Chủ Nhật, tháng 8 05, 2012

Dầu Khí và Dân Khí

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 120804

Vấn đề Trung Quốc của Thế Giới và Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam


 * "Đẩy sóng ra khơi...." * 


Chiều mùng bốn Tháng Tám, tại Trung Tâm Công Giáo ở Quận Cam, miền Nam California, đã có một cuộc hội thảo về đề tài "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông". Bốn diễn giả lần lượt là:

1)     Cựu Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà Vũ Hữu San, nguyên Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư trong các chiến hạm đã đối đầu với Hải quân Trung Quốc năm 1974 để bảo vệ Hoàng Sa. Sau 1975, tai Hoa Kỳ ông trở thành một chuyên gia có uy tín về hải dương và chủ quyền của Việt Nam ngoài Đông hải. Tác giả  của các cuốn biên khảo: Lược-Sử Tổ-Chức Hải-Quân VNCH; Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa; Vịnh Bắc-Việt & Chủ-Quyền Hải-phận; Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa; Sơ-lược Hải-Sử & Thủy-Quân Nước ta; Chiến-hạm & Chiến-Đĩnh VNCH.
2)     Ông Huỳnh Văn Lang, nguyên Tổng giám đốc Viện Hối đoái tại Miền Nam, nhà báo và sau này là doanh gia, và một vị học giả cao niên trong nhiều lãnh vực.
3)     Chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.
4)     Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chuyên gia hóa học và bảo vệ môi trường, Phó Chủ tịch đảng Đại Việt.

Sau đây là phần phát biểu ngắn của Nguyễn-Xuân Nghĩa trước khi đi vào phần thảo luận.



Khi còn đi học, nếu có cái may được đi học, đa số chúng ta thường ít chú ý đến hai môn địa dư và lịch sử. Đấy là một thiệt hại cho nhận thức của chúng ta.

Những người có lý tưởng hay tham vọng đều mong hoặc nghĩ rằng mình sẽ thay đổi bộ mặt của xã hội, quốc gia hay thế giới cho người hay vì mình. Thật ra, chúng ta đều bị địa dư ràng buộc mà không ý thức được và nếu có hiểu rõ sự ràng buộc đó trong quá khứ qua môn học về lịch sử thì may ra mình nhìn ra những cách xoay trở để thoát khỏi điều kiện của không gian là địa dư và thời gian là lịch sử. Hai diễn giả Vũ Hữu San và Huỳnh Văn Lang vừa nhắc lại các điều kiện về địa dư và lịch sử đó làm khuôn khổ suy tư cho chúng ta.

Khởi đi từ đó, chúng tôi xoay ngược tầm ngắm vào Trung Quốc để tìm hiểu về mục tiêu và những giới hạn của họ.


Sự Thật Về Trung Quốc


Có lãnh thổ bát ngát tới 10 triệu cây số vuông, thật ra Trung Quốc là một ốc đảo nghèo, thiếu đất và thiếu nước trong khu vực Trung Nguyên trù phú nhất của họ ở miền Đông, trên vùng châu thổ của hai con sông lớn là Hoàng hà và Dương tử.

Thiếu đất vì khu vực Trung Nguyên, cái nôi của văn hoá chính trị xứ này, chỉ có diện tích canh tác tính theo đầu người bằng một phần ba của trung bình thế giới. Thiếu nước vì diện tích nước, tức là vùng chuôm ao sông hồ, chỉ là 0,28% và họ có trữ lượng nước cho dân số thuộc loại thấp nhất Á châu vốn dĩ là lục địa thiếu nước nhất địa cầu - mà càng kỹ nghệ hoá lại càng cần nước.

Ngày nay, 30 năm sau cải cách kinh tế và có sản lượng đứng thứ nhì thế giới, Trung Quốc vẫn là một nước đói ăn và khát dầu.

Đói ăn vì dù sản xuất nhiều nông sản nhất thế giới, xứ này vẫn phải nhập cảng lương thực, vốn dĩ là sản phẩm còn chiến lược hơn dấu thô. Và khát dầu vì công cuộc kỹ nghệ hóa đòi hỏi những nguyên nhiên hoạt liệu mà họ không có trong lãnh thổ và lại lạc hậu nên sử dụng kém hiệu năng.

Đặc tính thứ hai, thuộc về địa dư và lịch sử của xứ này. Trung Quốc là nơi mà sự sợ hãi đã ăn sâu vào tiềm thức của lãnh đạo mọi thời và đã được dựng thành một kỳ quan của thế giới, có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc, được mở mang tu bổ trong các đời Tần, đời Minh.

Nỗi sợ hãi ấy xuất phát từ sự kiện Hán tộc kiêu căng đã bị các dị tộc mà họ khinh miệt nhiều lần tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc và vào làm chủ Trung Nguyên trong nhiều thế kỷ, từ Hung Nô, Tây Hạ đến Kim, Liêu, Mông Cổ hay Mãn Thanh.

Trong nội bộ, địa dư hình thề là cảnh "tam phân" đến nay vẫn là một nan đề kinh tế.

Thứ nhất, khu vực duyên hải tương đối thịnh vượng tại miền Đông thì đất chật người đông. Thứ hai, khu vực bị khóa trong lục địa là miền Tây thì khô cằn nghèo đói với dân số cũng rất cao đã nhiều lần tiến vào Trung Nguyên làm "cách mạng", từ Tần Thủy Hoàng Đế đến Mao Trạch Đông. Thứ ba là vùng biên giới từ hướng Tây lên phía Bắc là khu vực hiểm trở của núi đèo quan ải, và sa mạc thảo nguyên, nơi xuất phát nhiều đợt tấn công của dị tộc.

Địa thế đó là một bài toán về chính trị và an ninh cho trung ương, triều đình hay Bộ Chính trị.

Chính trị là phải kiểm soát được thế mạnh của Hán tộc tại Trung Nguyên - hoặc của trung ương trên các địa phương nói theo ngôn từ hiện đại. Và an ninh là phải xây dựng "biên trấn" thành "phiên trấn", vùng trái độn quân sự trên lãnh thổ của dị tộc để bảo vệ Trung Nguyên. Vì vậy Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu mới thành các vùng chiếm đóng và củng cố như trái độn quân sự. Bên trong là các đặc khu tự trị hành chánh dành cho dị tộc nằm tại các tỉnh bị khóa trong lục địa.

Với di sản đó của địa dư hình thể và lịch sử Trung Quốc, chúng ta bước qua lãnh vực kinh tế.

Trong bốn ngàn năm có sử viết, bài toán kinh tế của xứ này luôn luôn bị bài toán an ninh chi phối. Trung Quốc có thể tồn tại với chế độ tự cung tự cấp và giải quyết nhu cầu trao đổi bằng đường bộ qua lãnh thổ Trung Á, mà ta gọi là "Con Đường Tơ Lụa". Chế độ tự cung tự cấp hoặc bế quan toả cảng đã được Mao Trạch Đông thử nghiệm lần cuối cùng và dẫn tới khủng hoảng.

Khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ năm 1979 - với lực đẩy tâm lý là những tổn thất quá lớn vì quân đội quá lạc hậu trong cuộc chiến tại Việt Nam năm đó – Trung Quốc đã mở ra ngoài. Nhờ đó mà kinh tế phát đạt hơn, nhưng cũng vì đó mà, lần đầu tiên trong lịch sử, xứ này lệ thuộc vào bên ngoài.

Họ cần thị trường quốc tế cho một hệ thống sản xuất quá tải và lệch lạc so với khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa. Họ càng cần tới bên ngoài vì phải nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và kỹ thuật cho công cuộc kỹ nghệ hóa ở bên trong.

Nhưng thế giới bên ngoài đã thay đổi....

Chuyện cưỡi ngựa rong xe qua Trung Á không còn là giải pháp. Thế giới ngày nay đã mở ra và thu hẹp lại nên 90% lượng hàng buôn bán từ lục địa này qua lục địa khác đều dùng phương tiện hàng hải, rẻ nhất và có giá trị kinh tế nhất. Hàng hải là phải chở hàng qua biển....

Ra khỏi vùng châu thổ của các con sông lớn, người ta phải qua vùng biển nâu là nơi sông đổ ra biển, rồi biển xanh lục là vùng cận duyên trên thềm lục địa, sau đó mới là vùng biển xanh dương của các đại dương.

Trung Quốc có thể kiểm soát được vùng biển nâu và hết bị hải tặc hay "nụy khấu" giặc lùn uy hiếp như trong quá khứ. Và nay đang tiến ra biển xanh lục với tham vọng sẽ xây dựng được các hạm đội có khả năng tung hoành ngoại đại dương. Họ tập tành chuyện đó từ 20 năm nay và đang có giấc mơ lớn.

Nhưng, ra khỏi vùng biển nâu, Trung Quốc đã thấy sự hiện diện khó chịu và đáng nghi ngờ của đệ nhất siêu cường hải dương, đã có kinh nghiệm dày hơn cỡ trăm năm và phương tiện dồi dào tinh vi gấp bội, là Hoa Kỳ.

Với lối suy nghĩ truyền thống xuất phát từ sự hãi sợ trong xương tủy, lãnh đạo Bắ Kinh không tin vào nguyên tắc tự do lưu thông trên các hải lộ mà thế giới đề cao bằng luật lệ quốc tế - và Hoa Kỳ thực tế bảo vệ trên mọi đại dương của địa cầu.

Họ không tin thế giới và muốn kiểm soát quyền tự do đó vì sợ là có ngày sẽ bị Hoa Kỳ hay các nước bán đảo hoặc quần đảo ở chung quanh thắt họng qua các eo biển từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á.

Không những vậy, vì nạn đói ăn khát dầu, Trung Quốc còn muốn chiếm vùng biển Đông Nam Á - nơi mà các nước vây quanh không là thế lực đáng kể như Đài Loan, Nam Hàn hay Nhật Bản - để khai thác tài nguyên, từ thủy sản đến năng lượng. Họ tin rằng dưới đáy biển, ngoài thềm lục địa của Việt Nam hay Phi Luật Tân, họ sẽ khai thác được từ một phần ba đến 40% yêu cầu về năng lượng mà khỏi phải tìm đến Trung Đông hay Châu Phi.

Chuyện đói ăn, khát dầu, cướp đất, cướp nước ngọt, v.v... là phản ứng bình thường mà bất thường của một xứ lạc hậu!

Tuy nhiên, là những người trông rộng vì tính xa do kinh nghiệm quá khứ, lãnh đạo Trung Quốc còn muốn biến mặt biển vây quanh thành vùng trái độn quân sự, "hạch tâm nghĩa lợi", tương tự như Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu hay Đài Loan.


Kết Luận


Vì địa dư hình thể, nơi duy nhất bộ binh Trung Quốc có thể tiến ra ngoài lãnh thổ để dựng vùng trái độn là miền Bắc nước Việt mà họ đã thử nghiệm lần cuối vào năm 1979. Mười năm sau, họ giải quyết bài toán đó với việc bình thường hóa bang giao với Hà Nội, và hai chục năm sau thì hoàn thành mỹ mãn nhờ sự góp sức của đảng Cộng sản Việt Nam với những hiệp định mờ ám và bất công.

Ba chục năm sau, là ngày nay, nếu ta tính từ năm 2009, họ tiến sang giải pháp biến Đông hải của Việt Nam thành vùng trái độn quân sự. Mục tiêu của những động thái vừa qua chính là như vậy.
 
Thế giới có để chuyện ấy xảy ra hay không là bài toán của các nước. Việt Nam có để chuyện ấy xảy ra hay không, đó là bài toán của người Việt. Nó nằm tại Hà Nội. 

Chúng ta nên suy nghĩ về bài toán đó, nhưng không quên những khó khăn chồng chất của lãnh đạo Bắc Kinh ở bên trong. Những yếu tố ngoại xâm và nội loạn này của Trung Quốc phải là một phần trong cách suy ngẫm và ứng phó của chúng ta.  


Trung Quốc Muốn Gì Ngoài Đông Hải

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 120801

Những Nghịch Lý Và Mâu Thuẫn Đáng Chú Ý


Thuyết trình trước cuộc Hội thảo "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông"
Ngày Thứ Bảy, mùng bốn Tháng Tám, 2012
Tại Trung Tâm Công Giáo - Santa Ana, California


Với thế giới, từ một năm nay, dư luận đang phát giác một chuyện lạ: khu vực rộng lớn có nhiều triển vọng kinh tế nhất địa cầu cũng lại là thùng thuốc súng nổi trôi trên biển. Đó là vùng biển Đông Nam Á, nơi sinh hoạt trọng yếu cho gần bốn tỷ người dân Á châu, từ Ấn Độ dương qua Thái bình dương. Lý do là thái độ ngang ngược của Trung Quốc. Nhưng thật ra, cũng chính thái độ ấy lại tạo ra một lợi thế cho Việt Nam, một lợi thế chưa từng thấy từ trăm năm nay.

Vì sao lại có nghịch lý này?

Nếu có thể trình bày cho ngắn gọn thì Trung Quốc là quốc gia có lãnh thổ bát ngát mà thiếu nước, đói ăn và khát dầu. Việc lãnh đạo xứ này muốn giành chủ quyền trên thềm lục địa của Việt Nam để khai thác tài nguyên ngoài khơi và dưới đáy biển là điều có thể hiểu được, nhưng không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, Trung Quốc không chỉ muốn cưỡng đoạt tài nguyên của thiên hạ mà còn muốn biến Đông hải làm vùng trái độn quân sự tương tự như các khu vực biên trấn bên trong. Mục tiêu an ninh đó khiến xứ này trở thành một vấn đề của quốc tế.

Vậy mà sự thể còn phức tạp hơn vậy. Trung Quốc có cái thế của một quốc gia hung đồ, mà chưa có cái lực. Bên trong còn gặp nhiều vấn đề nan giải nên có thể tan rã.

Nhìn từ giác độ kinh tế, bài tiểu luận khá dài và gồm bốn phần sau đây sẽ cố giải thích nghịch lý đó khi nhấn mạnh đến nhiều mâu thuẫn của Trung Quốc ở phần cuối.



1.      Bối Cảnh của Vấn đề


Nhu cầu xác định nội dung của đề tài, trước hết là về tên gọi, khiến chúng ta mở lại tấm bản đồ của khu vực Á châu Thái bình dương, nơi mà với diện tích lãnh thổ khoảng 10 triệu cây số vuông, Trung Quốc là một nước lớn tại Đông Á.

Về vị trí địa dư, đây là một quốc gia Đông Bắc Á, tương tự như Liên bang Nga, Cộng hòa Mông Cổ, Nam Bắc Hàn hay Nhật Bản. Khu vực Đông Á này tiếp giáp với Thái bình dương, nhưng từ đất liền mà ra tới đại dương thì còn phải vượt qua nhiều vùng biển cận duyên. Xin tạm gọi là biển xanh lục để phân biệt với biển xanh dương của đại dương.

Cách đặt tên vùng biển cận duyên này xuất phát từ sự tiện dụng của các nhà hải dương học hay địa dư học Âu châu từ nhiều thế kỷ trước. Sau này, các quốc gia hay tổ chức quốc tế mới có cách gọi đôi khi không thống nhất. Nhưng nói chung, ta có thể phân biệt hai vùng biển Bắc và Nam.

Tại khu vực Đông Bắc Á, người ta quen dùng tên "East China Sea" mà ta có thể gọi là Đông hải của Trung Quốc. Và chữ "của" này không nhất thiết là một sự khẳng định về chủ quyền.

Thí dụ như khu vực Tây Á có Vịnh Ba Tư nằm giữa Iran của sắc tộc Ba Tư với Bán đảo Á Rập. Vịnh này thuộc vào Ấn Độ dương mà không là chủ quyền của xứ Iran. Hoặc Vịnh Thái Lan nối liền Ấn Độ dương với Thái bình dương không là chủ quyền của Thái Lan hay Ấn Độ dương chẳng là chủ quyền của xứ Ấn Độ.

Khu vực Đông hải của Trung Quốc bao trùm lên một diện tích khoảng một triệu 200 ngàn cây số vuông ở ngoài biển. Đây là vùng biển cận duyên tiếp giáp với bán đảo Triều Tiên và Hoàng hải, với biển Nhật Bản ở phía Đông của Triều Tiên, với chuỗi quần đảo Ryu Kyu hay Lưu Cầu nối liền Nhật Bản với Đài Loan.

Đi xuống hướng Nam, tại khu vực Đông Nam Á, người ta quen dùng tên "South China Sea", biển Nam của Trung Hoa hay biển Hoa Nam để gọi vùng biển cận duyên tiếp giáp với Vịnh Bắc Bộ, đảo Hải Nam của Trung Quốc và nằm giữa Việt Nam với Phi Luật Tân, Brunei, Mã Lai Á, Nam Dương hay Indonesia và qua đến Vịnh Thái Lan. Ra khỏi biển cận duyên này thì mới tới Thái bình dương về bên kia, về phía Đông thì có Hoa Kỳ.

Việt Nam gọi mặt biển này là Đông hải, các nước Đông Nam Á gọi đó là biển Đông Nam Á. Đề tài trình bày ở đây chủ yếu nói về Đông hải của Việt Nam, hay vùng biển Đông Nam Á, một diện tích rộng lớn bao trùm lên ba triệu rưởi cây số vuông ngoài biển.

Vì nối liền Thái bình dương với Ấn Độ dương, khu vực này là nơi sinh sống của 600 triệu dân Đông Nam Á tại trung tâm và gần ba tỷ người từ Trung Quốc đến bán đảo Ấn Độ. Tức là cuộc sống của gần bốn tỷ trong bảy tỷ người trên địa cầu có liên hệ đến vùng biển này.

Trong lề lối sinh hoạt hiện nay của nhân loại, 90% lượng hàng hóa giao dịch từ lục địa này qua lục địa khác đều dùng phương tiện hàng hải, là vận chuyển bằng tầu bè qua biển vì phí tổn thấp nhất. Nói về trọng lượng thì phân nửa số hàng hóa ấy chuyển vận qua Đông hải của Việt Nam, có trị giá bằng một phần ba trị giá hàng hóa buôn bán giữa các lục địa.

Nhưng việc chuyển vận đó, từ Âu Châu qua Trung Đông, qua Ấn Độ dương đến Thái bình dương, từ khu vực Đông Bắc Á xuống tới Úc Châu, phải qua các eo biển nhỏ, như Eo biển Malacca nằm giữa bán đảo Mã Lai và đảo Sumatra của Nam Dương, hay hai Eo biển Sunda và Lombok của Nam Dương.

Các eo biển này là có thể là yết hầu hay nút chặn việc lưu thông hàng hóa giữa các nước, cho nên ngoài vấn đề chủ quyền thì quyền lưu thông tự do qua các dòng hải lưu là một đòi hỏi khách quan của kinh tế và phải được quốc tế tôn trọng, hay bảo vệ.

Là một siêu cường hải dương, Hoa Kỳ giữ vị trí quan trọng nhất cho việc bảo vệ quyền lưu thông qua các dòng hải lưu đó. Mà không chỉ là lưu thông hàng hải. Việc vận chuyển quân sự cho mục tiêu hòa bình, thí dụ như cứu trợ thiên tai hay ngăn ngừa hải tặc, cũng là một quyền tự do được nước Mỹ đề cao và kêu gọi các nước cùng đảm bảo.

Cuộc thao dượt trên vành cung Thái bình dương, gọi là RIMPAC, đang được 22 quốc gia tiến hành từ ngày 27 Tháng Sáu đến mùng bảy Tháng Tám thể hiện nỗ lực đó. Hoa Kỳ đề xướng việc thao dượt hai năm một lần kể từ năm 1971 và ngày càng có nhiều nước tham gia để nâng cao khả năng phối hợp quân sự của các nước khi có biến động như xung đột, thiên tai, hải tặc hay khủng bố.

Nếu tại vùng biển Đông hải của Trung Quốc ở miền Bắc, xứ này gặp các lân bang tương đối phú cường, như Liên bang Nga, Nhật Bản hay Đại Hàn, thì tại vùng biển Đông hải của Việt Nam, Trung Quốc đối diện với một chục quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đó là các thành viên của Hiệp hội ASEAN 10 Quốc gia Đông Nam Á. Với lãnh đạo Bắc Kinh thì đấy là những mục tiêu "mềm", dễ được thôn tính.

Như tại nhiều nơi khác trên thế giới, mâu thuẫn về chủ quyền ngoài lãnh hải có thể xảy ra giữa các nước và thường phải giải quyết qua đàm phán thương thảo.

Tại vùng biển Đông Nam Á, mâu thuẫn về chủ quyền ngoài thềm lục cũng có giữa tám quốc gia là Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Mã Lai Á, Singapore, Indonesia, Brunei và Phi Luật Tân. Khu vực có mâu thuẫn gay gắt nhất là thềm lục địa, nơi có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo tên gọi của Việt Nam. Ba quốc gia đang có tranh chấp nặng chính là Trung Quốc ở một bên, Việt Nam và Phi Luật Tân ở bên kia.

Tranh chấp về chủ quyền ngoài thềm lục địa càng có ý nghĩa chiến lược khi bên dưới có một kho tài nguyên rất lớn chưa kể thủy sản như tôm cá. Đây là nơi có trữ lượng đã xác định của bảy tỷ thùng dầu thổ và khoảng 900 ngàn tỷ thước khối khí đốt. Nếu thăm dò tìm hiểu nhiều hơn thì khu vực này còn có tiềm năng của 130 tỷ thùng dầu thô, nghĩa là một nơi có nhiều dầu nhất địa cầu, sau Saudi Arabia.

Riêng với Việt Nam, chúng ta không quên rằng ngoài dầu thô và khí đốt, vùng biển này là một nguồn thủy sản lớn lao cho kinh tế và trước hết cho người dân.

Như vậy, bối cảnh chung của khu vực cho thấy Đông hải của Việt Nam có ý nghĩa chiến lược toàn cầu. Hai yếu tố đáng chú ý ở đây là an ninh và kinh tế. An ninh là quyền tự do lưu thông trên các dòng hải lưu, và kinh tế là quyền khai thác tài nguyên ngoài biển, hay dưới đáy biển.

Trong bối cảnh đó, chúng ta mới tìm hiểu về mục tiêu của Trung Quốc ở nơi đây.



2.      Từ Thời Sự Đến Chiến Lược


Thời sự kinh tế quốc tế ghi nhận rằng sáng Thứ Hai 23 Tháng Bảy vừa qua, tập đoàn dầu khí hải dương CNOOC của Trung Quốc dạm mua trọn phần vốn của tổ hợp Nexen của Gia Nã Đại, hay Canada, với cái giá rất cao là 27,50 đô la một cổ phiếu. Tức là cao hơn giá yết trên thị trường hôm Thứ Sáu 20 đến 62%: vị chi là lên tới hơn 15 tỷ đô la, con số kỷ lục cho một vụ thủ đắc của một doanh nghiệp Trung Quốc.

Được gọi tắt là CNOOC trên các thị trường quốc tế, tập đoàn có tên là "Trung Quốc Hải Dương Thạch Du Tổng Công Ty" là doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý, đứng hàng thứ ba trong các tổng công ty dầu khí của Trung Quốc. Trong danh mục 500 tổ hợp kinh doanh lớn nhất thế giới do tạp chí Fortune vừa công bố cuối Tháng Bảy, CNOOC đứng hạng 101. Đây là một đại gia Trung Quốc, chuyên về năng lượng ngoài khơi với 100% vốn liếng là của nhà nước.

Nexen của Canada là tổ hợp tư doanh dầu khí có hội sở tại Calgary của tỉnh Alberta, hoạt động từ hơn 40 năm nay và hiện có tài sản đầu tư – là các giếng dầu hay khí đốt – tại Canada, tại Bắc Hải của Âu Châu, tại Vịnh Mễ Tây Cơ gần Hoa Kỳ, tại Colombia và qua đến Tây Phi Châu. Với tài sản ước lượng ở khoảng hơn tám tỷ Mỹ kim, Nexen được Trung Quốc dạm mua với giá gần gấp đôi. Vì sao Bắc Kinh lại hào phóng như vậy?

CNOOC từng có nhiều dự án liên doanh với Nexen và thấy rõ hai ưu điểm của tổ hợp này.

Thứ nhất là tài sản đầu tư trải rộng ra nhiều nơi, nhất là ở ngoài biển, mà lại là Bắc Hải tiếp cận với Anh quốc và Vịnh Mễ Tây Cơ tiếp cận với Hoa kỳ. Thứ hai, Nexen có kinh nghiệm và kiến năng tiên tiến về kỹ thuật khai thác dầu khí ở ngoài khơi. Từ hai sự kiện đó, Bắc Kinh nhìn ra bốn mối lợi.

Nếu CNOOC làm chủ Nexen, Trung Quốc sẽ thụ đắc trình độ kỹ thuật ngang ngửa với các tổ hợp số một như Shell hay ExxonMobile. Thứ hai, nhờ kiến năng hiện đại của các doanh nghiệp Bắc Mỹ để gạn đá ra dầu và khí đốt gọi là fracking, Trung Quốc có thể khai thác được tiềm năng này của mình ở nhà. Thứ ba, từ nay Trung Quốc có thể bung ra thủ đắc các giếng dầu hay khí đốt trên toàn cầu và làm chủ nhiều giếng dầu khí của thế giời. Và thứ tư, nhờ đó họ có thể chi phối sản lượng và ảnh hưởng tới giá dầu trên thế giới, thay vì thụ động chấp nhận cái giá lên xuống của thị trường.

Khi theo dõi chuyện này, ta tự hỏi vì sao Canada có thể chấp nhận một vụ sát nhập hay thôn tính như vậy? Vì sao Canada lại có thể bán cho Trung Quốc loại tài sản chiến lược là năng lượng và kỹ thuật khai thác năng lượng? Chính quyền Canada đang cân nhắc chuyện ấy, nhưng có một câu trả lời cho thắc mắc lại khá gần với chúng ta ở bên Mỹ:

Canada dự tính bán cho Hoa Kỳ qua dự án thiết lập mạng lưới dẫn dầu Keystone Pipeline từ tỉnh Alberta qua tám tiểu bang của Mỹ đến Illinois và Houston ở Texas. Nhưng do áp lực của các nhóm bảo vệ môi sinh, Chính quyền Barack Obama tạm thời bác bỏ dự án và gây khó chịu không ít cho chính quyền Canada, tỉnh Alberta cà các doanh nghiệp Gia Nã Đại.

Đâm ra, do một quyết định của Mỹ thật ra không chính đáng và cực bất lợi về kinh tế và công việc làm, Trung Quốc có thể đạt ưu thế đáng ngại ở ngoài Đông hải của chúng ta. Vì CNOOC chính là tập đoàn đang tiến vào thềm lục địa Việt Nam và đòi khai thác chín lô dầu nằm trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên một diện tích là 160 ngàn cây số vuông.

Với hậu thuẫn quân sự của Hải quân Trung Quốc, với mồi nhử hợp tác đầu tư về năng lượng và với dàn khoan tương đối tối tân mang mã số 981 có khả năng đào dầu ở độ sâu 3.000 thước dưới mặt biển, tập đoàn này có thế mạnh để mời chào các tổ hợp năng lượng quốc tế ngay trên thềm lục địa của Việt Nam. Họ tính toán rằng vì doanh nghiệp quốc tế ham làm ăn kiếm lời mà mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên vùng quần đảo đang có tranh chấp với các nước Đông Nam Á, trước tiên là Việt Nam và Phi Luật Tân.

Như vậy, khi muốn khai thác dầu khí ngoài Đông hải, các doanh nghiệp quốc tế có thể cân nhắc là hợp tác với Việt Nam, Phi Luật Tân hay với Trung Quốc, giải pháp nào thì có lợi và an toàn hơn?

Cùng với vụ CNOOC dạm mua tổ hợp Nexen của Canada, thời sự kinh tế cũng nhắc đến tổ hợp dầu thô và khí đốt Videsh của Ấn Độ.

ONGC Videsh Ltd. là doanh nghiệp lớn của Ấn, đứng hạng 357 trên danh mục Fortune Global 500, và đang do dự với dự án liên doanh cùng Việt Nam để thăm dò hầu có thể khai thác dầu thô trên hai lô 127 và 128. Cách đây hai tháng, Videsh hay OVL đã tính rút lui hoặc tạm hoãn vì thấy ít có triển vọng sinh lời. Nôm na là phải đầu tư trăm triệu rồi mới biết là có dầu hay có lời không.

Nhưng khi CNOOC của Trung Quốc đòi gọi thầu khai thác chín lô dầu ở ngoài khơi Việt Nam thì Ấn Độ bị kẹt. Vì trong chín lô này, có lô 128 vẫn đang được Videsh thăm dò cùng Việt Nam.

Tức là tại địa điểm của một dự án liên doanh Ấn-Việt bỗng có CNOOC của Trung Quốc nhảy vào đòi rao bán cho thiên hạ. Nếu vì yếu tố thuần túy kinh doanh, tổ hợp Videsh thấy không có lời mà rút lui thì Ấn Độ rơi vào nan đề ngoại giao vì có vẻ lánh mặt hay bỏ chạy trước sức ép của Trung Quốc.

Vì thế mà nhân thượng đỉnh của Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á họp tại Phnom Penh của Cam Bốt vào Tháng Bảy vừa qua, Chính quyền New Dehli tiến xa hơn lời kêu gọi cố hữu của mình, như các nước phải tôn trọng quyền tự do lưu thông ngoài biển. Ấn Độ còn yêu cầu 26 quốc gia và Liên hiệp Âu châu trong Diễn đàn Khu vực ARF của Hiệp hội ASEAN phải bảo đảm quyền khai thác tài nguyên theo đúng nguyên tắc của luật lệ quốc tế.

Khi theo dõi tin tức kinh doanh hay kinh tế như vậy, những ai quan tâm đến quyền lợi của dân Việt sẽ không thờ ơ được. Câu chuyện về năng lượng vừa qua đặt ra một bài toán cứ tưởng là kinh doanh mà thật ra là chiến lược.

Bài toán ấy có hai cách giải khác nhau.

Trong mối quan hệ với Trung Quốc, các nước có giải pháp là song phương hợp tác, như qua các dự án liên doanh về dầu khí với CNOOC, để truy tìm quyền lợi kinh tế. Giải pháp kinh doanh này mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - và thỏa mãn mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh.

Các nước đang có tranh chấp với Trung Quốc như Việt Nam hay Philippines có thể nghĩ đến giải pháp thứ hai. Đó là mời một quốc gia thứ ba vào liên doanh và thực tế là dựng thế liên minh đối diện với sức ép của Trung Quốc, thí dụ như với Videsh của Ấn, Gazprom của Nga, ExxonMobil của Mỹ hay BP của Anh, Total của Pháp chẳng hạn.

Nhưng làm sao thuyết phục được các quốc gia đệ tam ấy vào làm ăn với mình khi mà trình độ kỹ thuật còn thấp kém và nhiều khi mức độ tham nhũng lại quá cao như ta đã thấy tại Việt Nam?

Đi từ những chuyện cụ thể và nóng hổi ấy của thời sự, chúng ta sẽ tiến sâu hơn vào câu hỏi về mục tiêu chiến lược của Trung Quốc ngoài Đông hải.



3.      Một Cường Quốc Đại Lục Đang Mò Ra Biển


Trong bốn ngàn năm có sử của xứ này, Trung Quốc là cường quốc đại lục, với đất sinh hoạt truyền thống tập trung vào vùng châu thổ của sông Hoàng hà và Dương tử ở hướng Đông. Vây quanh là các thảo nguyên, sa mạc hay núi non hiểm trở ở hướng Tây và hướng Bắc. Xứ này có ba khu vực khác biệt là miền Đông gần duyên hải, là các tỉnh lạc hậu bị khóa trong lục địa và đất phiên trấn khô cằn mà cũng là nơi xuất phát những vụ tấn công và khuất phục của dị tộc.

Thật ra, Trung Quốc chỉ là một ốc đảo, một "oasis", bên bờ Thái Bình dương.

Một ốc đảo không chỉ thiếu nước - với diện tích nước thấp nhất châu Á - mà còn thiếu đất canh tác với diện tích canh tác trung bình cho một đầu người ở khu vực trù phú nhất tại miền Đông chỉ bằng một phần ba của trung bình thế giới.

Hình thể Trung Quốc còn có yếu tố "tam phân" từ tiền kiếp, mà giải pháp kinh tế là phát triển đồng đều cả ba khu vực lại trực tiếp liên hệ đến bài toán an ninh. Sáu chục năm sau khi thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc, đảng Cộng sản Trung Hoa chưa giải quyết được bài toán kinh tế bên trong và rất sợ chuyện an ninh ở bên ngoài.

Nhờ lãnh thổ rộng lớn, dân số rất đông và một hậu phương rất sâu, các vụ uy hiếp của Âu Châu, hoặc chiếm đóng như của Nhật Bản từ Mãn Châu tràn xuống sau năm 1931, không thể đánh bại được chính quyền và kiểm soát được Trung Quốc. Ngày nay, các cường quốc đều công nhận rằng Trung Quốc là một xứ rất khó tấn công bằng trận địa chiến và càng khó kiểm soát.

Nhưng ngược lại, Trung Quốc cũng khó đưa quân ra xâm lăng các nước bên ngoài.

Khác với các cường quốc thế giới, Trung Quốc là đại cường bị khóa và thường xuyên có cảm giác bị đe dọa vì quả là đã từng bị ngoại bang hay dị tộc chinh phục nhiều lần. Mà khi phải thu vào bên trong để tự phòng thủ, như vào các đời Minh, Thanh và ba chục năm của Mao Trạch Đông, thì không phát triển được và lụn bại dần vì nội loạn.

Ba chục năm sau khi cải cách từ 1979, Trung Quốc tìm lại vị trí cường quốc nhưng càng mở ra thì lại càng thấy mâu thuẫn "tam phân" bên trong có thể phát tác thành nội loạn. Và càng mở ra ngoài để phát triển thì lại càng lệ thuộc hơn vào luồng giao lưu quốc tế mà lãnh đạo không kiểm soát được: xứ này đã mất nguyên một thế kỷ 20 để đứng dậy, khi chạy ra thì thấy như bị chặn và có thể bị khóa tại các eo biển chung quanh.

Tiến trình công nghiệp hoá và chánh sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình dẫn đến hai hiện tượng chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc. Xứ này cần bên ngoài, qua đầu tư, chuyển giao kỹ thuật và thị trường ngoại quốc, để ra khỏi tình trạng nghèo khốn truyền thống. Thứ hai, nơi bung ra không là đường bộ là Con Đường Tơ Lụa qua ngả Trung Á như thời xưa, mà là Thái bình dương.

Hai hiện tượng đó gây bất an cho lãnh đạo.

Bất an thứ nhất là đặc tính "nhất quốc tam kinh": khu vực hướng ngoại tại miền Đông vội chạy ra ngoài, theo Hoa Kỳ, Nhật Bản và Âu Châu. Vừa học ngoại quốc để làm giàu cho mình vừa bỏ rơi hai khu vực kia ở đằng sau. Nan đề phát triển thiếu hài hòa của ba khu vực trở thành bài toán an ninh vì miền Đông càng thịnh vượng thì càng khác xưa và càng dễ ra khỏi vòng kiềm toả của trung ương.

Bất an thứ hai là Thái bình dương nay lại là khu vực phát triển của quốc tế, do Hoa Kỳ bảo vệ với một lực lượng hải quân mạnh chưa từng thấy trên địa cầu và đã dày kinh nghiệm hơn Trung Quốc cả trăm năm. Muốn bung ra ngoài thì làm sao bảo vệ được hệ thống chuyển vận sinh tử cho một nền kinh tế nay đã lệ thuộc vào các thị trường bên ngoài? Cho nên vấn đề không chỉ là kinh tế cho một xứ đói ăn, khát dầu và cần năng lượng ở bên ngoài, vấn đề còn là an ninh.

Trong quá khứ, Trung Quốc đã từng bị tấn công từ hướng Đông, từ ngoài biển vào, nhưng thật ra liệt cường của thế giới vẫn không kiểm soát được lục địa Trung Hoa. Ngày nay, lãnh đạo xứ này lại rất e ngại một đe dọa khác đến từ biển Đông: mối nguy kinh tế và tư tưởng.

Ảnh hưởng kinh tế của sự xâm nhập từ Đông hải vào mới có tác dụng dây chuyền làm tan rã cái thế quân bình thật ra mong manh trong mối quan hệ giữa trung ương và địa phương của Trung Quốc. Một trong những tác dụng đó là sự thịnh vượng của một lớp người hợp tác (hay liên doanh, nói theo kiểu mới) với ngoại bang.

Một tác dụng còn nguy hiểm hơn vậy, là tư tưởng và kỹ thuật tổ chức có thể làm biến đổi trật tự Trung Hoa.

Với tinh thần duy tâm chủ quan, Mao Trạch Đông giải quyết bài toán Đông hải đó bằng chính sách bế môn tỏa cảng. Ông khóa kín các tỉnh duyên hải, tiêu diệt mọi phần tử bị Tây phương ảnh hưởng, từ trí thức duy tân đến thương nhân tư sản, và đưa tinh thần bài ngoại, ghét người ngoại quốc, thành chủ nghĩa ái quốc. Trung Quốc lụn bại vì sự hoang tưởng đó.

Đặng Tiểu Bình hiểu ra sự thể và củng cố lại mục tiêu chiến lược hay mệnh lệnh vô hình của lãnh đạo truyền thống: kiểm soát trật tự bên trong, bảo vệ vùng trái độn bên ngoài. Rồi mở ra Đông hải để tìm nguồn lực phát triển xứ sở. Trong mục tiêu thứ ba này, họ Đặng chấp nhận một rủi ro rất lớn là mở cửa kinh tế thì cũng nhận vào nhiều yếu tố độc hại.

Ông chủ động mở ra để đón nhận có chọn lọc những yếu tố ngoại nhập mà không gây bất ổn hay phân hóa bên trong và nhất là không để khu vực duyên hải trở thành bãi đáp cho các thế lực thù nghịch từ bên ngoài vào. Quả nhiên là nước cờ táo bạo của Đặng Tiểu Bình đã tạo ra chuyển biến lớn lao và 30 năm sau, Trung Quốc trở thành một cường quốc kinh tế.

Nhưng trên đỉnh quang vinh này thì những rủi ro mà ông e ngại lúc ban đầu đang phát tác. Và rơi lên đầu các thế hệ lãnh đạo mới, thứ tư và thứ năm, sau ba thế hệ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân.

Lãnh đạo Trung Quốc đang lúng túng về các thứ tự ưu tiên mà chúng ta tạm gọi là "trong/ngoài".

Thoát khỏi hơn trăm năm lụn bại, Trung Quốc ngày nay đã đạt mục tiêu chiến lược về quân sự và chính trị trong tư thế đệ nhị cường quốc kinh tế có dân số cao nhất và đạo quân đông nhất địa cầu, dưới sự lãnh đạo của một đảng chính trị độc quyền và có nhiều đảng viên nhất thế giới. Trên bề mặt, xứ này hiện vẫn kiểm soát được các vùng trái độn truyền thống và không bị một cường quốc nào trên đại lục Âu-Á uy hiếp như đã từng bị nhiều lần trong lịch sử.

Trong lịch sử mấy ngàn năm, chưa khi nào Trung Quốc lại có sức mạnh kinh tế như ngày nay. Nhưng cũng chưa khi nào mà cần thế giới bên ngoài như vậy. Tâm trạng đó khiến lãnh đạo Bắc Kinh lúng túng về thứ tự ưu tiên trong hay ngoài và về những mối lo đầy tính chất tự kỷ ám thị: các thế lực thù địch có thể gây bất ổn ở bên trong qua "diễn biến hòa bình". Hoặc phong tỏa sức phát triển của Trung Quốc qua những thỏa thuận quốc tế về quyền tự do chuyển vận ngoài biển. Mà hải quân Trung Quốc thì mới chỉ ở vao giai đoạn phôi thai thôi.

Chính là nỗi e ngại đó mới khiến họ xây dựng một cái vỏ rất cứng. Trong khi cái ruột vẫn có những nhược điểm....



4.      Những Mâu Thuẫn Khó Dung Hoà


Đang chuyển mình từ một cường quốc đại lục thành cường quốc hải dương, thật ra, Trung Quốc gặp rất nhiều mâu thuẫn.

Ngay từ năm 1947, Trung Hoa Quốc dân đảng đã vẽ bản đồ 11 khúc để đòi chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc trên các quần đảo ngoài khơi biển Hoa Nam. Khi ấy, các nước Đông Nam Á còn dồn trọng tâm vào việc tranh đấu cho độc lập nên không có phản ứng. Các nước cũng chẳng có phản ứng khi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc ra đời từ năm 1949, thay Quốc dân đảng làm chủ Hoa lục và vẽ thành bản đồ chín khúc để đòi chủ quyền của mình và chính thức công bố từ năm 1953. Khi ấy, các nước Đông Nam Á cũng chẳng có phản ứng, nhiều nước còn nương tựa vào đảng Cộng sản Trung Hoa để giành độc lập!

Đảng Cộng sản Việt Nam phải lãnh trách nhiệm đó với dân tộc.

Ngày nay, toàn khu vực Đông Nam Á bị kẹt trong vụ tranh chấp về chủ quyền do Trung Quốc gây ra. Nhưng kẹt nhất không phải là các nước Đông Nam Á mà chính là Trung Quốc.

Mâu thuẫn đầu tiên của cường quốc này là có bờ biển rất dài, trải dọc từ Hoàng Hải bên bản đảo Triều Tiên xuống tới Vịnh Bắc Việt, mà trong lịch sử lại không kiểm soát được vùng biển cận duyên và thường chỉ giữ thế thủ. Nguyên nhân chính là mối nguy cho Trung Quốc chưa đến từ biển Đông và mọi ngả giao lưu cần thiết cho kinh tế đều nằm trong đất liền. Thứ nữa, tình trạng phân hóa và cát cứ khiến lãnh đạo xứ này phải ưu tiên thống nhất được nội tình trên một lãnh thổ bát ngát.

Ngày nay, Trung Quốc đang ra khỏi mâu thuẫn truyền thống đó và muốn kiểm soát được vùng biển cận duyên nhờ sức mạnh hải quân thì lại gặp nhiều mâu thuẫn khác. Nói vắn tắt là có cái thế làm cho thiên hạ sợ mà chưa có cái lực. Có cái tiếng mà cái miếng vẫn còn mềm!

Sau khi cải cách từ năm 1979, Đặng Tiểu Bình ưu tiên giải quyết các vấn nạn kinh tế và chính trị bên trong để ra khỏi khủng hoảng và xây dựng lực lượng. Với bên ngoài, ông chủ trương "thao quang dưỡng hối" nhằm che giấu sức mạnh sau chiến lược hòa dịu với các nước Đông Nam Á: chúng ta hãy tạm gác một bên những tranh chấp về chủ quyền để cùng hợp tác và khai thác tài nguyên chung ở ngoài khơi. Năm chục năm nữa nói chuyện cũng chưa muộn. Nôm na thì "cái gì của ta là của ta – cái gì của người thì đôi ta cùng khai thác".

Trong chiến lược âm nhu đó, lãnh đạo Bắc Kinh khéo áp dụng thủ thuật "bẻ đũa từng chiếc": đàm phán song phương với từng nước qua mua chuộc hay hăm dọa, để tránh phản ứng tập thể của các nước Đông Nam Á. Tính toán ở đây là 50 năm sau thì Trung Quốc đã có thực lực khác nên khỏi cần đàm phán hay thương thuyết gì cả. Quả nhiên là trong hai chục năm liền, dù có tranh chấp hay xung đột nhỏ ở ngoài khơi, kể cả với Việt Nam vào năm 1988, chiến lược hòa dịu hình thức vẫn được áp dụng.

Nhưng ngày nay đề nghị "hãy cùng phát triển khu vực có tranh chấp" không đem lại kết quả dự tính. Lý do là một mâu thuẫn bất ngờ khác.

Hai chục năm sau khi quyết định sẽ phải kiểm soát được vùng biển cận duyên làm khu vực trái độn, Hải quân Trung Quốc đã lớn mạnh. Nhưng nhu cầu kiểm soát các dòng hải lưu để bảo vệ luồng vận chuyển hàng hóa cho một nền kinh tế lệ thuộc vào thị trường quốc tế lại khiến các nước e ngại. Quy tắc ứng xử ngoài biển Đông ký kết với Hiệp hội ASEAN 10 Quốc gia Đông Nam Á vào năm 2002 vẫn không trấn an được.

Đã thế, khi Hoa Kỳ vướng bận vào cuộc chiến chống khủng bố từ 2001, lãnh đạo quân sự Trung Quốc còn nhìn ra cơ hội bành trướng và dẫn tới phản ứng ngược: các quốc gia Đông Nam Á đều kêu gọi Hoa Kỳ trở lại giữ thế đối trọng với đà bành trướng của Trung Quốc.

Mà không chỉ các nước Đông Nam Á đang có tranh chấp về chủ quyền trên vùng biển chín khúc của Trung Quốc. Cái lưỡi bò chín khúc khiến cho chín quốc gia cùng nhìn thấy một mối nguy. Đó là Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Việt Nam, Mã Lai Á, Brunei và cả Đài Loan. Ngần ấy quốc gia đều trông đợi vào phản ứng của Hoa Kỳ, nay đã tái xác định vai trò cường quốc Á Châu và nhấn mạnh đến nhu cầu bảo vệ quyền tự do lưu thông ngoài biển.

Chúng ta đi tới các bài toán hiện tại của Bắc Kinh, trong giai đoạn mà tiến thoái gì cũng bất tiện.

Từ chiến lược không can dự vào nội tình xứ khác, lãnh đạo Bắc Kinh đang ráo riết mua chuộc, uy hiếp hay lũng đoạn từng nước. Rốt cuộc thì chứng tỏ bản chất đế quốc của một nước vẫn đề cao tinh thần "quật khởi hòa bình" để ra khỏi tình trạng lạc hậu.

Lập luận truyền thống của mấy chục năm qua, rằng Trung Quốc là một nước kém phát triển, nạn nhân của liệt cường và nay đang cố gắng công nghiệp hoá trong tinh thần hiếu hòa, lập luận đó đã hết công hiệu. Và trên các diễn đàn quốc tế lẫn trong dư luận các nước kém phát triển Á, Phi hay Trung Nam Mỹ, Trung Quốc có bộ mặt thực dân đế quốc. Đấy là một vấn đề về lý luận với hậu quả phản tuyên truyền, bài toán thứ nhất.

Chuyện thứ hai, chiến lược đối thoại song phương để bẻ đũa từng chiếc cũng thất bại và khi Bắc Kinh chuyển qua giải pháp đối thoại quốc tế thì gặp kết quả trái ngược.

Người ta cứ nói đến phản ứng của Cam Bốt trong hội nghị Tháng Bảy vừa qua của khối ASEAN khi tránh nêu vấn đề tranh chấp ngoài Đông hải và coi đó là một thắng lợi của Bắc Kinh. Nghĩa là cái đũa Cam Bốt đã gẫy. Thật ra, nhận thức của các nước về lập trường ngoại giao của Bắc Kinh đã xoay chuyển. Thế giới thấy Trung Quốc dùng thủ thuật song phương để lũng đoạn từng nước, đến khi bước vào giải pháp đối thoại đa phương trên các diễn đàn quốc tế, cường quốc này chỉ có chủ đích phá hoại.

Càng dùng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để bênh vực Iran hay Syria, hoặc có lập trường ngoại giao nhằm bao che cho Bắc Hàn, Sudan hay Venezuela, Bắc Kinh càng cho thấy Trung Quốc không là một cường quốc hữu trách và biết điều. Tại Đông hải, tính toán hòa dịu của Cam Bốt đã gây phản ứng trong các nước còn lại của ASEAN. Đấy là bài toán thứ hai.

Sau hai chục năm chỉ nhìn thấy quyền lợi của mình trong mối quan hệ với các nước và bị bất ngờ khi các chế độ thân hữu bỗng dưng sụp đổ, Bắc Kinh đang muốn xoay qua một đường lối chủ động và tích cực hơn.

Lãnh đạo Bắc Kinh đã bị bất ngờ tại Sudan, khi thân chủ bị xé làm hai, với sự xuất hiện của Cộng hoà Nam Sudan trên một vùng đất nhiều tài nguyên và được Tây phương bảo vệ. Bắc Kinh cũng bị bất ngờ khi chế độ độc tài Muamar Ghaddafi bị sụp đổ tại Libya. Những trường hợp trở tay không kịp như vậy xảy ra nhiều hơn là chúng ta nghĩ. Ngày nay, Bắc Kinh đang muốn chuyển qua chiến lược khác, là chủ động xử lý các hồ sơ liên quan đến quyền lợi của mình thay vì mơ hồ đề ra những nguyên tắc chung chung.

Kết quả là không chỉ nói về "cửu đoạn tuyến" ngoài Đông hải, Bắc Kinh chủ động trưng bày sức mạnh. Cùng với việc nâng cấp hành chánh cho Tam Sa, Trung Quốc đưa tầu ngư chính và hải đội của mình vào vùng tranh chấp với Phi Luật Tân và Việt Nam, xẵng giọng với Nhật Bản vì hồ sơ Điếu Ngư Đài (Senkaku của Nhật). Hậu quả của sự chuyển hướng chủ động ấy là gây hấn với mọi quốc gia và càng khiến Hoa Kỳ có lý do chính đáng để xác định vị trí và sức mạnh trên vùng biển Thái Bình dương, từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Đấy là bài toán thứ ba.

Trên toàn cảnh, lãnh đạo Bắc Kinh còn thấy mình thất thế do chiến lược "vô tư trung lập".

Đặng Tiểu Bình từ bỏ chủ trương cách mạng toàn cầu và thường trực của Mao Trạch Đông và chấm dứt yểm trợ các phong trào cộng sản trên thế giới, nhất là tại Á Châu. Ông còn tích cực hơn vậy khi đưa ra lập trường trung lập: Trung Quốc không can dự vào tranh chấp của các nước, không liên minh với một phe để tấn công một phe thứ ba, và giữ thái độ vô tư với mọi phe.

Trong khi ấy, Hoa Kỳ tích cực phát triển quan hệ với một chuỗi quốc gia bán đảo, hải đảo hay quần đảo chung quanh lãnh thổ Trung Quốc, từ Nam Hàn, Nhật Bản đến nhiều nước Đông Nam Á qua tới Ấn Độ dương và Úc Đại Lợi. Kết cuộc thì Bắc Kinh thiếu bạn mà Mỹ lại có nhiều đồng minh! Lãnh đạo Bắc Kinh phải tính lại.

Trung Quốc bắt đầu xuất hiện như một đối tác đáng tin của quốc tế khi cần ngăn ngừa hải tặc hay khủng bố và tìm cách hợp tác với các nước, từ nhóm ASEAN+3 (với Nam Hàn và Nhật Bản), đến Pakistan và cả Ấn Độ. Nhưng làm sao xây dựng được sự khả tín với các nước khi Bắc Kinh cũng chủ động can thiệp và xác định sức mạnh của mình trong khu vực có tranh chấp? Đấy là bài toán thứ tư.

Chúng ta không đánh giá thấp khả năng biến báo của lãnh đạo Bắc Kinh, nhưng có thể tự hỏi vì sao họ rơi vào những mâu thuẫn khó gỡ và nay đang gặp bốn bài toán kể trên? Một giải đáp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này có thể tìm thấy ở bên trong nội tình Trung Quốc.

Lãnh đạo Bắc Kinh muốn áp dụng giải pháp ôn nhu để mời các nước - và doanh nghiệp quốc tế - cùng hợp tác và phát triển. Trong hợp tác, họ muốn các nước ít nhiều công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các vùng tranh chấp. Kết quả xảy ra trái ngược với dự tính: các quốc gia đều nghi ngờ và phản đối. Nhiều nước đối tác đã xoay ngược lập trường, như Phi Luật Tân dưới sự lãnh đạo của một Tổng thống khác, chứ không dễ mua dễ bảo như Gloria Macapagal-Arroyo.

Khi xẵng giọng và dùng sức mạnh quân sự bù đắp cho thế yếu về ngoại giao, nghĩa là tự lột trần bản chất bành trướng, Trung Quốc chỉ lung lạc nổi các nước nhỏ và yếu, ở ngoài vòng tranh chấp – như Lào hay Cam Bốt – nhưng gây phản ứng mạnh từ các nước khác.

Khi cần xoa dịu dư luận quốc tế và trở lại luận điệu ôn hoà thì lãnh đạo Bắc Kinh gặp phản ứng từ bên trong: ngư phủ Trung Quốc liều lĩnh lấy những rủi ro có thể dẫn tới xung đột và các tướng lãnh lại nhân cơ hội nhấn tới.

Trong khi chuẩn bị Đại hội 18 để đưa một thế hệ mới lên lãnh đạo Trung Quốc, đảng Cộng sản Trung Hoa cần xoa dịu sự bất mãn lan rộng của quần chúng bằng lý luận dân tộc cực đoan và bằng tư thế cường quốc trước diễn đàn quốc tế. Đồng thời, ngần ấy phe đang vận động ngầm ở bên trong để củng cố thế lực sau Đại hội 18 đều cần tới hậu thuẫn của quân đội. Và để các tướng lãnh lên giọng đề cao giải pháp bá quyền nước lớn!

Chính là những bất trắc nội bộ trong giai đoạn giao thời này, khi Bắc Kinh phải chuyển hướng đối ngoại, mới khiến Trung Quốc lâm thế kẹt. Đấy là bài toán thứ năm.

Bung ra thì bị thiên hạ tri hô và chặn cửa, thu vào thì gặp sự chống đối ở bên trong!



Kết luận


Trong phần thảo luận, chúng ta có thể góp ý về sự thể éo le này, về mối nguy của Trung Quốc và mối nguy cho Trung Quốc. Người viết chỉ xin tóm lược vào một chuyện là nghịch lý về thế và lực.

Mối nguy của Trung Quốc là cái thế bành trướng để kiểm soát lãnh thổ và lãnh hải xứ khác làm vùng trái độn quân sự cho mình. Mối nguy cho Trung Quốc là trên cái thế rất mạnh và đáng ngại đó, xứ này lại có cái lực rất yếu. Sự yếu kém đó xuất phát từ những mâu thuẫn bên trong về địa dư, kinh tế lẫn tổ chức và lý luận.

Trước hoàn cảnh đó, Việt Nam tính sao?

Câu hỏi này không nằm trong nội dung của đề tài và câu trả lời phải xuất phát từ mọi người Việt. Riêng người viết thì chỉ có vài ý kiến nhỏ nhoi để kết luận:

Những mục tiêu của Trung Quốc càng chứng minh là đảng Cộng sản Việt Nam không thể tồn tại. Người ta cứ tưởng mâu thuẫn quốc cộng đã kết thúc, nhưng ít ai ngờ rằng Trung Quốc đã kết thúc sự hoang tưởng của người Việt về chủ nghĩa cộng sản hay tương lai đảng Cộng sản sau 80 năm hiện hữu của đảng này. 

Còn lại, người Việt Nam phải tìm ra giải pháp kết thúc vấn đề Trung Quốc của Việt Nam - nó nằm tại Hà Nội - để cùng quốc tế giải quyết vấn đề Trung Quốc của thế giới.


Thứ Sáu, tháng 8 03, 2012

Dầu Khí và Ý Chí

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo 120803

Lặn Xuống Vực Sâu Mới Giải Phóng Được Cái Đầu Nông Cạn?


 * CNOOC đáng trống xuất quân - mũi nhọn "Hải dương Thạch khí *



Trung Quốc đang mở ra ba mũi công về ngoại giao, quân sự và kinh tế để khẳng định chủ quyền của mình trên thềm lục địa của Việt Nam. Nhưng mục tiêu của họ không chỉ có vậy, nên có thể tạo ra một cơ hội khác cho người Việt Nam. Một nghịch lý kỳ lạ....


Sau khi mở chiến dịch tấn công ngoại giao nằm tranh thủ và phân hóa lập trường của Hiệp hội ASEAN gồm 10 Quốc gia Đông Nam Á, với kết quả là quyết định trì hoãn đầy tính chất phá hoại của Cam Bốt tại các hội nghị vừa qua của ASEAN và diễn đàn Cấp vùng ARF của ASEAN, Bắc Kinh đã nhấn tới với việc nâng cấp bộ hành chánh và vị thế quân sự của thành phố Tam Sa cùng sự hiện diện của lực lượng hải giám.

Mũi nhọn ngoại giao được họ tăng cường bằng sức mạnh quân sự để khẳng định tư thế của Trung Quốc trên vùng biển Đông hải của Việt Nam, nơi mà chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang là mâu thuẫn giữa Trung Quốc, Đài Loan và các nước Đông Nam Á, đứng đầu là Việt Nam và Phi Luật Tân (Philippines).

Với hai mũi công về ngoại giao và quân sự, lãnh đạo Bắc Kinh vừa nhồi thêm một đòn kinh tế để khẳng định chủ quyền của mình trên vùng tranh chấp.

Ngày Thứ Hai 23 Tháng Sáu, tập đoàn dầu khí hải dương CNOOC chính thức mời các doanh nghiệp năng lượng quốc tế vào thăm dò và khai thác chín lô dầu trên một diện tích 160 ngàn cây số vuông. Khu vực đó bao trùm lên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, nơi có nhiều lô dầu cũng đang được thăm dò từ nhiều năm nay.

Sau khi công bố quyết định ấy, CNOOC vừa thông báo thêm rằng các doanh nghiệp ngoại quốc có một năm để cân nhắc lợi hại và tham gia đấu thầu việc thăm dò chín lô này, hạn chót là Tháng Sáu năm tới. Mục tiêu của "Chiến dịch CNOOC" là dùng mồi kinh tế nhử các tổ hợp dầu khí ngoại quốc vào liên doanh hầu mặc nhiên chấp nhận chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển đang tranh chấp với Việt Nam và Phi Luật Tân.

Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.

Vùng biển Đông Nam Á, Đông hải của Việt Nam hay South China Sea theo cách gọi thông dụng của quốc tế, là khu vực rộng lớn đến ba triệu rưởi cây số vuông và là nơi sinh hoạt của 600 triệu dân Đông Nam Á, hơn ba tỷ người từ Trung Quốc qua bán đảo Ấn Độ vì nối liền Thái bình dương với Ấn Độ dương.

Đây là cũng khu vực kinh tế trọng yếu của nhân loại vì là nơi vận chuyển hàng hóa liên lục địa, với trọng lượng khoảng 45% và giá trị là 35% của luồng giao dịch hàng hải toàn cầu. Khu vực này còn có các yếu hầu chiến lược là Eo biển Malacca và hai eo biển nhỏ hơn của Nam Dương (Indonesia) là Sunda và Lombok. Hàng hóa từ Đông qua Tây, từ Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan ở phía Bắc xuống tới Úc Đại Lợi phía Nam đều phải qua các dòng hải lưu này.

Ở dưới đáy, vùng biển Đông Nam Á có trữ lượng đã xác định khoảng bảy triệu thùng dầu thô và 900 ngàn tỷ thước khối khí đốt. Người ta còn mong là có thể tìm thêm được khoảng 190 tỷ thùng dầu, chưa nói đến và nhiều kim loại cần thiết cho kỹ nghệ, được gọi là "đất hiếm". Vì vậy, tập đoàn CNOOC đã tung ra 20 tỷ Mỹ kim để thăm dò ở dưới.

Chưa biết tiềm năng thực tế về dầu khí hay kim loại sẽ là bao nhiêu, có là một Saudi Arabia thứ nhì hay chăng, người ta không quên một thứ tài nguyên đã xác định là thủy sản. Đó là nguồn sống của mấy chục triệu người dân Việt Nam và Phi Luật Tân.

Khi đòi chủ quyền trên khu vực chiến lược đó qua "cửu đoạn tuyến" và mở ra mũi công ngoại giao, quân sự và kinh tế, tất nhiên là lãnh đạo Bắc Kinh nhắm vào tài nguyên kinh tế và mong là sẽ thỏa mãn từ 30 đến 40% nhu cầu năng lượng của mình. Nhưng họ không chỉ có mục tiêu kinh tề và đòn phép kinh doanh để nhờ lòng tham của các doanh nghiệp quốc tế mà xác định chủ quyền ngang ngược của mình trên vùng đặc quyền kinh tế của thiên hạ.

Lãnh đạo Trung Quốc muốn kiểm soát được dòng hải lưu và các hiểm lộ hàng hải trên vùng biển chiến lược này. Nghĩa là không chỉ xâm phạm chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên, họ còn muốn khống chế cả quyền tự do hàng hải của các nước.

Nhìn từ lịch sử lâu dài của đế quốc này, chúng ta nên nghĩ đến những mục tiêu sâu xa hơn. Đó là chiếm đoạt lãnh thổ của lân bang để biến thành vùng trái độn quân sự mà ngày nay họ gọi là "hạch tâm nghĩa lợi" - quyền lợi cốt lõi như một nghĩa vụ thiêng liêng và chính đáng. Việc thôn tính Tân Cương và Tây Tạng từ hơn nửa thế kỷ trước nằm trong chiều hướng đó. Việc đòi hỏi chủ quyền để kiểm soát vùng biển Đông Nam Á ngày nay chỉ là một tiếp nối và được hậu thuẫn bởi sức mạnh kinh tế và hải quân mà họ chưa từng có trong quá khứ.

Quan niệm phòng thủ truyền thống của Trung Quốc mang ý nghĩa tích cực và nguy hiểm hơn xưa: khu vực chiến lược này của Á châu phải là vùng trái độn quân sự mở rộng của Thiên triều.

Từ Eo biển Đài Loan xuống Eo biển Malacca qua tới Ấn Độ dương, cả một khu vực rộng lớn đó phải được Bắc Kinh kiểm soát để bảo vệ quyền lợi của mình trong lục địa và ngăn cản sự can thiệp hoặc quyền can thiệp của nước khác. Đó là khái niệm mà Ngũ giác đài của Hoa Kỳ gọi là A2/AD của Bắc Kinh ("anti-access" và "area-denial").

Phản ứng phòng thủ tích cực này có thể xuất phát từ quá khứ khi mà khu vực Trung Nguyên của họ trên các vùng châu thổ Hoàng hà và Dương tử lại bị các dị tộc tấn công, uy hiếp hoặc ba lần làm chủ trong nhiều thế kỷ như đã từng thấy trong lịch sử. Nhưng thế giới ngày nay đã đổi khác.

Quyền tự do vận chuyển cùng với quyền khai thác tài nguyên ngoài biển cả là hai khái niệm đã được quốc tế công nhận và thực tế là được đệ nhất siêu cường hải dương là Hoa Kỳ bảo vệ.

Một khía cạnh đáng chú ý khác là nếu tại khu vực Đông Bắc Á, quốc tế gọi là East China Sea, Trung Quốc đối diện với các nước hùng mạnh như Liên bang Nga, Nam Hàn, Nhật Bản, hoặc không hãi sợ như Đài Loan, tại vùng biển Đông Nam Á, họ gặp các nước nhỏ yếu và thiếu thống nhất trong Hiệp hội ASEAN, một câu lạc bộ kinh tế không hơn không kém.

Vì vậy, vùng biển này mới là nơi Bắc Kinh thấy là dễ khống chế bằng phương pháp mua chuộc đi cùng hăm dọa theo kiểu "bẻ đũa từng chiếc" hay "Phần Lan hóa" tập thể ASEAN: trung lập hóa để hóa giải phản ứng của cả tập thể.

Nhưng cũng chính vì thế mà quyết định của Bắc Kinh mới trực tiếp đe dọa quyền lợi của hầu hết các quốc gia bán đảo hay hải đảo ở chung quanh, từ Ấn Độ qua các nước Đông Nam Á xuống tới Úc và lên tới Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn. Đâm ra Trung Quốc đang xác nhận một điều mà Hoa Kỳ khẳng định từ lâu và ngày nay các nước đều công nhận là cần thiết: Hoa Kỳ là cường quốc Á Châu, có nhiệm vụ bảo đảm quyền tự do vận chuyển dân sự và quân sự trên các dòng hải lưu ("sea lines of communication" – SLOCs).

Trước thái độ và hàng động ngang ngược của Trung Quốc qua mũi nhọn CNOOC, các quốc gia có tranh chấp bị đặt trước những chọn lựa bất toàn.

Hoặc là bọc xuôi theo Thiên triều đỏ, nuốt hận mà liên doanh với CNOOC và các tổ hợp quốc tế để được chia lại một chút tài nguyên về năng lượng trong một khu vực mà mình có một phần chủ quyền. Cho đến Tháng Sáu vừa qua, doanh nghiệp Philex Petroleum của Phi còn thương thảo với CNOOC về việc thăm dò và khai thác dầu khí trên khu vực Reed Bank đang có tranh chấp với Trung Quốc. May mà sự hung hăng của Bắc Kinh đã khiến Chính quyền Manila nghĩ lại. Và phản ứng chống đối Trung Quốc của người dân Phi Luật Tân có thể phá vỡ sự thoả hiệp đó khiến Chính quyền càng phải tìm ra một thế đấu tranh khác.

Chọn lựa thứ hai là mời các quốc gia đệ tam vào cùng thăm dò các lô dầu đang bị Bắc Kinh nhòm ngó và đòi nuốt chửng. Thí dụ như Việt Nam có dự án khí đốt tại Nam Côn Sơn và hai lô dầu 127 và 128 đã liên doanh với tập đoàn ONGC Videsh Ltd. của Ấn từ năm 2006. Ngày nay, lãnh đạo Hà Nội có thể nghĩ đến các tập đoàn năng lượng của các nước khác. Nhưng giải pháp ấy gặp hai bất lợi là trình độ công nghệ quá thấp của kỹ thuật thăm dò năng lượng dưới đáy biển và trình độ tham nhũng quá cao của đảng viên cán bộ trong đảng. Xin hãy nhớ đến trình độ kỹ thuật và tham ô của "quả đấm thép" Vinashin.

Một chọn lựa khác là ráo riết học bài để nâng cấp vể kỹ thuật đào dầu dưới biển. Tới nay, các tập đoàn dầu khí của Hà Nội đã lập dự án đầu tư khoảng 600 triệu Mỹ kim cho nhu cầu đó. Nhưng thực tế thì Việt Nam mới chỉ mon men ở vùng nước nông với các dàn khoan chưa đủ sức cạnh tranh với dàn CNOOC 981 có khả năng lặn sâu 3.000 thước để tìm dầu dưới độ sâu 12.000 thước.

Thật ra, yếu tố cần thiết cho Việt Nam không chỉ là tiền bạc và thời giờ học bài mà còn là ý chí.


***


Những quyết định dồn dập của Trung Quốc đang gây ra nguy cơ mâu thuẫn và xung đột tại một khu vực chiến lược cho kinh tế thế giới. Không quốc gia nào muốn có tranh chấp vào lúc này, ở khu vực đó, nhưng ngần ấy quốc gia liên hệ đều thấy tương quan nhân quả, cái nguyên nhân gây bất ổn, cho thế giới. Cái nhân đó nằm tại Bắc Kinh.

Lý do nội bộ có thể là sự hung hăng của các tướng lãnh trong tình trạng lúng túng của lãnh đạo trước khi có Đại hội 18, hay những toan tính sâu xa của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chuyện ấy thật ra không quan trọng bằng ấn tượng phổ biến của các nước, rằng Trung Quốc đang gây vấn đề chứ không là một quốc gia biết điều có khả năng hợp tác để cùng giải quyết thiên hạ sự theo đúng công pháp quốc tế.

Ấn tượng đó của thế giới cùng trùng hợp với nhận thức của người Việt Nam. Rằng đảng Cộng sản Việt Nam mới là vấn đề từ nhiều năm nay khi cho phép Trung Quốc nắm dao đằng chuôi.

Sau những hiệp định mờ ám để nhường chủ quyền cho Trung Quốc trên đất liền từ hơn chục năm trước, Tháng Năm năm 2009, Hà Nội nộp cho Liên hiệp quốc một hải đồ bên trong đã các nhận 3/4 vùng biển Hoàng Sa và 4/5 vùng biển Trường Sa là không thuộc về Việt Nam. Nghĩa là có thể và đã bị Trung Quốc đòi là của mình.

Nhìn lại thì 80 năm sau ngày lập đảng tại Hong Kong, và nửa thế kỷ chinh chiến oan uổng ngụy danh là cách mạng và giải phóng đã dẫn tới ngày nay. Là khi tiềm lực của đất nước bị suy yếu trước sự ngang ngược của Bắc Kinh. Phản ứng tất nhiên của quốc tế có thể mua được một khoảng thời gian cho Việt Nam xoay trở và nhất là cho người dân ý thức được vấn đề mà suy nghĩ lại. Việt Nam cần có ý chí bảo vệ quyền lợi của tổ quốc. 

Ý chí ấy khởi đầu từ vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, nằm tại Hà Nội, đó là đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, bài toán không là xuống vực sâu để tìm dầu hay tranh đoạt chủ quyền trên mặt biển mà là thay đổi tư duy về đảng Cộng sản Việt Nam. Chính là các đảng viên nên khởi đầu cái quyết định cần thiết ấy. Và đừng đàn áp người dân nữa.

Thứ Tư, tháng 8 01, 2012

Dầu Khí trên Thương Trường và Chiến Trường

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120801

 Muốn biến thương trường thành chiến trường, Trung Quốc sẽ gặp chiến hạm



* Giàn khoan dầu nước sâu của tập đoàn dầu khí CNOOC của Trung Quốc 
đang rời cảng Thanh Đảo, phía đông Trung Quốc tiến ra Biển Đông. 
Ảnh chụp hôm 21/5/2012 của AFP *


Hồ sơ CNOOC-Nexen


Nhân chuyến thăm viếng Liên bang Nga vừa kết thúc của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, giới quan sát quốc tế đã đồn đoán về nội dung thảo luận giữa Việt Nam và Nga liên quan đến việc sử dụng Cam Ranh, như một căn cứ hải quân của Nga hay chỉ là một cơ xưởng bảo trì tầu bè của quốc tế.  

Cùng lúc đó, tại Hoa Kỳ đã có cuộc tranh luận về việc tập đoàn dầu khí hải dương CNOOC dạm mua công ty Nexen của Canada để làm chủ nhiều giếng dầu của Mỹ nằm trong Vịnh Mexico và việc Ấn Độ sẽ không rút khỏi dự án thăm dò lô dầu 128 với Việt Nam và gây mâu thuẫn với Trung Quốc vì địa điểm thăm dò lại là một trong chín lô mà tập đoàn CNOOC vừa mời quốc tế vào khai thác.

Giữa bối cảnh đầy căng thẳng tại vùng biển Đông Nam Á do thái độ gần đây của nhà cầm quyền Trung Quốc, dường như các quốc gia đang có một phản ứng về các hồ sơ có vẻ kinh tế mà lại có nội dung liên hệ đến an ninh. Diễn đàn Kinh tế sẽ tổng hợp và phân giải các yếu tố phức tạp này.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Trên thương trường quốc tế, trong tuần qua ta thấy nổi lên hàng loạt hồ sơ về năng lượng giữa các tập đoàn dầu khí và các chính quyền mà điểm đồng quy của ngần ấy chuyện đều liên hệ đến Trung Quốc và tập đoàn dầu khí hải dương CNOOC. Với tin tức dồn dập và khá phức tạp như vậy, chúng ta có thể khó nhìn ra mối nhân quả, cái gì là nguyên nhân và cái gì là kết quả, của các hồ sơ cứ tưởng như thuộc lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, xin ông tổng kết về toàn cảnh trước khi ta phân tích nội dung đích thực của các hồ sơ này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng chúng ta quả là đứng trước một thứ mê hồn trận với cả chục yếu tố chằng chéo về cả kinh tế lẫn an ninh, cho nên nếu có trình bày lại toàn cảnh thì cũng là điều có ích. Từ đó, may ra mình mới có thể phân tích hay phân giải nội dung để phăng ra một chuỗi tương quan nhân quả như ông vừa hỏi.

- Trước hết, có một chuyện tưởng là đã cũ mà đang thành mới. Tập đoàn dầu khí Ấn Độ ONGC Videsh có nhiều dự án thăm dò năng lượng với Việt Nam, như khí đốt tại Nam Côn Sơn và hai lô dầu 127 và 128 được ký kết từ năm 2006. Cách đây hai tháng, khi thấy đầu tư tốn kém mà chưa có triển vọng, tập đoàn Videsh quyết định rút khỏi lô 127 và cân nhắc lại về lô 128 và hai lô đó nằm trong khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

- Ngày 25 Tháng Sáu, tập đoàn CNOOC của Trung Quốc lại mời quốc tế vào thăm dò để sẽ khai thác chín lô dầu ngay tại khu vực này và thực tế còn đưa hải quân vào hỗ trợ quyết định ngang ngược đó. Lô 128 mà Việt Nam và Ấn Độ đang thương thuyết lại cũng bị dìm vào một phần của lô Danwan 22 mà CNOOC vừa rao bán. Tuần qua, phía Ấn Độ liền có phản ứng, là chưa chắc đã rút khỏi lô 128 mà còn kêu gọi các nước không chỉ tôn trọng quyền lưu thông ngoài biển mà phải bảo vệ quyền khai thác tài nguyên theo luật lệ quốc tế. Đấy là một chuyện cho thấy kết quả của việc CNOOC đòi khai thác tài nguyên trong một khu vực của Việt Nam.

Vũ Hoàng: Tức là Trung Quốc vừa gây ra một phản ứng trên thương trường và phản ứng đó của Ấn Độ không chỉ thu gọn vào tính toán kinh doanh lời lỗ mà còn có nội dung ngoại giao nữa. Hồ sơ thứ hai cũng liên quan đến tập đoàn CNOOC này là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa:-  Cùng lúc với việc Ấn Độ cân nhắc lợi hại về kinh tế và ngoại giao trong dự án liên doanh với Việt Nam, hôm Thứ Hai 23 Tháng Bảy, tập đoàn CNOOC dạm mua tổ hợp dầu khí Nexen của Canada với giá cao hơn giá trị trường đến hơn 60%.

- Đề nghị này nhắm vào nhiều mục tiêu kinh tế, xin được tóm lược như sau. Nếu CNOOC làm chủ Nexen, Trung Quốc sẽ thụ đắc trình độ kỹ thuật gần như các tổ hợp số một của quốc tế như Shell hay ExxonMobile. Thứ hai, nhờ kiến năng hiện đại của các doanh nghiệp Bắc Mỹ để gạn đá ra dầu và khí đốt, Trung Quốc có thể khai thác được tiềm năng này của mình ở nhà. Thứ ba, từ nay Trung Quốc có thể bung ra thụ đắc các giếng dầu hay khí đốt trên toàn cầu và làm chủ nhiều giếng dầu khí của thế giời. Và thứ tư, nhờ đó họ có thể chi phối sản lượng và ảnh hưởng tới giá dầu trên thế giới, thay vì thụ động chấp nhận cái giá lên xuống của thị trường.

- Nhưng tính toán đầy tham vọng đó của CNOOC cũng lại gây phản ứng, lần này là từ phía Hoa Kỳ. Hôm Thứ Sáu 27 vừa qua, các giới chức trong Quốc hội Mỹ yêu cầu chính quyền cứu xét đề nghị này. Lý do cứu xét là vì Nexen hiện đang khai thác nhiều giếng dầu của Mỹ nằm trong Vịnh Mexico và nếu tổ hợp này được bán cho CNOOC thì Trung Quốc sẽ là chủ đầu tư và khai thác các giếng dầu đó của Hoa Kỳ. Hai cơ quan là Hội đồng Kiểm soát Chứng khoán SEC và Ủy ban Đầu tư Nước ngoài thuộc Bộ Ngân khố Mỹ đang chú ý về hồ sơ CNOOC-Nexen đó. 

Quân cảng Cam Ranh  


pb-120604-panetta-vietnam-ps1-250.jpg
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta thăm cảng Cam Ranh tháng 6/2012. AFP photo


Vũ Hoàng: Xin hỏi thêm một câu thưa ông, vì sao Canada có thể cho một tập đoàn Trung Quốc mua tổ hợp Nexen? Hiển nhiên là CNOOC và Nexen đã thỏa thuận trước khi thông báo việc dạm bán đó, trong lúc ấy, chính quyền Canada nghĩ gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khác với tập đoàn Videsh của Ấn Độ là một công ty quốc doanh, Nexen của Canada là doanh nghiệp tư nhân có hội sở tại tỉnh Alberta. Luật lệ Canada cho phép tư doanh và các địa phương thẩm quyền quyết định về các dự án có lợi cho kinh tế. Ban đầu, Canada đã muốn bán dầu khí ở Alberta và ngoài thềm lục địa cho Hoa Kỳ và dự án thiết lập một mạng lưới những ống dẫn dầu và khí đốt của Canada cho các tiểu bang Mỹ đã được nghiên cứu.

- Không may là dự án Keystone Pipelines này lại bị Chính quyền Barack Obama bác bỏ vì e ngại về môi sinh. Quyết định bất ngờ ấy của Mỹ khiến Canada thất vọng trong khi CNOOC đang dạm mua dầu khí Canada và tổ hợp Nexen. Bây giờ, nếu CNOOC lại làm chủ các giếng dầu Mỹ thì Hoa Kỳ có khi tính lại, hoặc sẽ đặt ra điều kiện với Trung Quốc để tìm mối lợi khác. Ta không quên là năm 2005, CNOOC đòi mua tổ hợp dầu khí UNOCAL của Mỹ mà sau cùng phải kín đáo rút lui vì sự phản đối của Ủy ban Đầu tư Nước ngoài và của Quốc hội Mỹ. Lần này, họ đi đường vòng để không chỉ mua dầu mà còn mua công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí dưới đáy biển.

Vũ Hoàng: Bây giờ đến chuyện Liên bang Nga và dự án Cam Ranh. Chúng ta có thấy một viên tướng Hải quân Nga nói đến việc sử dụng hải cảng này như một quân cảng cho Hải quân Nga. Nhưng Bộ Quốc phòng Nga lập tức điều chỉnh lời tuyên bố và ông Trương Tấn Sang xác nhận rằng đôi bên nghiên cứu việc lập ra một cơ xưởng bảo trì tầu bè mà thôi. Cách đây hai tháng, Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ đã thăm viếng Cam Ranh là nơi mà một tầu vận chuyển dân sự của Mỹ do Hải quân sử dụng đang được bảo trì. Bây giờ, đến lượt Nga lại chú ý và nghĩ đến việc trở lại căn cứ này. Tất nhiên là dư luận thế giới đã theo dõi và nghĩ đến sự hiện diện đầy đe dọa của Trung Quốc. Ông đánh giá thế nào về chuyện đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vị trí địa dư và hình thể của Cam Ranh có tính chất chiến lược về quân sự nên hải cảng này đã được thực dân Pháp chú ý từ thế kỷ 19. Cam Ranh thực tế đã là căn cứ của Nga trước cuộc chiến Nga-Nhật năm 1905, rồi của Nhật trong Thế Chiến II, rồi là căn cứ hải quân và chủ yếu là không quân của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam. Sau đó, Cam Ranh cũng trở thành bàn đạp cho Hạm đội Xô viết trong khu vực Đông Nam Á. Kết cuộc thì Việt Nam có một báu vật trời cho mà nhiều nước thèm thuồng vì những mục tiêu riêng của họ.

- Tôi thiển nghĩ đáng lẽ Việt Nam nên tân trang căn cứ này thành một trung tâm kinh tế hiện đại, mở ra cho các nước cùng khai thác về cả dân sự lẫn quân sự. Khi ấy, vì quyền lợi của họ, các nước đều phải tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và hợp tác trong tinh thần bình đẳng. Nhưng lãnh đạo Việt Nam đã lỡ cơ hội và theo đuổi ưu tiên khác, thí dụ như quả đấm thép Vinashin và những lỗ hổng khổng lồ trong hệ thống phòng thủ, trong khi Cam Ranh cứ thế mà tụt hậu.

- Bây giờ, có lẽ Việt Nam đang tính lại và nhìn vào Cam Ranh như một lợi thế để mời người này hay can gián người kia và đung đưa giữa hai mục tiêu kinh tế và an ninh. Nhưng sau khi Hà Nội nộp Liên hiệp quốc tấm bản đồ đầy bất lợi về chủ quyền của mình trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào Tháng Năm năm 2009, tơi nghĩ rằng lãnh đạo Hà Nội đã cho Trung Quốc nắm dao đằng chuôi nên e là Cam Ranh cũng chẳng cứu được Hoàng Sa hay Trường Sa. Bây giờ họ mới nghĩ đến Mỹ, đến Nga, đến Ấn Độ hay Nhật Bản...

Vũ Hoàng: Chúng ta có thể đi qua phần hai là phân tích lại mục tiêu chính và phụ, kinh tế hay an ninh, của ngần ấy hồ sơ phức tạp. Ông nhận xét như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta cứ nói về triển vọng kinh tế lớn lao của vùng biển Đông Nam Á với khả năng tìm ra mấy chục tỷ thùng dầu hay mấy ngàn tỷ thước khối khí đốt ở dưới đáy. Thật ra mối lợi kinh tế về năng lượng mới chỉ là dự đoán và đòi hỏi đầu tư rất tốn kém, như Videsh của Ấn Độ đã mất 45 triệu đô la mà chưa thấy kết quả nên mới tính đến chuyện bỏ cuộc.

- Chuyện thứ hai, rất quan trọng cho Việt Nam chính là nguồn thủy sản cho mấy chục triệu dân sống tại vùng duyên hải. Người ta cứ nghĩ đến những dàn khoan đào dầu mà chưa thấy dầu trong khi lại quên số phận ngư phủ và khu vực sản xuất thủy sản rất thiết thực của quốc gia.

- Chuyện thứ ba, nói về việc khai thác dầu khí dưới đáy biển thì yếu tố sinh lời và an toàn tất nhiên nằm trong sự cân nhắc của mọi đối tác. Trung Quốc đang chiếm ưu thế về công nghệ và tài chính để chiêu dụ các nước và đẩy Việt Nam ra ngoài. Nhưng mục tiêu của họ chưa hẳn là lấy dầu dưới biển mà là nhờ các doanh nghiệp quốc tế vào tìm dầu sẽ mặc nhiên hợp thức hóa việc chiếm đóng phi pháp của ắc Kinh. Họ bổ xung thế yếu về pháp luật nếu chiếu theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển bằng mối lợi kinh tế sẽ chia chác với các nước.

- Nhưng vì chủ quan với sức mạnh hải quân ngụy danh hải giám để hỗ trợ việc ăn cướp, lãnh đạo Bắc Kinh lại khiến các nước cân nhắc lại sự lợi hại của an ninh và kinh tế. Bắc Kinh đang biến thương trường thành chiến trường nên có thể gặp phản ứng dội ngược của quốc tế.

 

Ứng xử ra sao  



000_Del512725-250.jpg
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (T) bắt tay Thủ tướng Ấn Đô Manmmohan Singh tại New Delhi hôm 12 tháng 10 năm 2011. AFP photo  


Vũ Hoàng: Thưa ông, trong hoàn cảnh đó thì các nước trong cuộc sẽ tính sao, nên làm gì để bảo vệ được quyền lợi của mình?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói theo lối dí dỏm kiểu Mỹ thì việc đó vượt quá mức lương của tôi! Thực tế thì chỉ có thể suy đoán theo cái nhìn hạn hẹp của mình mà thôi.

- Trước hết, những đòn phép kinh tế của Trung Quốc mà chúng ta đã phân tích kỳ trước trong bài "Võ khí Kinh tế" lại dẫn tới hậu quả ngược. Trên vùng biển Đông Nam Á, Trung Quốc gặp các đối thủ nhỏ yếu và dùng kinh tế để mua chuộc và sức mạnh để hăm dọa từng nước theo kiểu bẻ đũa từng chiếc. Nhưng kết quả của đòn ly gián này đang khiến Hiệp hội ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á thấy ra sự bất lực của tập thể nên ta mới có phản ứng khá mạnh của Indonesia và Philippines với Cam Bốt, bị quy trách là quân cờ của Trung Quốc trong cục diện Đông Nam Á. Khi Ấn Độ cũng nhảy vào cuộc qua dự án Videsh, mình thấy ra nhiều trở ngại sắp tới cho Trung Quốc. Các nước nhìn ra bàn tay cầm súng và chi tiền của Bắc Kinh.

- Khi dùng thủ thuật CNOOC, Trung Quốc đặt các nước đối thủ như Việt Nam hay Philippines trước hai chọn lựa. Một là hợp tác với CNOOC trong chín lô dầu đó và đành chịu mất chủ quyền để còn được chia chác một mối lợi nhỏ hơn, thay vì mất hết cả chì lẫn chài. Hai là mời một quốc gia đệ tam vào cùng khai thác để phần nào được bảo vệ. Có lúc Philippines thiên về giải pháp thứ nhất là liên doanh với CNOOC. Nhưng bây giờ thì họ sẽ ngần ngại và dân chúng sẽ phản đối rất mạnh. Việt Nam thì thiên về giải pháp thứ hai, qua liên doanh với Ấn Độ và có thể là nhiều xứ khác, như Nga, Mỹ, Âu, Nhật. Giải pháp đó bị Bắc Kinh tìm cách phá vỡ, thí dụ như qua việc phản đối và hăm dọa Ấn Độ. Kết quả hình như xảy ra trái ngược như ta đã thấy.

- Sau cùng và nhìn trên toàn cảnh, các doanh nghiệp quốc tế đều đang cân nhắc về triển vọng đào dầu trong tương lai, sau những đầu tư rất tốn kém mà kết quả thì chưa đảm bảo. Chuyện có lời sau này thì chưa thấy đâu nhưng ngay trước mắt, họ lại e ngại về sự an toàn vì thái độ hung hăng của Trung Quốc. Khi biến thương trường thành chiến trường như vậy, Trung Quốc đang mời các chiến hạm đi vào vùng nước đục, trong khi các doanh nghiệp đứng ngoài chờ đợi.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, Việt Nam nên ứng xử ra sao trong hoàn cảnh đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thật chẳng biết là lãnh đạo Việt Nam có muốn ứng xử hay không vì những mâu thuẫn sâu xa trong nội bộ của họ là nên theo voi hít bã mía hay nên trở lại với quyền lợi dân tộc. Lý do là họ vẫn đàn áp người biểu tình chống Trung Quốc. Nếu Việt Nam lại muốn bọc xuôi như Căm Bốt thì mình có nói gì cũng thừa. Có lẽ ta nên đợi xem lãnh đạo Hà Nội bày tỏ được một chút đởm lược khi các nước đều đang nghĩ lại đối sách với Trung Quốc và muốn biết rằng Việt Nam đứng ở đâu.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.