Hiển thị các bài đăng có nhãn Năng Lượng và Chiến Tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Năng Lượng và Chiến Tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, tháng 7 18, 2015

Cổ Phiếu Ba Tư



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 150717

Sẽ lên giá, nhưng chưa lập tức

* Bán dầu, mua xăng, nhưng vẫn hung hăng chơi bạo - và lừa được Obama *



Cách đây đúng bốn tháng, trên cột báo này, người viết đã có một bài bình luận về việc Chính quyền Barack Obama cố đạt một thỏa thuận tượng trưng về kế hoạch hạch tâm của Iran (Obama Múa Rốn Với Ba Tư - Hài kịch đàm phán với Iran về võ khí hạch tâm) với câu kết luận hơi lạ: “Sau cùng, kinh nghiệm của Việt Nam với Hiệp định Paris 1973 và kết quả 1975 khiến ta có thể… mua cổ phiếu của Iran. Nhờ Mỹ, xứ này sẽ có tương lai, còn ai chết oan thì ráng chịu.”

Thỏa thuận ấy đã thành hình vào ngày 14 vừa qua, ta bắt đầu nghĩ đến việc mua cổ phiếu của Iran để kiếm lời. Nhưng ai ơi, xin chớ vội!


***


Cộng hòa Hồi giáo Iran của sắc tộc Ba Tư là một nước sản xuất và xuất cảng dầu thô đáng kể tại Trung Đông và trước khi bị Liên hiệp quốc cùng các nước Tây phương cấm vận vào năm 2012 thì đã xuất cảng một nhật lượng (mỗi ngày) khoảng hơn hai triệu 600 ngàn thùng (con số ước lượng của năm 2011). Khách hàng mua dầu của Iran khi ấy là các nước Liên Âu (590 ngàn), Trung Quốc (550 ngàn), Ấn Độ (320 ngàn), Nhật Bản (315 ngàn), Nam Hàn (250 ngàn) và Turkey (180 ngàn).

Sau khi bị quốc tế cấm vận vì không từ bỏ kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm (nuclear), số dầu xuất cảng của các Giáo chủ Ba Tư sụt gần phân nửa: mất hết khách Liên Âu mà chỉ còn Trung Quốc (549 ngàn thùng một ngày vào năm 2014), Ấn Độ (gần 277 ngàn), Nhật (gần 170 ngàn), Turkey (185 ngàn) và Nam Hàn (123 ngàn). Hậu quả ấy khiến kinh tế Iran sa sút và tuần qua đành chấp nhận tạm hoãn kế hoạch hạch tâm trong vòng tám năm.

Khi tin vừa loan rằng Iran và sáu cường quốc cùng Liên Âu vừa đạt thỏa thuận tạm về kế hoạch hạch tâm vào ngày 14, giá dầu liền giảm: trên thị trường NYMEX cho kỳ hạn Tháng Tám 2015 giá thùng dầu chạm 51 đồng. Chính quyền Tehran đã từng khoe rằng mình đang có từ 40 đến 50 triệu thùng dầu tồn kho và có thể tăng nhật lượng từ nửa triệu đến 600 ngàn thùng nội một tháng sau khi hết bị cấm vận để trong ba tháng sẽ đạt mức xuất cảng là hai triệu rưởi thùng một ngày. Theo đà này thì qua năm tới, một đại gia dầu khí sẽ tái xuất hiện. Giá dầu sẽ hạ và việc mua cổ phiếu Iran chẳng có gì là mơ hồ.

Tuy nhiên xin hãy điềm điềm!


***


Nếu các nước Liên Âu (Anh, Pháp, Đức) và Trung Quốc cùng Liên bang Nga có thể mau mắn thông qua hiệp ước, có hai nước mà thỏa thuận này sẽ gặp trở ngại.

Tại Hoa Kỳ, Quốc hội Mỹ sẽ có 60 ngày duyệt xét tạm ước với Iran, chứ Tổng thống Obama không dễ gì tháo gỡ lệnh cấm vận. Hôm 14 Tháng Tư, 10 Nghị sĩ Cộng Hòa đã tương nhượng với chín Nghị sĩ Dân Chủ để đạt tỷ lệ thống nhất là 19-0 về một dự luật theo đó Hành pháp phải giải trình cho Lập pháp nội dung đàm phán với Iran để Quốc hội thẩm xét và biểu quyết qua một số thể thức và kỳ hạn. Khi ấy Chính quyền Obama còn hăm dọa phủ quyết mọi đạo luật của Quốc hội liên quan đến hồ sơ Iran. Nhưng khi thấy các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ cũng muốn có tiếng nói trong việc thẩm xét và biểu quyết những thỏa thuận với Iran nên Quốc hội có đủ phiếu gạt quyền phủ quyết của Tồng thống vào rổ rác thì Obama đành chấp nhận. Bây giờ, ông sẽ cố vận động dư luận và giới dân cử trong đảng Dân Chủ ủng hộ tạm ước này để phe chống đối tại Thượng và Hạ viện không hội đủ túc số hai phần ba để vượt qua quyền phủ quyết của Tổng thống.

Trận đánh Mỹ-Mỹ về tạm ước với Iran đã mở màn và kéo dài hai tháng. Phe chống đối có khá nhiều lý do, từ an ninh trong khu vực Trung Đông cho đến đạo đức khi Iran yểm trợ các tổ chức khủng bố Hồi giáo và gây thiệt hại nhân mạng cho chiến binh Mỹ tại Iraq. Chỉ sau hai tháng tranh luận và bỏ phiếu, Hành pháp mới có thể ra sắc lệnh đặc miễn một số điều khoản của luật cấm vận năm 2012.

Chi tiết lý thú là trong khi Hoa Kỳ còn cãi cọ thì các khách hàng cố hữu của Iran như Liên Âu, Nhật Bản hay Nam Hàn, Turkey đã có thể mau mắn bãi bỏ lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Còn Trung Quốc thì xưa nay chưa hề ngại ngùng mà vẫn đầu tư và mua bán với Iran. Nhìn từ thị trường thì doanh giới Hoa Kỳ thấy mình bị thiệt hại vì hàng loạt biện pháp hạn chế rồi phong tỏa kinh tế mà Hoa Kỳ đã đặt ra từ cả chục năm trước. Họ không chạy kịp các doanh nghiệp Âu Á vào phiên chợ Ba Tư.

Hiển nhiên là Obama cũng trông cậy vào sức vận động của các tập đoàn dầu khí đáng ghét này!

Phía bên kia, về nguyên tắc, Quốc hội Iran cũng nêu điều kiện tiên quyết, rằng chỉ phê chuẩn tạm ước khi các nước bãi bỏ hết mọi biện pháp cấm vận. Về thực tế, lãnh đạo tối cao của xứ này là Đại giáo chủ Ali Khamenei mới là người có thể can thiệp để Quốc hội, Hội đồng An ninh và nhất là lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (Islamic Revolutionary Guard Corps - IRG) ủng hộ tạm ước do Chính quyền của Tổng thống Hassan Rouhani vừa thỏa thuận với liệt cường. Người ta phải tin rằng Khamenei đã theo dõi và chỉ đạo Ngoại trưởng Javad Zarif trong từng bước đàm phán từ mấy năm nay, nếu không, Chính quyền Iran đã chẳng tiến được tới mức đó.

Vì vậy, trở ngại về phía Iran chỉ có vẻ hình thức, để ra chiều là quốc gia này cũng có hiến pháp và dân chủ. Vả lại, tổ chức Vệ binh Cách mạng IRG cũng là một lực lượng chính trị và quân sự, một đám ưu binh tôn giáo có ảnh hưởng trong hệ thống kinh tế. Doanh nghiệp ngoại quốc nào mà muốn đầu tư hay buôn bán với Iran phải có sự dàn xếp hay chia chác với IRG, chẳng khác gì các tổ hợp quốc tế mà liên doanh với Trung Quốc thì phải có sự thỏa thuận và đổi chác với đảng Cộng sản.

Thành thử, miếng mồi kinh tế cũng là động lực khiến IRG sau cùng sẽ chấp nhận tạm ước, vì quyền lợi kinh tế của mình.

Tuy nhiên, trở ngại chính đến từ Iran không nằm trong chính trường, hay quan điểm tôn giáo của Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei. Nó đến từ tình trạng xuống cấp của hệ thống năng lượng Iran.

Xứ này đã phải cho đông lạnh nhiều giếng dầu bị ế vì nạn cấm vận. Về mặt kỹ thuật, các giếng dầu và bộ máy khai thác đều bị tụt hậu vì thiếu đầu tư và kỹ thuật tiên tiến của Tây phương sau khi các giáo chủ cướp chính quyền, trục xuất doanh nghiệp ngoại quốc để xây dựng chế độ thần quyền từ năm 1979. Sự hợp tác của doanh nghiệp Trung Quốc sau này chỉ giải quyết được một phần của bài toán kỹ thuật mà thôi.

Vì thế, trong giả thuyết lạc quan nhất là tạm ước được ngần ấy tổ chức quốc tế và các nước thông qua, Iran sẽ chỉ có thể nâng số cung về dầu thô từ giữa năm tới trở đi. Nhiều phần phải qua năm 2017. Lúc đó, các nước bán dầu như Venezuela hay Liên bang Nga mới thật sự điêu đứng khi giá dầu còn hạ thấp hơn nữa.

Kết luận ở đây là dân Iran sẽ dễ thở hơn. Nhưng cổ phiếu Iran hay đà khởi sắc kinh tế vẫn chưa cò gì hấp dẫn. Thị trường đã quá hấp tấp khi chào mừng các giáo chủ bán dầu Iran.

Thứ Tư, tháng 2 11, 2015

Giá Dầu Còn Rớt

Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 150211\
Diễn đàn Kinh tế

Giá dầu sẽ còn hạ cho đến giữa năm nay...
 
Một trạm xăng xăng quảng cáo giá $ 1,68 một gallon vào ngày 20 tháng một năm 2015 trong Dellwood, Minnesota, Missouri. Giá gas trên toàn quốc được trung bình $ 2,05 một gallon, mức thấp nhất kể từ đầu năm 2009.
* Một trạm xăng xăng quảng cáo giá $ 1,68 một gallon vào ngày 20 tháng một năm 2015 trong Dellwood, Minnesota, Missouri. Giá gas trên toàn quốc được trung bình $ 2,05 một gallon, mức thấp nhất từ đầu năm 2009. Ảnh AFP 



Sáu tháng về trước, mọi người đều có vẻ vui mừng khi dầu thô sụt giá. Nhưng từ đầu năm nay, nhiều người bắt đầu lo sợ vì giá dầu lại sụt quá mạnh. Tuần qua, nguồn tin của các doanh nghiệp dầu khí, giới buôn bán dầu và Tổ chức Năng lượng Quốc tế International Energy Agency lại dự đoán rằng dầu sẽ còn mất giá trong những tháng tới. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về các dự báo này qua phần phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong loạt bài tổng kết về kinh tế thế giới năm 2014 và dự đoán về tình hình năm 2015, ông có trình bày rằng việc dầu thô sụt giá sẽ là một yếu tố bất ổn trong năm nay. Tuần qua, nhiều nguồn tin kinh tế lại dự đoán là dầu thô sẽ còn sụt giá nữa sau khi đã mất hơn 60% kể từ Tháng Sáu năm ngoái. Vì vậy, kỳ này chúng tôi xin đề nghị ông phân tích cho hiện tượng sụt giá đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin khởi đầu bằng cách trình bày bối cảnh của vấn đề trong trường kỳ rồi mình mới nhìn vào chuyện ngắn hạn là tình hình giá dầu trong năm nay vì quả thật là người ta thấy nhiều chỉ dấu đáng ngại về việc sụt giá này.

- Trước hết, dầu thô là sản phẩm chiến lược vì cần thiết cho việc sản xuất và vận tải của các nước cho nên ngoài yếu tố cung cầu có ảnh hưởng đến giá cả người ta phải chú ý đến việc các nước sản xuất và xuất khẩu dầu có thể sử dụng thương phẩm này như một võ khí. Chẳng hạn như sau cuộc chiến giữa quốc gia Israel của dân Do Thái với các nước Hồi giáo của dân Á Rập, thì một đại gia về dầu khí là Saudi Arabia phong toả việc bán dầu để gây sức ép với Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Vì vậy, bất kể đến yếu tố lời lỗ về sản xuất vốn không thay đổi trong ngắn hạn, giá dầu tăng hơn gấp đôi khiến các nước Tây phương bị suy trầm kinh tế. Thứ hai, là nếu nhìn theo viễn ảnh dài, người ta tự hỏi rằng giá dầu có thể lên hay xuống đến mức nào?

Việt Long: Quả thật như vậy vì trong quá khứ giá dầu thô có lúc sụt dưới 20 đô la một thùng rồi lại lên tới gần 120 đồng như ta đã thấy giữa năm ngoái. Nhìn trong trường kỳ thì đâu là những đỉnh cao và đâu là cái đáy thấp của giá cả?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tính theo hiện giá của đồng Mỹ kim, tức là sau khi giải trừ hiệu ứng lạm phát thì trong 45 năm qua, từ 1970 đến 2015, giá dầu loại West Texas Intermediate viết tắt là WTI trên thị trường Bắc Mỹ gọi là NYMEX đã xê xích từ 15 tới 120 đô la một thùng. Trong chương trình này, ta dùng giá NYMEX của loại dầu "ngọt" và "nhẹ" theo tiêu chuẩn mua bán tại Hoa Kỳ, dù biết là giá dầu trên các thị trường khác có thể sai biệt chút đỉnh.

- Khi nhớ lại tình hình giá dầu trong quá khứ nhằm ước đoán tương lai, ta thấy ra nhiều giai đoạn thăng trầm. Lần đầu là trong 10 năm, từ 1974 đến 1985, giá dầu xê xích trong biên độ 50-120 đô la. Kế tiếp, từ 1986 đến 2004, trong gần 20 năm, giá dầu lên xuống giữa khoảng 20-50.

Trước hết, dầu thô là sản phẩm chiến lược vì cần thiết cho việc sản xuất và vận tải của các nước cho nên ngoài yếu tố cung cầu có ảnh hưởng đến giá cả người ta phải chú ý đến việc các nước sản xuất và xuất khẩu dầu có thể sử dụng thương phẩm này như một võ khí. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Lần đó có hai ngoại lệ ngắn mà giá dầu vượt trần 50 hay tuột sàn 20 đô là khi Iraq tấn công Kuweit năm 1990 và khi Liên bang Nga phá giá đồng bạc vào năm 1998 do hiệu ứng của vụ khủng hoảng kinh tế từ Đông Á năm 1997. Sau đấy, từ 2005 đến Tháng Sáu năm ngoái, giá dầu trở lại biên độ thời 1974-1985, là xê dịch giữa 50 và 120 đồng.

- Tóm lại, giá dầu có hai biên độ giao dịch đáng nhớ là 20-50 và 50-120. Cái bản lề hay điểm lật là 50 đô la một thùng. Tháng trước dầu thô đã sụt dưới đáy 50 nên người ta có thể nghĩ đến biên độ 20-50 đồng như thời 1986-2004.

Việt Long: Khi dầu thô sụt giá thì thì nhà tiêu thụ có lợi và nhà sản xuất bị thiệt, nhưng khi giá dầu lại sụt quá nhanh và quá mạnh, trong sáu tháng mà mất tới hơn 60% thì các doanh nghiệp và các nước bán dầu đều bị thiệt hại. Thưa ông, phải chăng vì vậy mà mỗi khi có tin là dầu thô mất giá thì các thị trường cổ phiếu cũng đều sụt?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là thị trường cổ phiếu có bao gồm nhiều doanh nghiệp năng lượng và dầu thô sụt giá tất nhiên làm giảm oanh lợi của họ và điều ấy có góp phần đánh sụt các chỉ số trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, yếu tố làm thị trường chứng khoán sụt giá lại có tính cách bao quát hơn. Giá dầu đang sụt chủ yếu là vì lý do cung cầu khi số cung có tăng - mà mạnh nhất là từ giới sản xuất Hoa Kỳ với kỹ thuật mới gọi là "fracking"- trong khi đó số cầu lại giảm vì tình trạng suy trầm của các nến kinh tế lớn như Âu Châu, Trung Quốc và Nhật Bản. Thành thử, thị trường chứng khoán mà sụt giá đột ngột chính là vì triển vọng kinh tế toàn cầu không mấy sáng sủa chứ không chỉ vì dầu thô sụt giá. Dầu thô sụt giá là một chỉ dấu về sự sa sút của sản xuất kinh tế.

Việt Long: Ông vừa nhắc đến vai trò của các doanh nghiệp dầu khí Mỹ trong yếu tố cung cầu. Nếu số cầu đã giảm thì liệu các doanh nghiệp này có tiếp tục bơm dầu nữa không? Hỏi cách khác thưa ông, khi dầu thô mất giá thì việc bơm dầu bằng kỹ thuật mới sẽ bớt lời nên doanh nghiệp Mỹ có giảm dần sản lượng không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng chuyện ấy đang xảy ra tại nhiều nơi chứ không riêng gì ở bên Mỹ. Thí dụ như hai tập đoàn dầu khí quốc tế là Shell của Âu Châu và Chevron của Mỹ đã cắt đầu tư khoảng 40 tỷ đô la từ đầu Tháng 11 và theo Tổ chức Năng lượng Quốc tế có trụ sở tại Paris thì năm nay kỹ nghệ dầu khí nói chung sẽ giảm mức đầu tư khoảng 100 tỷ Mỹ kim.

Hai tập đoàn dầu khí quốc tế là Shell của Âu Châu và Chevron của Mỹ đã cắt đầu tư khoảng 40 tỷ đô la từ đầu Tháng 11 và theo Tổ chức Năng lượng Quốc tế có trụ sở tại Paris thì năm nay kỹ nghệ dầu khí nói chung sẽ giảm mức đầu tư khoảng 100 tỷ Mỹ kim. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Riêng tại Hoa Kỳ thì trong tuần cuối của Tháng Giêng đã có 94 dàn khoan bị đóng. Kể từ 28 năm nay, chưa khi nào trong một tuần lại có nhiều dàn khoan tạm ngưng hoạt động như vậy. Bây giờ tại Bắc Mỹ thì chỉ còn 1.233 dàn khoan đang hoạt động, là mức thấp nhất từ ba năm nay. Ngoài ra còn có hàng loạt doanh nghiệp cho thuê các dàn khoan dầu đang sa thải nhân viên sau khi đã tuyển dụng rất nhiều từ các năm 2009 đến 2013. Tình hình thất nghiệp tại Mỹ đã không trầm trọng hơn trong mấy năm qua chính là nhờ khả năng thu dụng của ngành dầu khí, bây giờ ngành này đang bắt đầu thải người! Tiểu bang Texas đã có thành tích kinh tế rất cao khi cả nước Mỹ bị lao đao là nhờ dầu khí, bây giờ đến lượt Texas bị khốn đốn vì giá dầu sụt quá nhanh!

Việt Long: Nếu vậy thưa ông vì sao người ta cứ dự báo là giá dầu sẽ còn hạ trong thời gian tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta khó biết trước mọi chuyện một cách chính xác mà cũng không quên rằng có một khoảng thời gian giữa quyết định đóng mở về phía cung với kết quả cụ thể về giá cả. Theo Bộ Năng lượng Hoa Kỳ thì số tồn kho về dầu thô tại Mỹ vào Tháng Giêng vừa qua vẫn lên tới hơn 406 triệu thùng là mức tồn kho cao nhất kể từ khi chính phủ bắt đầu thu thập loại thống kê này vào năm 1982. Tồn kho mà còn nhiều như vậy thì dù các xí nghiệp có giảm công xuất giá dầu vẫn còn hạ,

- Đã vậy, hôm Thứ Ba vừa qua, viên Tổng quản trị CEO của một doanh nghiệp chuyên giao dịch về dầu khí là Tập đoàn Vitol dự báo rằng giá dầu còn giảm nữa cho đến khi cung cầu sẽ cân bằng từ giữa năm nay trở đi. Mỗi ngày hãng Vitol mua bán đến năm triệu thùng dầu thô và các loại dầu khác cho nên nhận định của họ mới được thị trường và báo chí chú ý.

Việt Long: Khi người ta dự đoán là giá dầu sẽ còn giảm như vậy ít ra cho đến cuối năm thì giới buôn bán dầu có căn cứ vào đó mà tính toán không. Và ngược lại, những tính toán ấy có tác động vào giá dầu hay chăng?
Chúng ta nên nhớ rằng các nghiệp vụ đầu tư này thường có hạn kỳ ngắn và đầy rủi ro, tức là giới đầu tư vẫn có thể lầm mà đánh ngược. Kết luận ở đây là dầu thô có thể còn hạ giá nữa cho đấn giữa năm thì mới tạm ổn định. Hạ đến mức nào thì chưa ai biết chắc. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ông nêu ra một câu hỏi rất hay vì chính điều ấy cũng là một cơ sở cho mình dự đoán về giá dầu trong tương lai.

- Đầu tiên, tôi xin được nói về một loại thị trường rắc rối gọi là "thương phẩm" hay commodities là các loại nguyên nhiên vật liệu cồng kềnh như dầu thô, sắt thép, xi măng hay nông sản, được giao dịch dưới dạng để sá với hợp đồng mua bán có tiêu chuẩn nhất định. Trong thị trường ấy có một giới đầu tư nhảy vào mua qua bán lại không để đem các thương phẩm này về dùng mà để kiếm lời nếu mặt hàng lên hay xuống giá trong một tương lai nhất định. Ta gọi đó là thị trường có hạn kỳ hay futures. Giới đầu tư tài chính này lấy rủi ro rất lớn khi đoán sai mà lời rất cao nếu đoán đúng. Có thể gọi nghiệp vụ ấy là "đầu cơ" theo ý trung lập chứ không luân lý, đó là kiếm lời rất bộn thật nhanh mà cũng lãnh rủi ro rất cao. Chính là giới đầu tư ấy ở giữa mới góp phần lãnh chịu rủi ro cho nhà sản xuất và nhà tiêu thụ ở hai đầu. Ngoài ra, thị trường này còn có một loại khách hàng khác là các quỹ đầu tư đối xung hay "hedge funds". Họ đầu tư như đóng chốt theo hai cửa trái ngược nên mới gọi là đối xung, để nếu mặt hàng này lên giá thì mặt hàng kia sụt giá khiến họ bớt bị rủi ro. Khi theo dõi giá dầu thô trong tương lai thì mình rất nên chú ý đến loại giao dịch này vì chính thị trường ấy cũng tác động vào giá cả.

Việt Long: Xin nhờ ông giải thích thêm một chút về chuyện này. Thưa ông, thị trường ấy nó tác động vào giá cả như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tôi biết đa số những người đem bạc tỷ ra đánh cá rằng giá dầu sẽ hạ thì tôi chẳng dại gì đem vài vạn ra đánh cá ngược. Trái lại, tôi bọc xuôi theo thị trường và cũng đầu tư vào cửa "bán" chứ không vào cửa "mua" nên góp phần làm giá dầu càng hạ hơn nữa!

Việt Long: Như vậy, theo những thông tin làm ông chú ý thì thị trường thương phẩm đó đang cá cược ra sao trong các nghiệp vụ của giới đầu tư hay đầu cơ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngoài sự kiện là nhiều doanh nghiệp dầu khí tại Mỹ đã đóng dàn khoan và thải người vì giá dầu quá hạ làm họ mất lời thì trong thị trường thương phẩm có hạn kỳ, giới đầu tư tiếp tục giao dịch theo chiều hướng là giá dầu vẫn còn hạ nữa. Chẳng hạn như trong tuần cuối của Tháng Giêng, đa số hợp đồng giao dịch vẫn đánh cá là giá dầu sẽ còn giảm. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng các nghiệp vụ đầu tư này thường có hạn kỳ ngắn và đầy rủi ro, tức là giới đầu tư vẫn có thể lầm mà đánh ngược. Kết luận ở đây là dầu thô có thể còn hạ giá nữa cho đấn giữa năm thì mới tạm ổn định. Hạ đến mức nào thì chưa ai biết chắc, nhưng biên độ 20-50 trong lịch sử mua bán dầu tại Hoa Kỳ có thể là một chỉ dấu.,

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về phần phân tích này.

Thứ Năm, tháng 12 25, 2014

Ukraine Hạ Hoả



Hùng Tâm / Người Việt Ngày 141225

Thị trường xối nước vào chiến trường của Putin 

* Chúc mừng năm mới bác Putin *


Trong bài phân tách cuối năm ngoái ("Chính Quyền Mới Của Thủ Tướng Angela Merkel - Mưu trí của nước Đức giữa Ba Lan và Liên bang Nga") Hồ Sơ Người-Việt giới thiệu nội các mới của Thủ tướng Đức như sau: "Sau 12 tuần, Thủ tướng Angela Merkel đã lập được một chính phủ "đại đoàn kết", lần thứ hai. Ngay sau đó, bà phải giữ vai trung gian để bảo vệ được quyền lợi của Đức ở giữa Ba Lan và Liên bang Nga. Những tính toán đó có thể ảnh hưởng đến tình hình Ukraine trong năm 2014. "Hồ Sơ Người-Việt" xin trình bày chuyện này đi cùng lời chúc "bình an dưới thế cho người thiện tâm".

Quả nhiên là suốt năm 2014, vụ khủng hoảng Ukraine trở thành đề tài nóng giữa Đức với các nước Âu Châu và giữa Tây phương (Âu Châu và Hoa Kỳ) với Liên bang Nga.

Nhưng đến cuối năm, tình hình có vẻ lắng dịu một cách bất ngờ sau khi Quốc hội Ukraine biểu quyết hôm Thứ Ba 23 Tháng 12 việc thu hồi một đạo luật có nội dung bảo đảm thế trung lập của quốc gia này giữa hai khối Đông-Tây (nhìn trên bản đồ chiến lược, Đông là Nga và Tây là Âu Châu).

Ai cũng có thể đoán là dưới sự đe đọa của Nga, khi một chế độ thân Tây phương như Ukraine mà quyết định từ bỏ chủ trương trung lập thì bước kế tiếp sẽ là gia nhập Minh ước Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO. Và nếu thế, trong năm tới tình hình Ukraine sẽ thêm căng thẳng, chứ làm sao lắng dịu được? Sự thật lại không hẳn như vậy. Hồ Sơ Người-Việt vào buổi cuối năm xin tìm hiểu về chuyện đó – cũng với lời chúc bình an dưới thế....


Sự Non Yếu Của Dân Chủ


Ukraine là nước cộng hoà xưa kia từng nằm trong lãnh thổ Liên bang Xô viết và có trọng lượng kinh tế lẫn an ninh rất cao trong hệ thống Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, xứ này tách ra ngoài thành một quốc gia độc lập, coi như tiến ra vị trí trung lập. Hôm 23 vửa qua, Quốc hội quyết định từ bỏ vị trí trung lập đó. Ngoại trưởng Ukraine là Pavlo Kilmkin lập tức tuyên bố rằng quyết định này cho thấy sự chuyển trục của Ukraine về phía Tây phương. Sau một năm bị Liên bang Nga uy hiếp, nếu Ukraine mà chuyển trục thì sẽ phải gia nhập Minh ước NATO để tự vệ. Hầu hết các bài bình luận của truyền thông Âu Châu đều nhấn mạnh đến chiều hướng đó. Có khi với sự e ngại là Kyiv sẽ gây thêm mâu thuẫn với Moscow.

Nhưng lý luận như vậy là sai.

Trên đà tan rã của Liên Xô, Ukraine quyết định giành lại độc lập từ giữa năm 1990. Sau đó, ưu tiên của xứ này là thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và chính trị khi Liên Xô tiêu vong vào cuối năm 1991. Trong 10 năm kế tiếp, từ 1994 đến 2004, ngoại giao của Ukraine dưới triều đại của Tổng thống Leonid Kuchma là đu dây giữa hai khối Đông-Tây: tìm nguồn lợi kinh tế từ phía Tây khi buôn bán với Âu Châu, mà không cắt cầu qua hướng Đông để bị đe dọa về an ninh từ Liên bang Nga mới được thành lập.

Cuộc Cách mạng màu Da cam (Orange Revolution) năm 2004 - xuất phát từ vụ bầu cử gian lận khiến Thủ tướng Viktor Yanukovich thắng cử - đã đảo lộn tình hình. Truyền thông Tây phương coi đó là thắng lợi của nền dân chủ, nhất là khi chính quyền mới khẳng định ưu tiên là hội nhập với Liên hiệp Âu châu và gia nhập NATO.

Như mọi khi, truyền thông Tây phương và truyền thông thông ngôn của ta đã quá lạc quan!

Vì Chính quyền dân chủ bất tài bất lực, hai lãnh tụ cách mạng là Tổng thống Vyktor Yushchenko còn tranh giành ảnh hưởng với Thủ tướng Yulia Tymoshenko nên sau cùng, Yanukovich đắc cử Tổng thống năm 2010. Yanukovich từ bỏ đường lối thiên Tây mà ngả về Đông, và Quốc hội thân Nga khi ấy mới ra đạo luật cấm Ukraine xin gia nhập NATO. Từ đó Ukraine trở lại chủ trương "trung lập".

Khi Yanukovich bị lật đổ vào cuối năm 2013, Liên bang Nga liền lấy đó là lý do tấn công Ukraine và chiếm mất bán đảo Crimea - rồi cho đặc công khuynh đảo các tỉnh miền Đông. Bây giờ đạo luật trung lập đó bị thu hồi. Con đường vào NATO đã có vẻ thênh thang rộng mở.

Nhưng đấy là khung cửa hẹp.


Khung Cửa Hẹp Vào NATO


Đang có 28 thành viên, Minh ước NATO lập ra trong tinh thần phòng thủ hay gián chỉ (deterrence) để tránh chiến tranh, với điều 5 trong Hiến chương quy định là tấn công một thành viên có nghĩa là tấn công cả tổ chức khiến các thành viên khác đều tham gia bảo vệ. Hiến chương ấy cũng quy định là bất cứ ai xin gia nhập đều phải có sự đồng ý của mọi thành viên.

Diễn giải cho dễ hiểu, các nước đều muốn gia nhập để được bảo vệ. Nhưng thói đời cho thấy là xứ nào cũng ngại nếu chính mình phải đem xương máu bảo vệ xứ khác. Nền dân chủ và quy tắc đồng thuận có ưu điểm là hiếu hòa để tránh loạn. Nhưng mặt trái vẫn là sự ngần ngại khi phải góp quân chống giặc... ở nhà bên cạnh. Vì thế, NATO cũng quy định là chỉ nhận các thành viên không có tranh chấp hay mâu thuẫn an ninh với một xứ khác.

Cần nhắc lại nguyên lý sơ đẳng này để ta thấy ra sự khác biệt giữa NATO và tổ chức Warsaw do Liên Xô lãnh đạo năm xưa. NATO giữ thế thủ là chính, như một tấm khiên. Còn Minh ước Warsaw là công cụ của Moscow, như mũi giáo thọc vào hệ thống Tây Âu.

Ngày nay, Ukraine đang có tranh chấp lãnh thổ với Liên bang Nga, một mâu thuẫn không dễ hòa giải qua biện pháp ngoại giao, lại còn có nguy cơ bùng nổ thành chiến cuộc dù đôi bên đã tạm đồng ý với quyết định ngưng bắn. Trong cả năm tranh chấp và xung đột giữa Nga và Ukraine, lập trường của Tây phương (Hoa Kỳ, Liên Âu và NATO) là bênh vực Ukraine bằng chính trị và kinh tế nhưng tránh giải pháp quân sự. Ngay trong tiềm thức, Tây phương có triết lý phản chiến.

Đôi khi vì đó mà gặp chiến tranh, nhưng đấy là chuyện khác.

Dù sao thì nếu nhìn lại tương quan và những ràng buộc của đôi bên, việc các thành viên NATO cho Ukrainc gia nhập là điều khó. Có xác suất rất thấp. Những ai lo sợ chiến tranh vì Ukraine sẽ được vào NATO có thể yên tâm ăn Tết.

Huống hồ Tổng thống Vladimir Putin của Nga lại vừa gẫy mất mũi giáo!



Khi Thị Trường Hạ Hoả Chiến Trường


Liên bang Nga đang bị khủng hoảng kinh tế không vì các biện pháp cấm vận của Tây phương sau khi tấn công Ukraine.

Nga bị khủng hoảng trước tiên vì lý do nội tại, y hệt như Liên Xô thời xưa với nhược điểm của chủ nghĩa cộng sản. Nhược điểm của Nga là chủ trương kinh tế nhuốm mùi tư bản nhà nước, nhà nước đây là tay chân của lãnh tụ Putin. Gần 25 năm sau khi Liên Xô tan rã (1989) rồi sụp đổ (1991) hệ thống kinh tế Nga chưa thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, nhất là dầu thô, nguồn cung cấp cho hai phần ba tổng số xuất cảng và gần phân nửa ngân sách.

Giữa cơn khủng hoảng kinh tế, Tổng thống Putin có nói thật và nói đúng trong bài phát biểu cuối năm, vào tuần trước, rằng vụ cấm vận gây ra từ 25 đến 30% những khó khăn cho nước Nga. Ông không thể nói sự thật kia, là chỉ vì Nga vẫn còn sống nhờ bán dầu nên kinh tế mới khủng hoảng khi giá dầu từ khoảng 115-117 đô la một thùng vào Tháng Sáu đã sụt phân nửa và nay chỉ còn chưa tới sáu chục bạc.

Lý do thứ ba, chẳng có gì lạ thường, là khi dầu thô mất giá, ngân sách thất thu, kinh tế thất bát mất mùa thì tư bản tháo chạy. Các đại gia được Putin nâng đỡ để bảo vệ chế độ độc tài của ông ta đều tìm cách tẩu tán tài sản làm đồng Rúp càng thêm mất giá. Chính quyền Putin đánh ngược sóng bằng cách bán đô la trong dự trữ để nâng giá đồng bạc, rồi hạ lãi suất tới 6,5% vào đêm 16 vừa qua, mà không thể ngăn được nạn thủy triều rút, kéo theo sự suy sụp của kinh tế.

Vì vậy, sau khi chửi bới lung tung suốt một tuần, Putin đang cho rút củi dưới cái nồi Ukraine.

Các nhóm "dân quân độc lập" đòi giải phóng miền Đông của Ukraine - thực chất là lực lượng xâm lược của Nga – đã im tiếng súng. Giới chức Moscow thì cho biết có thể đàm phán về quy chế của các tỉnh miền Đông đã ly khai với chính quyền Ukraine tại Kyiv. Và hôm Thứ Hai vừa qua, Putin điện đàm với lãnh đạo của Ukraine là Tổng thống Petro Poroshenko, của Đức là Thủ tướng Angela Merkel và của Pháp là Tổng thống François Hollande.

Ngược lại, Tổng thống Poroshenko cũng tránh đổ dầu vào lửa khi tuyên bố rằng Ukraine chưa dự tính nộp đơn xin gia nhập NATO, ít ra cho tới năm 2020. Người dân Ukraine có thể sẽ mừng Giáng Sinh và ăn Tết rất vui với hy vọng khá hơn cho năm tới.

_______________________


Kết luận ở đây là gì?

Năm 2014 mở ra với vụ khủng hoảng Ukraine và nhiều thảm kịch chết người trước sự thắng thế của Putin và sự ngần ngại, bất nhất và lúng túng của các nước Tây phương. Đến cuối năm thì tình hình lại có vẻ lắng đọng, chủ yếu vì tác động của thị trường đã thu hẹp khả năng tác chiến của bạo chúa.

Quyết định thu hồi đạo luật trung lập của Quốc hội chỉ cho lãnh đạo Kyiv cái thế biểu kiến, chứ cái lực nằm trong quyết định của các thành viên NATO. Dù vậy, Ukraine vẫn thấy mình còn có khả năng xoay trở khá hơn trước.

Liệu rằng nhờ vậy mà họ rút tỉa được bài học thất bại của các lãnh tụ dân chủ thời 2004?