nói về mấy lẽ “không phải” đó.

Cũng là một cách giải ảo!

Lẽ thứ nhất là định nghĩa về mức nghèo khốn hay bần cùng – xin nói trước là hơi rắc rối, nhưng thà rắc rối còn hơn tối dạ tin nhảm. Mau mắn khởi sự khảo sát về tình trạng nghèo khổ tại Trung Quốc từ năm 1981, một năm sau khi việc cải cách của Đặng Tiểu Bình bắt đầu có kết quả, Ngân hàng Thế giới lấy chuẩn mức là lợi tức tối thiểu một đô la chín (1,90) một ngày. Năm đó, khoảng 870 triệu thuộc vào diện bần cùng (88,3% dân số). Với tiêu chuẩn quá thấp như vậy, tình trạng giải phóng ra khỏi sự bần cùng thì cũng khó như… nhảy qua ngọn cỏ.

Nhưng nếu định nghĩa bần cùng ở mức cao hơn chút đỉnh, là kiếm ra ba đồng mốt một ngày (3,10 đô la) thì số người được coi là nghèo khó lại tăng mạnh: 980 triệu người dân bò dưới lằn ranh. Đấy là tiêu chuẩn mới của định chế đã tự coi như có đóng góp kỹ thuật và tài chánh cho sự thành công của Trung Quốc. Với cái thước đo co giãn đó thì tính tới năm 2010 – năm mới nhất mà Ngân hàng Thế giới có số liệu chính thức của Bắc Kinh - gần 150 triệu người vẫn thuộc diện bần cùng vì không có hơn đồng chín một ngày. Và gần 360 triệu chưa có nổi ba đồng mốt.

Nếu kết hợp thêm thống kê về nhân khẩu thì quả nhiên người ta có thể kết luận rằng 800 triệu người Tầu đã thoát khỏi tình trạng bần cùng, như Ngân hàng Thế giới đánh giá. Nhưng sau đó họ sống ra sao? Và có được gần hai đồng hoặc hơn ba đồng để sống một ngày thì cũng chưa vào tới thiên đường xã hội chủ nghĩa.

Cho nên, xin đừng vội gáy em ơi.

Lẽ thứ hai nói hoài cũng chán là hãy nhìn vào tổng thể. Tính tới 2014, khi nước Mỹ đang than là mức sống thành phần trung lưu sa sút, lợi tức đồng niên (hàng năm) của một hộ gia đình Trung Quốc là khoảng hai vạn đồng Nguyên, tức là bằng 3000 đô la. Nhiều ít ra sao thì xin tính nhẩm: tám đô la 22 xu một ngày. Thế mà gọi là giầu, hay là thoát khỏi nghèo túng!

Tổng thể đã xam xám như vậy, đi về nông thôn thì mới thấy đen kịt: cư dân thành trị của Trung Quốc kiếm được bốn ngàn rưởi đô la một năm, còn cư dân ở nông thôn thì chỉ có ba ngàn vặt mũi bỏ mờm suốt năm. Người biết về kế toán hay làm tính chia thì kết luận trong vài giây: cả một hộ tại thôn quê chỉ kiếm ra bốn đô la một ngày. Nếu lấy đó làm tiêu chuẩn thì trời ơi, có chừng 380 triệu người Trung Quốc vẫn là thôn dân và cả nhà chưa có quá bốn đồng sinh sống.

Khi báo chí và giới kinh tế cứ nói Trung Quốc có sản lượng kinh tế hạng nhì thế giới thì ta nên nhớ tới tiêu chuẩn bốn đồng và con số gần 400 triệu dân! Cho nên, xin hãy trừ bì và có từ tâm nhìn xuống một chút. Mà chưa hết!

Chuyện coi vậy mà không phải vậy cần kết hợp với địa dư của một xứ rộng như nước Mỹ (diện tích khoảng 10 triệu cây số vuông).

Trên đại thể, Trung Quốc có khu vực hướng ngoại là các tỉnh duyên hải tương đối trù phú và khu vực bị khóa trong nội địa thì xưa nay vẫn nghèo xơ xác. Truyền thông nông cạn của thế giới nhìn không quá vùng duyên hải nên nói nhiều đến mức sống rất cao tại các trung tâm như Bắc Kinh Thượng Hải hay Thiên Tân Quảng Châu. Còn lại, Quý Châu, Cam Túc, hay Thanh Hải Tây Tạng vẫn là những tỉnh mạt rệp. Hai phần ba diện tích của Trung Quốc là những vùng trời hành như vậy, nơi mà “cư dân thành thị” vẫn nghèo hơn trung bình toàn quốc, còn thôn dân thì chưa ra khỏi thềm địa ngục.

Trung Quốc có khoảng 400 triệu chưa có đủ bốn đồng một ngày cho cả gia đình. Những người ra khỏi mức bần cùng thống kê mà chưa là tầng lớp trung lưu thì cũng khoảng 500 triệu. Gần một tỷ người đang chờ xin phần bánh hay bát cơm từ mấy chục năm nay. Họ chưa thấy mà tuần qua chỉ biết rằng có 45 đại gia của Quốc hội vừa bị khai trừ khỏi đảng vì tội tham nhũng, hoặc các sĩ quan tướng lãnh của Quân đội Giải phóng thường di chuyển bằng máy bay trên ghế hạng nhất.

Khi Tập Cận Bình khoe thành tích 700 triệu dân đã thoát cảnh nghèo, trong đầu ông lại nghĩ đến tình trạng thiếu kiên nhẫn của đa số trước sự dậm dật của thiểu số trong đảng. Thành thử, cái chuyện giàu nghèo của Trung Quốc chỉ là tương đối. Và tối tối Tập Cận Bình không thể đọc phúc trình của Ngân hàng Thế giới làm thuốc an thần! Năm xưa, Mao đã thắng là nhờ lũ người chân đất từ bên trong đi theo cuộc Vạn lý Trường chinh để giải phóng các tỉnh bên ngoài. Ngày nay, thành phần đó đang nhìn ra các tỉnh bên ngoài với sự bất mãn, uất hận và đã nhúc nhích tại Vũ Hán….