Hiển thị các bài đăng có nhãn Sóng Gió Đông Hải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sóng Gió Đông Hải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, tháng 8 25, 2015

Trung Quốc Khởi Chiến, Nhật Bản Lao Đao



Trọng Nghĩa & Nguyễn-Xuân Nghĩa RFI Phát thanh ngày 150825
"Tạp Chí Kinh Tế"

Chuỗi nghịch lý Hoa-Nhật trên mặt trận kinh tế 


* Thủ tướng Shinzo Abe và Chủ tịch Tập Cận Bình - Lân bang ngang tàng *



Các thị trường tài chính thế giới vào hôm qua, thứ hai 24/08/2015, đã kinh qua một ngày đen tối không khác những giờ khắc thảm hại nhất vào năm 2008. Từ Châu Âu rồi qua Hoa Kỳ và châu Mỹ, các thị trường chứng khoán mọi nơi đều nối gót Thương Hải và Châu Á để lao xuống dốc. Nguyên do hoảng loạn là các mối lo ngại ngày càng lớn về hệ quả của việc kinh tế Trung Quốc chậm lại đối với tăng trưởng toàn cầu.

Trung Quốc là mối ưu tư hàng đầu của giới đầu tư, trong lúc các chỉ số tồi nối tiếp nhau cho thấy là nền kinh tế thứ nhì của hành tinh mà cũng là xưởng chế biến của thế giới và thị trường béo bở, đang hụt hơi.

Tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc đã chỉ còn là 7,4% trong năm ngoái 2014, mức thấp nhất kể từ năm 1990 đến nay, và trong hai quý đầu tiên năm nay, đã lại sụt xuống mức 7%.

Sự kiện Bắc Kinh đột ngột phá giá đồng nhân dân tệ đã bị giới phân tích coi là một cố gắng tuyệt vọng của chính quyền Trung Quốc để thúc đẩy xuất khẩu và hoạt động kinh tế đang chậm lại. Quyết định đó đã làm cho mối lo ngại gia tăng trên toàn thế giới, tạo ra một làn sóng chấn động trên các thị trường tài chánh.

Nỗi quan ngại lại càng mạnh khi mà sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, với nền kinh tế Mỹ và châu Âu bị suy yếu đi, thế giới đang chờ đợi Trung Quốc là một đầu tầu mạnh kéo tăng trưởng toàn cầu đi lên. Vốn là một thị trường quan trọng đối với hàng công nghiệp nhẹ của mọi nơi, bất kỳ một sự suy giảm nào trong mức cầu tại Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng ngay đến phần còn lại của Thế giới.

Riêng đối với Nhật Bản, cơn hoảng loạn đang diễn ra trên các thị trường chứng khoán toàn cầu, bắt nguồn từ Trung Quốc, có hệ quả là thúc đẩy giới đầu tư lao vào đồng yen, thường được coi là nơi trú ẩn an toàn trong thời kỳ hỗn loạn.

Ngay từ thứ Ba tuần trước, Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Taro Aso đã cảnh báo sự tăng giá nhanh chóng của đồng yen, vì điều đó tác hại đến ngành xuất khẩu của Nhật Bản.

Tín hiệu xấu cụ thể đầu tiên là việc ngày 11 Tháng Tám và nhiều ngày sau đó, Bắc Kinh quyết định buông tay cho đồng Nguyên của họ hạ giá khoảng 3% so với trước đó. Dù Ngân hàng Trung ương Trung Quốc liên tục phủ nhận, quyết định ấy vẫn được các thị trường quốc tế gọi là “phá giá đồng bạc”, tức là làm đồng bạc Trung Quốc sụt giá, và vì vậy mở ra “một trận chiến ngoại tệ” khi nước nào cũng giảm giá đồng nội tệ của mình nếu so sánh với các ngoại tệ khác.

Động lực “chinh chiến” ở đây là xứ nào cũng mong đồng bạc hạ giá sẽ giúp hàng của mình trở thành rẻ hơn nên dễ xuất cảng hơn, mà ngược lại, hàng nhập cảng sẽ đắt hơn nên khó bán hơn.

Nhưng vấn đề kinh tế của Trung Quốc không chỉ là nhập cảng sa sút sau khi số xuất cảng của Tháng Bảy sụt 8,3% so với cùng kỳ năm ngoái, vì nhập cảng vào thị trường này cũng mất 8,1%. Vấn đề của Trung Quốc là sản xuất trì trệ nên xuất nhập cảng gì cũng sụt. Chiều hướng ấy được xác nhận khi chỉ số đặt hàng biến chế gọi là PMI lại giảm đến mức thấp nhất kể từ nhiều năm nay.

Tuần qua, tin đó vừa loan ra là các thị trường tài chính từ Á Châu qua Âu Châu đến Hoa Kỳ đều trải qua một tuần biến động, cổ phiếu của nhiều nước mất hơn 10% trong có một tuần và tiếp tục sụt giảm sang đến tuần thứ hai. Đấy là lúc mà trung tâm nghiên cứu của nhiều doanh nghiệp quốc tế nhận định là Trung Quốc sẽ còn phải hạ giá đồng Nguyên từ 8 đến 10% hoặc hơn nữa, từ nay qua năm tới. Cũng vì vậy mà đã có tin đồn từ Trung Quốc là Bắc Kinh sẽ phải nâng thanh khoản, là bơm thêm tiền qua hệ thống ngân hàng để kích thích sản xuất, với hậu quả là đồng Nguyên còn sụt giá nữa.

Khi nền kinh tế có sản lượng thứ nhì của thế giới mà chao đảo với viễn ảnh hạ cánh nặng nề đến nỗi đánh sụt giá đồng bạc để tự cứu nguy thì các nước khác sẽ phải xoay trở ra sao?

Ban Việt ngữ đài Phát thanh Quốc tế Pháp nêu câu hỏi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ và đặc biệt chú trọng đến trường hợp Nhật Bản, cường quốc Đông Á có sản lượng kinh tế đứng hàng thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc.


RFI: Thưa anh, sau biến động tài chính xuất phát từ Trung Quốc làm các thị trường theo nhau tuột giá, người ta đang nói đến viễn ảnh “suy trầm toàn cầu” là khi tăng trưởng kinh tế đều giảm đồng loạt. Vào tuần trước, khi phân tích những khó khăn của Việt Nam trong trận chiến ngoại tệ do Bắc Kinh khai pháo hôm 11, anh nói đến trường hợp sẽ còn gay go hơn cho Nhật Bản, vì vậy lần này xin đề nghị anh nói rõ hơn về chuyện đó sau khi trình bày hoàn cảnh chung của các nước.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nước không thể bán hàng lên Nguyệt cầu hay Hỏa tinh mà chỉ xuất cảng cho nhau, do đó việc phá giá đồng bạc để dễ xuất cảng là một giải pháp tuyệt vọng. Bắc Kinh cũng vừa đi vào giải pháp ấy vì tình hình còn nguy ngập hơn những gì được họ loan báo ra ngoài.

- Nhìn ra ngoài, thế giới có khối công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật, đối diện là các nền kinh tế gọi là “đang phát triển” hay đang lên, và đa số đều bị điêu đứng vì hiệu ứng Trung Quốc. Một cách nhìn khác là các nước bán nguyên nhiên vật liệu hay “thương phẩm” vào Trung Quốc, như Canada, Úc hay Brazil, thì đều bị hại vì số cầu sụt giảm nhưng hiện tượng ấy đã khởi sự từ nhiều năm rồi. 

- Bên cạnh đó, còn có các nước sản xuất và xuất cảng hàng công nghiệp chế biến, đa số tại Đông Ám và cũng bị hoạn nạn vì nằm trong chu trình cung cấp giữa các nền kinh tế Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Đấy là trường hợp của Nam Hàn, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, v.v… Nói chung,  càng mua bán với Trung Quốc thì các nước càng bị hiệu ứng nặng. Khi cái “công xưởng toàn cầu” là kinh tế Trung Quốc đang dập cửa thì nạn Suy trầm toàn cầu hết là điều có thể mà đang xảy ra.

RFI: Thưa anh Nghĩa, như vậy chúng ta sẽ bắt đầu từ khối công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật. Họ sẽ bị ảnh hưởng ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khối công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật thật ra chưa vững trừ ngoại lệ ít tệ nhất của Hoa Kỳ. Sau nhiều năm tăng chi đến kỷ lục rồi ào ạt bơm tiền để kích thích sản xuất, thì từ hai năm nay, nước Mỹ đã giảm dần và chấm dứt biện pháp bơm tiền và qua tháng tới còn có thể nâng lãi suất khỏi số không. Biến động Trung Quốc có thể khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ tạm hoãn việc tăng lãi suất và ta nên theo dõi chuyện đó vào ngày 17 tháng tới. Nhưng dù sao thì đô la Mỹ vẫn tăng giá mạnh từ hơn một năm nay so với hầu hết các ngoại tệ khác và đấy cũng là vấn đề cho các nước đang giàng đồng bạc của mình vào Mỹ kim. Khi Bắc Kinh phá giá đồng bạc so với Mỹ kim thì các nước đều chết kẹt ở giữa nên cũng phải nới lỏng cái neo cột vào tiền Mỹ.

- Khối Âu Châu thì mới chỉ tạm đẩy lui vụ khủng hoảng Euro với hoàn cảnh Hy Lạp còn bất trắc, và Ngân hàng Trung ương Âu châu BCE vẫn còn phải dùng biện pháp bơm tiền QE khá bất thường gọi là “quantitative easing” hay tăng mức lưu hoạt có định lượng. Tình hình kinh tế khó khăn tại nhiều nước Âu Châu khiến biện pháp ấy tiếp tục và còn tăng sau khi Bắc Kinh phá giá đồng bạc. Nhưng cả Hoa Kỳ lẫn Âu Châu chưa bị hiệu ứng nặng của vụ Trung Quốc phá giá bằng Nhật Bản.

RFI: Chúng ta đi vào trọng tâm là Nhật Bản. Thưa anh vì sao Nhật lại bị hiệu ướng nặng hơn?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hai nước Nhật và Tầu đang có nhiều mâu thuẫn song phương về an ninh và chính trị nhưng nghịch lý là họ buôn bán với nhau nhiều hơn cả nên đang vật lộn bên bờ vực. 

- Về chuyên môn thì hối suất hay tỷ giá đồng bạc so với một ngoại tệ khác tùy vào quan hệ mua bán với nhau. Khi tính thực giá của đồng bạc so với một ngoại tệ khác, người ta cân đo quan hệ mua bán ấy bằng phương pháp “gia trọng” hay “pondérer”, và có chỉ số “Gia trọng Thương mại” hay Trade-Weighted Index, viết tắt là TWI. Kinh tế Nhật Bản đầu tư và giao dịch nhiều nhất với Trung Quốc nên chỉ số TWI của đồng Yen Nhật tính với đồng Nguyên lên tới 30%, so với chỉ có 20% của Mỹ hay 10% của Âu Châu. Trung Quốc nhập hàng Nhật nhiều hơn hàng Mỹ và đóng góp vào đà tăng trưởng của kinh tế Nhật còn nhiều hơn cho kinh tế Mỹ tới 13%. 

- Nhìn trong ngắn hạn thì hàng Nhật bán qua Tầu là loại cao cấp, với mức đàn hồi thấp về giá cả, nên độ co giãn chưa đáng kể vì đồng Nguyên sụt giá. Nhưng khi kinh tế Trung Quốc sa sút nặng và Bắc Kinh còn phá giá thì đấy là vấn đề cho Nhật. Cũng vì vậy mà hôm Thứ Sáu 21 Tổng trưởng Tài chính Nhật là cựu Thủ tướng Taro Aso đã bày tỏ mối quan tâm về việc Bắc Kinh phá giá.

- Chúng ta nhớ rằng từ hơn hai năm nay, Nội các của Thủ tướng Shinzo Abe kích thích kinh tế qua kế hoạch táo bạo như ào ạt bơm tiền sau khi lãi suất đã hạ tới số không. Mục tiêu là cố đạt mức lạm phát 2% khiến dân Nhật chi tiêu nhiều và sớm hơn. Nào ngờ dầu thô sụt giá rồi Bắc Kinh phá giá gây rủi ro suy trầm toàn cầu, nên tiêu chí ấy không thành như Thủ tướng Abe vừa xác nhận sáng Thứ Hai 24.

RFI: Bây giờ chúng ta nhìn qua khung cảnh toàn cầu, của các nước khác. Hiệu ứng suy sụp từ Trung Quốc sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tình hình chung thì quả là rất tệ nhưng các thị trường Âu-Mỹ hốt hoảng mà rơi vào trạng thái “điều chỉnh” khi sụt giá quá 10% chứ thật ra vẫn ít bị hại nhất nếu so với các nước khác. Hệ thống tài chánh ngân hàng Trung Quốc vẫn nằm dưới chế độ kiểm soát và khép kín cho nên cả kiến trúc tài chánh Trung Quốc mà sụp dưới núi nợ sau khi kinh tế hạ cánh nặng nề thì cũng không gây hậu quả như vụ khủng hoảng tài chánh tại Mỹ và Âu Châu năm 2008.

- Nhưng các quốc gia khác thì không được như vậy. Những nước xuất cảng nguyên nhiên vật liệu thì đều điêu đứng vì khách hàng số một của họ là Trung Quốc đã bị ứ hơi và không thể mua về chất đống trong kho. Kinh tế các nước này đều bị ảnh hưởng tai hại, nhất là các nước “đang lên” trong nhóm BRICS mà cứ tưởng sẽ qua mặt khối công nghiệp hóa với kế hoạch dự án lăng nhăng. 

- Song song, các nước sản xuất hàng ráp chế tại Đông Á cũng bị hiệu ứng nặng vì hụt hẫng trong chu trình sản xuất là mua bán linh kiện của Nhật của Tầu để chế ráp và xuất cảng qua xứ khác. Họ chết kẹt giữa đồng đô la lên giá và đồng Nguyên sụt giá nên cổ phiếu và hối suất đồng bạc đều sụp mạnh mà có phá giá cũng chưa ra khỏi rủi ro suy trầm kinh tế. Vì vậy, ta chờ đợi nguy cơ Tổng suy trầm và lần này xuất phát từ Trung Quốc và các nước đang phát triển.

RFI: Thưa anh, câu hỏi cuối là hậu quả của cả một chuỗi biến động này sẽ ra sao cho Nhật Bản?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta chưa thấy hết được các hậu qủa nhưng chuyện bất ngờ trước mắt vẫn là sự kiện giới đầu tư phải tìm nơi an toàn, mà một trong những nơi an toàn cũng lại là Nhật Bản, làm đồng Yen Nhật càng lên giá và càng gây khó cho việc phục hồi kinh tế Nhật. Vì thế mà trận bão từ Trung Quốc ập vào Nhật Bản sẽ thể hiện ở nhiều góc cạnh khác nhau. 

- Sau cùng, người ta kể rằng khi xảy ra vụ nổ các kho hóa chất tại Thiên Tân, nhiều dân Tầu bên đó lại tưởng là bị quân Nhật tấn công. Họ không ngờ rằng khi kinh tế Trung Quốc hạ cánh, nước Nhật cũng giật mình! Điều mỉa mai là chuyện ấy xảy ra khi hai nước đang kỷ niệm 70 năm kết thúc Chiến tranh và Thủ tướng Nhật sẽ không qua Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm vì còn bận với việc vận động Quốc hội cho Nhật được có khả năng quân sự để bảo vệ các đồng minh. Chúng ta chưa ra khỏi chuỗi nghịch lý Hoa-Nhật!

RFI: Ban Việt ngữ đài RFI xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa đã trả lời từ Hoa Kỳ. 

Thứ Sáu, tháng 7 31, 2015

Mỹ-Hoa Tao Ngộ Mới Lạnh Mình



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 150730

Cường quốc già nua đi xuống lại gặp một siêu cường đi lên

 * Kính lão đắc thọ - nhưng con cháu đừng ngọ nguậy lung tung chứ! *


Căn cứ trên kinh nghiệm trăm năm về Đệ nhất Thế chiến 1914-1918, người ta thường cho rằng khi một tân cường quốc xuất hiện trước đà suy yếu của một cường quốc đã từng giữ vai bá chủ thì đại chiến dễ xảy ra vì sự thay đổi trong tương quan lực lượng. Cũng từ bài học đó, nhiều học giả hay sử gia luận bàn rằng siêu cường Hoa Kỳ đang suy yếu, với dấu mốc là vụ khủng hoảng tài chính năm 2008, và rằng Trung Quốc đang vươn lên thành nền kinh tế đứng thứ nhì thế giới, với dấu mốc là việc sản lượng đã vượt Nhật Bản năm 2010 và nay mai có thể bắt kịp Hoa Kỳ.

Từ đó, người ta suy đoán rằng một vụ xung đột Mỹ-Hoa là điều có thể xảy ra - hoặc nên tránh.

Nhưng dường như sự thật lại rắc rối hơn vậy - vì bốn lẽ. 


***


Trước hết, tại khu vực Đông Á, cường quốc tân hưng là Trung Quốc lại tái ngộ một cường quốc từng là cừu thù trong quá khứ. Đấy là Nhật Bản, đang có tranh chấp về chủ quyền với Trung Quốc trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và mâu thuẫn về phạm vi định vị phòng không ADIZ chồng chéo lên nhau. Chưa nói đến một vụ xung đột Mỹ-Hoa thì ta đã thấy ra chuyện đối đầu Hoa-Nhật. Bài viết trên cột báo này vào tuần trước có đề cập tới bối cảnh của nguy cơ “Nhật-Hoa Tái Ngộ”.

Thứ hai, và ngược với nhận thức của nhiều người, Trung Quốc chỉ là cường quốc chưa lên mà đã xuống, chưa giàu mà đã già, chưa hùng mà đã hung. Chuyện “tân hưng” hay “quật khởi” chỉ là giấc mơ ngắn ngủi có ba chục năm thôi. Chúng ta sẽ còn phải tìm hiểu hiện tượng này.

Thứ ba, rất ý thức được tình trạng suy yếu đã bắt đầu, lãnh đạo Trung Quốc đang cố tiến hành chiến lược “tiên hạ thủ”, là tích cực phòng vệ, như Bạch thư về Quốc phòng đã đề ra và được công bố ngày 26 Tháng Năm vừa qua. Chiến lược ấy nhắm vào việc ngăn ngừa Hoa Kỳ can thiệp khi Bắc Kinh mở chiến dịch kiểm soát và khuynh đảo các nước lân bang như “một sự đã rồi” trước khi chính mình đi vào thời suy yếu trong vài chục năm tới.

Và vì vậy, chính Hoa Kỳ mới đang bị thách đố, và đây là bài toán của lãnh đạo Hoa Kỳ sau cuộc bầu cử năm tới. Khi tuyên thệ nhậm chức vào ngày Thứ Sáu, 20 Tháng Giêng năm 2017, Tổng thống tân cử của Hoa Kỳ sẽ phải nhìn vào thách đố ấy.

Bài này sẽ lần lượt trình bày những khúc mắc nói trên. Như một khởi đầu...



***


Đầu tiên, ngược với nhận thức của nhiều người, ba chục năm tăng trưởng liên tục của Trung Quốc, từ khi Đặng Tiểu Bình khởi sự cải cách năm 1979 cho đến cột mốc 2009, không là một sự kỳ diệu kinh tế. Bọn trẻ ranh của Hà Nội chưa hiểu và còn học nhiều thì mới biết được.

Chúng chưa hiểu rằng nhiều quốc gia Đông Á đã có mấy chục năm tăng trưởng ngoạn mục khi chuyển hướng kinh tế theo quy luật thị trường. Sau giai đoạn khởi phát, cất cánh rất mạnh và nhanh, các nền kinh tế này đều thấy đà tăng trưởng giảm dần đến tốc độ “bình thường” của các nền kinh tế công nghiệp hóa Tây phương. Đấy là trường hợp của Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan trong các thập niên khởi phát 1950-1980 và sẽ là trường hợp của Ấn Độ sau này.

Trung Quốc chỉ học chiến lược của các nước Đông Á đi trước và có ưu thế là dân số cao, nhân công đông và rẻ. Đấy là chuyện bình thường, không là phép lạ.

Cho nên, cũng giống như các nước Đông Á đi trước, Trung Quốc đã có đà tăng trưởng ở khoảng 9-10% một năm trong ba chục năm liền kể từ 1980. Đà tăng trưởng ấy đang chậm lại, chỉ còn là 7,8% vào năm 2012, hay 7% vào năm nay, rồi sẽ còn giảm nữa, chỉ ở khoảng 3-4% một năm trong thập niên tới.

Nhưng khác với trường hợp Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan là các nước đã áp dụng quy luật tự do về kinh tế và dân chủ về chính trị nên tiến vào hàng ngũ công nghiệp hóa với lợi tức rất cao của người dân, Trung Quốc áp dụng chiến lược Đông Á với một chế độ chính trị độc tài và vai trò chủ đạo của nhà nước. Vì vậy, đà tăng trưởng trong mấy chục năm khởi phát lại có nhược điểm là thiếu phẩm chất, gây bất công, ô nhiễm và lãng phí. Từ những năm 2007-2008, lãnh đạo Bắc Kinh thời Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã nói đến chuyện “bốn không” của kinh tế: không cân xứng, không phối hợp, không công bằng và không bền vững.

Giới lãnh đạo kinh tế xứ này công nhận mối nguy đã được các định chế tài chánh quốc tế đề ra là “rơi vào cái bẫy xập của lợi tức trung bình”. Và cứ nằm dưới đó như hầu hết mọi quốc gia đã từng theo kinh tế thị trường để phát triển thành một nước... đang lên. "Emerging economies" là chữ lịch sự cho các nền kinh tế vẫn còn chậm tiến.

Vì vậy, việc kinh tế Trung Quốc sẽ sớm vượt Hoa Kỳ chỉ là giả thuyết cho vui.

Hãy nói cho rõ: Lợi tức một đầu người của Trung Quốc, là một tiêu chuẩn khác về năng suất, cho thấy một người Nhật kiếm ra 36.000 đô la một năm, người Đại Hàn 28 ngàn, Đài Loan 22 ngàn trong khi dân Tầu mới được 7.700, so với dân Mỹ là hơn 54 ngàn bạc, chỉ bằng 14%. May lắm thì 15 năm nữa sẽ bằng 33% và đến 2060 thì bằng phân nửa. Nếu như nước Tầu chưa có loạn!

Không, tình hình lại còn nguy ngập hơn vậy, vì Trung Quốc đang mất dần ưu thế dân đông và nhân công rẻ vì dân số lại sớm bị lão hóa do chính sách “mỗi hộ một con” đã áp dụng từ năm 1979.

Vài con số cụ thể sau đây có thể cho thấy sự chuyển động chậm rãi mà rất mạnh của tình trạng dân số Trung Quốc: thành phần trẻ tuổi từ 20 đến 24 của xứ này là 116 triệu vào năm 2012 sẽ chỉ còn 94 triệu vào năm 2020 và 67 triệu vào năm 2030. Trong 20 năm tới, tỷ số những người ở tuổi lao động so với người về hưu sẽ sụt từ 5/1 xuống 2/1, tức là hai người sẽ phải nuôi một.

Hậu quả chung cuộc là dân số Trung Quốc sẽ giảm dần, chưa tới một tỷ dân vào năm 2060 so với một tỷ 350 triệu ngày nay. Dân số co cụm và bị lão hóa như vậy tất nhiên ảnh hưởng đến sức nặng kinh tế và sức mạnh quân sự trong những thập niên sắp tới.

Và nếu so sánh thì Hoa Kỳ vẫn có dân số trẻ hơn trên một lãnh thổ vuông vức phì nhiêu, trong một xã hội có quyền tự do nên có sức sáng tạo rất cao. Dù Barack Obama có gắng sức cải tạo đến mấy thì siêu cường Hoa Kỳ vẫn không lụn bại như người ta thường nghĩ. Mà cường quốc vừa quật khởi được 30 năm là Trung Quốc thì đã thấy con dốc trước mặt. Đấy mới là nỗi lo sợ của lãnh đạo Bắc Kinh, khi mà nguy cơ khủng hoảng tài chánh vẫn gia tăng vì núi nợ quá lớn, quá nặng.

Cho nên, ngoài Nhật Bản ở đầu ngõ và khủng hoảng ở bên trong, Trung Quốc không thể quên được siêu cường vẫn còn khả năng can thiệp toàn cầu trong nhiều thập niên tới, là Hoa Kỳ.
 

*** 


Chính là vì ý thức được những khó khăn đã bắt đầu và sẽ kéo dài trong vài chục năm tới, lãnh đạo Bắc Kinh mới có những ưu tiên khác. Như ráo riết giải quyết hồ sơ Đài Loan; hoặc dẹp tan mầm động loạn vì mâu thuẫn xã hội và sắc tộc ở bên trong; hay khống chế tối đa khu vực cận duyên đang có tranh chấp về chủ quyền với các lân bang; và ngăn ngừa Hoa Kỳ can thiệp vào các cuộc tranh chấp này. Họ phải cấp bách hoàn thành những mục tiêu ấy trong vài chục năm tới, như một sự đã rồi, trước khi cán cân lực lượng nghiêng dần về nước Mỹ vì sự lụn bại khó tránh của Trung Quốc.

Trong phạm vi an ninh, mà an ninh cũng là kinh tế, lãnh đạo Trung Quốc đang lấy rất nhiều rủi ro. Hoa Kỳ rất khó can gián Bắc Kinh nếu không tự chuẩn bị cho kịch bản đáng ngại nhất, là trực tiếp đụng độ với Trung Quốc trên vùng biển Đông Bắc Á và Đông Nam Á.

Kết luận là nhiều phần thì Trung Quốc sẽ có đụng độ. Nghĩa là Hoa Kỳ sẽ lại tham chiến, nhưng khác hẳn hình thái trận địa chiến ngày xưa. Mà lần này Mỹ lại có một chuỗi đồng minh bán đảo hay hải đảo, như Ấn Độ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi hay một số quốc gia Đông Nam Á.

Đấy mới là những hồ sơ đang chờ đợi Tổng thống tân cử của Hoa Kỳ vào năm 2017.