Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Nước Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Nước Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, tháng 4 02, 2016

Cái Búa Của Donald



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 160401


Cưỡi trên sóng, Donald Trump chỉ là bèo xủi bọt   

* Nước Mỹ không nhận ra mình trong lời thô tục của The Donald - Hý họa của M. Ramirez * 


Khi tin tức về Donald Trump hết là thời sự trang nhất, các nhà xã hội học vẫn phải tự hỏi rằng nước Mỹ mắc chứng gì mà để có một nhân vật như vậy ra tranh cử bên đảng Cộng Hòa làm từ chính trường tới xã hội và các nước khác trên thế giới đều giật mình, hay khó chịu…

Ông ta có thể là một hiện tượng, nhưng là triệu chứng hơn một nguyên nhân, mà cũng chẳng thể lãnh đạo một trào lưu, hay khuynh hướng hoặc chủ thuyết. Nhưng tên tuổi của Trump sẽ tàn lụi, chứ các yếu tố dẫn tới hiện tượng này thì không. Và đấy mới là vấn đề của nước Mỹ.

Các quốc gia khác có thể hài lòng khi thấy nước Mỹ cấu xé nhau vì hiện tượng Donald Trump mà chẳng thấy rằng đấy không là trường hợp đơn lẻ của Hoa Kỳ. Liên bang Nga có nhân vật Vladimir Putin, một diễn viên ăn ảnh và bắt ánh sáng với nhiều quyết định táo bạo sau khi lên lãnh đạo trong 16 năm và gây nhiều tiếng nổ, trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Donald Trump cũng vậy, nhưng thua xa vì chỉ gây ra tiếng nổ trong nghĩa bóng mà thôi.

Nếu nhìn qua Pháp, một quốc gia đã khơi mào cho cách mạng dân chủ từ năm 1789, ta cũng có thể thấy một “Donald mặc váy” là lãnh tụ Marine Le Pen của lực lượng cực hữu “Mặt Trận Quốc Gia” với những phát biểu nặng mùi kỳ thị. Cạnh đó, hai quốc gia từng là nạn nhân của Liên Xô và độc tài, là Ba Lan và Hung Gia Lợi, và rất thiết tha với việc hội nhập vào Âu Châu hiện cũng có lãnh tụ phảng phất tinh thần phân cực của Donald Trump làm Liên hiệp Âu châu nhức đầu không ít.

Vì vậy, nếu chính trường Hoa Kỳ có xủi bọt vì Donald Trump thì nhân vật này chỉ là bọt bèo nổi lên trên. Thế làn sóng đáy ở dưới là gì? Người viết sẽ ôm một bình ga lặn rất sâu xuống dưới. Xin quý bạn đọc hãy cùng nín thở….

***

Toàn cầu hóa là “toàn cầu hóa dại”. Có tự do nhất, Hoa Kỳ trưng bày hình ảnh hóa dại nhất.

Sau một phần tư thế kỷ ngợi ca toàn cầu hóa và sức mạnh dời núi lấp sông của thị trường khiến cả tỷ người ra khỏi thời kham khổ - hãy tạm lấy năm 1991 làm mốc khi Liên Xô tan rã và Chiến tranh lạnh kết thúc - một số không ít bỗng thấy bẽ bàng. Họ theo không kịp trào lưu mới vì thiếu kiến năng, kiến thức và khả năng, nên thấy mức sống sa sút so với thế hệ trước.

Đặc tính tự do của xã hội cho phép họ được lên tiếng than van. Nhưng khốn nỗi chẳng mấy ai nghe vì dư luận mải ngợi ca thành tựu kinh doanh và sự khai phóng của thiểu số có tiền có tiếng ở trên, hoặc cúi đầu ái ngại số phận của thiểu số nghèo túng ở dưới, đa số là thuộc các sắc dân da màu.

Doanh gia hay diễn viên thượng thặng là đẳng cấp mà thành phần này với không tới, còn thiểu số nghèo khốn được xã hội dư thừa xưng tụng là “nạn nhân” của những tội mà họ thấy mình vô can. Thành phần trung lưu ấy có mức sống thấp, không đủ khả năng phá vỡ cái trần kính ở trên đầu để lên tới cấp thượng lưu và thực hiện “Giấc mơ Hoa Kỳ”. Họ lại chẳng được trợ cấp vì chưa đủ nghèo, nên chết kẹt ở giữa, trước sự thờ ơ của xã hội.

Họ thấy hình như là xã hội hóa dại nên nghi ngờ không chỉ kinh tế thị trường hay lập luận uyên bác về tự do mậu dịch trong một thế giới toàn cầu hóa. Nỗi oán hận ấy, họ trút vào lãnh đạo, vào chính quyền và các chính trị gia. Hai nhiệm kỳ của Tổng thống Barack Obama với chủ trương cải tạo xã hội và nền kinh tế đã hết suy trầm từ giữa năm 2009 mà chưa hồi phục càng gây thêm hậm hực cho thành phần trung lưu thấp, đa số là dân da trắng.

Thiểu số da màu được gọi là nạn nhân thì còn lãnh trợ cấp và khi có chuyện họ được ưu tiên chiếu cố, chứ dân da trắng lại chẳng được như vậy. Hậm hực chuyển thành bất mãn - và kỳ thị.

Donald Trump bắt mạch được chuyện ấy và nói giọng kỳ thị mà được vỗ tay.

Nhìn lại mà xem, dân Mỹ có thể nhất thời hốt hoảng, giận dữ và tranh cãi về nạn khủng bố hay chiến tranh, nhưng bàng bạc bên trong vẫn là nỗi ưu tư của đa số về đời sống, về mức sống, về vật chất lẫn tinh thần: thành phần trung lưu hết giữ vai trò tinh thần, hết là trụ cột cho sự tiến hóa của cả xã hội.

Tạo ảnh hưởng về tinh thần và cách sống cho xã hội là hai thành phần thiểu số “phi kinh tế”. Người giàu có và tên tuổi (nghệ sĩ Hollywood hay doanh gia Silicon Valley) thì ngợi ca tự do và sự phóng túng của xã hội. Nhưng hai thành phần ấy không mấy quan tâm đến hiện tượng trung lưu sa sút về kinh tế và mất tinh thần về tâm lý.

Ngay trong thành phần nạn nhân bị lãng quên ấy, người tôn trọng kỷ cương gia đình và đức tin tôn giáo cũng thấy xã hội bị đảo điên vì hiện tượng “chính trị phải đạo”, politically correct.

Thiên hạ có thể quan tâm đến số phận của súc vật hay nạn sát sinh mà vẫn cổ võ việc phá thai. Người ta xa lánh kẻ hút thuốc lá, dược liệu tâm thần rẻ tiền cho người nghèo, nhưng vận động việc phổ biến cần sa như thuốc chữa bệnh cho bọn no cơm ấm cật. Thiên hạ tránh nói về lý luận Hồi giáo cực đoan và mục tiêu Thánh Chiến của khủng bố nhưng triệt để giới hạn vai trò của Thiên Chúa và coi việc đi nhà thờ là hủ lậu. Nói theo Việt ngữ cho dễ hiểu, ngày Sunday thì phải gọi là Chủ Nhật chứ không thể là Chúa Nhật! Giáng Sinh là ngày vui cuối năm chứ không để ngợi ca Chúa Hài Đồng.

Những mâu thuẫn văn hóa ấy là có thật, nhưng Donald Trump chụp lấy cơ hội để tập trung phản ứng kỳ thị vào người Hồi giáo, hay các sắc dân xuất phát từ Trung Đông. Hoặc dân Mễ đã làm dân Mỹ mất việc vì hiện tượng toàn cầu hóa đã nói ở trên.

Qua vài ba sự kiện ấy, người ta cũng đã thấy cái gì đó không ổn cho xã hội Hoa Kỳ, từ kinh tế đến văn hóa. Donald Trump nhảy ra dẫn đầu đám rước như một thủ lãnh với những hứa hẹn nhố nhăng. Nếu chẳng may ông đắc cử Tổng thống, ta nên tin rằng ông ta sẽ làm tròn lời hứa. Tức là sẽ xây một bức tường, nhưng không tại biên giới Mỹ-Mễ mà xây ở nơi khác thì mới hái ra tiền! Nước Mỹ bệnh thật, không vì Donald Trump, mà vì đi sớm hơn thiên hạ vào vùng vô định.

Nhìn rộng ra các nước Tây phương gồm Âu và Mỹ, ta có thể thấy gì mà nói rằng nước Mỹ tiến quá nhanh? Hãy tìm đến vùng vô định ấy qua diễn biến của thời gian.

Trong thế giới Tây phương, từ 500 năm về trước, nơi nào có đồi cao cảnh đẹp, nơi đó có giáo đường với thánh giá chọc trời. Đấy là thời lãnh đạo của tôn giáo. Khủng hoảng cũng có lúc bùng nổ, đôi khi trở thành chiến tranh tôn giáo. Nhưng khủng hoảng nặng nhất là các thế lực thần quyền bị dân quyền lật đổ và khái niệm quốc gia thành hình với chế độ thế quyền, theo nguyên tắc dân chủ. Và kiến trúc thống trị hết là giáo đường mà là tòa thị chính, là trụ sở quốc hội. Thủ đô Hoa Kỳ không thể có kiến trúc nào cao hơn Điện Capitol là biểu tượng của nhân dân.

Nói cho văn vẻ thì Thiên Chúa bị Nhân Dân đẩy lui, và đằng sau nhân dân là các lãnh tụ chính trị, các chính khách trên chính trường.

Nhưng rồi sau cách mạng tôn giáo và chính trị, lại đến cách mạng kinh tế. Chính trường bị thị trường lấn át, thậm chí mua chuộc và sai khiến. Donald Trump khoe khoang điều ấy, với tư cách là người của thị trường đã từng dùng tiền sai bảo các chính khách từ tả đến hữu.

Ông ta không thể không thấy kiến trúc cao nhất của thành phố hết là thánh đường hay dinh tổng trấn, phủ đầu rồng mà là các tòa nhà chọc trời, là những cao ốc thương mại trăm tầng. Donald Trump là nhà xây cất cự phách, doanh gia đã thực hiện các dự án chọc trời.

Bây giờ, quần chúng nghi ngờ thị trường và có người đòi đập phá tất cả để khoanh vùng xây dựng một cái gì khác mà họ chưa biết là gì. Donald Trump bèn cầm búa dẫn đầu trào lưu ấy. Và sẽ tần ngần dưới chân cái tháp Trump Tower….

Có gì đó nghiêm trọng hơn là hiện tượng Trumpet - ồn ào huê dạng. Những phát ngôn hay động thái của Trump chỉ là trò giải trí được truyền thông cổ võ để bắt quảng cáo theo đúng quy luật thị trường. Nhưng sau đó là gì?

Thứ Năm, tháng 2 18, 2016

Quyền Lực Tổng thống Hoa Kỳ

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160217
"Diễn đàn Kinh tế" 
 
Ngân hàng Trung ương Mỹ có nhiều ảnh hưởng kinh tế hơn Tổng thống 

000_7Z90J-622.jpg
* Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama phát biểu tại thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN ở California hôm 16-2-2016, ảnh minh họa. AFP * 
 
 


Cuộc tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ năm nay đang đi vào hồi ráo riết với các ứng cử viên của hai đảng chính là Cộng Hòa và Dân Chủ gay gắt trao đổi quan điểm về những gì họ sẽ thi hành nếu đắc cử. Đấy là một sinh hoạt cần thiết cho cử tri chọn người sẽ lên lãnh đạo cường quốc kinh tế số một của thế giới, nhưng thật ra, nhân vật này không có nhiều thực quyền như dư luận bên ngoài có thể nghĩ.

Sự tuyệt vời của nền dân chủ

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, cuộc tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ đang vào hồi náo nhiệt với viễn ảnh là hai tuần tới có Ngày Thứ Ba Đặc Biệt, là mùng một Tháng Ba này, khi 13 tiểu bang bỏ phiếu vòng sơ bộ để chọn các đại biểu sẽ đề cử ứng viên của hai đảng chính là Dân Chủ và Cộng Hòa. Khi theo dõi cuộc tranh luận của chuyện bầu cử, ông nghĩ sao về hồ sơ kinh tế của nước Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi này thú vị vì cho thấy vài sự thật đáng chú ý về nền dân chủ Hoa Kỳ. Nói về hồ sơ kinh tế của nước Mỹ, chúng ta được biết tình trạng bất trắc chung là khi các thị trường cổ phiếu tăng và sụt giá đột ngột căn cứ trên giá dầu thô hay lãi suất quá thấp tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trong khung cảnh bất trắc ấy, người ta tự hỏi là kinh tế có lại bị suy trầm nữa chăng, liệu ngân hàng trung ương Mỹ có thể tăng hay hạ lãi suất, hoặc Hoa Kỳ xử trí ra sao với gánh nợ mấp mé 19 ngàn tỷ đô la, trong khi lợi tức của giới trung lưu vẫn chưa đạt được mức cũ? Khi nhìn lại thì người ta thấy các ứng cử viên của hai đảng chính chẳng đề cập gì tới chuyện quốc kế dân sinh mà ráo riết mạt sát nhau trước sự bất mãn và giận dữ của dư luận và cử tri. Tôi nghĩ rằng đây là sự tuyệt vời của nền dân chủ!

Khi nhìn lại thì người ta thấy các ứng cử viên của hai đảng chính chẳng đề cập gì tới chuyện quốc kế dân sinh mà ráo riết mạt sát nhau trước sự bất mãn và giận dữ của dư luận và cử tri. Tôi nghĩ đây là sự tuyệt vời của nền dân chủ! Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyên Lam: Ông vừa nêu ra một nghịch lý là khi thị trường có vẻ hoang mang về tình hình kinh tế thì các ứng cử viên lại tranh luận về chuyện khác trên chính trường và ông gọi đó là sự tuyệt vời của nền dân chủ Hoa Kỳ! Ông giải thích thế nào về mâu thuẫn này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Không riêng gì Hoa Kỳ, lãnh đạo các quốc gia lớn trên thế giới, từ Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc tới Tổng thống Vladimir Putin của Liên bang Nga, Thủ tướng Angela Merkel của Đức, Tổng thống François Hollande của Pháp, Tổng thống Dilma Roussef của Brazil, v.v…. đều đang gặp khủng hoảng. Tình trạng ấy thật ra khởi đầu từ năm 2008 mà nay vẫn chưa dứt và thế giới còn rất ít lãnh tụ mà uy tín không bị sứt mẻ vì những bất cập của chính sách kinh tế. Cách đây bốn năm, chương trình của chúng ta đã đề cập tới cái mà tôi gọi là “cuộc khủng hoảng niềm tin” của nhiều quốc gia trên thế giới.

- Bây giờ, nhờ cuộc tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ, chúng ta đang thấy dân Mỹ công khai diễn tả sự bất mãn của họ về các chính khách chuyên nghiệp và còn tỏ vẻ ủng hộ một nhân vật cực tả bên đảng Dân Chủ là Nghị sĩ Bernie Sanders hoặc một nhân vật vừa tả vừa hữu mà chẳng giống ai là tỷ phú Donald Trump bên đảng Cộng Hòa. Ông Trump còn có lối phát biểu sống sượng về mọi đối thủ chính trị mà vẫn được nhiều người biểu đồng tình.

- Thế giới có thể nghĩ là nước Mỹ đang phát rồ vì phơi bày các khía cạnh bất cập của tầng lớp chính trị đang có tham vọng lãnh đạo quốc gia, nhưng đấy mới là ưu điểm của nền dân chủ Hoa Kỳ vì mặc nhiên lật đổ mọi thần tượng và ồn ào tìm người lên thay. Hãy tưởng tượng xem, chuyện như vậy khó xảy ra trong các nước dân chủ Âu Châu hay độc tài bên Nga, bên Tầu!

Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta đã quen với lối phát biểu đầy nghịch lý của ông mà nghĩ lại thì cũng có gì đó hợp lý! Nhưng, thưa ông, như ông vừa nêu ra về khoảng cách giữa thực tế kinh tế với chủ trương của các ứng viên, nếu họ không nêu ra chương trình hành động thì làm sao người dân có cơ sở chọn người đại biểu lên cầm đầu Hành pháp trong bốn năm tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đấy lại là một nghịch lý tuyệt vời khác về nền dân chủ Hoa Kỳ!

- Chúng ta vừa thấy ra vài ba chuyện then chốt về kinh tế, như giá dầu hay lãi suất đang làm các thị trường thương phẩm hay tài chính của thế giới biến động mạnh. Nhưng các yếu tố ấy lại không thuộc thẩm quyền quyết định của Tổng thống Mỹ. Giá dầu là do thị trường, hay do các nước sản xuất và xuất khẩu như Saudi Arabia, Liên bang Nga hay Iran quyết định như ta đang thấy tuần này. Lãi suất ngân hàng tại Hoa Kỳ là do một định chế độc lập chi phối, là hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ, hay phân lời của trái phiếu có lên hay xuống thì cũng do thị trường có cả triệu người quyết định. Khoản công trái hay nợ công của nước Mỹ có tăng hay giảm thì lại chủ yếu là phần vụ của Hạ viện trong Quốc hội Mỹ. Nghịch lý ở đây là ngay từ thời lập quốc, Hiến pháp Hoa Kỳ đã cho Tổng thống Mỹ rất ít quyền hạn.

Nguyên Lam: Nguyên Lam xin ông giải thích nghịch lý này cho quý thính giả của chúng ta.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: -
Sau khi giành lại độc lập từ năm 1776, bậc tổ phụ của Hoa Kỳ đã soạn ra một bản Hiến pháp ban hành năm 1789 với chủ đích giới hạn quyền lực của Nhà nước.

- Thứ nhất là theo nguyên tắc “Tam quyền Phân lập”, lãnh đạo Hành pháp là Tổng thống Mỹ phải dung hòa quan điểm với Lập pháp là Lưỡng viện Quốc hội. Được bầu lại hai năm một lần, Hạ viện có thẩm quyền rất lớn về ngân sách quốc gia. Được bầu lại một phần ba sau nhiệm kỳ sáu năm, Thượng viện có thẩm quyền về cả luật pháp lẫn nhân sự do Tổng thống bổ nhiệm. Hai viện này có thế lực rất mạnh qua thủ tục nhiêu khê rắc rối mà Tổng thống chỉ vượt nổi - mà không dễ - bằng quyền phủ quyết. Nhiều khi, Tổng thống thuộc về một đảng lại phải sống chung với Quốc hội nằm trong tay một đảng đối lập, như hiện nay. Một thí dụ là Tổng thống Obama có hai chủ đích lớn là kế hoạch cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế và chương trình phát huy năng lượng sạch, nhưng luật lệ ban hành lại có nhiều thay đổi vì sức ép của Quốc hội.   


quoc-hoi-my
Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ ở Washington DC, ảnh minh họa chụp trước đây.
 
- Thứ hai, Tổng thống còn gặp sức cản của quyền thứ ba là Tư pháp, với biểu hiện nổi bật và cao nhất là Tối cao Pháp viện gồm chín Thẩm phán. Việc Thẩm phán Antonin Scalia vừa tạ thế cho thấy vai trò quan trọng của Tối cao Pháp viện, với Thẩm phán do Tổng thống đề cử, nhưng không có giới hạn nhiệm kỳ và phải được Thượng viện phê chuẩn. Tuần qua, Tối cao Pháp viện bác bỏ việc áp dụng kế hoạch hạn chế khí thải do Tổng thống Obama ban hành, tức là gạt qua một bên một chủ điểm của chính sách cải tạo mà ông theo đuổi từ lâu!

- Đã vậy về kinh tế, chính sách của Tổng thống chỉ có tác dụng sau khi được Quốc hội đồng ý mà chẳng thể chi phối thẩm quyền về tiền tệ và tín dụng của hệ thống Ngân hàng Trung ương. Đấy là định chế độc lập, với giới chức lãnh đạo nằm ngoài ảnh hưởng của Hành pháp và chỉ có nhiệm vụ tường trình cho Lập pháp chứ cũng không phải xin phép ai khi tăng hay hạ lãi suất.

- Sau cùng, Tổng thống còn phải chú ý đến quan điểm và hành động của Thống đốc Tiểu bang chứ không phải muốn làm gì cũng được, thí dụ là việc mấy chục tiểu bang đã phản đối đạo luật ObamaCare về chế độ bảo dưỡng y tế. Những chi tiết rắc rối ấy cho thấy đặc tính của nền dân chủ Hoa Kỳ, là giàng bộ máy công quyền vào những mâu thuẫn chằng chịt khiến Nhà nước không thể thu hẹp không gian tự do của người dân và của các tiểu bang. Tôi ngờ rằng các nhà lập quốc của Mỹ muốn Chính quyền bị tê liệt để khỏi chi phối người dân và các doanh nghiệp!

 

Quyền hạn Tổng thống

Nguyên Lam: Quả thật là nhiều khi ta thắc mắc về tình trạng tê liệt của bộ máy chính quyền nhưng trong khi ấy, hoàn cảnh tự do của xã hội vẫn giúp dân Mỹ tìm ra các giải pháp kinh tế và khoa học kỹ thuật chứ không làm Hoa Kỳ bị tê liệt hay lụn bại như nhiều người vẫn dự báo. Tuy nhiên, thưa ông Nghĩa, còn về đối sách ngoại giao hay an ninh thì sao? Hình như Tổng thống Hoa Kỳ vẫn còn nhiều quyền hạn trong lĩnh vực này, có phải không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - So sánh với nội chính thì Tổng thống Mỹ quả là có nhiều quyền hạn hơn về ngoại giao, nhưng vẫn phải vượt qua rào cản ngân sách của Hạ viện. Quan trọng nhất, Tổng thống được Hiến pháp trao cho cái quyền làm Tổng tư lệnh Quân đội và trong phạm vi ấy thì có quyền tham chiến sau khi được Quốc hội đồng ý. Về thực tế thì sự thể lại khác. Thứ nhất, Tổng thống Mỹ phải đối phó với các cường quốc khác chứ không thể một mình lãnh đạo thế giới như người ta vẫn lầm tưởng, kể cả cách chính trị gia khi họ đi tranh cử. Thứ hai, nếu đắc cử, Tổng thống còn gặp nhiều vấn đề bất ngờ do các vị tiềm nhiệm để lại mà nhiều khi họ không hề biết khi đi tranh cử. Thí dụ nóng hổi là Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP mà Chính quyền Obama đã mất bảy năm thương thuyết và sau khi hoàn tất vào ngày năm Tháng 10 năm ngoái thì vẫn chưa có hy vọng phê chuẩn trong năm nay. Người lên kế nhiệm có thể sẽ phải cân nhắc và xin Quốc hội điều chỉnh lại thì mới hy vọng áp dụng.

Từ vài chục năm nay, Hoa Kỳ tham chiến ở nhiều nơi mà không có đạo luật cho phép của Quốc hội. Đấy là khía cạnh nổi bật của Hiến pháp, là cho Tổng thống nhiều quyền hạn về đối ngoại, nhưng nguy cơ hủy diệt vì chiến tranh hạch tâm cũng chi phối chính sách ngoại giao của Tổng thống Hoa Kỳ. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Thứ ba, từ hậu bán thế kỷ 20, thế giới còn có loại võ khí hủy diệt tuyệt đối là hạch tâm, hay nuclear nên Tổng tư lệnh Quân đội phải vô cùng thận trọng khi nhậm thức và tiếp nhận hệ thống mật mã sử dụng loại võ khí ghê rợn này. Không thể nào có chuyện Tổng thống khơi khơi đòi xóa bỏ một quốc gia nào đó trên mặt địa cầu như ta thường nghe thấy từ nhiều lãnh tụ của xứ khác! Cũng chính vì vậy mà từ vài chục năm nay, Hoa Kỳ tham chiến ở nhiều nơi mà không có đạo luật cho phép của Quốc hội. Đấy là khía cạnh nổi bật của Hiến pháp, là cho Tổng thống nhiều quyền hạn về đối ngoại, nhưng nguy cơ hủy diệt vì chiến tranh hạch tâm cũng chi phối chính sách ngoại giao của Tổng thống Hoa Kỳ.

Nguyên Lam: Trở lại cuộc tranh cử Tổng thống khá ồn ào huyên náo hiện nay tại Hoa Kỳ, người ta thấy các ứng cử viên tranh luận về mọi đề tài nhưng dường như là chưa nêu ra một chương trình hành động cụ thể nào. Thí dụ như có người đòi thực hiện mọi kế hoạch hấp dẫn về kinh tế hay xã hội mà không cho biết là lấy tiền ở đâu ra, trừ nguyên tắc chung chung là sẽ đánh thuế người giàu. Thuần về kinh tế thì ông nghĩ sao về những luận cứ ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thuần về kinh tế thì người giàu là người có tài sản đầu tư và sẽ tạo ra việc làm cho người khác. Thành phần này có biệt tài là biết về biệt tài của các chính khách là ưa hứa cuội nên họ không sợ, có khi còn phát biểu theo tinh thần tiến bộ là thương dân nghèo!

- Thực tế thì theo định nghĩa, các chương trình hành động đều chỉ là nội dung lý thuyết nhằm đắc cử chứ rất khó áp dụng khi nhậm chức. Lý do là thực tế lại khác hẳn nhận thức bên lề của người đi tranh cử. Khi tranh cử năm 2000, Thống đốc George W. Bush chống việc can thiệp vào xứ khác như Chính quyền Bill Clinton đã làm và ông chuẩn bị chương trình cải cách xã hội và kinh tế nhưng sau khi nhậm chức thì vụ khủng bố 9-11 khiến ông đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến lâu dài nhất lịch sử Hoa Kỳ. Khi tranh cử năm 2008, Nghị sĩ Obama đòi rút quân khỏi hai chiến trường Iraq và Afghanistan và tiến hành cải tạo xã hội. Kết cuộc thì chiến sự chưa dứt, còn lan rộng trong khi nhiều kế hoạch cải tạo của ông lại bị chặn và không thành.

- Nói chung thì ai cũng có thể hứa nhưng biết chắc là sẽ khó thực hiện và mong cử tri bỏ phiếu cho mình vì tiêu chuẩn khác, như cá tánh, nhân cách hay kinh nghiệm và sự quả cảm nếu cần lấy loại quyết định bất ngờ mà cần thiết. Trong khi ấy, cử tri được tự do vặn hỏi và phơi bày sự thật khác về từng ứng cử viên, và họ cũng ý thức được rằng Tổng thống không có nhiều quyền hành và khả năng áp dụng điều hứa hẹn. Nền dân chủ Hoa Kỳ lý thú ở chỗ đó!

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ Đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích ly kỳ này.


Thứ Ba, tháng 8 04, 2015

Dân Chủ: Đảng Của Dân Nghèo?

Vũ Linh - Việt Báo Ngày 150804

Đảng DC năm 1975 cũng mạnh mẽ chống đối TT Ford mở cửa tiếp nhận dân tỵ nạn....

* Một nhân vật Dân Chủ, thuộc loại giàu nhất, John Kerry, đang đái vào Hiến pháp Hoa Kỳ - Hý họa tuyệt vời của Michael Ramiorez trên tờ Investment Business Daily * 


Đảng Dân Chủ là đảng của dân nghèo, thiểu số, tỵ nạn,... Có thật vậy không? Cách đây khá lâu, cột báo này đã bàn qua những huyền thoại sai lầm về đảng Cộng Hoà (CH), để làm sáng tỏ vài quan điểm đã in sâu trong suy nghĩ của nhiều người, qua những rao rảng của TT Obama và truyền thông dòng chính.

Bây giờ, ta thử nhìn qua những huyền thoại chính về đảng Dân Chủ (DC).


DC LÀ ĐẢNG CỦA DÂN NGHÈO


Đây là hình ảnh quan trọng nhất, được nhiều người chấp nhận nhất. Nhưng cũng là sai lầm lớn nhất.

Trên căn bản, đúng là DC chủ trương giúp dân nghèo nhiều nhất, qua trợ cấp đủ loại. DC có chủ trương rất rộng rãi về trợ cấp, từ phiếu thực phẩm đến bảo hiểm y tế, trợ cấp đông con, tiền thất nghiệp, v.v...

Như đã nhiều lần bàn qua trên cột báo này, Nhà Nước Obama đã hãnh diện khoe số người lãnh Medicaid đạt được kỷ lục cao nhất xưa nay. Một kỷ lục mà nhiều người hoan hô, nhưng riêng kẻ viết này thấy là một... tin đáng buồn hơn vui. Đúng vậy, trách nhiệm của Nhà Nước là làm cho dân giàu nước mạnh, chứ không phải là cố làm sao cho càng nhiều người nghèo khổ, sống nhờ trợ cấp càng tốt.

Trợ cấp trong nhiều trường hợp là điều cần thiết, vì lý do nhân đạo, cũng như để tránh bất ổn xã hội, để giúp những người thiếu may mắn.

Nhưng trợ cấp cũng có mặt trái. Trợ cấp biến con người thành một thứ nô lệ tân thời, nô lệ của trợ cấp, nô lệ của đảng cầm quyền. Một khi dính vào tròng trợ cấp, khó thoát ra, và càng ngày càng lệ thuộc trợ cấp. Người lãnh trợ cấp đâm ra ỷ lại vào trợ cấp, mất dần ý chí tự lập. Mà một khi đã lệ thuộc vào trợ cấp thì sẽ mãi mãi phải vật lộn với mức chi tiêu trong vòng trợ cấp, có nghiã là sẽ luôn luôn nghèo túng, không bao giờ có cơ hội tiến thân vì trợ cấp chỉ giúp sống qua ngày, không bao giờ giúp leo lên bực thang xã hội.

Đó có phải là phương thuốc lý tưởng nhất để giúp dân nghèo không? Tuyệt đối không! Cách giúp dân nghèo đúng nhất là giúp họ thoát ra khỏi vòng nghèo túng chứ không phải giam hãm họ trong vòng trợ cấp.

Mà cách giúp hữu hiệu nhất là tạo công ăn việc làm qua tăng trưởng kinh tế, không phải qua tái phân phối lợi tức, tăng thuế tức là lấy tiền nhà giàu chia lại cho dân nghèo. Nói cách khác, cần làm cho cái bánh lớn ra, tất cả mọi người đều có phần lớn ra, thay vì cứ giữ cái bánh như cũ rồi lo chia phần cho đều hơn. Trách nhiệm của Nhà Nước là bảo đảm khi chiếc bánh lớn ra thì phần của mỗi người, nhất là phần của người nghèo cũng sẽ lớn ra, không bị mấy ông nhà giàu cưỡng chiếm mất.

Một điều nữa không nên quên. Trợ cấp không phải là cái vòi nước bất tận từ trên trời rơi xuống. Đó là tiền trong ngân sách quốc gia, lấy từ thuế hay vay mượn.

Nói trợ cấp có thể được tài trợ bằng tăng thuế nhà giàu, chỉ là nói vu vơ, không nhìn thấy thực tế của thế giới ngày nay. Trong cái thế giới này, không phải là có hai cái phòng có bốn bức tường ngăn cách hoàn toàn, một phòng cho dân giàu sống, một phòng cho dân nghèo, cả hai giới sống biệt lập, do đó, tăng thuế nhà giàu chẳng ảnh hưởng gì đến dân nghèo. Thực tế, cả hai giới sống lẫn lộn. Trong môi trường kinh tế liên đới hiện hữu, tăng thuế nhà giàu cũng là tăng thuế tất cả mọi người, vì mấy ông nhà giàu không dại gì chấp nhận tăng thuế mà không tìm cách chuyển lên đầu người nghèo và trung lưu, bằng cách tăng giá sản phẩm hay dịch vụ họ cung cấp cho thiên hạ, nghèo cũng như giàu. Tăng thuế ông đại gia Kroger sẽ đưa đến tăng giá thịt trong các tiệm Kroger, rồi tăng giá tô phở, và người lãnh đủ cuối cùng là anh nhân công đi ăn phở.

Tài trợ các trợ cấp bằng vay mượn? Nước Mỹ hiện nay đã tích lũy gần 20.000 tỷ nợ. Cái nợ đó không trả năm nay, sẽ phải trả 10, 20, 30 năm nữa. Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Nếu nghĩ ăn mặn vẫn ngon hơn, khát nước là chuyện tụi con cháu, sao mình lại phải lo, thì đó có phải là suy nghĩ cho tương lai con cháu không? Nhìn vào gương Hy Lạp thì thấy ngay.

Trợ cấp đến một giới hạn nào đó là cần thiết và chính đáng. Quá mức đó thì cũng trở thành... một hình thức hối lộ, mua phiếu cử tri không hơn không kém.


DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA DÂN LAO ĐỘNG


Một màn ảo thuật lớn của đảng DC là thống kê về tỷ lệ thất nghiệp.

Ở đây, phải nói lại cho rõ. Dân Mỹ được chia ra ba thành phần:

a) những người được tính trong thống kê lao động, là những người đang đi làm, và những người thất nghiệp nhưng đang ghi tên tìm việc làm;

b) những người bị loại khỏi thống kê lao động, vì không đi làm quá lâu hay không ghi tên đi tìm việc làm;

c) những người có lý do chính đáng không được kể là lao động như trẻ em, người già đã về hưu, quân nhân tại ngũ, tù nhân, và những người đang nằm nhà thương.

Thành phần (a) là thành phần dùng để tính thống kê về tỷ lệ thất nghiệp. Lấy một ví dụ dễ hiểu: tổng cộng thành phần (a) là 100 người, trong đó 90 người đang đi làm, 10 người không đi làm nhưng ghi danh lãnh tiền thất nghiệp hay tìm việc làm, và tỷ lệ thất nghiệp là 10/100 là 10%.

Sau một thời gian, có 4 người tìm việc không ra, hay làm biếng muốn nằm nhà không chịu đi tìm việc, hay nản chí không ghi tên tìm việc làm nữa. Họ bị loại ra khỏi (a), chuyển qua loại (b). Bây giờ thị trường lao động (a) còn lại 96 người, 90 đi làm như cũ, nhưng chỉ còn 6 thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp bây giờ là 6/96 là 6,2%.

Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ 10% xuống 6,2% nhờ 4 người đã bị loại ra khỏi thị trường lao động, chuyển qua thành phần (b).

Đó chính là thành quả giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 10% xuống 6% mà TT Obama đang khoe. Tỷ lệ giảm vì số người thất nghiệp quá lâu chứ chưa hẳn là do Nhà Nước tạo được việc làm cho dân. Bằng chứng cụ thể nhất là con số người bị loại khỏi thống kê lao động (a) chuyển qua (b) lên đến con số kỷ lục 93 triệu người, một phần ba tổng số dân Mỹ. Nhà Nước Obama và truyền thông phe ta rầm rộ khoe thành tích giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhưng im re về số người rơi vào khối (b), chỉ vì đa số thiên hạ không hiểu rõ cách tính thống kê của Nhà Nước mà thôi.

Theo Gallup, năm 2013, vì Obamacare, một nửa số doanh nghiệp tiểu thương đã đóng băng không thuê thêm nhân viên, trong khi một phần năm doanh nghiệp đã sa thải nhân viên. Năm 2014 là năm đầu tiên trong lịch sử Mỹ mà số doanh nghiệp tiểu thương đóng cửa cao hơn số doanh nghiệp mở cửa.

Nói trắng ra, đảng DC không lo âu chuyện thất nghiệp. Chẳng những không phải ưu tiên, mà càng nhiều người thất nghiệp càng tốt vì họ sẽ phải lệ thuộc vào trợ cấp, bắt buộc phải bỏ phiếu cho DC.

DC là đảng cổ võ cho nghiệp đoàn vì nghiệp đoàn bảo vệ quyền lợi nhân công. Chỉ tiếc là coi vậy chứ chưa chắc đã là vậy.

Những người tỵ nạn từ bốn thập niên trước hẳn còn nhớ hai hãng máy bay lớn nhất Mỹ thời đó là Pan American Airlines và Eastern Airlines. Rất nhiều dân tỵ nạn thời mới qua, những năm sau 75, đã làm việc cho hai hãng đó. Cả hai hãng đều đã không còn nữa. Phá sản dưới thời TT Carter, tất cả nhân công bị sa thải hết, hàng trăm ngàn người bị thất nghiệp khi đó. Tại sao? Xin thưa hai công ty đó phá sản vì chi phí lương nhân viên quá cao, khiến họ không thể cạnh tranh được với mấy hãng máy bay mới và các hãng máy bay ngoại quốc. Lương cao là do kết quả tranh đấu của nghiệp đoàn. Như vậy nhìn cho kỹ, nghiệp đoàn chỉ có lợi ngắn hạn, theo quan điểm rất thiển cận, nhưng đưa đến thảm hoạ trong đường dài.

Kỹ nghệ xe hơi của Mỹ cũng ở trong tình trạng tương tự. Không cạnh tranh nổi với Nhật, Hàn Quốc, và Âu Châu vì lương nhân công quá cao. Đáng lẽ đã sập tiệm nếu không có TT Bush và TT Obama bơm tiền vào cứu, và Chrysler bị bán cho Ý.

Tại Mỹ, có 22 tiểu bang có luật không cho nghiệp đoàn ép nhân công phải gia nhập, và 28 tiểu bang, phần lớn là tiểu bang theo DC, như New York và Cali, có luật bắt ép này. Trong 10 năm qua, 22 tiểu bang không có luật bắt ép gia nhập nghiệp đoàn đã tạo ra 3,6 triệu việc làm, 28 tiểu bang có luật đó chỉ tạo được tổng cộng 0,9 triệu việc làm. Có nghiã là chỗ nào có nghiệp đoàn, chỗ đó nhân công khó kiếm việc làm hơn nhiều.

Những nghiệp đoàn cũng đang tranh đấu đòi tăng lương tối thiểu lên tới 15 đô, và được bà Hillary và đảng Dân Chủ ủng hộ trong khi Cộng Hòa chống đối. Ở đây vấn đề phải nhìn cho kỹ.

Đối với những đại công ty như Wal-Mart (mà bà Hillary trước đây là thành viên Hội Đồng Quản Trị) mà các vị chủ tịch, tổng giám đốc lãnh lương bạc triệu hay chục triệu trong khi một số lớn mấy người bán hàng chỉ được làm bán thời, lãnh lương chết đói mà không có quyền lợi gì như bảo hiểm y tế, nghỉ thường niên,... thì việc tăng lương tối thiểu cho nhân công là chuyện đáng làm và cần làm.

Nhưng đối với hàng triệu cơ sở kinh doanh tiểu và trung thương, tăng lương tối thiểu sẽ giết chết họ. Như cột báo này đã viết nhiều lần, thử hỏi ông chủ tiệm phở tại khu Bolsa, nếu bị bắt phải tăng lương tối thiểu lên 15 đô một giờ cho những người chạy bàn thì ông sẽ phản ứng như thế nào? Vui vẻ tăng lương họ để rồi lỗ lã, phá sản? Hay là sa thải họ để đi thuê dân Mễ ở lậu, trả lương rẻ hơn? Như vậy tăng lương tối thiểu có giúp cho dân lao động tiểu thương không? Hiển nhiên là không. Thay vì lương được lên 15 đô, họ sẽ mất job. Đó là quy luật kinh tế.

Cựu tổng giám đốc chuỗi nhà hàng McDonald khẳng định tăng lương tối thiểu lên 15 đô sẽ giết toàn bộ hệ thống McDonald. Ai cũng biết đây là hệ thống các tiệm ăn nhỏ được hưởng quyền đặc nhượng của McDonald, thường chỉ có một tá nhân viên, phần lớn là giới trẻ, học sinh lãnh lương tối thiểu.

Thành phố Seattle tăng lương tối thiểu lên 15 đô. Kết quả tức thời là hàng loạt nhân viên xin làm ít giờ hơn để còn có thể lãnh lương ít, trong mức xin được trợ cấp. Một khiá cạnh khác rất tai hại của trợ cấp: giảm năng xuất kinh tế cả nước.

Quý độc giả đừng hiểu lầm là kẻ viết này chủ trương cho dân lao động lãnh lương tối thiểu chết đói mãn đời. Kẻ tỵ nạn này khi mới qua Mỹ đã lãnh lương 80 đô một tuần trong nhiều năm. Vấn đề là tăng lương tối thiểu không phải là giải pháp, chỉ có tăng trưởng kinh tế mới giúp mọi người khá hơn. Có tăng trưởng kinh tế thì tự động sẽ có tăng lương. Không có tăng trưởng mà chỉ muốn tăng lương thì mọi người sẽ mất việc.

Chính sách kinh tế của TT Obama là một chính sách chú tâm vào tái phân chia tài sản theo mô thức “công bằng” xã hội chủ nghiã, không chú tâm vào phát triển kinh tế. Theo thông báo chính thức, tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong tam cá nguyệt đầu của 2015 là -0.7% (dấu âm, tức là suy giảm). Nói chung, trung bình tăng trưởng trong tam cá nguyệt đầu trong bảy năm từ 2009, khi TT Obama mới nhậm chức, là 0.4%, một kỷ lục thấp nhất trong tất cả các tổng thống từ sau Thế Chiến II.

Trong cuộc tranh cử năm 2012, TT Obama tố giác đảng CH và TĐ Romney chủ trương ủng hộ các đại công ty mở hãng xưởng ở ngoài nước khiến nhân công Mỹ thất nghiệp. Nếu ta theo dõi tin báo chí, đã thấy trung tuần tháng Năm vừa qua, TT Obama vận động cho TPP (Hiệp Ước Hợp Tác Liên Thái Bình Dương), đã đi thăm trụ sở công ty Nike tại Oregon, nức nở ca tụng chính sách và sự thành công của Nike. Nike chỉ có 8.000 nhân viên ở Mỹ trong khi có hơn một triệu nhân công lãnh lương chết đói trong vùng Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam). Chuyến viếng thăm của TT Obama làm sáng tỏ rất rõ quan điểm của ông đối với vấn đề các đại công ty mang job ra ngoài nước.


ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA DÂN DA MÀU


Đảng DC cũng chẳng phải là đảng của dân da màu. Nội chiến Nam Bắc Mỹ xẩy ra vì tổng thống CH Abraham Lincoln chủ trương hủy bỏ chế độ nô lệ da đen bị khối DC miền Nam nước Mỹ chống lại. Ngay cả cho đến thời các TT Kennedy và Johnson, lúc đầu cũng chống lại những tranh đấu của dân da đen đòi bình quyền. Cho đến khi miền Nam đại loạn, biểu tình, chống đối nổi lên khắp nơi dưới sự lãnh đạo của mục sư Martin Luther King thì TT Johnson mới nhượng bộ, ký luật nhân quyền, rồi đúng theo mô thức của chính trị gia, nhẩy ra vỗ ngực khoe công “giải phóng” dân da đen!

Ngày nay, DC là đảng được dân da màu ủng hộ thật, vì là đảng ban bố trợ cấp rộng rãi nhất lịch sử Mỹ. Bất cứ ông bà nào ra tranh cử với danh nghiã DC sẽ được dân da đen nhiệt liệt bầu ngay, chỉ vì trợ cấp.

Nhưng trong con mắt của các chính khách DC, dân da màu vẫn chỉ là công cụ cho họ giữ cái ghế thôi. Ngay cả TT Johnson khi ký các đạo luật nhân quyền cho dân da đen cũng vẫn gọi họ là “mấy tên mọi” – niggers!

Trong vấn đề di dân bất hợp pháp gốc La-tinh cũng vậy, tất cả chỉ là chuyện đếm phiếu không hơn không kém. DC hô hào hợp thức hoá họ, nhưng chỉ là… đánh võ miệng thôi.

Nếu ta tinh ý một chút, sẽ thấy DC là đảng giả dối nhất trong vấn đề này. Trong hai năm 2009-2010, DC nắm Toà Bạch Ốc, và kiểm soát một cách tuyệt đối cả Thượng viện lẫn Hạ viện, họ đã có thể ra luật ân xá toàn diện cả chục triệu di dân lậu. Nhưng họ không làm gì hết, cho đến khi CH chiếm đa số tại Hạ Viện năm 2010 thì mới ồn ào kêu gọi ân xá để lấy điểm với khối cử tri Mỹ gốc La-tinh.

Ngay cả TT Obama, ông cũng chỉ lấy quyết định hoãn trục xuất trong nhiệm kỳ hai, khi ông không còn phải ra tranh cử nữa. Nếu lấy quyết định trước bầu cử năm 2012 thì biết đâu chừng bây giờ ta đã có TT Romney rồi.

Những người nghĩ rằng DC giàu lòng nhân đạo, lo cho di dân lậu chỉ là những nạn nhân ngây ngô nhất của chính trị Mỹ, vì đã không nhìn thấy giá trị của 10 triệu lá phiếu của di dân nếu được hợp pháp hoá.


ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ BẠN CỦA DÂN TỴ NẠN


Đây là lập luận của những ông bà tỵ nạn Việt ủng hộ đảng DC. Nhưng nhìn lại cho kỹ, coi dzậy mà hổng phải dzậy đâu.

Trước tiên, đảng DC là đảng đã bức tử Nam VN, sau khi thanh toán TT Diệm để áp đặt lính Mỹ vào Miền Nam mà vẫn thua VC, ép TT Nixon phải bỏ chúng ta, qua hàng loạt biện pháp khoá tay TT Nixon, cấm “bành trướng” chiến tranh qua CămPuChia và Lào, cắt giảm ngân sách, cắt giảm viện trợ quân sự cho Nam VN,... Chuyện “Nixon bán đứng Nam VN cho bác Mao” chỉ là chuyện đổ thừa chạy tội không có căn bản cũng chẳng hợp tình hay hợp lý mà cột báo này đã bàn quá nhiều lần.

Đảng DC năm 1975 cũng mạnh mẽ chống đối TT Ford mở cửa tiếp nhận dân tỵ nạn, trong đó có ba tiếng nói mạnh nhất là Jerry Brown, đương kim Thống Đốc Cali, John Kerry, đương kim Ngoại Trưởng, và Joe Biden, đương kim Phó Tổng Thống.

Năm 1978 khi hàng triệu quân cán chính miền Nam còn chết dở sống dở trong tù cải tạo, TT Carter gửi một phái đoàn qua Hà Nội thảo luận việc bỏ cấm vận và thiết lập bang giao nếu VC giúp tìm xác lính Mỹ. VC khi đó đang khủng hoảng kinh tế, chuẩn bị đánh CămPuChia và đối phó với Trung Cộng, nên ra giá bắt TT Carter nhận tù cải tạo trong khi gián tiếp trục xuất hàng vạn thuyền nhân, để xả bớt gánh nặng kinh tế và ưu tư an ninh nội bộ. Những người nghĩ Carter đón nhận HO vì lý do nhân đạo chỉ là những người ngủ mơ.
Ưu tiên của TT Carter là xác lính Mỹ, không phải tù cải tạo Việt Nam. Câu chuyện bị gián đoạn vì CSVN đánh CămPuChia, và sau đó, các ông CH Reagan và Bush cha lên làm tổng thống. TT Clinton năm 1994 tiếp nối chính sách của TT Carter, bỏ cấm vận, nhìn nhận và trao đổi quan hệ ngoại giao với CSVN. TT Obama hiện đang cố thân thiện tối đa với CSVN, phá lệ, trịnh trọng đón Tổng Bí Thư đảng CSVN tại Tòa Bạch Ốc, rồi gửi đại sứ Ted Osius đi gặp cộng đồng tỵ nạn tại San Jose, đeo huy hiệu cờ đỏ sao vàng, cấm treo cờ vàng trong hội trường, hô hào hòa hợp hòa giải với CSVN.

Nói tóm lại, tất cả những chuyện Dân Chủ là đảng của dân nghèo, lao động, di dân, da màu, tỵ nạn, v.v... chỉ là những huyền thoại do đảng Dân Chủ tạo ra, rồi được truyền thông phe ta quảng bá. Nguyên tắc chỉ đạo của nghệ thuật tuyên truyền là cho dù là một điều không đúng sự thật, nhưng nói mãi cũng sẽ có người tin, càng về lâu về dài càng nhiều người tin.

_____

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Dainamax xin thêm một tag, "Bài Viết Cho Những Người Ngu", ai giận thì tự xác nhận là đối tượng đáng quan tâm!