Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, tháng 4 06, 2016

Viện Trợ Chính Thức – Và Mặt Trái

Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160406
Diễn đàn Kinh tế 

Ngoại viện là con dao hai lưỡi - một lưỡi là ngoại thuộc, lưỡi kia là tham nhũng  


000_Hkg10242954
* Cầu Nhật Tân nhìn từ bờ Nam sông Hồng tại Hà Nội hôm 6/1/2016, là cây cầu được xây dựng bằng nguồn vốn từ chính phủ Nhật Bản. AFP photo * 






Với viễn ảnh không xa là Việt Nam sẽ hết được viện trợ theo thể thức ODA, người ta bắt đầu nói đến những khó khăn sau đó, khi kinh tế vẫn cần huy động vốn mà phải vay theo điều kiện của thị trường kể từ Tháng Bảy năm tới. Chuyện ấy là gì và có hậu quả ra sao, mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu qua phần phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.



Nguyên Lam: Nguyên Lam xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, gần đây, giới chức của Bộ Tài Chính Việt Nam có trách nhiệm về quản lý nợ và tài chính đối ngoại cho biết là Việt Nam có thể không còn được vay nợ theo điều kiện viện trợ chính thức mà chuyển sang nguồn vay theo điều kiện thị trường. Hai định chế tài trợ quốc tế là Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Á châu cũng xác nhận chiều hướng ấy. Ông nghĩ sao về việc này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đây là tin vui vì Việt Nam như một đứa trẻ đã lớn, nay sắp đến lúc cai sữa và sẽ được ăn cơm rồi chập chững đi. Tôi chỉ không hiểu là tại sao người ta hốt hoảng vì sự chuyển hóa ấy đã được dự báo từ lâu, khi lợi tức đồng niên của một người lên tới mức trung bình là hơn một nghìn đô la một năm kể từ năm 2009. Tôi cũng xin được nhắc lại là Tháng Hai vừa qua, Ngân hàng Thế giới và Việt Nam vừa hòan tất công trình nghiên cứu về những gì phải làm để đưa Việt Nam lên trình độ có lợi tức trung bình cao, là trong 20 năm nữa từ lợi tức hai nghìn một người vào năm  2014 phải lên tới bảy nghìn vào năm 2035. Có lẽ người ta hốt hoảng vì đứa trẻ chưa được chuẩn bị cho ngày khôn lớn mà giới hữu trách lại còn vay quá nhiều vốn ngắn hạn trong các năm 2011-2013 rồi nay phải lo trả nợ nhiều và đi vay với điều kiện đắt đỏ hơn.


Nguyên Lam: Thưa ông, người ta hay nói lãnh đạo là tiên liệu thì sự kiện lãnh đạo Việt Nam một mặt nói đến sức tăng trưởng mạnh để lên tới đẳng cấp lợi tức trung bình, rồi lại lo sợ là ở vào trình độ ấy thì sẽ phải huy động vốn theo những điều kiện mới. Vì vậy, xin đề nghị ông trình bày lại toàn bộ tiến trình viện trợ cho Việt Nam từ khi kinh tế xứ này được cải cách để thính giả của chúng ta nhìn thấy chặng đường đã qua và những thử thách sẽ tới.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau khi thật sự đổi mới kinh tế vì Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991 thì kể từ 1992 trở về sau, Việt Nam bắt đầu được các nước viện trợ về cả tài chính lẫn kỹ thuật hầu có thể tự túc phát triển trên nền tảng vững mạnh hơn. Về khuôn khổ viện trợ, ta chủ yếu có thể thức viện trợ phát triển chính thức ODA do 28 nước giàu mạnh tiên tiến đảm nhiệm qua các cơ quan viện trợ của họ hay qua các tổ chức tài chính quốc tế.

- Ba tiêu chuẩn viện trợ là thứ nhất chính thức, thứ hai nhắm vào mục tiêu phát triển và thứ ba là qua ngả tài chính với ưu đãi. Chẳng hạn như hàng năm, Việt Nam vẫn có hội nghị của các nước cung cấp viện trợ, tôi xin gọi tắt là “cấp viện”, và các định chế tài chính quốc tế, đứng đầu là Ngân hàng Thế giới để cứu xét yêu cầu và mục tiêu của các dự án phát triển có lợi cho Việt Nam. Đấy là hình thức nâng đỡ khi Việt Nam còn nghèo và kết quả là kinh tế có tăng trưởng với lợi tức cao hơn xưa.


Nguyên Lam: Ông nói đến viện trợ tài chính với ưu đãi thì thực tế của chuyện ấy là gì? Thế nào là ưu đãi và ưu đãi đến mức thế nào, thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một quốc gia chỉ phát triển khi thực hiện các dự án yểm trợ tăng trưởng sản xuất và các dự án này phải mất nhiều năm thực hiện thì mới có kết quả. Đấy là dự án xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất như cầu đường, sông ngòi hay xã hội như trường học, nhà thương và chợ búa.

- Viện trợ kỹ thuật là tiến trình nghiên cứu từ bước kế hoạch qua chương trình đến các dự án. Viện trợ tài chính là tài trợ việc thực hiện các dự án có tính cách lâu dài. Vì vậy, người ta cho nước cầu viện vay tiền với các điều kiện dễ dãi là 1/ dài hạn, kỳ hạn di vay có thể ba bốn chục năm; 2/ với thời gian ân hạn dài, là trong năm bảy đầu thì chưa phải trả vốn mà chỉ trả lãi; và 3/ với lãi suất thấp hơn lãi suất trên thị trường, có khi chỉ là một phần trăm một năm mà thôi. Căn cứ trên ba tiêu chuẩn ấy, người ta có thể tính ra một con số tổng hợp về mức ưu đãi, gọi là “grant element” hay “yếu tố tặng dữ”.

- Về kỹ thuật thì khi đi xin viện trợ, người ta tùy dự án mà thương thuyết tiến trình giải ngân hay tháo khoán theo nhịp độ thực hiện dự án, thương thuyết về kỳ hạn trả nợ dài hay ngắn, về thời gian ân hạn là bao lâu và lãi suất là bao nhiêu so với lãi suất trên thị trường và dự toán về lạm phát, rồi dùng một chiết khấu suất để tính ra hiện giá của cả dự án trong mấy chục năm tới và so với mệnh giá thì có số bách phân gọi là yếu tố tặng dữ hay grant element. Theo thể thức ODA thì mức tặng dữ phải trên 25% mới gọi là viện trợ. Nôm na là vay 100 bạc trong 30-40 năm mà sau cùng thì trả có 75 đồng thôi. Trong thực tế thì mức tặng dữ ấy còn cao hơn nhiều, chứ không chỉ ở khoảng 25%.


Tiêu chuẩn ưu đãi của viện trợ


Nguyên Lam: Nguyên Lam được biết ngày xưa, ông đã từng thương thuyết viện trợ và là cố vấn về ngoại viện cho chính phủ Sàigòn trước năm 1975. nên đã quen với cách tính ấy. Sau này, ông còn là tư vấn kinh tế cho các tổ chức cấp viện đi thực hiện dự án phát triển cho các nước cầu viện cho nên có thể nhìn vấn đề từ hai giác độ khác nhau, ông nhận xét thế nào về tiêu chuẩn ưu đãi của viện trợ?


000_Hkg2245789-400
Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Sakaba Matsuo và Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc tại buổi lễ ký kết ODAcủa Nhật cho Việt Nam tại Hà Nội vào ngày 31 tháng 3 năm 2009. AFP photo


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin có bốn nhận xét sau đây về chuyện khá phức tạp ấy.

- Thứ nhất, các nước chuyển hướng kinh tế từ chế độ cộng sản thường có tư tưởng lệch lạc, là sở dĩ các quốc gia cấp viện, toàn là Tây phương cả, phải viện trợ cho các nước nghèo vì ngày xưa họ là thực dân đế quốc! Vì tư tưởng lệch lạc lại nhuốm mùi đấu tranh lạc hậu ấy, người ta dễ có tinh thần vô trách nhiệm khi nhận viện trợ, coi như ăn của địch để đánh địch, thậm chí để đánh tư bản chủ nghĩa! Vô hình chung đi xin viện trợ mà chả khai thác được gì cho quốc gia chỉ vì lý luận hàm hồ ấy của nhiều người trong đảng.

- Thứ hai, nếu thật sự có tầm nhìn xa thì khi nhận viện trợ là phải nghĩ đến ngày hết cần viện trợ, càng sớm càng hay. Không thể nào là quốc gia phú cường khi cứ ngửa tay cầu viện và xin được ưu đãi càng nhiều và càng lâu càng hay. Với tinh thần tự chủ đó thì trong vài chục năm cả nước cần thắt lưng buộc bụng để phát triển hầu ra khỏi thời kỳ phải có ngoại viện. Một số quốc gia đã bước vào trình độ tiên tiến có lợi tức cao, như Nam Hàn hay Đài Loan, là nhờ đã quyết chí chấm dứt sự lệ thuộc vào ngoại viện ngay từ khi khởi phát, cất cánh.

- Thứ ba, nếu bộ máy nhà nước lại kém khả năng, là trường hợp Việt Nam, thì mức lợi tức trung bình biểu kiến ở trên vẫn che giấu khác biệt quá lớn ở dưới. Nôm na là bất công xã hội giữa thiểu số giàu có tại thành thị và đa số còn quá nghèo ở thôn quê. Rồi từ nay, kinh tế phải chật vật hơn khi cần huy động vốn cho yêu cầu rất lớn của xã hội, như Ngân hàng Thế giới mới cảnh báo gần đây. Kết cuộc thì người nghèo lại càng khó được ngân sách trợ giúp trong thời gian tới khi nhà nước đến ngày trả nợ.

- Thứ tư, việc cung cấp viện trợ chính thức với điều kiện ưu đãi là phải qua cơ chế nhà nước. Nếu bộ máy nhà nước lại thiếu liêm chính thì khoản nợ ấy dẫn đến hiện tượng mà giới kinh tế và luật pháp gọi là “món nợ ghê tởm”. Đó là khi một thiểu số có chức có quyền lại vay nợ cho lợi riêng và chất lên một núi nợ mà người dân hay đời sau phải trả. Việt Nam có gặp hiện tượng ấy với các dự án đi vay mà chẳng nghĩ đến ngày trả, điển hình là vụ Vinashin đã được báo động từ năm 2008, khi Việt Nam bắt đầu có mức lợi tức trung bình.


Nguyên Lam: Với khoản nợ từ các nguồn viện trợ đã lên tới tám tỷ đô la Mỹ, mà đô la nay còn lên giá nên khi trả sẽ đắt hơn xưa, và mai này Việt Nam lại phải đi vay trên thị trường tự do với điều kiện đắt đỏ hơn, thưa ông, rồi tình hình rồi sẽ ra sao?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, Việt Nam không chỉ nợ có tám tỷ đô la thuộc diện ODA mà còn nợ gấp bội nếu đếm số nợ ưu đãi của Ngân hàng Thế giới theo thể thức IBRD và từ quỹ phát triển IDA, nay đã lên tới 13 tỷ rưỡi, và còn nợ Ngân hàng Phát triển Á châu ADB khỏang bảy tỷ đã giải ngân trong tổng số viện trợ khoảng 14 tỷ đã nhận từ năm 1993 cho tới sau này.

- Từ chín năm trước, Hà Nội đã xin Ngân hàng Thế giới cho thêm một giai đoạn chuyển đổi tiệm tiến mà sau đấy vẫn không chuẩn bị gì và tiếp tục đi vay vô tội vạ. Khi ấy, ta phải tự hỏi là những ai đã vay vô tội vạ từ cấp trung ương đến địa phương, từ các tập đoàn kinh tế nhà nước đến các doanh nghiệp được gọi là quả đấm thép nay chìm trong nợ? Tôi trở lại hình ảnh của đứa trẻ, khi chập chững biết đi thì thể nào cũng có lúc ngã. Lúc đó đã tới và là lúc này, khi Việt Nam sẽ hết được vay Ngân hàng Thế giới theo quy chế viện trợ từ Tháng Bảy năm 2017 rồi hết được Ngân hàng Phát triển Á châu cấp vốn vay ưu đãi từ cuối năm 2018.


Nguyên Lam: Thưa ông, câu hỏi chính mà nhiều người quan tâm là rồi đây tình hình sẽ ra sao khi Việt Nam hết được vay tiền theo điều kiện ưu đãi của 25 năm vừa qua?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng tất nhiên tình hình sẽ khó khăn hơn trước, nhưng mọi người từ trên chí dưới đều phải ý thức được điều ấy mà tiến hành hai chương trình cải cách.

- Thứ nhất, về hành chính công quyền thì phải gia tăng biện pháp kiểm soát để khỏi gây thêm vấn đề. Cụ thể là từ trung ương đến địa phương, phải có chế độ giám sát và kiểm tra chặt chẽ hơn và Nhà nước phải xác nhận trách nhiệm giải trình ngân sách, dùng bao nhiêu cho việc gì. Nhà nước không thể đại diện người dân đi vay tiền cho tay chân của nhà nước  làm việc khuất tất rồi bắt dân trả nợ.

- Thứ hai, trong kế hoạch cải cách doanh nghiệp, là cải tổ hệ thống doanh nghiệp nhà nước, thì phải đặt ra yêu cầu tư nhân hóa, là bán tài sản của xí nghiệp quốc doanh lấy tiền về trả nợ và đồng thời mở ra không gian sinh hoạt cho tư doanh sớm thoát khỏi cảnh ngộ “chết lâm sàng” như hiện nay.

- Lời kết ở đây là nên rút tỉa bài học của 25 năm đi xin ngoại viện: viện trợ là con dao hai lưỡi, nó chẳng giúp gì cho việc xóa đói giảm nghèo nếu nhà nước thiếu năng lực hành chính, bộ máy quản lý lại không liêm chính mà chẳng chịu trách nhiệm gì trước quốc dân. Một trong các dự án viện trợ đâu tiên cho Việt Nam là cải cách hành chính, được đề xướng từ năm 1992 mà chẳng có kết quả xứng đáng chỉ vì vai trò quá lớn của đảng và các đảng viên trong bộ máy nhà nước. Không có pháp quyền nhà nước thì người dân chỉ có quyền đi trả nợ cho tay chân của nhà nước.


Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích này.

Thứ Tư, tháng 1 27, 2016

Kinh tế Việt Nam và ông Nguyễn Tấn Dũng

Kính Hòa & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160127
"Diễn đàn Kinh tế" 

Ưu điểm của Dũng là "cải cách", "thân Mỹ", "chống Tầu" và "có sức lôi cuốn"? Láo cả! 
000_Hkg10248112-620
* Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại đại hội đảng 12 hôm 21/1/2016 - AFP photo *



Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa 12 sẽ kết thúc ngày 28 này sau khi vừa bầu ra Ban chấp hành Trung ương mới với các cơ chế tối cao ở trên như Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư và Tổng bí thư đảng. Trong mấy tháng liền, việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội đã gây chú ý vỉ yếu tố nhân sự lãnh đạo. Trong số bốn người lãnh đạo cao cấp nhất có vai trò của Thủ tướng, tập trung vào khả năng, lập trường và thành tích của ông Nguyễn Tấn Dũng sau hai nhiệm kỳ cầm đầu Hội đồng Chính phủ. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về thành tích đó qua phần phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Kính Hòa: Xin kính chào ông Nghĩa. Được biết ông không mấy theo dõi diễn biến hậu trường của việc tổ chức Đại hội đảng vừa qua tại Hà Nội. Nhưng Đại hội năm nay lại có nhiều khác biệt so với trước đây vì một yếu tố nhân sự là ông Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị đứng hàng thứ ba sau Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, sẽ ra đi hay ở lại vối trách nhiệm cao hơn. Những đồn đại dồn dập và đầy mâu thuẫn trong mấy tuần liền cho thấy là có tranh đoạt quyền lực trong nội bộ về thành tích của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau 10 năm cầm đầu Hội đồng Chính phủ. Thưa ông Nghĩa, dù ông không thích nêu ý kiến về chọn lựa nhân sự của Đại hội đảng, Diễn đàn Kinh tế vẫn muốn hỏi ông một câu về kinh tế, là kinh tế Việt Nam ra sao khi có hoặc khi không có ông Nguyễn Tấn Dũng trong vị trí lãnh đạo?

Lãnh đạo là tiên liệu, đảng Cộng sản Việt Nam không biết tiên liệu. ông Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi sẽ làm một số thính giả và độc giả của chúng ta thất vọng vì lạc đề nói chuyện Đài Loan trước khi trả lời câu hỏi của anh Kính Hòa!

- Đi trước Việt Nam hai chục năm theo chiến lược phát triển kinh tế thị trường dưới chế độ độc đảng khá độc tài và lại nằm dưới tầm đạn của Trung Quốc mà tôi sẽ gọi là Trung Cộng cho chính xác, Đài Loan là một phép lạ kinh tế đích thực, với nhiều thành tựu về phẩm chất xã hội, tổ chức và kỹ thuật rất đáng theo dõi để học hỏi. Dù an ninh là một ưu tiên sinh tử, Đài Loan cũng tự chuyển hóa từ chế độ độc đảng có tinh thần xã hội chủ nghĩa của ông Tưởng Kinh Quốc qua chế độ dân chủ và đúng 20 năm trước, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa mà người Tầu được trực tiếp đi bầu theo thể thức phổ thông đầu phiếu để chọn lựa người lãnh đạo là Tổng thống. Năm đó là 1996 và Trung Cộng đã bắn hỏa tiễn qua đầu dân Đài Loan để uy hiếp.

- Nhưng việc dân chủ hóa vẫn thành và sau bốn năm cầm quyền của Tổng thống Lý Đăng Huy thuộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng từ lục địa lưu vong qua vào năm 1949, năm 2000 người dân đã bầu lên Tổng thống Trần Thủy Biển thuộc đảng đối lập là đảng Dân chủ Tiến bộ, hay Dân Tiến. Qua hai nhiệm kỳ Dân Tiến, Đài Loạn lại có Tổng thống thuộc Quốc Dân Đảng là ông Mã Anh Cửu. Mươi ngày trước, người dân Đài Loan lại đi bầu Tổng thống và Quốc hội, lần này đảng Dân Tiến trở lại cầm quyền sau 10 năm đối lập, với bà Thái Anh Văn sẽ là Tổng thống và một cơ chế Lập pháp do đảng Dân Tiến chiếm đa số áp đảo.

Kính Hòa: Xin cảm tạ ông Nghĩa đã rất ngắn gọn trình bày về hoàn cảnh Đài Loan. Hiển nhiên là ông có ý so sánh, nhưng với mục tiêu gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi sở dĩ nhìn ra khỏi Việt Nam và nhắc đến Đài Loan, chứ không nói thêm về Nam Hàn, vì mình có thể rút tỉa nhiều bài học. Con trai của ông Tưởng Giới Thạch là Tưởng Kinh Quốc đã được đào tạo tại Liên Xô và có tinh thần xã hội chủ nghĩa, là chú trọng đến an sinh và công bằng xã hội dù theo kinh tế thị trường với một đảng độc tài và thủ cựu.

- Vậy mà chính quyền Tưởng Kinh Quốc dần dần cải cách về chính trị, để trên thành quả kinh tế chói lọi mà cho người dân thêm quyền chọn người lãnh đạo và trực tiếp phê phán Chính phủ. Kết quả là Quốc Dân Đảng phải cạnh tranh với đối lập để tranh thủ lòng dân, có lúc cầm quyền, có lúc phải ngồi ghế đối lập rồi lại trở về vai trò lãnh đạo. Đài Loan đã tự chuyển hóa như vậy 20 năm trước, khi Đông Á bị khủng hoảng tài chính và kinh tế năm 1997-1998.

- Trong 10 năm cầm quyền vừa qua của Mã Anh Cửu dưới sự lãnh đạo của Quốc Dân Đảng, Đài Loan đã đi theo chủ trương khắng khít hợp tác với Bắc Kinh, nhưng tình hình kinh tế và nhất là xã hội lại sa sút nên dân chúng đã ào ạt bầu cho đảng đối lập để tìm con đường ra khỏi bóng rợp của Bắc Kinh. Bài học ở đây là người dân có lợi nhất, họ thực sự làm chủ tương lai và vận mệnh và các đảng chính trị thay nhau cầm quyền phải quan tâm đến lòng dân.

- Việt Nam chưa được vậy dù chẳng gặp hoàn cảnh nguy nan về an ninh của Đài Loan. Trách nhiệm là ở đảng Cộng sản Việt Nam, khi cầm quyền liên tục từ 40 năm qua mà làm xứ sở tụt hậu, chẳng khi nào bắt kịp Đài Loan hay Nam Hàn tại Đông Bắc Á và nay vẫn còn thua kém các nước Đông Nam Á. Đại hội đảng vừa qua đã gây thất vọng, cho thấy đảng này không xứng đáng cầm quyền và nên tự chuyển hóa để khỏi tự tiêu vong như nhiều đảng độc tài khác.


000_Hkg10249291-400
Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng và các thành viên Bộ Chính trị bước xuống bỏ phiếu tại Đại hội đảng toàn quốc tại Hà Nội hôm 26/1/2016. AFP photo


Kính Hòa: Thưa là ông thất vọng nhất ở những điểm gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngoài chuyện tranh đoạt quyền lực rất đáng chê trách, tôi thất vọng ở tầm nhìn của giới lãnh đạo. Mười năm trước, Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại Quốc tế WTO và bước vào một thời kỳ hội nhập mới, còn có lợi hơn Đài Loan là một nước bị Trung Cộng cô lập về ngoại giao. Vậy mà Việt Nam không tự chuẩn bị cho việc hội nhập đó sau 15 năm đàm phán và bị khủng hoảng trong các năm 2007-2008 nhồi trong nạn Tổng suy trầm toàn cầu 2008-2009. Lãnh đạo là tiên liệu, đảng Cộng sản Việt Nam không biết tiên liệu.

- Chuyện thứ hai là Việt Nam cũng vừa trải qua bảy năm đàm phán để hội nhập ở cấp cao hơn, đó là thành đối tác của Hiệp ước Xuyên Thái bình dương TPP, vừa được thông qua ngày năm Tháng 10. Sau Hội nghị Trung ương chuẩn bị cho Đại hội XII người ta mới hiểu là Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã trực tiếp chỉ đạo và kiểm soát từng bước đàm phán việc hội nhập lớn lao này vào môi trường kinh doanh mở rộng của TPP, của Liên hiệp Âu châu và khối ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á, với rất nhiều triển vọng mà cũng có nhiều thách đố về cạnh tranh.

- Đảng chỉ đạo và kiểm soát việc thương thuyết ra sao, theo các tiêu chuẩn nào và tại sao? Người dân không được biết về mấy điều then chốt ấy, lại càng khó biết Chính phủ Việt Nam sẽ thực thi cam kết với quốc tế như thế nào khi mà Nhà nước và Quốc hội vẫn nằm dưới hệ thống quyền lực mơ hồ và mờ ám của đảng ở đằng sau? Đã vậy, những chỉ thị của lãnh đạo đảng lại đi ngược với những cam kết về kinh tế, xã hội và luật pháp với quốc tế khi khẩu hiệu “định hướng xã hội chủ nghĩa” và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước vẫn có giá trị như mệnh lệnh tối cao về kinh tế.

- Những nghi vấn chính đáng ấy cho thấy đảng Cộng sản Việt Nam cứ xoay trong chân không, chẳng hề chịu trách nhiệm trước quốc dân và nhờ vậy đảng viên lại có thêm đặc quyền đặc lợi khi được đảng đưa vào vị trí điều hành bộ máy nhà nước. Thành tích tham nhũng của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng là hậu quả tất nhiên, dù rằng ông ta có khả năng vượt mọi kỷ lục.

Kính Hòa: Nói về thành tích, câu hỏi được nêu ra là viễn ảnh kinh tế Việt Nam nếu có hay không có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi tường thuật trận đấu đá đằng sau Đại hội đảng ở Hà Nội, báo chí quốc tế đã sai lầm trong cách đánh giá Nguyễn Tấn Dũng là có tinh thần cải cách, thân Mỹ và có ma lực lôi cuốn quần chúng. Họ có cái nhìn phiến diện vì không hiểu là đảng viên cao cấp mà được đảng đưa vào vị trí điều hành bộ máy nhà nước rồi tiếp cận với kinh tế và quốc tế đều phải có ngôn ngữ văn minh và phổ biến của thị trường nên được hiểu lầm là muốn cải cách.

- Thứ hai, sau khi lên làm Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có nhiều chọn lựa tai hại cho kinh tế Việt Nam qua sự hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước mô phỏng từ Trung Cộng chứ chẳng phải là các “chaebols” của tư doanh Nam Hàn, với hậu quả là vay thả giàn và vỡ nợ hàng loạt từ năm 2008. Chuyện nợ xấu đang đe dọa kinh tế Việt Nam cũng từ đó mà ra.

- Thứ ba, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chấp thuận cho các dự án tai hại của Trung Cộng tại những khu vực sản xuất và vùng chiến lược của lãnh thổ Việt Nam nên gây nguy hiểm cho an ninh tổ quốc. Kinh tế Việt Nam trôi vào vị trí vệ tinh của Trung Cộng là dưới triều Nguyễn Tấn Dũng chứ không phải là dưới thời ông Phan Văn Khải. Sau đấy, cũng nhờ đặc quyền trong khu vực kinh tế nhà nước mà ông Nguyễn Tấn Dũng có thể mở ra cơ hội kinh doanh cho tay chân và thân tộc để có một mạng lưới cấu kết của các nhóm lợi ích riêng, ngụy danh là tư nhân, trong khi bót nghẹt tư doanh và chẳng giúp gì cho sức cạnh tranh của Việt Nam. Thứ năm, nạn đàn áp dân chủ và bách hại những ai phê phán hành động bành trướng xâm lược của Trung Cộng đã lên tới cao điểm vào thời cầm quyền của ông Dũng. Bảo rằng ông ta có lập trường cứng rắn với Bắc Kinh là nói chuyện sừng thỏ lông rùa!

- Nói cho công bằng, Thủ tướng Dũng giữ tinh thần chia chác sòng phẳng với anh em nên mạng lưới quyền lực và tiền tài của ông có mở rộng hơn là của các đảng viên phụ trách về tổ chức và lý luận của đảng. Cái gọi là ma lực lôi cuốn hay “charisma” mà báo chí quốc tế nói đến thật ra rổn rảng hơi đồng. Nếu Việt Nam còn có một Thủ tướng như vậy thì chẳng thể hội nhập vào thế giới văn minh được.

Kính Hòa: Chúng ta bước qua kịch bản kia, là nếu không còn ông Nguyễn Tấn Dũng cầm đầu Hội đồng Chính phủ thì kinh tế Việt Nam sẽ ra sao?

Nói cho công bằng, Thủ tướng Dũng giữ tinh thần chia chác sòng phẳng với anh em nên mạng lưới quyền lực và tiền tài của ông có mở rộng hơn là của các đảng viên phụ trách về tổ chức và lý luận của đảng. ông Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi khởi đầu với trường hợp Đài Loan thì xin kết thúc với Đài Loan. Sau hai nhiệm kỳ Tổng thống, ông Trần Thủy Biển của đảng Dân Tiến đã bị điều tra về tội tham nhũng và nay phải chấp nhận công lý của một chế độ dân chủ pháp trị, có nhà nước pháp quyền chứ không phải đảng quyền. Có khi ông Dũng sẽ may mắn hơn ông Trần Thủy Biển nhờ đảng Cộng sản vẫn còn cầm quyền. Nhưng tài sản của ông và gia đình đang nằm tại Hoa Kỳ lại thuộc về hệ thống pháp luật khác nên ta có thể nhớ đến tiền lệ là số phận và tiền tài của Tổng thống độc tài Ferdinand Marcos của Phi Luật Tân cách nay đúng 30 năm.

- Nói về tương lai kinh tế Việt Nam sau 10 năm cầm quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì tôi chẳng lạc quan hơn vì đảng Cộng sản vẫn còn đó và giới hạn tiềm lực của quốc dân.

- Thứ nhất, trong kịch bản lý tưởng như qua lối phát biểu chung chung đã được nghe trong Đại hội, thì Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội phải nêu thẳng vấn đề cải tổ pháp chế để minh định vai trò độc lập của nhà nước, là độc lập với đảng. Tôi cho rằng Việt Nam phải tách đảng ra khỏi nhà nước thì mới cải tiến về hành chính và kinh tế được.

- Thứ hai, trên cơ sở đó, Chính phủ mới có thể thành lập hay cải tiến thể chế để có định chế và hạ tầng luật pháp mang tính chất yểm trợ kinh tế, ổn định xã hội và phát huy văn hóa giáo dục, là yếu tố cần thiết cho kinh tế. Còn lại, các chi tiết kỹ thuật khác, dù có ưu tiên hay khẩn cấp, thì vẫn  có thể tiến hành sau khi tháo gỡ ách tắc chính trị và tư duy ở thượng tầng.

- Chúng ta sẽ chỉ thấy chuyện này kể từ Tháng Năm, khi Quốc hội khóa mới xuất hiện, y hệt như tại Đài Loan. Quốc hội Việt Nam là vật trang trí của đảng hay sẽ có thực quyền cũng là một vấn đề cho tương lai. Còn lại đảng Cộng sản không có tương lai khi cái gì cũng muốn nắm mà cái đầu lại trống rỗng, chỉ rổn rang khẩu hiệu của một thời đã qua, năm năm lại nghe thấy một lần.

Kính Hòa: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích này.

Thứ Tư, tháng 11 11, 2015

Việt Nam vào TPP

Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 151111


Thành lập nghiệp đoàn độc lập và lo huấn nghệ đi

 
Ảnh minh họa
* Ảnh minh họa File photo* 
 
 
 
 
 

Đúng một tháng sau khi 12 thành viên của Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP hoàn tất việc đàm phán, hôm Thứ Năm mùng năm Tháng 11 vừa qua, Văn phòng Đại sứ Thương mại Hoa Kỳ công bố nội dung các cam kết giữa 12 nước có sản lượng bằng 40% sản lượng toàn cầu. Bên trong một hồ sơ dầy cộm đang được giới chức các nước nghiên cứu việc áp dụng, một số cam kết sẽ ảnh hưởng đến kinh tế và xã hội Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế xin tìm hiểu với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về những cam kết đó.


Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, tuần qua, Hoa Kỳ đã công bố các cam kết giữa 12 quốc gia đối tác trong Hiệp ước Xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là TPP. Đây là tài liệu gần sáu ngàn chữ, in ra thì cũng thành một pho sách dầy cả thước, bên trong đầy chi tiết phức tạp nên Nguyên Lam xin hỏi rằng ông có tìm thấy gì liên hệ đến kinh tế và xã hội Việt Nam không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi chưa thể đọc hết một tài liệu quá dài, gồm 30 chương hơn hai nghìn chữ, bốn Phụ bản và mấy chục Tài liệu đính kèm, nếu in ra thì cũng thành một pho sách dầy đến chín chục phân, bên trong có nhiều chi tiết chuyên môn mà mình chưa thể hiểu hết được. Tôi chỉ mới tìm vào những gì liên quan đến Việt Nam để thấy ra vài điều mà thôi.
- Về thủ tục, trước hết, ngần ấy quốc gia đối tác đều phải công bố các cam kết cho dân chúng biết mà chuẩn bị. Cho đến nay, mới chỉ có bản Anh ngữ được phổ biến và cơ quan hữu trách của 12 nước sẽ còn nghiên cứu lợi hại để đề nghị cải sửa và trước khi Quốc hội từng nước phê chuẩn. Tại Hoa Kỳ, tôi cho là người ta còn mất cả năm trời cho việc đó vì đây là những thỏa thuận có thể thay đổi sinh hoạt kinh tế của gần 800 triệu người và mở ra một kỷ nguyên hoàn toàn mới.

Nguyên Lam: Xin ông nhắc lại rằng về thủ tục tại Hoa Kỳ thì các cơ quan hữu trách còn phải làm gì nữa?

Tại VN, người ta đặt ra một nguyên tắc dựa trên một huyền thoại-tức là không có thật mà cứ được loan truyền-rằng đảng Cộng sản là đại diện chân chính của quần chúng nhân dân lao động, vì vậy, công cụ của đảng là Nhà nước mới lập ra công đoàn đại diện cho công nhân mà thực chất là đại diện cho Nhà nước Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau khi Tổng thống Mỹ tuyên bố tuần qua là muốn Quốc hội thông qua Hiệp ước trong kỳ hạn 90 ngày thì các Ủy ban tư vấn của Văn phòng Đại sứ Thương mại cần thẩm định nội dung và đệ nạp Quốc hội cách đánh giá của mình. Chông gai ở đây là trong 90 ngày tham khảo và thẩm định ấy, Quốc hội Hoa Kỳ có thể châm chước hoặc nếu đòi điều chỉnh thì Hoa Kỳ phải thông báo cho 11 đối tác kia. Các nước này có thể thông cảm hay không với những điều chỉnh ấy vì bên trong họ cũng có thể gặp các vấn đề tương tự. Những phản ứng đầu tiên sau khi văn kiện này được công bố tại Hoa Kỳ đều xuất phát từ các phe chống đối Hiệp ước và khi họ càng hiểu ra nội dung chi tiết và hậu quả chuyên môn thì họ sẽ càng có phản ứng mạnh.

- Sau đó, căn cứ trên văn kiện mới, Hành pháp có 60 ngày để soạn thảo danh mục các dự luật cần ban hành và Hội đồng Thương mại Quốc tế, một cơ chế độc lập của Hoa Kỳ, có tối đa 105 ngày để phân tích hiệu ứng lợi và hại cho kinh tế Mỹ khi hội nhập vào hệ thống TPP. Còn các ủy ban chuyên môn của Quốc hội cũng phải trắc nghiệm ảnh hưởng và yêu cầu của việc áp dụng qua việc ban hành những luật lệ mới để tuân thủ các điều đã cam kết. Từ kết quả nghiên cứu bàn cãi đó, Hạ viện sẽ có 60 ngày và Thượng viện có 30 ngày để phê chuẩn văn kiện chính thức này. Vì vậy, tôi thiển nghĩ rằng sẽ phải ít ra là năm tháng nữa thì Quốc hội mới có thể phê chuẩn văn kiện.

- Nhưng khi ấy, Hoa Kỳ lại ở vào giai đoạn tranh cử để bầu lại các chức vụ Tổng thống, Phó Tổng thống, toàn thể 435 Dân biểu Hạ viện và một phần ba Nghị sĩ Thượng viện cùng nhiều chức vụ Thống đốc Tiểu bang và vì nhu cầu tranh cử, ai cũng muốn châm thêm vài điều kiện áp dụng có lợi cho thành phần cử tri của họ nên có lẽ phải qua năm 2017 thì Quốc hội Khóa 115 mới có thể phê chuẩn để vị Tổng thống tân nhậm ban hành sau ngày 20 Tháng Giêng năm 2017.

Nguyên Lam: Nếu như vậy thì có lẽ văn kiện này sẽ còn có nhiều thay đổi nữa, ít ra từ phía Mỹ, trước khi có giá trị cưỡng hành tức là chi phối các luật lệ kinh doanh hiện nay tại Hoa Kỳ. Phải chăng, các quốc gia kia cũng vậy, thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là 11 nước kia cũng phải công bố nội dung của cả ngàn điều khoản chuyên môn và chi tiết mà đại diện của họ đã đàm phán và thỏa thuận với nhau sau mấy chục phiên họp từ sáu bảy năm nay. Rồi trong từng nước, người ta cần tìm hiểu, giải trình tường tận và thậm chí tranh luận về các điều kiện áp dụng Hiệp ước. Một thí dụ cho Việt Nam là từ nay, Việt Nam phải cải thiện điều kiện lao động, chấp nhận cho thành lập các công đoàn hay nghiệp đoàn độc lập và tự do của tư nhân chứ không thể chỉ có công đoàn của nhà nước như hiện nay. Thật ra, Việt Nam phải cải tổ toàn bộ các định chế của mình để có một hạ tầng cơ sở luật lệ khác thì mới trước hết phù hợp với điều cam kết và thứ hai có điều kiện khai thác lợi thế của TPP.

Nguyên Lam: Nguyên Lam xin hỏi ông về chuyện công đoàn hay nghiệp đoàn ấy là thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Công đoàn hay nghiệp đoàn là các đoàn thể đại diện cho thành phần lao động thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và cả dịch vụ để tranh đấu với giới chủ nhân và với cả nhà nước cho quyền lợi của thành phần lao động. Quyền lợi ấy có thể là điều kiện lao động và môi sinh an toàn, là lương và bổng hay cụ thể nhất là quyền tranh đấu, quyền đình công, lãng công, v.v….

- Tại Việt Nam, người ta đặt ra một nguyên tắc dựa trên một huyền thoại - tức là không có thật mà cứ được loan truyền - rằng đảng Cộng sản là đại diện chân chính của quần chúng nhân dân lao động, vì vậy, công cụ của đảng là Nhà nước mới lập ra công đoàn đại diện cho công nhân mà thực chất là đại diện cho Nhà nước để cưỡng bách công nhân theo chỉ thị của đảng.

- Từ phía Hoa Kỳ, rất nhiều cơ quan và tổ chức đã nêu vấn đề về trường hợp Việt Nam vì cho là kinh tế Việt Nam sẽ có lợi nhất trong 12 nước đối tác của Hiệp ước TPP. Họ muốn Việt Nam phải cải tổ luật lệ để lợi ích đó tỏa rộng đến thành phần lao động, nếu không thì Việt Nam phạm lỗi cạnh tranh bất chính. Cụ thể là cho thành lập các công đoàn hay nghiệp đoàn độc lập, và các nghiệp đoàn này sẽ được quốc tế hỗ trợ để có khả năng bảo vệ quyền lợi của giới lao động. Người Việt Nam phải được biết về những cam kết và quy định ấy để sớm thành lập các nghiệp đoàn tự do.

Nguyên Lam: Thưa ông, một cách thiết thực thì Việt Nam phải làm những gì trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi của giới lao động?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung, Việt Nam được đánh giá là thành viên thuộc loại lạc hậu nhất trong 12 đối tác nên được thông cảm với mười mấy điều khoản về kỳ hạn tuân thủ, từ một hai năm đến 10, 15 và thậm chí 20 năm, thì mới được lợi thế về quan thuế và quyền tự do xuất khẩu. Riêng trong lĩnh vực lao động thì Việt Nam có một thỏa thuận biệt lập theo đó sẽ được Hoa Kỳ yểm trợ và theo dõi việc tuân thủ cam kết về lao động. Một cách thiết thực thì một ủy ban gồm ba chuyên gia về lao động của Việt Nam, Hoa Kỳ và của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO sẽ giám sát việc Việt Nam chấp hành trong vòng năm năm sau khi áp dụng Hiệp ước TPP. Sau năm năm ấy, phía Hoa Kỳ có thể chối từ những lợi thế mậu dịch cho Việt Nam nếu thấy rằng xứ này không tuân thủ điều cam kết về lao động.

- Tuy nhiên, qua kinh nghiệm của quốc tế về tinh phần bội ước - là phản bội và không chấp hành các hiệp ước - của Chính quyền Việt Nam, các tổ chức về lao động và nhân quyền của quốc tế không tin vào những cam kết của Hà Nội và đang gây sức ép rất mạnh với Chính quyền Hoa Kỳ.

Từ phía Hoa Kỳ, rất nhiều cơ quan và tổ chức đã nêu vấn đề về trường hợp Việt Nam vì cho là kinh tế Việt Nam sẽ có lợi nhất trong 12 nước đối tác của Hiệp ước TPP. Họ muốn Việt Nam phải cải tổ luật lệ để lợi ích đó tỏa rộng đến thành phần lao động, nếu không thì Việt Nam phạm lỗi cạnh tranh bất chính - Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Chi tiết ly kỳ và đáng chú ý là kinh tế Việt Nam có lợi nhất nhờ Hiệp ước TPP, nhưng Hiệp ước lại bị phản đối và có khi không được phê chuẩn chính là vì Việt Nam, khi quốc tế cho rằng Hà Nội sẽ không chấp hành những cam kết của mình. Nếu điều ấy xảy ra thì chính là người dân Việt Nam mới bị thiệt thòi nhất.

Nguyên Lam: Ông cho rằng Việt Nam nên làm gì để khỏi bị sự thiệt hại ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là về đại thể thì Việt Nam phải làm một cuộc cách mạng văn hóa để mọi người dân cùng biết và cùng đấu tranh cho quyền lợi thiết thực của mình, chứ không thể cứ xin đảng và nhà nước ban phát một cách tùy tiện, nay thì cho mai lại cấm và muốn bỏ tù ai cũng được. Về cụ thể thì có lẽ Việt Nam phải qua bảy bước chấp hành mọi cam kết.

- Trước hết, công bố càng sớm càng hay nội dung bản Hiệp ước và những cam kết khác bằng tiếng Việt để mọi người cùng biết. Thứ hai là cho giới tư vấn độc lập của Việt Nam và quốc tế công khai phân tích, giải trình và phổ biến tự do các điều mà Chính quyền đã cam kết với quốc tế. Thứ ba, ban hành luật pháp mới về quy chế lao động, trong đó có điều khoản thành lập các đoàn thể như công đoàn, nghiệp đoàn hay hiệp hội tương trợ thành phần lao động của mọi ngành nghề, có điều khoản về tố tụng để một tòa án lao động độc lập có thẩm quyền thụ lý các hồ sơ khiếu nại và thẩm xét để ra phán quyết mà mọi bên trong cuộc phải chấp hành. Thứ tư, ban hành và giải thích luật lệ về thẩm quyền của tòa án quốc tế khi có tranh chấp lao động liên hệ đến một doanh nghiệp hay pháp nhân của nước ngoài.

- Thứ năm, đặt ra kỳ hạn chấm dứt sự hiện hữu và thẩm quyền của Công đoàn Nhà nước. Thứ sáu, yêu cầu giới luật gia và chuyên viên độc lập của Việt Nam và quốc tế sớm thành lập các trung tâm thông tin và hướng dẫn các doanh nghiệp và công nhân về quyền lợi của mình. Thứ bảy, yêu cầu các tổ chức quốc tế của Liên hiệp quốc, của Ngân hàng Thế giới hay Ngân hàng Phát triển Á châu ADB, cấp bách viện trợ cho Việt Nam các ngân khoản cần thiết để hoàn thành việc chuẩn bị này, và lập thủ tục cho tư nhân xin được sử dụng các khoản viện trợ ấy. Nếu các hiệp hội tư nhân không có tiền và người thì dù có giải phóng điều kiện lao động trên lý thuyết, Việt Nam vẫn chưa thể áp dụng trong thực tế.

Nguyên Lam: Ông cho là trong năm năm tới thì Việt Nam phải hoàn thành những bước chuẩn bị này? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Kỳ hạn năm năm là do phía Hoa Kỳ đặt ra để thẩm xét việc Việt Nam chấp hành các cam kết trong khuôn khổ Hiệp ước TPP, chứ người dân và chính quyền Việt Nam phải khởi sự lập tức và hoàn thành sớm hơn. Cũng xin nói thêm rằng trong hoàn cảnh hiện tại thì các doanh nghiệp ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam sẽ có lợi nhất nhờ quyền tự do mậu dịch của TPP, chứ các doanh nghiệp của tư nhân Việt Nam chưa thể khai thác lợi thế ấy. Vì vậy, khi nói đến việc thành lập nghiệp đoàn hay hiệp hội có tính chất hỗ tương, là tương trợ lẫn nhau, ta cần mở rộng tầm nhìn và phạm vi hoạt động của các đoàn thể tư nhân nhằm yểm trợ doanh nghiệp Việt Nam về cả lao động lẫn kỹ thuật kinh doanh thì mới nâng cao khả năng cạnh tranh.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Thứ Tư, tháng 10 14, 2015

Viễn Ảnh Kinh Tế Đông Á

Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 151014
"Diễn đàn Kinh tế" 
 
 
Dân Việt Nam phải biết nhiều hơn về những ngả đường mới cho sự thịnh vượng của mình
 
 
Ảnh minh họa Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ thao diễn trên biển Thái Bình dương
* Ảnh minh họa Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ thao diễn trên biển Thái Bình dương Courtesy fsxcarrierops * 
 
 



Sau khi Hiệp ước TPP vượt qua được một bước then chốt vào mùng năm vừa qua, tình hình kinh tế của các nước Đông Á sẽ biến chuyển ra sao? Câu hỏi đó dẫn chúng ta về hai đầu máy kinh tế trong vùng là Trung Quốc và Nhật Bản và về những bài toán an ninh đang đặt ra trong khu vực Đông Nam Á. Nguyên Lam yêu cầu chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa phân tích bối cảnh đó trong chương trình Diễn đàn Kinh tế tuần này.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, chúng ta còn non ba tháng nữa là sẽ hết năm 2015 đầy biến động kinh tế tài chính lẫn an ninh trên toàn cầu. Nếu việc Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái bình dương gọi tắt là TPP đã tiến được một bước then chốt sau năm năm đàm phán giữa 12 quốc gia trên vành cung Thái bình dương, người ta chưa thấy ngay kết quả vì từng nước còn phải vượt qua tiến trình phê chuẩn và tổ chức để áp dụng. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc ngày càng có dấu hiệu trì trệ đáng ngại cho các nước khác trong khu vực. Vì vậy, kỳ này chúng tôi xin đề nghị ông trình bày cho bức tranh toàn cảnh của khu vực Đông Á trong những tháng cuối năm.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi theo dõi tình hình và nhất là trước sự quan tâm của thính giả, tôi xin đi vào vấn đề an ninh trước khi phân tích tình hình kinh tế.

- Trước hết, khi thăm viếng Hoa Kỳ tháng trước, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố bên Tổng thống Barack Obama rằng Trung Quốc không muốn quân sự hóa biển Đông Nam Á. Sự thật không hẳn như vậy vì Bắc Kinh tiếp tục củng cố hệ thống quân sự trên các đảo nhân tạo họ xây dựng tại vùng quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp với các nước. Cũng vì vậy mà Hoa Kỳ bắn tiếng là sẽ điều động chiến hạm vào phạm vi 12 hải lý của các đảo nhân tạo này để khẳng định việc bảo vệ quyền tự do hàng hải của các nước. Thật ra chiến dịch mệnh danh “tự do hàng hải”, gọi tắt là “Fonop” mới chỉ được các giới chức Mỹ loan báo chứ chưa có cơ sở hay thời điểm rõ rệt bằng cuộc thao dượt hải quân mệnh danh là “Malabar” giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ trong khu vực Ấn Độ dương. Năm nay lại có thêm Nhật Bản với sự tham gia của hàng không mẫu hạn Theodore Roosevelt cùng một tiềm thủy đĩnh nguyên tử. Tôi thiển nghĩ rằng đấy là chỉ các tín hiệu thăm dò vì cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc và Nhật Bản đều đang có ưu tiên khác.

Nguyên Lam: Như vậy, ông cho là việc chiến hạm Hoa Kỳ xuất hiện tại vùng biển Đông Nam Á trong vài ngày hay vài tuần nữa như các giới chức quân sự Mỹ đã bắn tiếng chỉ là tín hiệu trắc nghiệm phản ứng mà thôi? Thế thì ưu tiên của Trung Quốc trong thời gian tới là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hôm Thứ Ba 13 vừa qua, chúng ta có thêm chỉ dấu từ Trung Quốc về nạn kinh tế sa sút qua thống kê suy sụp về xuất nhập khẩu trong Tháng Chín khiến các thị trường tài chính thế giới đều sụt giá. Như vậy, xu hướng đình đọng kinh tế của Trung Quốc ngày càng rõ hơn và dù Bắc Kinh có can thiệp vào các thị trường cổ phiếu hay ngoại hối thì cũng chỉ để hãm đà suy giảm chứ không thể đảo ngược nổi trào lưu này.

- Nói về ưu tiên thì trong Tháng 10 này lãnh đạo Bắc Kinh phải tổ chức Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 5 của Khóa 18 để 205 Ủy viên Trung ương đảng hoàn tất văn kiện chỉ đạo cho Kế hoạch năm năm, từ 2016 đến 2020. Sau kỳ họp đó, ta sẽ thấy Bắc Kinh xác định thực tế suy trầm và đề ra nhiệm vụ phương hướng cải cách và quản lý kinh tế cho năm tới. Các nước nên theo dõi việc thảo luận, tranh luận hay chỉ tiêu tăng trưởng năm tới để thẩm định khả năng quản lý kinh tế của Bắc Kinh.

- Ngoài ra, cũng thuộc bối cảnh cần chú ý, lãnh đạo Trung Quốc còn phải tiến hành đợt kiểm tra thứ ba và sau cùng của chiến dịch diệt trừ tham nhũng và truy cứ trách nhiệm đảng viên cán bộ trong vụ sụt giá cổ phiếu lẫn các tai họa dồn dập tại Thiên Tân trong Tháng Tám vừa rồi. Cũng trong chiều hướng ấy, ta còn phải xét tới số phận của 26 doanh nhiệp nhà nước đã bị điều tra về tham nhũng để thẩm xét ý chí cải cách cơ chế và chuyển hướng kinh tế của lãnh đạo Trung Quốc.

Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì từ nay đến cuối năm, ưu tiên của Bắc Kinh là giải quyết các bài toán kinh tế và chính trị nội bộ nên những biểu dương về sức mạnh quân sự họ trình bày trong Tháng Chín có khi chỉ là mặt nổi bên ngoài đế trấn an ở bên trong, có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ thế và không mấy lạc quan về khả năng ứng  phó của họ mà chờ đợi hàng loạt tin tức về thanh lọc hàng ngũ hoặc truy lùng các ngân hàng chui đã dính dấp vào việc tẩu tán tài sản ra ngoài. Ngoài một núi nợ xấu thì giải quyết các bài toán kinh tế tài chính ấy là công việc gần như toàn thời của các cơ quan hữu trách trong bộ máy đảng và nhà nước. Tôi e rằng Chủ tịch Tập Cận Bình đang gặp nhiều khó khăn hơn là bên ngoài có thể nghĩ.


Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP
Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015. AFP


Nguyên Lam: Bước qua nền kinh tế đứng hàng thứ ba của địa cầu là Nhật Bản thì ông thấy tình hình ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe đã lấy rủi ro lớn khi tiến hành việc bình thường hóa vai trò quân sự của Nhật qua một khóa họp kéo dài của Hạ viện và tung ra một kế hoạch cải cách mới. Uy tín của Chính quyền có sa sút nên ông Abe vừa phải cải tổ Nội các và trong mấy tháng tới sẽ ra sức kích thích kinh tế. Với lạm phát không tăng, xuất khẩu sút giảm trong tình trạng trì trệ chung của khu vực Đông Á, kể cả Trung Quốc, Nhật Bản sẽ còn bơm tiền và có khi chấp nhận tình trạng ngược ngạo là tài trợ với lãi suất âm. Có thể là vào một kỳ sau chúng ta sẽ tìm hiểu sâu xa hơn về kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh của việc áp dụng Hiệp ước TPP.

Nguyên Lam: Thưa ông, giữa hai cường quốc kinh tế đều có vấn đề nan giải trong nội bộ thì các quốc gia Đông Nam Á sẽ xoay trở thế nào?
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là chúng ta cần chú ý đến ba chuyện trước mắt. Thứ nhất là tình trạng sa sút kinh tế của Trung Quốc sẽ còn gây nhiều biến động cho các nước lân bang, nhất là khiến hối suất hay tỷ giá đồng bạc càng giảm so với đồng Mỹ kim. Thứ hai, nạn sụt giá nguyên nhiên vật liệu, kể cả xăng dầu, tiếp tục gây khó khăn cho các nước xuất khẩu thương phẩm. Thứ ba là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ sẽ phải nâng lãi suất, dù rất nhẹ và nhiều phần là vào tháng cuối năm khiến các nước Đông Nam Á càng thêm kẹt vì khung cảnh quốc tế.

- Trong ngắn hạn thì như vậy, nếu nhìn ra một viễn ảnh xa hơn thì ta không quên là từ năm 1997 rồi từ Thượng đỉnh tại Bali của Indonesia vào năm 2003, Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN đã đề xuất sáng kiến hội nhập kinh tế vào một khối thống nhất. Đó là Cộng đồng Kinh tế ASEAN, viết tắt là AEC. Tiêu chí của kế hoạch lớn lao này là thành lập một thị trường chung cho toàn khối vào năm 2020. Nhưng đến Thượng đỉnh của khối ASEAN vào cuối năm 2007, các nước quyết định hoàn thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN sớm hơn hạn định, không phải là năm 2020 mà vào cuối năm 2015, ngày 31 Tháng 12 tới đây. Ngay trước mắt thì kỳ hạn ấy là một dịp cho các nước kịp thời thực thi việc hội nhập về cả kinh tế lẫn xây dựng hạ tầng cơ sở với nhau hầu tránh được những hiệu ứng bất lợi đến từ Trung Quốc hay Nhật Bản.

Nguyên Lam: Tức là trong khi dư luận quốc tế xôn xao và chú ý đến Hiệp ước Xuyên Thái bình dương TPP thì 10 nước của Hiệp hội ASEAN đã có một kế hoạch hội nhập từ trước rồi và đến cuối năm nay thì coi như phải hoàn tất. Thưa ông, đặc tính của việc hội nhập ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ 12 năm trước, Hiệp hội ASEAN muốn lập ra một thị trường chung cho toàn khối, từ sản xuất đến buôn bán với nhau, trong mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh và phát triển công bằng của cả khu vực và hội nhập khu vực này vào nền kinh tế toàn cầu. Muốn tiến tới một thị trường có bốn đặc tính ấy, các nước đã vạch ra lộ trình hợp tác như phát triển nhân dụng, tiêu chuẩn hóa khả năng chuyên môn của nguồn nhân lực và thường xuyên tham khảo ý kiến chung về chính sách kinh tế, tài chính và về các biện pháp tài trợ xuất nhập khẩu, v.v…

- Ngoài ra, trước khi Bắc Kinh quảng cáo cho “Con Đường Tơ Lụa” hay tung sáng kiến và bạc tiền về “Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu”, gọi tắt là AIIB, thì thật ra Hiệp hội ASEAN đã đề xướng việc nối kết mạng lưới hạ tầng cơ sở vật chất lẫn điện tử giữa các nước, tạo nền móng cho việc giao dịch và lập ra chuỗi cung ứng trên không gian mạng, kêu gọi sự tham gia của tư doanh, v.v….

- Người ta quá chú ý đến ảnh hưởng của Trung Quốc mà quên rằng các nước ASEAN đã tiến hành những việc cụ thể ấy trong thực tế với nhịp độ khá nhanh. Vì vậy mà họ mới đặt kỳ hạn hoàn thành sớm hơn. Tôi nghĩ rằng trong khi chuẩn bị điều kiện hội nhập vào khu vực TPP sẽ chỉ có trong thực tế của vài năm tới, Việt Nam nên cho quốc dân và doanh nghiệp biết rõ hơn về sự xuất hiện của Cộng đồng Kinh tế ASEAN trong vài tháng tới, trước khi ASEAN chính thức công bố vào ngày 31 Tháng 12 này. Đấy cũng là một bước không nhỏ cho nỗ lực “Thoát Tầu” và khai thác cơ hội mới của một kỷ nguyên mà kinh tế Trung Quốc hết còn là hãng xưởng toàn cầu như trong mấy chục năm qua. Việc hội nhập kinh tế ASEAN còn là mối lợi an ninh chiến lược khi Bắc Kinh đang uy hiếp nhiều nước trong khu vực.

Nguyên Lam: Khi chúng ta tạm tổng kết về tình hình kinh tế trong mấy tháng cuối năm thì Nguyên Lam thấy viễn ảnh ngắn hạn có thể là sự sa sút hay suy trầm xuất phát từ Trung Quốc. Nhưng nếu nhìn xa hơn chân trời ngắn hạn của một năm thì các nước Đông Nam Á và riêng Việt Nam cũng có nhiều triển vọng khả quan và rộng lớn hơn cho lâu dài. Thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ như vậy và cho là Việt Nam đang có một bước hội nhập chặt chẽ hơn vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN dù sao cũng đã quen thuộc và gắn bó. Từ bước hội nhập đó như một cuộc thao dượt, Việt Nam có thể mở ra một khung cảnh hợp tác rộng lớn và đa diện hơn, đó là Khu vực TPP. Muốn như vậy thì nên rà soát lại xem các xứ khác chuẩn bị và tổ chức ra sao để gia tăng khả năng cạnh tranh bằng năng suất cao chứ không bằng lương thấp.

- Khi hội nhập vào kinh tế ASEAN rồi cả khối TPP có 800 triệu dân, Việt Nam có thể trui rèn khả năng cạnh tranh và còn tìm ra nhiều nguồn cung ứng khác về đầu tư, kỹ thuật và nguyên vật liệu để khỏi lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc rồi bị Bắc Kinh uy hiếp về an ninh. Người dân Việt Nam phải được biết rõ hơn về những ngả đường mới và sẽ tự chuẩn bị cho mình cơ hội tranh thủ những mục tiêu cao xa hơn. Hãy nhớ đến kinh nghiệm của Hàn Quốc và Đài Loan tại Đông Bắc Á để khỏi làm một nước chậm tiến trong khối ASEAN hay là một quận huyện vệ tinh của Bắc Kinh.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi hôm nay.

Thứ Sáu, tháng 7 31, 2015

Vài Hàng Cho Ông Ba Thùy


Đinh Quang Anh Thái - Ngày 150730   

"Cấm các anh không được thất bại!"   

















* Trong ngoài đều là tù cả *




Buổi chiều cuối Tháng Bẩy ở California, nhận được tin nhắn của người bạn ở Sài Gòn: - Ông Ba Thùy, người “cấm anh không được thất bại” đã chết, tiếc quá!


Ba Thùy, vỏn vẹn tên gọi hai chữ, tên thật là gì tôi không biết, chỉ biết ông mang quân hàm đại úy và là trưởng khu BC trại giam T30 Chí Hòa giai đoạn 1982. Tôi đoán ông trên tôi khoảng 10 tuổi, năm nay quãng bảy chục. 

Ba Thùy nổi tiếng khe khắt với tù nhân và sẵn sàng kỷ luật không nương tay với “những tù nhân phản động không chịu cải tạo” trong trại.

Tết Ta 1983, lần thứ ba, Ba Thùy đưa tôi ra khỏi phòng lớn để cùm trong biệt giam. Sáng 30 Tết, tù nhân phòng 10 khu BC vui sướng vì tin của trại giam cho biết sẽ được thăm nuôi đặc biệt trong ngày do “chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước.” 

Tôi hồi hộp chờ đợi đợt thăm nuôi của gia đình. Gần trưa, đích thân Ba Thùy gọi tên tôi ra khỏi phòng để đi biệt giam. Uất ức và ngỡ ngàng, tôi hỏi, tôi tội gì mà bị đi biệt giam, Ba Thùy nói, phạm kỷ luật trại giam. Thì ra, tội cũ ba năm trước là đánh ănngten trong trại. Tôi mặc vội hai quần xà lỏn và hai áo may ô trùm lên nhau, tay xách ca nhựa ra khỏi phòng. Ba Thùy ra lệnh cởi đồ và tước một đi một quần và một áo.

Nằm trong biệt giam ở lầu ba trại T30, hai chân bị cùm, lưng dựa vách tường, đêm lạnh cóng vì đói ăn thiếu mặc, tôi xé đũng quần xà lỏn kéo lên lên che ngực. Giấc ngủ chập chờn, người đổ vào chậu đựng phân, cứt và nước tiểu vương vãi khắp phòng, dính cả vào ca nhựa đựng cơm.

Sáng Mùng Một, Ba Thùy mở cửa phòng giam. Tôi nói, Tết là truyền thống của dân tộc, cán bộ cho tôi thùng nước rửa phòng giam và ca đựng cơm. Ba Thùy nói “không truyền thống gì với anh” và ra lệnh cho người tù phát cơm đổ vào thau nhựa của tôi chén bobo và vài cọng rau muống.

Căm thù. Uất hận. Lòng chỉ muốn cầm dao đâm chết Ba Thùy. Thậm chí giết cả nhà Ba Thùy.

Vậy mà nỗi thù hận tan vào hương khói, chỉ vì, chiều Mùng Một, nghe giọng Ba Thùy vọng lên từ khu nhà giành cho cán bộ quản lý trại giam: “Em để con gà cho anh uống rượu với bạn.” Giọng người đàn bà chắc chắn là vợ Ba Thùy: “Cả nhà có con gà, anh ăn nhậu với bạn thì các con lấy gì ăn?’

Hóa ra họ khổ hơn cả tù nhân. Vì dù sao, người tù miền Nam, dù gì thì khi được thăm nuôi ngày Tết cũng được bữa cơm no với thực phẩm do gia đình chắt chiu gửi vào.

Ba tuần biệt giam, tôi được thả về phòng giam chung, thân thể tàn tạ. Tâm sự với ông Như Phong Lê Văn Tiến, “nhà báo của các nhà báo miền Nam”, bị giam cùng phòng, tôi nói: cháu sẽ thử tay Ba Thùy này và chấp nhận hậu quả.

Một tuần sau, tôi xin gặp Ba Thùy để xin “làm việc”, nghĩa là có vấn đề khai báo. Được gọi lên văn phòng, tôi nói với Ba Thùy: “Cán bộ mắng nhiếc tôi là ‘tay sai Mỹ-Ngụy’, với tôi, cán bộ cũng chẳng qua là “tay sai “Liên Xô-Trung Quốc.”’ Ba Thùy rút cái coòng tay và đánh vào trán tôi phọt cả máu. Vết thương ba mươi năm sau đến bây giờ vẫn còn dấu.

Thật ngạc nhiên, giải tôi tôi về phòng giam, Ba Thùy mở cửa và nói với toàn phòng, “anh này nếu cải tạo tốt sẽ trở thành người tốt” và không phạt gì tôi.

Vài tuần sau, Ba Thùy đột nhiên gọi tôi ra “làm việc.”

Sau khi rảo một vòng quanh khu BC để cam chắc không có ai chung quanh, Ba Thùy quay về bàn làm và bắt đầu câu chuyện với giọng trọ trẹ vùng Quảng Bình: 

"Tôi nói một lần và chỉ một lần với anh: đất nước này đang bị những tay quan liêu cách mạng cai trị. Tôi và một thằng bạn rời làng quê Quảng Bình đi chống Mỹ cứu nước. Ngày ra đi, bạn tôi khóc vì không nỡ rời lũy tre làng. Vậy mà bây giờ nó đã vượt biên và sống ở nước ngoài. Vì sao hả? Vì chúng tôi đi xuống miền Nam thấy ruộng đồng bát ngát, cá lội dưới sông, vậy mà dân vẫn đói. Chỉ vì chính sách ngăn sông cách chợ. Và chính tại trại giam này đã từng giam những người không sai phạm luật pháp. Cho nên, quan liêu cách mạng còn kinh hơn quan liêu phong kiến".

Từ buổi nói chuyện hôm đó, Ba Thùy bớt gay gắt với tù nhân, và với riêng tôi, thi thoảng ông còn cho thuốc lá hút.

Một buổi chiều tháng Hai năm 1984, tôi bị gọi ra khỏi phòng. Ngồi bệt dưới đất nghe Ba Thùy hỏi, anh có biết bị gọi làm gì không? Tôi nói, đời tù chuyển bao nhiêu phòng rồi, nên không biết rồi sẽ đi về đâu. Ba Thùy nói, anh được tạm tha.

Lúc ký giấy xuất trại, tôi nói với Ba Thùy, hồ sơ trại có địa chỉ nhà tôi, tôi mời cán bộ hôm nào đến tôi uống chung rượu.

Chừng một tháng sau, Ba Thùy xuất hiện trước cửa, bố mẹ anh chị em tôi hốt hoảng vì thấy công an áo vàng mang quân hàm đại úy đến hỏi.

Tôi mời ông ra đầu ngõ. Một đĩa tiết canh vịt, một đĩa lòng, hai xị đế. Ba Thùy hỏi, anh toan tính gì cho tương lai? Tôi nói, bây giờ không còn là tù nhân nữa, xin phép gọi bằng anh và trải lòng, không công ăn việc làm, đêm nào cũng phải trình diện công an phường, tôi chẳng còn cách nào khác ngoài con đường vượt biên.

Ba Thùy đột nhiên đứng phắt dậy, nói gần như quát: “Cấm anh không được thất bại. Tôi không muốn nhìn thấy anh trở lại trại giam”.

Tôi muốn khóc. Chợt thương Ba Thùy, chợt thương những phận người cả đời dấn thân cho lý tưởng để rồi bẽ bàng khi nhìn ra sự thật.

Buổi chiều sống xa quê nhà, chợt nhớ câu nói một người thuộc thế hệ cha ông: “Trong cuộc chiến Quốc-Cộng, người Quốc Gia làm nhiều điều không chuẩn nhưng may mắn là làm trên Con-Đường-Đúng, là mưu tìm No Ấm-Tự Do-Dân Chủ cho người dân. Còn người Cộng Sản làm nhiều điều thành công nhưng bất hạnh cho dân tộc vì họ chọn Con-Đường-Sai.”

Nghe tin ông Ba Thùy qua đời, thương ông, nhớ ông, một người Cộng Sản đã lỡ lầm hy sinh cho Con-Đường-Sai. Dù không tin tôn giáo nào, tôi vẫn lắng lòng cầu nguyện cho ông tìm được an bình nơi cõi khác./.