Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo Tây Tạng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo Tây Tạng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, tháng 7 18, 2015

Phật Pháp và Chính Trị



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 071128
Đài Á Châu Tự Do


Bồ Tát và Ma Vương - Đức Đạt Lai Lạt Ma và Bắc Kinh


* Đức Đạt Lai Lạt Ma trong một buổi thuyết pháp tại New York năm 2009 *



Trong tuần qua, dư luận thế giới đặc biệt chú ý tới phản ứng giận dữ của Chính quyền Bắc Kinh sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma của dân tộc Tây Tạng nói tới một số đổi thay có thể thực hiện trong tương lai về thủ tục đề cử người lãnh đạo Tây Tạng. Để tìm hiểu về nguyên nhân sâu xa và hậu quả lâu dài của việc này, ban Việt ngữ dài Á châu Tự do phỏng vấn nhà báo Nguyễn-Xuân Nghĩa, một người am hiểu vấn đề và đã trực tiếp nói chuyện với đức Đạt Lai Lạt Ma. Cuộc phỏng vấn ly kỳ này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây...


Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Từ khi đài Á châu Tự do được thành lập 10 năm trước, thính giả thường theo dõi tiết mục chuyên đề do ông phụ trách hàng tuần về kinh tế. Nhưng ngoài ra, ông cũng là một Phật tử và một nhà báo, có lẽ là người Việt đầu tiên đã trực tiếp gặp riêng đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng.

Trong chương trình đặc biệt hôm nay, chúng tôi muốn phỏng vấn ông về lời tuyên bố mới đây của đức Đạt Lai Lạt Ma về thể thức tuyển chọn người lãnh đạo Tây Tạng trong tương lai và ý kiến của ngài lập tức gặp phản ứng dữ dội của lãnh đạo Trung Quốc.

Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là ông đã gặp đức Đạt Lai Lạt Ma trong hoàn cảnh nào và có nghe thấy gì về những điều đang gây sôi nổi trong dư luận hay không?

NXN: - Thưa ông, ngoài việc nghiên cứu kinh tế, tôi cũng là một Phật tử. Hai điều ấy thực ra không có gì mâu thuẫn như nhiều người có thể lầm tưởng vì nghĩ rằng đạo Phật khuyên ta đừng chấp vào những giá trị vật chất của thế gian mà tìm con đường giải thoát ra khỏi kiếp luân hồi của chúng sinh để được thành Phật. Một trong các bậc cao tăng có xác nhận điều ấy chính là đức Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tôn giáo của Phật giáo Tây Tạng và cũng là lãnh đạo chính trị của dân tộc Tây Tạng, mà tôi có vinh hạnh được gặp.

- Lần đó, và nhân nói rất lâu về Việt Nam, Ngài có ngợi ca dân Việt Nam là anh hùng và có chí cầu tiến rất mạnh, việc cải thiện cuộc sống con người cho thịnh vượng hơn không là một điều xấu và cũng có thể giúp ích cho sự giác ngộ nếu nuôi dưỡng từ tâm và làm việc lành cho người khác.


Hỏi: Nhưng ông đã diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma trong hoàn cảnh nào?

NXN: - Là Chủ biên của tờ báo Xuân Việt Báo xuất bản tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, năm 2006,  chúng tôi chọn một chủ điểm cho số báo Xuân Đinh Hợi là Tây Tạng và đức Đạt Lai Lạt Ma. Lý do là vì Tây Tạng đã bị Trung Quốc thôn tính trọn vẹn vào mùa Xuân năm Kỷ Hợi 1959 và đức Đạt Lai Lạt Ma ngày nay đã ra đời vào năm Ất Hợi 1935. Một lý do khác, riêng tư hơn, là người Việt ta đều quan tâm đến sự bành trướng của Trung Quốc trong lịch sử và ngay trong hiện tại.

- Qua những tiếp xúc với các tăng ni Tây Tạng tại California, và người bạn là một giáo sư Tây Tạng đã từng trực tiếp tử thủ tại kinh đô Lhasa năm 1959, chúng tôi có cơ hội trực tiếp phỏng vấn đức Đạt Lai Lạt Ma vào tháng Chín năm 2006 khi Ngài thăm viếng và thuyết pháp tại California.

- Cuộc phỏng vấn dự trù chừng 10 phút đã kéo dài thành một cuộc mạn đàm gần 40 phút và kết quả được tường trình trong số báo Xuân năm ngoái. Qua tháng Ba, tôi được mời qua Dharamsala tại miền Bắc Ấn Độ, là nơi thiết lập Văn phòng của Chính quyền Tây Tạng lưu vong, và có vinh hạnh diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma cùng nhiều vị cao tăng Tây Tạng đang tu tập và quảng bá Phật pháp tại đây. Đây cũng là lúc Ngài hoan hỉ đón nhận số Xuân Việt Báo có phần chủ đề về Tây Tạng và có lời chúc Tết mà đức Đạt Lai Lạt Ma đã gửi tới Phật tử và người Việt Nam nói chung.

- Theo đúng phép "thành thật khai báo" của người làm báo, tôi xin nói ngay rằng tôi là Phật tử và mỗi tuần đều tham dự khoá thuyết giảng về Phật pháp trong một tu viện Tây Tạng tại California...


Hỏi: Như vậy, có lẽ ông là người am hiểu nhiều khía cạnh phức tạp và phải nói là kỳ bí của Mật tông Tây Tạng và những khúc mắc ngoại giao chính trị trong mối quan hệ giữa Tây Tạng và Trung Quốc.

NXN: - Về Phật pháp, tôi chỉ là người sơ cơ còn đang học rất nhiều. Về chính trị và văn hoá thì tôi chịu khó tìm hiểu vì liên tưởng tới kinh nghiệm Việt Nam sau ngàn năm Bắc thuộc và ngàn năm tự Hán hoá của chúng ta sau khi đã giành lại độc lập. Nói cho dễ hiểu, chúng ta đã quên hoặc không còn biết nhiều về Phật giáo tại Việt Nam vào thời nguyên thủy và ngày nay vẫn tu tập theo những gì tiếp nhận lại từ Phật giáo Trung Quốc. Dân Tây Tạng có khi cũng đang bị như vậy, và lại bị đô hộ bởi một chế độ vô thần.


Hỏi: Chúng ta trở lại chủ điểm của vấn đề là lời tuyên bố của đức Đạt Lai Lạt Ma và phản ứng của Bắc Kinh về lời tuyên bố ấy, liên quan tới thể thức đề cử hay tuyển chọn người lãnh đạo. Ông có theo dõi chuyện này thì giải thích ra sao?

NXN: - Tôi thiển nghĩ rằng ta có thể phân biệt hai khía cạnh bị lồng trong cùng một vấn đề và trong bối cảnh Tây Tạng không có chủ quyền.

- Khía cạnh thứ nhất là lãnh đạo tôn giáo, qua một tập quán đã có từ mấy trăm năm nay là các vị đại sư hay Lạt Ma là hóa thân của một vị cao tăng đã viên tịch để hoàn tất sở nguyện của mình là giúp cho toàn thể chúng sinh đều thành Phật. Thủ tục xác nhận vị hoá thân - hay tulku - là một trong những điều kỳ bí đầy hấp dẫn của Phật giáo Tây Tạng.

Khía cạnh thứ hai là việc đề cử người lãnh đạo chính trị của Tây Tạng, tức là vị Quốc trưởng của một quốc gia. Ngay từ khi phải lưu vong ra ngoài, từ Tháng Ba năm 1959, đức Đạt Lai Lạt Ma đã muốn thay đổi hệ thống chính trị đó và có nói đến chuyện này từ năm 1969. Chiều hướng của Ngài là phải canh tân xứ sở theo nguyên tắc dân chủ hơn và cũng đã đề xướng việc lập ra cơ chế dân chủ để bầu ra một Quốc hội, với nhiệm vụ giám sát hoạt động của Nội các.

- Khi nói đến việc thỉnh cầu ý kiến của tín đồ Phật giáo Tây Tạng, ở những nơi mà họ có quyền tự do, tức là tại các nước tiếp giáp với Tây Tạng, và cả cộng đồng Tây Tạng lưu vong trên thế giới, để tu chỉnh thể thức tuyển chọn lãnh đạo, đức Đạt Lai Lạt Ma thực ra chỉ khai triển một ý kiến Ngài đã nêu ra từ lâu. Tuy nhiên ý kiến đó cũng là một đề xuất cách mạng vì thay đổi một thể thức đã có từ 650 năm nay, từ năm 1357, hay ít ra từ năm 1578.


Hỏi: Thế thì vì sao mà Bắc Kinh lại có phản ứng dữ dội với lời đề nghị này, theo đó, và tôi xin trích dẫn lời người phát ngôn của bộ Ngoại giao Trung Quốc, rằng “đức Đạt Lai Lạt Ma đã vi phạm phật pháp và giáo lý của Phật giáo Tây Tạng đã có trong lịch sử"?

NXN: - Phản ứng đó là một sự khôi hài vì chế độ vô thần lại đả kích một vị lãnh đạo tôn giáo là xúc phạm giáo lý nhà Phật sau khi chế độ đã chiếm đóng, tàn sát và cầm tù nhiều tăng ni Tây Tạng. 

- Tây Tạng hiện bị Trung Quốc cai trị và vào cuối tháng Bảy vừa qua đã ra quyết định là bắt đầu từ ngày một tháng Chín năm 2007, mọi vị Lạt Ma muốn tái sinh để tiếp tục hoằng pháp thì phải xin phép chính quyền Trung Quốc. Đồng thời, Bắc Kinh chứ không phải Giáo hội Công giáo mới có quyết định tấn phong các linh mục. Đây là một quyết định rõ ràng là can thiệp vào quy ước tôn giáo và xúc phạm tín ngưỡng của thiên hạ.

- Nói cho dễ hiểu thì một chế độ vô thần và đàn áp tôn giáo lại quyết định rằng mỗi khi các vị đại sư Phật giáo muốn chuyển hộ khẩu từ kiếp này qua kiếp sau là phải xin phép chính quyền trung ương! Khi ấy, lãnh đạo Bắc Kinh đã coi Phật pháp hay các quy ước truyền thống của Phật giáo Tây Tạng là chiếc dép rách. Bây giờ, họ lại nhân danh đạo pháp và truyền thống Tây Tạng đả kích một đề nghị của đức Đạt Lai Lạt Ma.


Hỏi: Nói như vậy thì mọi chuyện vẫn chỉ là chính trị, vì Bắc Kinh không muốn việc đề cử lãnh đạo Tây Tạng sẽ vuột khỏi tầm kiểm soát của mình?

NXN: - Không hơn không kém, thưa ông.

- Trong hệ thống chính trị Tây Tạng - và tôi xin nhắc lại là chính trị, chứ không phải tôn giáo - thì ngoài đức Đạt Lai Lạt Ma còn có đức Ban Thiền Lạt Ma. Vị cao tăng này đã bị Bắc Kinh khống chế từ lâu - từ khi xâm lấn Trung Quốc năm 1950, một năm sau khi Mao Trạch Đông giải phóng Hoa Lục, và hoàn toàn chiếm đóng Tây Tạng năm 1959.

- Năm 1989 thì đức Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 10 viên tịch tại Tây Tạng, chư tăng của Phật giáo Tây Tạng đã kín đáo liên lạc với đức Đạt Lai Lạt Ma để theo đúng thủ tục Tây Tạng xác định vị hoá thân của đức Ban Thiền. Thủ tục ấy gồm có sự tìm kiếm và tuyển cử của chư tăng lãnh đạo bốn dòng tu chính của Phật giáo Tây Tạng với sự phê chuẩn sau cùng của đức Đạt Lai Lạt Ma.

- Năm 1995, từ bên ngoài, đức Đạt Lai Lạt Ma xác nhận chú bé Gedhun Choekyi Nyima do chư tăng tìm ra tại Tây Tạng là hoá thân và là đức Ban Thiền đời thứ 11. Lập tức, vị cao tăng đã tiến hành việc tìm kiếm bị bắt giam. Đức Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 11 bị bắt cóc và mất tung tích cho tới ngày nay, dù được Bắc Kinh thông báo là vẫn còn sống.

- Thay vào đó, Bắc Kinh đã cho chọn một người khác để khoác áo Ban Thiền Lạt Ma.

- Nói cho rõ ràng thì Bắc Kinh can thiệp vào việc tuyển chọn các vị Lạt ma nhằm xoá dần ảnh hưởng chính trị của Phật giáo Tây Tạng và bây giờ lại giãy nảy phản đối khi đức Đạt Lai Lạt Ma đề nghị là Phật giáo đồ của Phật giáo Tây Tạng tại các nước độc lập như Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Mông Cổ, Nga và trên các quốc gia khác hãy cùng suy nghĩ về một thể thức tuyển chọn người lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng.


Hỏi: Tuy nhiên, vì người lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng cũng mặc nhiên lãnh đạo dân tộc Tây Tạng, nên đề nghị của đức Đạt Lai Lạt Ma cũng hàm nghĩa là có thể bãi bỏ quy chế Đạt Lai Lạt Ma, tức là một quyết định rất cách mạng vì chế độ này đã ra đời từ năm 1357, như ông vừa nói. Có phải như vậy không? 

NXN: - Thật ra, chúng ta có thể hiểu điều ấy rõ ràng hơn nếu mình tách rời hai vấn đề là các vị cao tăng lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng và nhân vật lãnh đạo dân tộc hay xứ sở Tây Tạng. Xưa kia, Tây Tạng có các vị vua cai trị bên cạnh các vị Lạt ma hay các bậc "quốc sư", xin tạm gọi như vậy cho dễ hiểu. Và những tranh đoạt chính trị lẫn tranh chấp tôn giáo thực tế có xảy ra trong lịch sử xứ này như trong nhiều xứ khác.

- Khi Đế quốc Mông Cổ bị thu hẹp ảnh hưởng và nhà Nguyên bị đẩy lui khỏi Trung Quốc, một Đại Hãn Mông Cổ là Altan Khan, mà Trung Hoa gọi là Yêm Đáp Hãn, đã đón nhận vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba như một Quốc sư của Mông Cổ và thực tế đặt ra tước vị Đạt Lai Lạt Ma, được truy xưng lên đời thứ nhất, và cho đến nay là đời thứ 14. Việc đó xảy ra năm 1578, cách đây 430 năm. Nghĩa Mông Cổ của chữ Đạt Lai Lạt Ma là trí huệ như biển cả. Và đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ tư của Tây Tạng chính là chắt nội của vị Đại Hãn Mông Cổ này, tên là Yonten Gyatso, hay Vinh Đan Gia Mục Thố, nếu ta phiên âm ra Hán-Việt.

- Trong các triều đại về sau, do ảnh hưởng của Mông Cổ, các Hoàng đế Mãn Thanh cũng tôn sùng Phật giáo Tây Tạng và kính trọng các vị Đạt Lai Lạt Ma như Quốc sư hay Thánh tăng của họ. Không thiếu Hoàng đế Trung Hoa từ Khang Hy trở đi đã tôn kính các vị Lạt Ma Tây Tạng như thầy, gọi họ là "Kim cương Đại sĩ", "Pháp vương", thậm chí còn tôn là "Tây thiên Đại thiện Tự tại Phật" như dưới thời Từ Hy Thái hậu nhà Thanh.

- Nếu tìm hiểu lịch sử Tây Tạng và mối quan hệ với các lân bang thì mình thấy rằng nhiều vị Đạt Lai Lạt Ma không là người Tây Tạng mà có thể là "ngoại quốc" như ta gọi ngày nay. Và chế độ cai trị của các vị Đạt Lai Lạt Ma không phát sinh từ khi Phật giáo du nhập và bành trướng tại Tây Tạng từ thế kỷ thứ tám, mà cũng không liên tục từ đó đến nay. Ngoài ra, nếu ta liên tưởng tới Giáo hội Công giáo La Mã trong bối cảnh lịch sử chính trị của Âu Châu, mình thấy không thiếu gì trường hợp các Hoàng đế hay Vua chúa Âu châu cũng khuynh đảo tòa Thánh hoặc bị Toà thánh Vatican chi phối, kể cả việc tuyển chọn đức Giáo hoàng.


Hỏi: Bây giờ, đức Đạt Lai Lạt Ma đang lưu vong bên ngoài mới đề nghị Phật giáo đồ cùng cứu xét lại những thủ tục này để xem có nên duy trì hay thay đổi. Chúng ta có thể hiểu như vậy nên cũng hiểu vì sao Bắc Kinh mới giật mình vì bị giảm mất ảnh hưởng.

Nhưng thuần về giáo lý của Phật giáo Tây Tạng, việc đức Đạt Lai Lạt Ma nêu ra ý kiến này cũng là điều đáng chú ý chứ? Là một Phật tử đang học hỏi Phật giáo Tây Tạng, ông nghĩ sao và giải thích thế nào với các thính giả?

NXN: - Tôi mới chỉ là kẻ sơ cơ nên không thể có câu giải đáp chính thức, tuy nhiên mình có thể thấy ra vài điều sau đây:

- Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay đã 72 tuổi và thường nói đến ý nguyện của mình là được làm một vị sư, và rằng Tây Tạng phải có một hệ thống lãnh đạo chính trị thích hợp với thời đại mới. Tình trạng sức khoẻ rất tốt đẹp của Ngài khiến người ta dự đoán Ngài sẽ thọ hơn chín chục, tức là còn hơn hai chục năm nữa. Ngài cũng từng phát biểu nhiều lần là nếu tái sinh thì sẽ tái sinh ở ngoài lãnh thổ Tây Tạng, để hoàn tất những sở nguyện của kiếp này cho dân tộc Tây Tạng và để tiếp tục quảng bá Phật pháp trên thế giới.

- Nhưng từ nay đến đó, dân tộc Tây Tạng vẫn còn đó và phải giải quyết hai mục tiêu là có được quyền tự trị dưới chế độ cai trị của Trung Quốc và có được quyền tự do để bảo vệ văn hoá Tây Tạng và phát huy Phật giáo Tây Tạng. Tôi thiển nghĩ rằng việc đức Đạt Lai Lạt Ma kêu gọi giáo dân và tăng chúng trên toàn cầu cùng suy nghĩ và chuẩn bị cho loại vấn đề ấy là một điều bình thường. Hãy tưởng tượng ra bài toán về đạo và đời trong hoàn cảnh bị ngoại xâm của các vị vua Việt Nam đồng thời là những bậc cao tăng như Trần Thái Tông hay Trần Nhân Tông thì mình rõ. 

- Thuần về giáo lý, Phật giáo Tây Tạng tin rằng đức Đạt Lai Lạt Ma là một hoá thân của Quán Tự Tại Bồ Tát, tức là đức Quán Thế Âm, còn đức Ban Thiền Lạt Ma là một hoá thân của Phật A Di Đà. Khi ứng hoá thân của đức A Di Đà bị giam giữ và thay vào đó là một người do Bắc Kinh chỉ định và thực sự sai khiến, thì mình có thể nghĩ rộng ra là hóa thân của đức Quán Thế Âm phải xử trí ra sao trong những năm Ngài còn tại thế? 

Có khi chúng ta đang chứng kiến một cuộc đấu trí giữa Bồ tát và Ma vương, hoặc nói theo ngôn ngữ của con người, giữa cái Thiện và cái Ác. Kết luận ra sao thì tùy theo đức tin của từng người.

______________

Tìm ra và đăng lại một bài phỏng vấn năm xưa của đài Á Châu Tự do, ngày 28 Tháng 11 năm 2007.

Thứ Năm, tháng 7 16, 2015

Từ Bi Cũng Là Trí Dũng



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày  070222

Diện Kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma   

* Nguyễn-Xuân Nghĩa, chủ biên báo xuân Việt Báo và Nhã Ca, chủ nhiệm Việt Báo diện kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma *


Lời giới thiệu: Mùa Thu 2006, trong dịp thăm viếng miền Nam California, đức Đạt Lai Lạt Ma đã có nhiều buổi thuyết pháp với Phật tử tại Pasadena, và nói chuyện với công chúng tại Universal Studios và Long Beach. Dù có nghị trình làm việc dày đặc, Ngài vẫn dành thời giờ tiếp kiến đại diện Việt Báo là Nhã Ca và Nguyễn-Xuân Nghĩa vào ngày 14 tháng Chín tại Pasadena. Thời lượng dự trù mười phút đã kéo dài hơn gấp ba vì Ngài quan tâm đến Việt Nam và cộng đồng người Việt nên dành thêm thời giờ nói thẳng với người Việt. Sau đây là những điều được ghi nhận trong cuộc diện kiến đặc biệt này...


Do sự ân cần giới thiệu của Hoà thượng Geshe Tsultim Gyeltsen, vị cao tăng trụ trì và là viện trưởng Tu viện Phật giáo Tây Tạng Thubten Dhargye Ling tại Long Beach, đức Đạt Lai Lạt Ma đồng ý gặp Chủ nhiệm Nhã Ca và Chủ biên Giai phẩm Xuân Việt Báo Nguyễn Xuân Nghĩa. Ngài còn đặc biệt cho phép một người đi cùng để chụp hình. Đấy là nhiếp ảnh gia Lê Phúc nổi tiếng trong cộng đồng người Việt tại Quận Cam. Nơi diện kiến là Khách sạn Westin Pasadena vào sáng sớm ngày 14 tháng Chín, trước khi Ngài xuống đại sảnh của Khách sạn để thuyết pháp với Phật tử.


Bước Vào Hành Lang


Đức Đạt Lai Lạt Ma di chuyển không ngừng trong nhịp độ làm việc khít khao từng phút. Nơi nào Ngài cũng được dân chúng đón mừng như một đại minh tinh, nhưng lại được bảo vệ an ninh. Điều ấy, dân Tây Tạng biết và thông cảm khi họ bị hạn chế tiếp cận - là tiếp xúc ở gần. Đức Đạt Lai Lạt Ma không chỉ là vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng mà còn là Quốc trưởng Lưu vong của một xứ Tây Tạng đang bị ngoại bang thống trị. 

Công chúng thường nghĩ, và có thể không sai, rằng nhân vật đặc biệt này có một thần lực siêu hình. Người Tây Tạng tin rằng Ngài là Hoá thân (hay Ứng hóa thân) của đức Bồ Tát Quán Thế Âm và là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Phật giáo Tây Tạng. Trong buổi nói chuyện với 11 ngàn người tại Gibson Amphitheater hôm 13, đức Đạt Lai Lạt Ma dí dỏm cảnh tỉnh công chúng về điều gọi là phép thần thông của mình. "Cũng chỉ là một nhà sư thôi!

Mặc dù như vậy, người ta vẫn cảm thấy trong lòng sự tôn kính một vị Thánh tăng, y như người Công giáo có thể cảm thấy khi được diện kiến đức Giáo hoàng vậy.

Điều mà chúng ta chỉ biết khi thấy tận mắt là việc bảo vệ an ninh cho đức Đạt Lai Lạt Ma. Từ bên ngoài, người ta không biết rằng đó là hệ thống Bảo vệ Yếu nhân (Mật vụ - Secret Service) của Hoa Kỳ khi phải bảo vệ một nhân vật quan trọng, vòng trong mới là nhiều người cận vệ của Tây Tạng, nhưng chúng tôi cảm thấy rất rõ là đang bước vào một môi trường khác. Nguyên một tầng lầu của khách sạn là nơi hạn chế lưu thông, không có người dẫn thì không lên tới! Đây là một vị Quốc trưởng cần được bảo vệ hơn rất nhiều quốc trưởng khác trên thế giới. 

Tại khách sạn Westin, từ ngoài hành lang, ba người khách Việt Nam đã được các viên chức Tây Tạng chào đón lịch sự nhưng nghiêm trọng, và được mời dùng nước trong một phòng khách bên cạnh. Đoàn tùy tùng của đức Đạt Lai Lạt Ma làm việc liên tục khi kiểm nhận và đón vào từng người khách. Tại phòng ngoài, chúng tôi gặp người khách vào trước là một nhân viên nội các đã hồi hưu của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng. Ông từng là Bộ trưởng An ninh thì phải, đến để đảnh lễ đức Đạt Lai Lạt Ma và chỉ được dành cho vài phút. Nghiêm mật và long trọng lắm.

Sau đó tới "phái đoàn" Việt Báo! 

Đấy là lúc chúng tôi thấy được "biệt nhãn" của Tây Tạng. 

Khác với nhiều vị khách, chúng tôi không bị lục soát cơ thể và máy ảnh hay đồ nghề đem theo! Chuyện rất nhỏ mà lại nói lên cái tâm rộng mở của những người tháp tùng đức Đạt Lai Lạt Ma.

Qua hành lang đầy người bảo vệ nghiêm ngặt, bước vào phòng khách của đức Đạt Lai Lạt Ma thì người ta lại thấy hoàn toàn khác. Nơi một vị Thánh tăng ngồi thì phải tôn nghiêm như một ngôi chùa, nơi một vị Quốc trưởng ngự thì phải là một triều đình nghiêm minh chứ!

Không! Phòng khách trang trí đơn giản có một dò lan đằng sau con người mà thế giới ngưỡng mộ và kẻ thù e ngại.

Tại một phòng khách của Westin Pasadena, nhân vật siêu hạng này đứng dậy đón chào "phái đoàn Việt Báo", chắp tay đáp lễ từng người và dắt tay ngồi xuống tràng kỷ. Ở đây, người duy nhất tháo giày là đức Đạt Lai Lạt Ma! Ngài mỉm cười ra dấu và xếp chân vòng tròn ngồi trên ghế bành theo phép kiết già của một vị cao tăng. Không khí đổi khác kể từ giây phút đó. Ngài muốn có một buổi nói chuyện thoải mái! 

Từ ngoài vào là nhân viên của phái đoàn Tây Tạng và các cận vệ, da trắng lẫn Á châu. Họ kín đáo bước ra phòng ngoài. Bên trong, chỉ còn hai người Tây Tạng bên vị Quốc trưởng của họ. 

Một người là thông dịch viên của đức Đạt Lai Lạt Ma. 

Chúng ta biết vậy vì ông đã ngồi cạnh Ngài để làm việc ấy trong buổi nói chuyện với công chúng hôm trước tại Universal City. Ông ngồi ngay ngắn bên phải đức Đạt Lai Lạt Ma. Và lắng nghe không sót một chữ.

Anh ngữ là ngoại ngữ chính và rất thông thạo của đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng Ngài luôn luôn có một người thông dịch. Nét khiêm cung của Ngài toát ra từ chi tiết ấy. Đây không là vị "Thánh sống" cứ nói ra là chân lý siêu tuyệt. Nhiều lần, Ngài quay sang hỏi người thông dịch về một từ có thể là khó diễn tả, hoặc chính người nghe thấy khó hiểu, bằng Anh ngữ. Ngài không để sơ sẩy từ chuyện nhỏ nhất trong sự diễn đạt tư tưởng.

Người thứ hai là ai, khó biết. 

Ông ngồi im ắng ở một góc đối diện với đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng nhìn thẳng vào ba người khách.

Về sau mới biết đấy là Bí thư riêng của Ngài, con trai một người anh của đức Đạt Lai Lạt Ma. Ông Tenzin Takhla này là người ít nói nhưng khi hữu sự thì đứng lên can thiệp rất gọn và nhẹ. Chuyện ấy, Nhã Ca thấy liền vào cuối buổi hội kiến khi cầm máy ảnh muốn chụp tấm hình đứng bên đức Đạt Lai Lạt Ma như chính Ngài mời. Ông Takhla đã đỡ ngay máy ảnh và thành thạo bấm liền mấy tấm như máy của chính mình! Không thể để mất thời giờ được.

Đấy là những người tận tụy với công việc và có trình độ nghề nghiệp rất cao! Nghiêm túc và kín đáo, tự tin và hữu hiệu. Chúng ta đang chứng kiến một góc rất nhỏ của Triều đình Tây Tạng khi di chuyển ra ngoài. 

Người duy nhất tự nhiên thoải mái là đức Đạt Lai Lạt Ma!

Ngài mỉm cười như một nông dân khi nghe khách cám ơn về buổi diện kiến đặc biệt này. Từ con người ấy chỉ thấy tỏa ra sự yên bình của lòng tốt, của thiện tâm. Không có phép thần thông nào cả, chỉ có sự ân cần tử tế trong ánh mắt.

Kỷ Niệm Đầu Xuân 


Đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi thăm về báo xuân Việt Báo


Theo đúng chức nghiệp của người làm báo, chúng tôi phải gọi đây là một cuộc phỏng vấn vì mình đặt câu hỏi xin Ngài trả lời. Nhưng thật ra, đây là một cuộc mạn đàm vì đức Đạt Lai Lạt Ma để câu chuyện tự nhiên xuôi chảy. Khi các nhân viên của Ngài bước vào từ ngoài vì sắp hết giờ, Ngài khoát tay qua một bên. Chuyện chưa dứt vì Ngài đang muốn nói về Việt Nam.

Bên ngoài hành lang là những xôn xao thúc giục vì Ngài sẽ phải xuống thuyết pháp cho cả vạn người. Bên trong, đức Đạt Lai Lạt Ma cho phép kéo dài cuộc diện kiến để nói cho hết về Việt Nam. Theo lời kể của các cận thần, đây là chuyện hiếm có! 

Mở đầu là lời cảm tạ của Việt Báo và một phút nói về Giai phẩm Xuân Đinh Hợi. Năm nay, chúng tôi muốn nhắc về biến cố năm Hợi 1959, khi Tây Tạng bị thôn tính, và về một nhân vật tuổi Hợi là đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài cười và đòi xem một vài số Xuân đã phát hành trước đó. Nếu vậy thì phải có lời chúc Xuân gửi đến người Việt Nam. Nguyên đán của Việt Nam cũng là Nguyên đán của Tây Tạng mà. 

Câu hỏi đầu tiên, theo kiểu tò mò của nhà báo là: "Ngài có những kỷ niệm gì đáng nhớ về Tết Nguyên đán? Ngài nhớ đến ngày Xuân 1939 khi đăng quang là đức Đạt Lai Lạt Ma ở tuổi lên bốn, hay nhớ đến mùa Xuân buốt giá năm Kỷ Hợi 1959, khi kinh đô Lhasa bị quân đội Trung Quốc tấn công?

Những người thích luận đàm về công án Thiền tông có thể vu vơ nghĩ đến bản lai diện mục của chúng sinh trong từng kiếp nghiệp luân hồi. Ở đây, câu hỏi là chuyện thời sự với một vị Hoạt Phật! 

Kỷ niệm khó quên nhất của tôi là vào mùa Xuân 1959. Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời trong ánh mắt u uẩn. 

Năm ấy, cuộc đời tôi đã có một thay đổi lớn lao khi phải trốn khỏi quê hương của mình. Và năm ấy, tôi lần đầu tiên trực kiến một vấn đề của nhân thế, là lẽ tử sinh. Đây không phải là một khái niệm trừu tượng nữa mà là một thực tế vì tôi biết là mình có thể mất mạng và như vậy sẽ để lại nhiều vấn đề cho dân tộc Tây Tạng.

Giờ đây, Ngài nghĩ sao về kỷ niệm ấy?

Nhìn lại biến cố này sau gần năm mươi năm, tôi có một cảm nghĩ buồn vui lẫn lộn. Trước hết là một sự buồn bã vì mình trở thành người tỵ nạn, phải rời xa quê hương và dân tộc. Từ đấy phải sống lưu vong và ngóng trông tin tức từ bên trong. 

Trầm ngâm giây lát, đức Đạt Lai Lạt Ma tươi dần nét mặt và cúi nhìn xuống.

Thế rồi cũng những tin tức ấy khiến tôi thấy lòng mình được an ủi. Mặc dù phải nằm dưới sự cai trị của chính quyền Trung Quốc, dân Tây Tạng vẫn không mất niềm tin về chính mình, về tôn giáo và văn hoá Tây Tạng. 

Tinh thần ấy thể hiện ngay trong giới trẻ, những người sinh ra và lớn lên dưới một chế độ cai trị đang muốn xóa bỏ ký ức của họ. Người Tây Tạng vẫn nuôi hy vọng được thấy xứ sở sẽ có tự do. Ở bên ngoài lãnh thổ, dân Tây Tạng lưu vong vẫn cố gắng duy trì nếp văn hoá và di sản Tây Tạng. Đồng thời, cũng nhờ cộng đồng Tây Tạng lưu vong mà thế giới đã biết nhiều hơn đến Phật giáo.

Có thể nói rằng trào lưu quan tâm đến các vấn đề tâm linh, tôn giáo, cũng là một hậu quả của biến cố đáng buồn vào mùa Xuân 1959. Với bản thân tôi, đây là một sự thử nghiệm tâm linh rất đáng chú ý, "remarquable".


Hạt Mầm Phật Giáo Và Thiện Duyên


Xin Ngài nói rõ hơn về sự bành trướng ảnh hưởng của Phật giáo, thí dụ như tại Hoa Kỳ này.

Sau biến cố đau buồn năm 1959, dân Tây Tạng lưu vong đã có mặt tại rất nhiều nơi trên thế giới và đem theo hạt mầm Phật giáo gieo rắc trên thế giới. 

Một trong những hạt mầm tốt đó là Hoà thượng Geshe La mà quý vị đã gặp tại Long Beach [Hoà thượng Geshe Tsultim Gyeltsen, sư phụ của hai nhà báo]. Mấy chục năm trước, chúng tôi có được mối thiện duyên tại Hoa Kỳ cũng do Phật giáo Việt Nam đã sát vai với thầy Geshe La trong những bước đầu đặt chân lên nước Mỹ. Từ đó, Phật giáo Tây Tạng có mối duyên tri ngộ thâm sâu với Phật giáo Việt Nam. Quý vị có thể cảm thấy điều ấy khi gặp Hoà thượng Geshe La, một vị cao tăng tôi rất quý trọng.

Nói về sự quảng bá của Phật giáo sau biến cố 1959 tại Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh đến một hiện tượng ít người chú ý. Đó là Phật giáo nói chung đang thực sự hiện đại hoá dưới con mắt của thể giới.

Ngài diễn giải tiếp. Nhờ khoa học, như qua thiên văn học, người Phật tử biết được là nhiều tín điều của mình phải được thay đổi và điều ấy thực sự có giúp ích cho Phật pháp. Nhưng đồng thời, một số bộ môn khoa học liên quan tới sinh học hay thần kinh tâm lý học lại tìm ra qua kinh nghiệm tu tập hay thiền định của Phật tử nhiều lý giải có ích cho việc nghiên cứu. Người Phật tử nên tìm hiểu và nói chuyện với giới khoa học về những suy nghiệm của mình để bắc nhịp cầu giữa tôn giáo và khoa học. Đấy cũng là một đóng góp không nhỏ của Phật giáo cho nhân loại trong một kỷ nguyên mà người ta gọi là hiện đại, tân tiến, hậu công nghiệp.

Hôm đó, khi nói chuyện như vậy, chúng ta chưa biết là vài ngày sau, 19 tháng Chín, Đại học State University of New York vinh danh Ngài là Tiến sĩ Danh dự về Nhân văn. Và đúng một tháng sau, ngày 14 tháng 10, Đại học Third University của Roma tôn Ngài là Tiến sĩ Danh dự về Sinh học. 

Phật giáo có liên hệ gì và đóng góp gì cho Nhân văn và Sinh học? Thế giới ngày nay học hỏi được nhiều hơn từ đạo Phật và một vị Tăng thống Phật giáo đã nhiều lần thảo luận với các nhà bác học của thế giới về một mối quan tâm chung: hiểu rõ vũ trụ để giúp cho chúng sinh và nhân loại.

Chúng ta hiểu dần ra nhiều khía cạnh của điều mà đức Đạt Lai Lạt Ma gọi là hiện đại hoá Phật giáo. 


Phật Sống Và Khủng Bố


Thế giới ngày nay đang đầy dẫy oán thù xung đột và cả khủng bố vì lý do tôn giáo. Điều ấy là thời sự hàng ngày. Nhưng, trong một nơi yên ắng ở California, chúng ta muốn biết là một người từ Đỉnh tuyết Tây Tạng đi xuống như đức Đạt Lai Lạt Ma thì nghĩ sao về hiện tượng đó?

Thưa Ngài, đây không phải là một câu hỏi loại "giật gân" của nhà báo, nhưng nếu giả dụ là bị quân khủng bố bắt giữ làm con tin, Ngài sẽ xử trí ra sao?

Mặc dù câu hỏi đã được gói ghém cho nhẹ nhàng, đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn bật cười thật lớn, như con trẻ trước một trò chơi ngộ nghĩnh. Trong phòng khách, nhiều người cũng giao động đổi thế ngồi.

Sau đấy Ngài mới suy ngẫm giây lâu và câu trả lời là một điều đáng chú ý.

Tinh thần Tây Tạng không chỉ là một ý chí chính trị, là lòng khát khao tự do, mà cũng là một sức mạnh tâm linh nhắm vào sự giải thoát bằng lòng từ bi. Lòng từ bi là chân tánh của chúng ta. Trong nhiều hoàn cảnh, chân tánh ấy có thể bị đe dọa.

Ngài nói tiếp, như người kể truyện.

Tôi còn nhớ kinh nghiệm của một vị sư Tây Tạng đã bị Cộng sản Trung Hoa giam cầm và hành hạ suốt 18 năm liền. Phản ứng ban đầu của ngài là sự căm giận vì cách đối xử tàn ác của những người đang giam giữ mình. Thế rồi có một hôm, vị sư ấy giác ngộ ra một điều. Người ta giam giữ hành hạ mình để làm gì? Để mình từ bỏ căn tính, để mình hết còn là mình nữa.

Từ kinh nghiệm ấy, chúng ta có thể học được một điều, đức Đạt Lai Lạt Ma kết luận: 

Khi để hận thù nổi lên, mình đánh mất căn tính là lòng từ bi. Nghĩa là mình đã thua. Sự giác ngộ ấy giúp vị sư kia vượt qua được chặng đường khổ ải mà vẫn giữ được từ tâm của mình với chính những người cai ngục. Tôi nghĩ rằng đấy là một cách ứng xử đúng khi mình gặp một hoàn cảnh vô cùng bất thường là bị cưỡng ép phải thay đổi cách suy nghĩ và hành động của mình. Lòng từ bi đòi hỏi một sự can đảm trước bạo lực.

Chúng tôi nghĩ rằng đây là một chỉ dạy đáng nhớ của đức Đạt Lai Lạt Ma.

Nhân đó, xin được hỏi Ngài thêm một câu có vẻ thời sự. đức Đạt Lai Lạt Ma nghĩ sao về những lý giải tôn giáo biện minh cho tội ác, cho hành vi khủng bố sát hại dân lành? 

Câu trả lời lại rất ngắn gọn: Những người đồng ý với lối lý giải ấy thực ra không theo đuổi một lý tưởng từ bi bác ái của tôn giáo. Họ chung thủy với một hệ phái tôn giáo như người khác chung thủy với một đảng chính trị, hay những lý luận cực đoan của một đảng chính trị!


Tâm Linh Và Thịnh Vượng


Mở rộng ra một vấn đề chung của nhân loại, đức Đạt Lai Lạt Ma có nghĩ rằng thế giới ngày nay đang gặp một mối nguy là con người ngày càng theo đuổi sự thịnh vượng vật chất mà xa lánh dần đức tin tôn giáo không? Nếu điều ấy đúng thì chúng ta cần làm gì?

Khi nêu câu hỏi, chúng tôi trù tính là mình đi gần hết thời lượng đã được thỏa thuận trước, nên đấy là câu hỏi cuối. Kết quả lại khác, cũng bất ngờ như câu trả lời.

Đức Đạt Lai Lạt Ma có thể bị dị ứng mô bì, Ngài thường hay gãi da như bị ngứa. Nghe câu hỏi cuối, Ngài cười mỉm như một vị sư trước nỗi băn khoăn của nhân thế, cái gì cũng muốn mà cái gì cũng sợ!

- Tôi thực ra không bi quan lắm về trào lưu phát triển sự thịnh vượng của thế giới. Phải có phát triển để nâng cao mức sống của đại đa số dân chúng địa cầu. Tự thân, việc ấy không là điều gì xấu xa vì cũng chính là từ những tiến bộ ấy về vật chất mà người ta sẽ quan tâm hơn đến khía cạnh tâm linh của đời sống. Tôi không thấy có mâu thuẫn giữa việc hiện đại hoá và phát huy đức tin tôn giáo. Vấn đề là những người quan tâm đến đức tin phải hiểu ra bài toán của con người qua quá trình hiện đại hóa này.

Đến đây thì từ bên ngoài, nhiều người đã bước vào ra dấu cho đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài còn một khóa giảng bên dưới và cần chuẩn bị đi xuống. Không ai ngờ là Ngài lại gật đầu và ra hiệu tiếp tục cuộc phỏng vấn. Ngoài hành lang có tiếng người thầm thì xôn xao. Nhân viên của Ngài phải lo cho chương trình kế tiếp, nhưng Ngài vẫn thản nhiên. 

Xin cảm tạ Ngài, sau đây là một câu hỏi cũng có tính chất thời sự. Thế giới mở rộng, hay toàn cầu hoá, như ngày nay có gặp vấn đề hay không, khi nhiều quốc gia muốn đòi độc lập mà lại đánh mất căn cước hay bản sắc của mình? Độc lập về chính trị có ý nghĩa gì khi ta không biết mình là ai và muốn gì trong thế giới ấy?

Trong thế giới hôm nay, đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời, các quốc gia đều liên lập với nhau, đều cần tới nhau. Độc lập trong ý nghĩa tự cô lập và khép kín với thế giới bên ngoài chỉ là tự gây họa cho mình, là tự sát. Về bản sắc hay căn cước «identity» của một dân tộc thì nó không chỉ kết tinh vào một thế hệ và sẽ mất khi ta chết đi. Nó phải tồn tại trong sự đổi thay. Chúng ta phải bảo vệ bản sắc đó qua giáo dục từ thế hệ này qua thế hệ khác và phải hiện đại hóa chứ không thể quay lưng với những đổi thay của thế giới.


Nhắn Gửi Người Việt Nam   


Được nới rộng thời giờ, chúng tôi trở lại mối thiện duyên của Phật giáo Việt Nam với Phật giáo Tây Tạng và nêu một câu hỏi: Nếu có vài lời nhắn gửi đến những người có đức tin tôn giáo, thí dụ như với Phật tử Việt Nam ở trong và ngoài nước, thì đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ nói những gì?
 
Chúng tôi ngờ rằng khi Ngài yêu cầu kéo dài cuộc nói chuyện, có lẽ đức Đạt Lai Lạt Ma muốn nói về chuyện này với người Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam rất anh hùng, rất đáng kính trọng, vị lãnh đạo Tây Tạng nói. Sau một thời gian khó khăn, khi mức sống của nhiều người được cải thiện thì sức mạnh tinh thần và tâm linh của người Việt sẽ giúp họ tìm ra con đường tốt đẹp hơn cho nước Việt Nam. Quý vị đừng quá bi quan. Không nên nhìn vào những khát khao vật chất nhất thời sau một giai đoạn quá đói khổ mà mất tin tưởng vào sức mạnh tinh thần của người Việt Nam. 

Riêng với người Phật tử, đức Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp, tôi thiển nghĩ rằng chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm của người Thiên chúa giáo mà đừng chỉ nghĩ đến việc xây chùa hay sự giải thoát cho bản thân mình dưới mái chùa.

Người viết nhớ đến những giáo huấn của đức Đạt Lai Lạt Ma tại Dharamsala trong mùa nguyện Monlam của Tây Tạng, vào tháng Năm vừa qua. Ngài cảnh tỉnh tăng ni Tây Tạng là phải mở ra với thế giới bên ngoài chứ đừng chấp vào những lễ tục bí hiểm trong chùa, với chiêng trống om xòm. 

Vị Tăng thống tối cao này còn nhắc nhở người Tây Tạng là với dân số chỉ có sáu triệu, nếu người nào cũng muốn vào chùa đi tu mà không cải tiến được việc tu tập ấy cho tinh ròng hơn để giúp đỡ người khác thì sẽ chỉ lập ra một hệ thống tư tưởng không có nền tảng trong đời sống. Đấy là quên mất gốc mà chỉ bám lấy cành.

Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích tiếp về những gì muốn nói với Phật tử Việt Nam: 

Hãy học người Thiên chúa giáo bằng cách bước ra khỏi chùa mà tham gia vào các sinh hoạt của xã hội. Từ đó mình có thể hiểu ra các vấn đề của xã hội, của con người, và tìm ra những giải đáp cho các vấn đề ấy từ Phật pháp. Đấy là một cách Phật giáo đóng góp cho xã hội và cũng tự hiện đại hoá cùng nhân loại. 

Khi tham gia tìm hiểu về xã hội và thế giới bên ngoài, người Phật tử còn có thể hiểu ra những công trình nghiên cứu của các bộ môn khoa học và những gì mà Phật giáo có thể đóng góp được cho sự tìm kiếm ấy. 

Và trong mọi hoàn cảnh tình huống, không bao giờ lại để mất lòng từ bi của mình. Nuôi dưỡng từ tâm chẳng những có lợi cho sức khoẻ của bản thân mà còn cho đời sống, cho hoà bình của nhân loại.

Nói đến đây, đức Đạt Lai Lạt Ma nở một nụ cười đôn hậu thánh thiện.

Kết thúc cuộc tiếp xúc đã kéo dài quá chương trình dự trù, chúng tôi còn đòi thêm một việc! 

Xin Ngài gửi tới độc giả tờ Xuân Việt Báo năm Đinh Hợi một thông điệp hay một lời chúc lành cho năm mới. Trên bàn đã mở sẵn một cuốn tập toàn giấy phóng, đóng bằng tay tại Hoa Kỳ, ngoài bìa là chữ OM viết theo Phạm ngữ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma không do dự. 

Đặt chân xuống, Ngài chấp bút viết nhanh một hàng chữ Tây Tạng rồi giải thích với nụ cười. Quý vị sẽ nhận được lời chúc để qua Đặc san Xuân Đinh Hợi gửi tới mọi người Việt ở trong và ngoài nước nhân dịp năm mới. Đây là chữ ký cho lời chúc:

Tỳ kheo Tenzin Gyatso.

Chỉ là một nhà sư mà thôi...

Nhưng, đôi khi trăm năm mới có một người như thế...

























Lời Kết 


Cuộc phỏng vấn dự trù 10 phút sau cùng đã kéo dài hơn gấp ba.

Mặc dù bên ngoài có nhiều người nôn nóng chờ đợi, đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn ra dấu cho vị Bí thư. Ông Takhla bưng ra ba tấm khăn trắng. Theo đúng phong tục Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma ban phép lành cho ba tấm tơ Tây Tạng rồi choàng lên cổ từng người khách. Sau đó, Ngài còn yêu cầu mọi người đứng chụp hình bên mình. Đây là lúc máy ảnh bật lên tí tách và chúng ta có những tấm hình kỷ niệm thật đẹp của nhiếp ảnh gia Lê Phúc.

Khi chia tay, đức Đạt Lai Lạt Ma đã chắp tay khấn nguyện rồi mới quàng vai đưa mọi người ta cửa. Sau đó, viên Bí thư của Ngài gửi tới chúng tôi lời chúc phúc và thông điệp đầu năm có ấn son của đức Đạt Lai Lạt Ma cho Giai phẩm Xuân Đinh Hợi của Việt Báo.

Cuộc tiếp xúc là một kỳ duyên hãn hữu. Vì vậy có bài tường thuật này như một lời kính cẩn cảm tạ.


Nguyễn-Xuân Nghĩa (Giai phẩm Xuân Việt Báo Năm Đinh Hợi 2007)


___________________


Mừng sinh nhật thứ 80 của đức Đạt Lai Lạt Ma, Việt Báo đã đăng lại trích đoạn bài này trong một số đặc biệt song ngữ Anh-Việt phát hành đúng ngày sáu Tháng Bảy 2015. Dainamax xin chia sẻ nguyên bản với các độc giả ở xa - rất xa.