Chủ Nhật, tháng 8 12, 2012

Từ Hợp Phì Tới Bắc Đới Hà

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày Nay Houston  Ngày 120810

Tư Bản Thân Tộc Và Vi Trùng Độc Tài Tại Trung Quốc


 * Cốc Khai Lai 2012 - Giang Thanh 1980 *



Đúng sáu tháng sau những biến động tại Trùng Khánh, người ta nhìn vào một kết quả là phiên tòa xét xử bà Cốc Khai Lai tại Hợp Phì về tội giết người. Được yêu cầu bình luận về vụ án này, bỉnh bút Nguyễn Xuân Nghĩa cười cười nói chuyện Bắc Đới Hà! Sau đây là bài phân tách của ông...


Cốc Khai Lai là bà vợ của nguyên Bí thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Cả hai đều là con cháu đại công thần của đảng Cộng sản Trung Hoa, là Bạc Nhất Ba và Cốc Cảnh Sinh. Sự nghiệp kinh doanh của vợ lẫn chính trị của chồng đều có vẻ thăng tiến với thành tích của họ Bạc tại thành phố Trùng Khánh trong tỉnh Tứ Xuyên.

Gia tăng công chi của địa phương cho sự phát triển hài hòa của thành phố, Bạc Hy Lai đã thổi lên huyền thoại - sự kiện không thật mà cứ được loan tuyền - về "mẫu mực Trùng Khánh". Một mô hình phát triển có thể áp dụng trên toàn quốc. Chuyện nhảm nhí này là bất khả vì ngân sách nhà nước và bộ máy hành chính công quyền không thể cưu mang nổi một kế hoạch nhiêu khê tốn kém như vậy. Nhưng chẳng sao.

Người ta mới chỉ ở vào giai đoạn thử nghiệm và Trùng Khánh chỉ là thí điểm cho trung ương, nơi tiếp nhận những tin tốt để lưu truyền ra cả nước. Loại tin xấu thì cùng nhau ém nhẹm.

Nhưng Bạc Hy Lai còn tính xa hơn vậy.

Thi hành một chính sách kinh tế mị dân và thiên tả để lấy quan điểm quần chúng, vốn dĩ u mê nên mới tưởng nhà nước sẽ bao biện được mọi chuyện cho mọi người, ông đóng chốt bên cánh hữu bằng khẩu hiệu "thanh hồng đả hắc".

"Thanh hồng" là ngợi ca, và ca hát, tinh thần dân tộc trên giai điệu cách mạng đỏ lè của Mao Trạch Đông. "Đả hắc" là diệt trừ các tổ chức tội ác và tay chân của băng đảng trong bộ máy công quyền. Với thành tích đó, lại là con trai của một viên tướng lừng danh, Bạc Hy Lai huy động được hẫu thuẫn của cánh "tân tả", các phần tử cực đoan và bảo thủ trong giới trí thức và quân đội.

Là một đạo diễn có tài, Bạc Hy Lai lại còn biết diễn xuất với phong cách láng lẩy của một chính trị gia Tây phương. Đẹp trai và tân tiến như John Kennedy, họ Bạc có bà vợ phụ diễn nhiều màn diễm lệ chẳng khác nàng Jacqueline.

Trong khi ấy, trước sau như một - trước là khi còn làm Bí thư Đại Liên rồi Bí thư Liêu Ninh, sau là khi về cai quản Trung Khánh, ở giữa là ba năm làm Bộ trưởng Thương mại - Bạc Hy Lai xây dựng được hệ thống tư bản thân tộc. Đây là mạng lưới gồm các thân chủ và gia tộc để Cốc Khai Lai và chị em cùng đi bắt cá, thành doanh gia nổi tiếng và có thế giá, dưới ô dù của ông chồng.

Sự nghiệp vẻ vang ấy giúp Bạc Hy Lai chuẩn bị tiến lên, từ Ủy viên Bộ Chính trị có 25 người vào tới Thường vụ Bộ Chính trị có chín người quyền thế nhất nước.

Nhưng trời xanh có mắt.


***


Số là một kẻ thân tín dưới trướng họ Bạc từ thời còn ở Đại Liên và Liêu Ninh bỗng dưng nghĩ lại về bà nhà. Là Bí thư đảng bộ Công an của Trùng Khánh, Giám đốc Công an kiêm Phó thị trưởng, võ sĩ Vương Lập Quân gốc Mông Cổ thấy ra nhiều điều khuất tất của Cốc Khai Lai, nhất là trong một vụ giết người. Và có lẽ dại dột trình lên thượng cấp, nên mới gặp họa vì rờ trúng cái vẩy ngược của con rồng.

Vì vậy, hôm mùng sáu Tháng Hai, Vương Lập Quân mới từ Trùng Khánh lẻn về thủ phủ Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên để xin tỵ nạn trong toà Tổng lãnh sự Hoa Kỳ. Nội vụ đổ bể từ đó.

Bạc Hy Lai mất chức Bí thư, ra khỏi Bộ Chính trị và cả Trung ương đảng. Cốc Khai Lai bị điều tra chẳng vì tội danh tham nhũng hoặc hối mại quyền thế mà vì đã âm mưu đầu độc một doanh gia thân tín người Anh là Neil Heywood. Không chỉ âm mưu, Cốc Khai Lai có thể đã cùng viên quản gia Trương Hiếu Quân nhét thuốc độc vào họng của một kẻ thân tín đã dám nghĩ khác và nguy trang vụ ám sát tai nạn về uống rượu quá độ.....

Từ hôm Thứ Năm mùng chín vừa qua, Cốc Khai Lai mới đứng trước vành móng ngựa và có thể bị kết tội sát nhân. Vì lý do giảm khinh là để bảo vệ cậu quý tử Bạc Gia Gia trước mối đe dọa của tay doanh gia kiêm tình nhân bí hiểm này chăng? Nội vụ còn ly kỳ hơn một truyện trinh thám chính trị! Nhưng hình như quần chúng vẫn dửng dưng, ít ai theo dõi chuyện này.

Người Trung Hoa được miễn nhiễm vì đã quá quen với những kỳ tích của nàng Tề Khương thời Chiến Quốc, mụ Lã Trĩ của Lư Bang, Hoàng đế Võ Tắc Thiên đời Đường hay Từ Hy Thái hậu nhà Đại Thanh, và mới nhất là ả Giang Thanh của họ Mao. Đã quá quen chuyện phụ nữ dâm ác và quyền thế trong lịch sử của họ nên không mấy ai ngạc nhiên về hành vi của Cốc Khai Lai. 

Vả lại, họ Cốc chỉ là cái cớ.

Rồi người ta có thể đồn đoán về phán quyết sắp tới của Toà án Hợp Phì. Cho vui.

Giữa chánh phạm Cốc Khai Lai và tòng phạm Trương Hiếu Quân, ai sẽ bị tội nặng hơn? Tử hình hay không, và nếu là án tù chung thân thì giảm khinh được bao nhiêu năm? Phán quyết theo cách nào thì cũng vẫn có gì đó không ổn! Quít làm cam chịu hay sao? Chuyện không chỉ có vậy.

Giữa Cốc Khai Lai và Bạc Hy Lai, ai mới là người đáng ra toà? Lý nào mà họ Bạc lại chẳng biết gì về hành vi của bà vợ? Nhưng giữa một vụ án về hình sự của họ Cốc và một vụ án về chính trị của họ Bạc, chuyện gì là chính và chuyện gì là phụ? Nếu tiến xa hơn Cốc Khai Lai để lên tới Bạc Hy Lai, chế độ sẽ xoay trở thế nào với phản ứng của các phe nhóm khác?

Với hậu quả ra sao cho hệ thống chính trị Trung Quốc?

Chúng ta trở về chuyện "tư bản thân tộc", "crony capitalism" - hay "tư bản đái quần" nói theo người Hoa.

Hiện tượng thân tộc đã có từ ngàn xưa và chẳng là độc quyền của một nền văn hoá. Tư bản thân tộc cũng xuất hiện ở mọi nơi, kể cả cái nôi của chủ nghĩa tư bản và thể chế dân chủ là xứ Hoa Kỳ này. Hãy nhìn thấy quan hệ mờ ám của doanh nghiệp với nhiều giới chức dân cử khi nhà nước can thiệp vào kinh tế và chọn mặt gửi vàng cho các doanh gia hào phóng với quỹ tranh cử chẳng hạn. Nhưng trường hợp nhà nước trắng trợn can thiệp chỉ là ngoại lệ. Và khả năng giám sát của luật pháp lẫn phản ứng của truyền thông vẫn giới hạn được vi trùng ung nhọt của tư bản thân tộc.

Tại các xứ độc tài thì không. Tại các nước độc tài mà mị dân thì còn khó hơn nữa. Trung Quốc là một thí dụ tiêu biểu.

Chính là hệ thống kinh tế chính trị của đảng Cộng sản mới khiến những kẻ gian ác có thể tiến rất sâu và leo rất cao vào các trung tâm quyền lực. Chẳng phải ngẫu nhiên mà "Thái tử đảng", thành phần con ông cháu cha của các đại công thần cách mạng, mới trở thành những trung tâm quyền lực và cấu kết có thế lực nhất về cả tiền tài lẫn chính trị. Với những tệ nạn lâu lâu mới được bạch hóa một lần.

Đại hội 18 sắp triệu tập có thể là cái duyên khiến vụ khủng hoảng Trùng Khánh và hồ sơ Bạc-Cốc bùng nổ vào lúc này. Nhưng cái nhân thì đã có từ lâu.

Cho nên, dù Cốc Khai Lai có đứng trước vàng móng ngựa của Toà án Hợp Phì, chính là hệ thống chính trị Trung Quốc mới bị xét xử. Và người ta không tin vào khả năng cải thiện của chế độ vì trong khi bi kịch Cốc Khai Lai đang khai diễn tại Hợp Phì thì một hài kịch khác lại mở màn ở Bắc Đới Hà.


***


Đây là một trung tâm nghỉ mát của các lãnh tụ Trung Quốc để tránh khí trời oi ả đầy bụi cát vàng tại Bắc Kinh vào mùa Hè.

Từ Mao Trạch Đông qua Đặng Tiểu Bình cho đến sau này, hàng năm cứ đến mùa Hè, vào Tháng Bảy Tháng Tám, các lãnh tụ chính thức hay thực sự đương quyền đều lui về Bắc Đới Hà để có kín đáp hội họp bên bờ biển Bột Hải. Họ lấy những quyết định hệ trọng, nhất là về nhân sự, mà không qua thủ tục vốn dĩ đã mờ ám trên thượng tầng đảng, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư hay Ban chấp hành Trung ương.

Họ giải quyết chuyện quốc kế dân sinh hay bố trí tay chân phe phái trong sự mờ ảo này.

Từ khi lên lãnh đạo vào đầu năm 2003, Hồ Cẩm Đào hủy bỏ hủ tục đó để phần nào minh bạch hóa các quyết định qua cơ chế chính thực. Mục đích chính là để Thái thượng hoàng Giang Trạch Dân khỏi có cơ hội cấy thêm tay chân trong hệ thống chính trị của mình.

Vì thế, trong cả chục năm mới chỉ có ba lần dàn dựng hài kịch Bắc Đới Hà. Hai lần trước là vào năm 2007 trước Đại hội 17 và vào năm 2011. Lần thứ ba là năm nay, trong tháng này vì chính Hồ Cẩm Đào cũng sẽ thành Thái thượng hoàng. Một trong các mục tiêu của loại hội kín ở Bắc Đới Hà là để các lãnh tụ ngã giá về những bố trí nhân sự sau Đại hội 18. Ai lên ai xuống, ai đi ai ở?

Phó Chủ tịch Tập Cận Bình hay Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường, hai lãnh tụ thuộc thế hệ lãnh đạo thứ năm sau Đại hội 18 này, sẽ cất nhắc những ai, nhờ hậu thuẫn của những ai?

Những ai đây là các nhân vật thần thế trong Thái tử đảng, Đoàn phái, Cánh Thượng hải, phe Thanh Hoa, các tướng lãnh trong Trung ương Quân ủy hội, hay các Thái thượng hoàng, lão đồng chí đã về hưu, như Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Chu Dung Cơ. Và nay sẽ có thêm Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc và Ôn Gia Bảo....

Dĩ nhiên là tại Bắc Đới Hà, ngần ấy nhân vật đều liếc về Hợp Phì và tìm cách cho nổ cầu chì Cốc Khai Lai ở bên dưới, hầu tia điện khỏi nháng lửa lên trên, vào tới hệ thống chính trị của chế độ. Vì thế, chúng ta có thể luận bàn cho vui về chuyện Bạc Cốc ở Hợp Phì, nhưng nên nhìn vào đám đầu lãnh bên trên, với kính hiển vi.

Vi trùng nằm ở đó.

Sự Tinh Tế Trong Cách Nói Và Viết Tiếng Việt

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 120811

Một trăm mấy chục trung tâm qua mấy chục năm truyền bá Việt ngữ


* Phù hiệu của Các Trung Tâm Việt Ngữ - Nam California *



Lời Giới Thiệu: Năm nay là lần thứ 24, Ban Ðại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California đã khai giảng khóa huấn luyện và tu nghiệp hàng năm cho hàng trăm thầy cô và phụ huynh của các trung tâm Việt ngữ tại Hoa Kỳ và Canada về tham dự. Mục tiêu là huấn luyện các thầy cô mới gia nhập việc giảng dạy và tổ chức tu nghiệp cho các thầy cô đã dạy Việt ngữ cho các em nhỏ từ lâu. Địa điểm của ba ngày học tập và thảo luận từ mùng 10 đến 12 Tháng Tám là Le-Jao Center, trường Coastline Community College, Westminster, California. Chủ đề năm nay là "Người Việt Nói Tiếng Việt".


Phần Thuyết Trình (xin yết lại ở đây cho các thầy cô):



Chúng tôi xin cảm tạ Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California đã yêu cầu trình bày một đề tài cho khóa huấn luyện và tu nghiệp sư phạm mùa Hè 2012. Những nỗ lực bền bỉ từ bao năm nay của các thầy cô và ban đại diện khiến cho tôi phải "cung kính bất như tuân lệnh". Những lần trước, tôi được yêu cầu trình bày về bản "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi và "Truyện Kiều và sự Phong Phú của Tiếng Việt". Lần này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về một đề tài khác, "Sự Tinh Tế Trong Cách Nói Và Viết Tiếng Việt".


Tôi xin bắt đầu phần thuyết trình bằng một tin vui: tôi không là một nhà ngôn ngữ học! Cho nên quý vị yên tâm là không bị hành hạ với hàng loạt khái niệm chuyên môn về ngữ pháp, văn phạm hay những từ khó hiểu như "ngữ tố", "phó từ", v.v...

Khi thầy Quyên Di liên lạc để đề nghị tôi trình bày đề tài này, tôi không dám hỏi lại là "tại sao?" Chỉ đoán rằng do nghề nghiệp, có lẽ là nghiệp hơn nghề, từ 15 năm nay, tôi hay trả lời phỏng vấn trên các đài phát thanh rồi viết nghị luận trên nhiều mặt báo nên được quý vị cho là có đôi chút hiểu biết về tiếng Việt, nhưng từ một giác độ thực dụng của người viết bình luận.

Thật ra, như nhân vật Jourdain rởm đời trong hài kịch nổi tiếng "Le Bourgeois Gentilhomme" của Molière, là "Gã Trưởng Giả Học Làm Sang", tôi dùng chữ nghĩa mà chẳng biết về ngữ học! Nhưng biết đâu là nhờ vậy mà đôi khi mình bắt gặp được sự tinh tế trong tiếng mẹ đẻ chăng?

Cho nên tôi xin chia sẻ một vài kinh nghiệm hay ý kiến về sự tinh tế đó và sẽ cố nói chuyện suông đuột để gợi ý cụ thể về đề tài là tìm ra sự tinh tế của tiếng Việt.

Sau tin vui thì xin nói ngay chuyện kém vui.

Từ lớp trung học ngày xưa khi còn ở nhà, chúng ta được đọc hay nghe giảng văn về cái hay cái tuyệt của chữ nghĩa dân tộc. Mình không quên các bài học về thơ Nôm Hồ Xuân Hương hay câu đối của Nguyễn Khuyến chẳng hạn, để thầy trò cùng gật gù về ngôn ngữ hoa mỹ, thuật chơi chữ hoặc tài nói lái trong tiếng Việt. Xin lấy lại vài thí dụ cụ thể.

Một cô gái chanh chua ngổ ngáo bị té giữa sân là chuyện bất ngờ - và hơi quê. Nhưng cô gái là nữ sĩ nên bật ra một câu chữa thẹn mà lại là một câu đối tuyệt vời:
Giơ tay với thử trời cao thấp,
Soạc cẳng đo xem đất vắn dài!

Hoặc một bậc đại nho ba lần đỗ đầu mà hóm hỉnh tự diễu bằng một câu đối. Câu tự trào này còn ác liệt ở phép nói lái:
Già trên sáu chục chưa đeo kính
Thức suốt năm canh chỉ sợ gà.

"Chưa đeo kính" vì mắt còn tinh, và "chỉ sợ gà" vì sợ tiếng gà gáy buổi sáng làm mình thức giấc sau một đêm trằn trọc. Nhưng nếu nói lái hai chữ cuối là "đeo kính" và "sợ gà" thì mình mới kinh sợ cái tinh ma của câu đối. Ở đây đều là những người trên 17-18 tuổi nên ta khỏi cần kiểm duyệt.

Tuy nhiên, nếu cứ thấm nhuần những nét thâm thúy đó, chúng ta rất dễ "chiếu trung đỉnh ngất ngưởng ngồi trên" mà cho rằng ngôn ngữ của chúng ta là nhất. Rồi khỏi cần ngó ra ngoài.

Chuyện buồn ở đây là nếu mình hiểu ngoại ngữ thì có thể biết rằng dân tộc nào cũng có thủ thuật với ngôn ngữ của họ chứ chẳng riêng người mình. Nếu có thể điểm ra thì thiên hạ cũng có ba bốn chục cách chơi chữ khác nhau, mà nói lái cũng chẳng là một độc quyền của tiếng Việt. Hãy đọc bình luận của ngoại quốc thì sẽ thấy họ chơi chữ ngay trong tiêu đề của bài viết.

Tai hại nhất là khi ta lang thang trên đỉnh mà chẳng xuống được nữa, trong khi vẫn không chịu khó học thêm nét tinh tế của ngôn ngữ và khởi đầu là phải nói và viết đúng tiếng Việt. May là kỳ này cũng có một thầy phụ trách về đề tài đó. Và dù được giới thiệu là một nhà báo, tôi vẫn có thể góp ý về nhiều trường hợp viết sai tiếng Việt hoặc viết quá trúc trắc khó hiểu trên mặt báo.

Để kết thúc phần dẫn nhập này, tôi thiển nghĩ là như mọi dân tộc, chúng ta phải tự hào về nhiều sắc thái của dân mình, nhưng không cho rằng cái gì của mình cũng là nhất. Ngôn ngữ Việt Nam không hẳn là nhất, nhưng ta yêu ngôn ngữ đó nhất, cho nên phải tìm hiểu, học hỏi, duy trì và phát huy được cái hay trong ngôn ngữ đó.

Bây giờ, tôi xin được đi vào đề. Mà vì sao lại là sự tinh tế trong cách nói, rồi mới là cách viết?


1. Khởi Đầu Là Cách Nói: Học ở những người ít học


Mới chỉ bắt đầu vào đề, tôi ỷ vào sự rộng lượng của cử tọa mà nói trước tiên vài điều nhức đầu. Đợi đến cuối thì mọi người sẽ ra vẻ gật gù mà muốn ngủ gật.

Thưa rằng con người ta từ thuở khai thiên lập địa hay từ thuở chào đời đều nói trước viết sau. Nhiều người có thể không biết viết chứ ai cũng biết nói. Sau khi đã nói, người ta mới nghĩ đến chữ viết và sau này giới học giả có thể hệ thống hóa cách nói hay cách viết thành ra ngữ pháp hay văn phạm. Những người tinh tế thì còn phân biệt được mẹo luật quy cách của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Chúng ta xin tạm lánh qua một bên để không đi vào việc phân biệt ấy.

Dân tộc ta có cách nói từ khi xuất hiện. Dân tộc ta cũng có cách viết hay phiên âm lối nói đó, có thể là tiếng Việt Cổ hay Việt Mường. Khi xâm lăng nước ta, Mã Viện có nói đến những điều luật riêng của dân Việt, khác với người Hán. Nhờ vậy, ta đoán là điều luật ấy được viết thành chữ. Rồi chữ viết đó đã bị tiêu diệt trong ngàn năm Bắc thuộc.

Tuy nhiên, trong ngàn năm đó, dân ta vẫn nói chứ! Và nếu phải viết thì viết ra sao khi mà văn tự chính thức lại là chữ Hán của kẻ thống trị?

Các cụ ta dùng chữ Hán làm gốc, rồi mới dùng chữ đó pha chế thêm để phiên âm và chỉ ý cách nói riêng của dân ta, đấy là chữ Nôm. Tôi nghĩ là nỗ lực tự phát và âm thầm này nhắm vào hai việc. Thứ nhất là có thêm chữ diễn giải cách nói mà chữ Hán không giải quyết nổi. Thứ hai, tôi lạm đoán là còn tạo ra sự khác biệt hầu bảo vệ bản sắc ngôn ngữ riêng. Một trong những sắc thái riêng đó là cách nói về chuyện thực tế của nền văn minh gần sông gần biển mà lại mơ hồ với các khái niệm trừu tượng. 

Mà thật ra, "ngoài vòm trời này còn vòm trời khác". Không chỉ dân Việt mới có chữ Nôm. Nhiều dân tộc bị ảnh hưởng Trung Hoa cũng tạo ra chữ viết riêng. Thí dụ như hệ thống Kana của Nhật, gồm có chữ Manyogana khá cổ và hai loại chữ Katakana và Hiragana hiện vẫn tồn tại cùng tiếng Hanji là Hán tự.

Cái khổ của chúng ta là muốn đọc ra chữ Nôm thì phải biết chữ Hán, tức là phải có học. Thế là làm sao?

Đa số ít học thì hàng ngày vẫn nói năng đối đáp và giải quyết nhu cầu truyền đạt thông tin mà không dùng bút. Thiểu số ở trên mới nghe cách nói ấy và tìm xem trong kho Hán tự những gì khả dĩ diễn tả được, hoặc có thể cải sửa để diễn tả được, và ghi lại thành cách viết, rồi dùng đó mà truyền bá giáo dục. Nhưng ngay từ đấy mình đã thấy ra một sự đối lập giữa nói và viết.

"Ăn nói nôm na" là lời người có học phê phán những người ít học. Nói thì nói Nôm và viết thì viết Hán, đấy mới là tiêu chuẩn văn minh của những người ưu tú. Và đấy mới là tai họa tập thể, vì tôi nghĩ ngược lại. Xin quý vị có học đừng cau mày khó chịu.

Thứ nhất, nếu muốn nói cho hay thì phải biết nghe đã. Nghe nhiều cách nói khác nhau thì sẽ biết nói thế nào để ai ai cũng hiểu được. Thứ hai, nếu người có học mà học được cách nói của người bình thường, may ra họ thành công trong cách viết, kể cả trong văn chương. Vì điều ấy phản ảnh được sự tinh tế của tiếng Việt truyền thống.

Tiêu biểu nhất là các nhà thơ Nguyễn Du, hay Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, nhiều lắm. Ngẫm lại thì mấy ví dụ về sự tinh tế của văn chương thơ phú hay chữ nghĩa mà tôi vừa nhắc đến ở trên đều xuất phát từ ngôn ngữ nói. Lời thơ cứ tự nhiên như lời nói.

"Soạc cẳng" là một từ nôm na mách qué nhưng có sự nhiệm mầu gần như một tiếng tượng hình. Nghe ra đã thấy đôi chân chàng hảng! Chữ "soạc", hay "toạc" hay "toác" là cách nói nôm na làm các cụ có học phải chau mày không ít. Thứ nhất vì thiếu thanh tao. Thứ hai là làm sao phiên ra cách viết từ chữ Hán? Đành dùng chữ "trạc" trong Hán tự để diễn chữ "soạc", hay chữ "khẩu" đi với chữ "tác" để diễn chữ "toác", chữ "khẩu" với chữ "hoạch" để diễn chữ "toạc". Rắc rối chưa?

Từ đó ta mới có hiện tượng là một chữ nói có vài ba cách viết làm các nhà ngữ học hay người nghiên cứu văn bản gốc rồi các khảo dị cứ cãi nhau xem chữ nào mới là đúng và đúng vào thời nào, ở nơi đâu. Trong khi ấy, dân ta vẫn thoải mái thưởng thức sự tinh tế của tiếng Việt.

Chuyện kế tiếp, người ta sinh ra mà sở dĩ biết nói là vì biết nghe. Không biết viết mà vẫn nói được là vì đã nghe và học bằng tai. Đó là cái học truyền khẩu.

Hầu như nghệ thuật hay kỹ thuật nào cũng vậy, sở dĩ tồn tại thì chính là nhờ truyền khẩu, rồi mới nhờ cách đọc chữ viết. Vì thế, văn chương truyền khẩu là những gì tồn tại sau sự đãi lọc âm thầm của thời gian. Và ngôn ngữ truyền khẩu đó nó gần nhất với tiếng nói. Cho nên, muốn biết tiếng Việt tinh tế chừng nào thì xin chịu khó tìm về văn học truyền khẩu của dân gian. Trong dòng văn học đó, ca dao hay tục ngữ là kho tàng về cách suy nghĩ và sinh sống của dân ta. Mà trong ca dao lại có cả thơ, cả ca, có tiết điệu nhịp nhàng dễ nhớ, dễ truyền.

Kết luận của tôi ở phần một này là chúng ta nên học lại từ người ít được đi học! Họ nói đúng với mẹo luật của tiếng Việt thuần túy. Bí quyết ở đây là muốn tìm hiểu về nét tinh tế của Việt ngữ và nhất là muốn viết tiếng Việt cho sát với cái hồn Việt và phổ biến sâu rộng nhất thì xin học lại ca dao, tục ngữ.

Nhiều khi, chính là người có học mới làm rách việc khi uyên bác giảng dạy về chữ nghĩa. Để quý vị khỏi buồn ngủ, tôi xin kết thúc phần một này với truyện ngụ ngôn về con rết. Trời đất sinh ra là nó đã biết đi. Hôm ấy, có người cắc cớ lại hỏi, rằng khi đi thì nhà bác nhích chân trái hay chân phải trước? Con rết bần thần suy nghĩ và hết đi được nữa!

Tôi xin bước qua phần hai để giải thích nghịch lý vừa nói, là đôi khi những người có học mới làm rách việc! Vì sao lại như vậy?



2 – Trăm Năm Trong Bốn Ngàn Năm: Quốc ngữ trong thời chuyển tiếp


Chúng ta hãy tạm chấp nhận là dân tộc Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến.

Trong 4.000 năm đó, 2.000 đầu là thời khuyết sử nhưng hiển nhiên là mình đã có tiếng nói, và có thể cả chữ viết. Sau đấy, chữ viết thì không còn, chứ tiếng nói tất nhiên là vẫn tồn tại và thay đổi cùng đời sống, cho đến ngày nay. Trong 2.000 năm sau, ta bị ngàn năm Bắc thuộc, từ năm 221 trước Tây lịch đến năm 939, vị chi là 1.050 năm. Vậy mà dân ta không bị Hán hóa, không bị đồng hóa.

Về cách nói, dân ta vẫn nói theo lối riêng, thí dụ như vẫn nói xuôi, trái với ngữ pháp Trung Hoa. Ví dụ ai cũng biết là ta nói "trời xanh", người Tầu nói "thiên thanh". Ta nói ngựa trắng chứ không trắng ngựa, như "bạch mã" của người Tầu. Ý chính là trời, là ngựa, chữ bổ túc là màu xanh hay màu trắng. Chuyện nhỏ nhặt ấy khiến ta nên để ý đến hai lối dùng chữ, nếu đã là thuần Việt thì phải xuôi và nếu là Hán-Việt thì phải ngược, đấy mới là đúng tiêu chuẩn.

Thí dụ như phải nói "kinh tế học" như từ Hán-Việt, chứ không nói "học kinh tế". Hoặc như ngày xưa, ta có "Quốc gia Nông tín cuộc" là cơ quan của nhà nước cung cấp tín dụng cho nông thôn. Chứ gọi là "Cục Phân bón Nhà nước" như sau này mới là chuyện ngớ ngẩn.

Một thí dụ còn đáng nhớ hơn nữa.

Nguyễn Khuyến đã làm một bài ngũ ngôn chữ Hán để khóc người bạn cùng khóa Cử nhân năm xưa là Dương Khuê, người làng Vân Đình, làm quan ngang hàng Thượng thư. Cụ Tam Nguyên Yên Đổ viết theo đúng ngữ pháp Trung Hoa như sau: "Vãn Đồng Niên Vân Đình Tiến Sĩ Dương Thượng Thư" với câu mở đầu là "Dĩ hĩ Dương đại niên, Vân thụ tâm huyền huyền". Rồi chính Nguyễn Khuyến đã dịch bài thơ đó thành tác phẩm mà học trò ai cũng nghe nói là bài "Khóc Dương Khuê" với câu mở đầu là "Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta."

Đây là một bài thơ Nôm với hơi văn tự nhiên mộc mạc, đầy cảm động và hoàn toàn khác bài chữ Hán. Hán thì cực Hán mà Việt thì cực Việt. Vượt qua lằn ranh ấy, Nguyễn Khuyến quả là nhà thơ nắm vững sự tinh tế của tiếng Việt trong cách viết.

Chuyện ấy dẫn ta qua một tai nạn khác.

Sau ngàn năm thứ nhì của thời độc lập với phương Bắc, ta lãnh thêm một tai vạ ngôn ngữ là ảnh hưởng của Tây phương, với sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ theo mẫu tự La tinh. Nó được coi là ngôn ngữ chính thức của nước ta từ trăm năm nay. Ta không quên là thời trước, khi chữ Hán chiếm vị trí thống trị, dân ta cũng gọi chữ Nôm là "quốc âm" hay "quốc ngữ".

Bây giờ, từ trăm năm nay, ta lại có chữ quốc ngữ khác!

Nhiều người học nhiều mà hiểu ít vẫn ca tụng việc phát minh chữ quốc ngữ là điều may mắn cho dân ta trong thế kỷ 20 vì nhờ đó mà ta cách tân và phổ biến được chữ viết để theo kịp sự tiến hóa của nhân loại. Tôi e rằng cũng lại cái tật "chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên" trong ngôi làng bé xíu của mình vì không nhìn ra ngoài.

Có hai xứ Á Châu mà ngày nay ai cũng coi là tiên tiến nhất, là Nhật Bản và Đại Hàn. Họ không đi theo hướng đó, vẫn dùng cách viết cũ mà chả thua kém ai về khoa học hay cả văn chương lẫn truyền thống dân tộc. Trong khi ấy vì du nhập cách viết khác, như một thứ nhu liệu điện toán mới cho cái máy cũ, chúng ta... mất liên lạc với tiền nhân!

Muốn biết Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du nói gì viết gì, ta phải qua một tầng thông ngôn khác. Thiếu căn bản về chữ Hán, rồi chữ Nôm, mình chẳng còn hiểu được ý tưởng hay nghệ thuật của cổ nhân. Trong đó có khi mất luôn một phần quan trọng về sự tinh tế của tiếng Việt. Nếu lại chẳng chịu khó nghe và đọc xem dân ta nói như thế nào thì rất dễ mất đứt.

Nhưng đấy chưa là cái họa duy nhất.

Sau khi du nhập ngôn ngữ mới và dưới sự cai trị của người Pháp, những người có học và tử tế đàng hoàng của chúng ta đã dùng lăng kính Pháp để nói về hay giảng về ngôn ngữ Việt. Người ta áp dụng văn phạm hay ngữ pháp Tây để giảng giải ngữ pháp của Ta, ra cái điều là Ta cũng văn minh chẳng kém gì Tây, xét theo tiêu chuẩn Tây.

Tây mà có danh từ, động từ, chủ từ hay túc từ là ta cũng có như vậy. Nghĩa là người ta uyên bác phân biệt các tự loại, y hệt như muốn phân biệt cái chân bên trái hay bên phải của con rết. Đi cho đúng phép là phải nhấc chân trái trước. Nói cho mới lạ thì dùng thể thụ động, như Tây vậy! Tôi xin nêu một thí dụ về cái thể thụ động thấy quá nhiều trên mặt báo: "Buổi hội thảo về tình hình căng thẳng tại Biển Đông do Trung Quốc gây ra đã được Ủy ban ABC tổ chức tại đâu đó vào ngày giờ này nọ...." Người Pháp sẽ thấy câu này rất chuẩn, nhưng người mình thì không.

Xin nói thêm rằng hiện tượng Tây hóa xuất phát từ trên đầu xuống, từ thành thị ra ngoài, từ giới có học đến người bình dân và trước tiên từ những người viết. Cái thế đối lập giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết mà ta đã từng thấy trong lịch sử lại có thêm một giai tầng và cường độ.

Cũng y hệt như xưa, người ưu tú có học ở thành phố phải soi sáng cho người u mê ít học ở nông thôn. Trong khi chính thành phần có học và biết viết này lại xa dần ngữ pháp truyền thống của tiếng Việt. Chẳng những là xa dần mà còn làm biến chất ngữ pháp đó. Chính là người viết, thành phần có học có chữ ở thành phố, chứ không phải giới bình dân ở nhà quê, đang làm ngữ pháp đó thay đổi. Mà nhiều khi chính họ không biết.

Câu kết luận của tôi cho phần hai này là khái niệm về thời gian.

Chúng ta đang ở giữa một giai đoạn chuyển tiếp, dù có là trăm năm thì thật ra vẫn ngắn ngủi so với bốn ngàn năm của dân tộc. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, ta bị hoang mang, bát nháo và lùng xục mọi nơi để tìm những gì hay nhất mà học hỏi, lưu giữ trong khi trầm hương lại tưởng là củi mục.

Mong là sau một giai đoạn như vậy, chúng ta sẽ gạn được vàng trong thau như trong câu ca dao:
Thực vàng chẳng phải thau đâu
Đừng đem thử lửa cho đau lòng vàng.

Sau khi than vãn về những chuyện không may của văn hoá và lịch sử, bây giờ tôi xin được qua phần ba với một số ý kiến lạc quan tích cực hơn.


3 – Sự Tinh Tế Trong Cách Viết: Viết mà như nói


Khi phải viết, ta đều biết là viết để làm gì, cho ai đọc và phải viết dài ngắn ra sao, chứ chẳng thể miên man không bãi đáp. Tôi sẽ không dám lạc đề mà nói là viết thế nào mới là hay, thí dụ như viết cho con tim để gây xúc động tất nhiên là phải khác với viết cho bộ óc để thuyết phục, v.v... Ở đây, tôi xin được nói về sự tinh tế mà mình vẫn cảm được nếu biết về nhiều đặc tính riêng của ngữ pháp hay chữ nghĩa Việt Nam. Những đặc tính riêng ấy xuất hiện trong tiếng nói hàng ngày mà mình chẳng thèm chú ý.

Trước hết, đa số tiếng Việt ta là loại đơn âm vì đọc lên thì chỉ ra có một âm và không đổi tự dạng hay cách viết. Ta không viết ra số nhiều số ít hay phái tính nam nữ của từng chữ. Nhưng ý nghĩa của mỗi tiếng lại linh động uyển chuyển có khi nhờ chức năng hay vị trí trong câu nói.

Thứ hai, đa số tiếng Việt ta dùng lại không có tự loại, như danh từ, tĩnh từ, trạng từ hay động từ. Khi phân biệt tự loại như văn phạm của Tây, là xác định chức năng hay phần vụ của một từ, ta bó chặt sự linh động và thu hẹp sự tinh tế của ngôn ngữ. Tiếng Việt của ta không bị bó trong tự loại như vậy mà cùng một chữ có thể đảm nhiều phần vụ khác biệt, thí dụ là để nói ra ý chính, hoặc để bổ túc cho ý chính, hay là làm liên từ kết nối, hoặc làm phụ từ.

Tôi xin được nêu vài thí dụ ở lãnh vực mà cách viết phản ảnh lối nói đến độ thần tình. Đó là thơ.

Vèo trông lá rụng đầy sân,
Công danh phù thế có ngần ấy thôi?.

Chữ "vèo" của Tản Đà trong bài "Cảm Thu Tiễn Thu" rõ ràng là có giá trị tượng hình của cái gì đi qua rất nhanh. Nó là tĩnh tự hay trạng tự, là bổ ngữ cho động từ "trông" hay danh từ "lá"? Chúng ta đâu cần biết chuyện ấy mà vẫn thấy hay.

Bài "Một Mình" của Mai Thảo là thí dụ khác:

Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
Tiếng người: kia, uống cái chi đây?
Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ
Và một bình đêm rót rất đầy.

Nếu có một nhà thơ trong phòng này, ông ta hay cô ta sẽ giảng thêm cho chúng ta cái thú của chữ nghĩa đơn âm mà đa nghĩa nhờ vị trí. Chẳng hạn như "ngồi tượng hình". Ngồi có thể là động từ, nhưng "tượng" và "hình" hay "tượng hình" là nét họa cho thấy người lủi thủi ngồi như bức tượng hay hình ảnh đơn côi. Chủ yếu là do chữ "riêng" trong Ngồi tượng hình riêng một góc quầy. Chữ "riêng" này quả thật là phụ nhưng biết dùng thì mới là biết cái tinh tế của tiếng Việt.

Rồi "một ngụm chiều rơi lệ". Là một ngụm rượu làm mình rơi lệ chiều hôm đó hay sao? Đâu có dở vậy! "Ngụm chiều" bỗng dưng sáng rỡ nhờ ở "bình đêm"....

Kết luận rất nhỏ ở đây là cùng một tiếng có thể giữ nhiều chức năng trong câu nói. Chức năng ấy tùy vào vị trí chính hay phụ của câu nói, chức năng ấy là có thể là chủ điểm hay bổ ngữ, hoặc chỉ là tiếng nối - thí dụ như "và", như "để", như "vì" - và chức năng ấy cũng có thể là một tiếng phụ, như "vậy", như "ủa". Nhưng khi linh động sử dụng thì ý nghĩa của cả câu bỗng đổi khác.

Kế tiếp, tôi nghĩ tiếng đơn âm của ta còn có sự kỳ diệu khi được ghép thành điệp từ có nhiều âm với nghĩa khác. Thí dụ là màu "xanh xanh" thì phải nhạt hơn màu xanh. Màu "đo đỏ" thì chưa thành đỏ, còn "tim tím" có nghĩa là hơi tím thôi. Chuyện nhỏ nhoi ấy cho thấy là khi dùng chữ, đã đành là ta có thể đổi màu, mà còn hơn vậy. Nhờ thanh âm bằng trắc khiến câu nói hay chữ viết lại du dương hơn và đáp ứng được một nhu cầu đối âm, đối chữ hay đối ý. Và một âm lại còn có nhiều nghĩa nên ta rất dễ chơi chữ! Nếu khéo chơi thì "tim tím" có khi gợi ý về trái tim tím bầm!

Nói đến chơi chữ thì ta lại trở về bậc sư là Hồ Xuân Hương:
Một trái trăng treo chín mõm mòm
Nẩy vầng quế đỏ, đỏ lòm lòm!

Trong loại điệp từ của tiếng Việt, ta không chỉ có loại hai điệp âm như "quả cau nho nhỏ, cái vỏ xanh xanh" hoặc câu thơ vừa nhắc tới trong một bài "Hỏi Trăng" của Hồ Xuân Hương với chữ "mõm mòm" hoặc "đỏ lòm lòm", có khi là chữ với ba điệp âm.

Quả là ta còn có chữ với ba hay bốn điệp âm, như Nguyễn Du đã viết "sạch sành sanh vét cho đầy túi tham" trong Truyện Kiều. Cái tai ác của Hồ Xuân Hương là ở một câu xanh dờn với ba điệp âm "hỏm hòm hom" trong bài "Hang Cắc Cớ" mà tôi chỉ xin đọc bốn câu đầu:

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.

"Nứt làm hai mảnh" thì đã độc rồi, mà "hỏm hòm hom" thì tha hồ kích thích trí tưởng tượng!

Nếu gom lại thì ta có thể thấy ra đặc tính của tiếng Việt là giúp ta diễn tả được nhiều ý nghĩa. Tìm ra nét khác nhau ở từng ý là sự tinh tế của người viết khi khai thác được những đặc tính này.

Sau cùng, tôi xin được qua phần bốn, rất ngắn gọn thôi vì thời giờ có hạn mà ta cũng cần có phần hỏi đáp để quý thầy cô cùng trao đổi ý kiến. Đó là về kinh nghiệm bản thân, với thành ngữ mà mình không quên được, rằng "cái tôi là đáng ghét".


4 – Một Vài Kinh Nghiệm Bản Thân: Từ người sản xuất đến người tiêu thụ


Hình như là tôi cứ nói về thơ và còn nhấn mạnh là nếu ta viết được như cách nói thì dễ vận dụng được sự tinh tế của tiếng Việt. Tôi thiển nghĩ là đúng như vậy vì vài lý do khá cụ thể sau đây xuất phát từ những cảm nhận của bản thân:

Thứ nhất là những người bình dân hoặc cả nông dân mà ta bảo rằng ít học thật ra lại dùng tiếng Việt rất sát với quy tắc riêng của dân tộc. Và họ dùng trong tiếng nói hàng ngày. Chúng ta nên học điều này chẳng phải vì thành phần bình dân đó là quần chúng đông đảo nếu nói về thống kê dân số, mà vì những quy tắc ấy mới bao hàm các đặc tính làm nên sự tinh tế riêng của tiếng nói.

Thứ hai, vì nhịp điệu đầy chất thơ của tiếng nói, người đời sau có thể học từ người trước bằng cái tai, qua văn chương truyền khẩu. Ca dao, tục ngữ hay thành ngữ mới kết tinh những đặc tính ấy. Chuyện này quan trọng vì ngôn ngữ của chúng ta đã chịu ảnh hưởng rất sâu và rất lâu của tiếng Hán thời xưa rồi đến tiếng Pháp vào thời cận đại. Chúng ta tiếp nhận và đồng thời đãi lọc ảnh hưởng đó qua phần cốt tủy của ngôn ngữ truyền thống.

Thứ ba, khi phải viết, chúng ta đều biết nội dung là viết về cái gì, trong điều kiện nào, rồi tìm các từ đúng về chuyên môn hay ngữ pháp chẳng hạn. Đấy là giai đoạn xin gọi là sản xuất. Trong giai đoạn này, có phần quan trọng là đọc bản tin hay dữ kiện bằng ngoại ngữ mà mình phải lọc lại qua giác độ hay lăng kính Việt Nam.

Nhưng viết xong rồi thì mình phải nhớ đến nhà tiêu thụ, là người nghe hay người đọc...

Người nghe khó có điều kiện nghe lại. Nếu thấy trúc trắc khó hiểu là họ... tắt máy và ta nói một mình. Người đọc thì khó tập trung vào đề tài khô khan rắc rối, nên sẵn sàng... bỏ rơi tác giả. Cho nên, sau giai đoạn sản xuất, xin hãy nhớ đến người tiêu thụ và tìm cách nói cho gọn cho rõ, hoặc viết lại để người đọc chịu khó đọc tiếp, cho đến hết bài!

Nội dung, hay ý kiến về chuyên môn hoặc chính trị thì nhà sản xuất có quyền chọn. Nhưng người tiêu thụ cũng có quyền chọn là gạt qua một bên. Nếu hiểu như vậy thì đây là kết luận rất riêng tư của tôi:

Chuyện quan trọng không phải là điều ta nói hay viết mà là thính giả hay độc giả. Khi chú ý đến trọng điểm này thì ta phải diễn đạt lại, và nhờ đặc tính tinh tế của tiếng Việt, ta chọn được cách nói hay viết để đáp ứng yêu cầu của người tiêu thụ. Tôi học được điều ấy nhờ không quên ca dao và thành ngữ nên tìm trong kho tàng ngôn ngữ rất phong phú của dân tộc những chữ có thể phản ảnh sự tinh tế của tiếng Việt. Rồi mình... bắt chước! Thế thôi....

Sau khi thành thật khai báo cái chuyện chẳng có gì là ghê gớm, tôi xin đi vào kết luận.


***


Muốn phát huy Việt ngữ thì trước tiên chúng ta phải thuộc Việt ngữ đã. Đấy là việc làm cao quý của các trung tâm Việt ngữ khi nhắm vào các em tnhỏ rong cộng đồng. Chẳng cần nhà nước nhà nôi nào yểm trợ hay ban khen, quý vị vẫn duy trì được sinh hoạt này từ mấy chục năm nay. Các gia đình gửi con em đến học cũng chia sẻ một mục đích ấy, là gìn giữ được tiếng Việt và cái hồn Việt trong nhà.

Tôi xin kể một truyện vui về chuyện này. Chữ truyện trên là TR và chuyện dưới là CH.

Người ta nói rằng ai biết hai thứ tiếng thì được gọi là "bilingual", biết được ba thứ tiếng thì gọi là "trilingual". Thế người chỉ biết có một thứ tiếng thì ta gọi là gì? Câu trả lời khôi hài mà khá đúng là... "American, người Mỹ"! Là công dân quốc dân một siêu cường có ngôn ngữ phổ biến nhất địa cầu thì cần gì học thêm ngoại ngữ? Nháo nhào chạy ra ngoài, nhảy vào xứ khác mà chẳng hiểu gì thì lại la trời, "O My God!"

Trong xã hội này, nếu trang bị cho các em nhỏ một vốn liếng đa văn đa ngữ, chúng ta giúp các em dễ thành công hơn và vượt qua hàng rào của ngôn ngữ hay chủng tộc.

Gợi ý thứ hai là trong việc duy trì và phát huy Việt ngữ, tôi thiển nghĩ rằng học thuộc lòng không là thói xấu mà là cần thiết cho tuổi thơ. Miễn là biết học cái gì để làm gì. Nơi đây, ta không học để làm quan hay làm thơ vì đấy là cái nghiệp của từng người. Chúng ta học để giữ gìn và làm cho tiếng Việt mình thêm trong sáng khi diễn tả ý tưởng của mình. Vì vậy, ta có thể dùng chính tả, hội họa hay âm nhạc để truyền bá quốc ngữ và cái Việt tính của dân tộc, nhưng cũng nên nghĩ đến một tiết mục bổ ích và lý thú là ca dao và tục ngữ. Xin quý vị hãy tuyển chọn và tập cho các em học thuộc lòng một số câu thích hợp. Mai sau, cái kho kiến thức tưởng là vô vị ấy sẽ là kho tàng cho các em vì sẽ có ngày các em thấy ra sự tinh tế của Việt ngữ trong những tư tưởng và kiến thức rất sinh động của dân ta.

Gợi ý thứ ba là hãy nhìn lại cách nói của người miền Nam. Văn minh vô cùng! Văn chương miền Nam có rất nhiều đối thoại đôi khi cụt ngủn nhưng đầy kịch tính và rất sinh động. Khi chọn ca dao mà đọc mà học thì không thể quên ca dao trong Nam. Một câu tuyệt vời và đáng nhớ là:

Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp về!

Tôi xin được kết thúc với một đoạn lý thú trong vở chèo cổ "Lưu Bình Dương Lễ". 

Khi Dương Lễ hỏi gia nhân về hình dạng của người bạn thân là Lưu Bình thì nhân vật Trù Phòng này trả lời như sau: Bác Lưu Bình "đội khăn nhiễu tam giang khấu Chu Du phóng hỏa". Rồi anh ta uyên bác giải thích như sau. "Khăn nhiễu tam giang khấu" là khâu bằng ba mảnh vải, và "Chu Du phóng hỏa" là rất đáng quăng vào bếp! Thế thì có đáo để không nào?

Ta có một câu vừa Nôm vừa Hán, lại nhắc đến truyện Tam Quốc mà nhiều người đều thuộc, với kết quả là làm mọi người bật cười về sự tinh tế của tiếng Việt! Nếu người lớn không quên và tìm lại thì con trẻ sau này sẽ không mất cái phần di sản đó của chữ nghĩa!

Tôi xin dứt lời, thành thật cảm tạ sự chú ý của thầy cô và xin đi qua phần giải đáp sau phút giải lao.  

Thứ Tư, tháng 8 08, 2012

Trung Quốc Ngoài Đông Hải

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120808

Mặt trái kinh tế của biểu hiện ngang ngược



* Ông Nguyễn Xuân Nghĩa phát biểu tại Hội thảo Biển Đông 
tổ chức ở Nam California hôm 04-08-2012 RFA photo *


Vừa qua, tại miền Nam California đã có một cuộc hội thảo về "Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông" với bốn diễn giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, như địa dư và công pháp, lịch sử và chính trị hoặc kinh tế và an ninh.Trong số diễn giả có chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa với bài phân tích những nhược điểm kinh tế và mục tiêu sâu xa của lãnh đạo Trung Quốc khi bành trướng vào vùng biển Đông Nam Á hay Đông hải của Việt Nam. Mục Diễn đàn Kinh tế tuần này sẽ tìm hiểu về những động lực đó của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Trong cuộc hội thảo trưa Thứ Bảy mùng bốn vừa qua tại miền Nam California, ông có được mời lên trình bày khía cạnh kinh tế của các động thái gần đây của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị ông khai triển những ý ông đã phát biểu ngắn gọn tại cuộc hội thảo này. Nhưng trước hết, xin ông tóm lược cho biết về cuộc hội thảo đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thái độ của Trung Quốc và tình hình căng thẳng gần đây tại vùng biển Đông Nam Á khiến dư luận thế giới phải quan tâm. Cộng đồng người Việt ở bên ngoài cũng ưu lo về quyền lợi lâu dài của Việt Nam vì thế nhiều đoàn thể hay diễn đàn đều cố tìm hiểu chuyện này. Ban tổ chức cuộc hội thảo vừa qua là một đoàn thể đấu tranh chính trị, họ mời các chuyên gia ở ngoài tổ chức đến trình bày nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề cho công luận cùng biết rõ.

- Không là thành viên của một tổ chức chính trị nào, tôi nhận lời phát biểu như một bổn phận và qua đó còn học hỏi được nhiều ý kiến khác. Một diễn giả đáng chú ý là học giả Vũ Hữu San. Ông là sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà, nguyên Hạm trưởng của Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 đã đương cự Hải quân Trung Quốc trong trận hải chiến hồi Tháng Giêng năm 1974 để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Sau 1975, ông đi học lại và nghiên cứu thêm về đặc tính hải dương và chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển Đông hải. Với tôi, ông là một học giả am tường với mấy chục năm cẩn trọng tìm hiểu sâu xa về một vấn đề sinh tử cho Việt Nam.

 

Nghịch lý   

Vũ Hoàng: Thưa ông, trên diễn đàn này từ nhiều năm rồi, ông đã phân tích các vấn đề kinh tế của Trung Quốc nhằm cảnh báo Việt Nam về nhiều khó khăn tương tự. Tại cuộc hội thảo vừa qua, ông phổ biến một bài tham luận rất dài nhưng tóm lược vào một số điểm chính trong phần phát biểu trước cử tọa, mà truyền thông Việt ngữ đánh giá là chăm chú theo dõi. Hôm nay, xin đề nghị ông khai triển những ý đó tới thính giả ở mọi nơi.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Được mời trình bày một đề tài phức tạp nên tôi cố thu gọn vào quãng 20 phút phát biểu để nhấn mạnh đến đặc tính sâu xa của Trung Quốc rồi đến yêu cầu về kinh tế và an ninh ngày nay khiến lãnh đạo xứ này mới là vấn đề của thế giới. Tôi xin trình bày cho rõ hơn ở nơi đây. Trước nhất, Trung Quốc chỉ là một "ốc đảo", thiếu đất, thiếu nước, đói ăn và khát dầu cho nên đang tìm cách giải quyết những bài toán này của họ.

Vũ Hoàng: Hình như ông lại nói ra nghịch lý. Trung Quốc có lãnh thổ bằng 10 triệu cây số vuông, với dân số hơn một tỷ ba, có sản lượng kinh tế chỉ đứng sau Hoa Kỳ và còn là chủ nợ số một của nước Mỹ mà ông lại gọi là ốc đảo thiếu đất thiếu nước đói ăn và khát dầu.... Xin ông lần lượt giải thích cho những chuyện đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tôi có nêu ra nghịch lý thì chẳng vì lập dị hay kích thích sự chú ý. Vấn đề là khảo hướng, "approach" hay cách tiếp cận một bài toán khách quan từ nhiều giác độ và trong thế động chứ không do cảm quan thù ghét hoặc cứ nhắc lại ấn tượng của nhiều người.

- Trước hết, về địa dư hình thể, khu vực cốt lõi của Trung Quốc thật ra chỉ là một "ốc đảo" bên Thái Bình dương. Ngoài hướng Đông là biển cả, ba hướng kia thì bị bao vây bởi núi rừng hiểm trở, sa mạc và thảo nguyên bất lợi cho sự chuyển vận và sinh hoạt. Ý nghĩa ốc đảo là như vậy, xin hãy nhìn vào bản đồ thiên nhiên hay dân số của họ thì mình thấy.

- Thứ hai, khu vực phì nhiêu đó là ở miền Đông gần biển, nơi có vũ độ là độ ẩm nhờ nước mưa, đủ cao cho canh tác và có châu thổ của hai con sông Hoàng hà và Dương tử. Khu vực "ốc đảo" này hiện gồm 11 tỉnh và ba thành phố lớn với 500 triệu dân, nhưng diện tích khả canh bình quân cho một người chỉ bằng một phần ba trung bình thế giới, nên ta mới gọi là "thiếu đất".

- Thứ ba, trên diện tích lãnh thổ gần 10 triệu cây số vuông, diện tích có nước nhờ chuôm ao sông hồ thật ra chỉ chiếm 0,28%, thấp hơn các nước lớn trên thế giới. Lượng nước ngọt cho một đầu người của Trung Quốc cũng thuộc loại thấp nhất Á châu, vốn dĩ đang là lục địa thiếu nước nhất địa cầu. Vì thế Trung Quốc mới đòi cướp nguồn nước của thiên hạ, từ đỉnh Hy Mã Lạp Sơn đến các con sông lớn của châu Á và sông Mêkong quen thuộc của người Việt.

- Thứ tư mới là chuyện đói ăn. Do khan hiếm đất và nước bên trong mà chưa biết cải tiến, dù có sản lượng lương thực lớn nhất địa cầu, Trung Quốc vẫn phải nhập nông sản và lãnh đạo sợ nhất là chuyện dân chúng nổi loạn vì thiếu ăn như đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử.

- Thứ năm, không chỉ thiếu ăn mà Trung Quốc còn khát dầu, vì thiếu nguyên nhiên vật liệu là các nhập lượng cần thiết cho việc công nghiệp hóa đang khởi sự. Vì hiệu năng tiêu thụ kém, xứ này xài phí và từ cả chục năm nay phải nhập khẩu dầu thô và khí đốt từ nhiều nơi để bổ xung cho than đá ở bên trong.    

Một quốc gia có ba nền kinh tế  

  


000_Del6109110-250.jpgBến Thượng Hải, Trung Quốc. AFP photo   


Vũ Hoàng: Như vậy, ông cho là vì những khan hiếm và không nuôi nổi một dân số quá đông ở bên trong, Trung Quốc mới muốn bành trướng ra ngoài để tìm tài nguyên cần thiết cho một xứ đang công nghiệp hóa hay sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là nhiều người lý luận như vậy, nhưng tôi nghĩ sự tình còn nguy hiểm hơn vậy vì nhiều lý do khác.

- Chúng ta không quên các lân bang của Trung Quốc còn gặp hoàn cảnh tài nguyên bất lợi hơn nhiều, như Nam Hàn và Nhật Bản. Nhưng trong thế kỷ 21 nếu mà cứ thiếu thì lại đi ăn cướp sao? Nhật Bản từng gặp bài toán đó nên giải quyết bằng xâm lăng và bành trướng quân sự như đã thấy vào các năm 1910, 1931 rồi 1941 với kết quả là chiến tranh và tàn phá cho cả châu Á và nước Nhật. Cho nên từ năm 1945 họ đã chuyển qua hướng hợp tác trong hòa bình để phát triển.

Vũ Hoàng: Vì sao lãnh đạo Trung Quốc không giải quyết theo hướng đó? Trong cuộc hội thảo, ông có nói đến sự sợ hãi và đặc tính mà ông gọi là "nhất quốc tam kinh", một quốc gia có ba nền kinh tế. Thưa ông chuyện ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ Trung Quốc là nơi mà nỗi sợ hãi bị ngoại xâm đã thành một phần bản chất của lãnh đạo mọi thời. Nó được định chế hóa và xây dựng lên như một kiến trúc có thể thấy từ mặt trăng, đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc và mở rộng rồi củng cố vào đời Tần Thủy Hoàng Đế và thời Minh. Nền văn hoá duy chủng và độc tôn của Hán tộc khiến họ khinh miệt các chủng tộc vây quanh mà họ coi là "tứ di", bốn hướng đều là man rợ. Thực tế thì Hán tộc ở Trung Nguyên vẫn bị các dị tộc tấn công và làm chủ nhiều lần trong mấy thế kỷ. Vì vậy mới có phản ứng phòng thủ bằng thành lũy ngay từ trong đầu.

- Thứ nữa là yếu tố "tam phân". Do hình thể, lãnh thổ Trung Quốc có ba khu vực với đặc tính kinh tế khác biệt và đấy là bài toán của lãnh đạo ngày nay. Thứ nhất là cái ốc đảo tương đối trù phú và "hướng ngoại" của 11 tỉnh tiếp cận với biển cả và mở ra thế giới bên ngoài. Thứ hai là khu vực "nội địa" gồm tám tỉnh bị khóa trong lục địa, nơi sinh sống của 450 triệu dân còn nghèo hơn. Khu vực này khô cằn và có ít đường chuyển vận nên vẫn bị lạc hậu dù lãnh đạo đã nhiều lần ra sức đầu tư để khai khẩn. Khu vực thứ ba 11 tỉnh bao trùm lên phân nửa diện tích lãnh thổ cũng là vùng hoang vu hiểm trở ở hướng Tây và hướng Bắc. Với diện tích bạt ngàn và dân cư thưa thớt, đây là đất biên vực gồm cả lãnh thổ xứ khác mà lãnh đạo mọi thời đều muốn kiểm soát để biến thành vùng trái độn quân sự hầu bảo vệ các khu vực kia, nhất là Trung Nguyên của Hán tộc.

- Vì chưa có dân chủ và không theo thể chế liên bang, Trung Quốc chưa thể phát triển ba khu vực này một cách công bằng và hài hòa. Lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thực quyền kinh tế và kinh doanh trong tay nhà nước và thân tộc, xứ này không giải quyết được bài toán kinh tế và thường bị nguy cơ nội loạn. Thí dụ gần đây nhất không chỉ là Trùng Khánh, Ô Khảm hay Ôn Châu, mà là xung đột giữa tư doanh và quốc doanh về dầu khí tại huyện Tĩnh Biên của tỉnh Thiểm Tây.

Vũ Hoàng: Khi bên trong có đầy mầm loạn như vậy thì thưa ông, tại sao lãnh đạo Trung Quốc còn gây thêm vấn đề với những quyết định về ngoại giao, quân sự và kinh tế ở ngoài Đông hải của Việt Nam?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta đi vào một khía cạnh tâm lý của lãnh đạo Trung Quốc thời nay là họ rất tinh vi trong sự lỗi thời, lại một nghịch lý khác mà chúng ta cố hiểu ra.

- Trong mấy ngàn năm huy hoàng của văn hoá Trung Hoa, lãnh đạo Trung Quốc cho thần dân sống với ảo tưởng rằng mình là trung tâm của thiên hạ, tên nước của họ có phản ảnh tâm lý đó. Nhưng đấy là ảo giác vì các chư hầu chung quanh đều cứng đầu và gây tốn kém khiến triều đình ở trung ương nhọc lòng không ít. Họ cứ phải ra sức trấn áp hoặc đồng hóa dị tộc và củng cố vùng trái độn quân sự bên trong. Trung Quốc là một cường quốc lục địa cứ quay lưng ra biển chứ chưa bao giờ là cường quốc hải dương.

- Xưa nay, xứ này sống trong chế độ tự cung tự cấp và ít lệ thuộc thế giới bên ngoài, cần gì thì đã có Con Đường Tơ Lụa qua Trung Á. Ngày nay, và lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc không thể quay lưng ra bên ngoài vì tùy thuộc vào các nước để có thị trường xuất khẩu, có nguồn cung cấp nhập lượng và kỹ thuật cho kinh tế ở bên trong.

- Vì đến 90% lượng hàng hóa trao đổi giữa các lục địa ngày nay đều qua đường hàng hải, là cách rẻ nhất, việc tự do chuyển vận qua đại dương là nhu cầu sinh tử cho thế giới và được quốc tế công nhận, được đệ nhất siêu cường hải dương là Hoa Kỳ bảo vệ. Khi mở cửa ra ngoài, lãnh đạo Trung Quốc lại muốn kiểm soát quyền tự do đó, trước hết là trên vùng biển cận duyên.

Bành trướng và ngang ngược

   


image.jpg
Cái gọi là Thành phố Tam sa của Trung Quốc chụp hôm 25/7/2012. AFP photo    


Vũ Hoàng: Qua phần trình bày phải nói là rất cô đọng vừa rồi, người ta thấy ra ít nhất hai vấn đề với lãnh đạo Bắc Kinh. Trước hết là quyền khai thác tài nguyên ngoài biển cả mà Trung Quốc lại coi là thuộc chủ quyền của mình ở ngoài Đông hải. Thứ nữa là quyền tự do vận chuyển mà lãnh đạo xứ này lại muốn kiểm soát và thực ra là hạn chế. Có phải là như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là ngoài Đông hải của Trung Quốc tức là vùng biển Đông Bắc Á, xứ này gặp các lân bang phú cường và không sợ. Tại Đông hải của Việt Nam, tức là vùng biển Đông Nam Á, Trung Quốc gặp các quốc gia nhỏ yếu hơn nên mới tính trò hung hãn và ly gián. Đã vậy, vùng biển Đông Nam Á còn có vị trí chiến lược cho luồng vận chuyển từ Thái Bình dương qua Ấn Độ dương, từ Đông Bắc Á xuống đến Úc châu nên cũng là vùng sinh tử cho kinh tế Trung Quốc, là điều chưa hề có bao giờ, nên họ muốn kiểm soát lấy.

- Cho nên, ngoài việc vẽ ra cái lưỡi bò chín khúc để tranh đoạt tài nguyên ngoài Đông hải, chiếm lấy các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, rồi đưa hải quân vào vùng tranh chấp chủ quyền với các nước Đông Nam Á, lãnh đạo Bắc Kinh còn muốn biến vùng biển Đông Nam Á thành vùng trái độn quân sự của mình.

- Tôi muốn được nhấn mạnh đến sự kiện là Trung Quốc không chỉ muốn cưỡng đoạt tài nguyên thủy sản hay năng lượng và kim loại dưới biển Đông Nam Á mà còn đòi xây dựng khu vực này thành vùng trái độn quân sự tương tự như Tây Tạng, Tân Cương, hay Nội Mông. Nếu thế giới không có phản ứng thì sẽ có ngày Bắc Kinh gọi đây là khu vực quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Như vậy hình như dự báo của ông lại còn bi quan hơn cái nhìn của nhiều người vì không thu hẹp vào chuyện tước đoạt tài nguyên dưới đáy biển.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi sẽ lại nói ngược nữa! Chính là thái độ ngang ngược của xứ này khi họ chưa có một lực lượng hải quân hùng mạnh lại là điều may vì sẽ khiến thế giới chú ý và các nước liên hệ phải có phản ứng. Các nước liên hệ không chỉ là Việt Nam hay Philippines bị cướp mất lãnh hải và tài nguyên ở dưới mà còn có các nước bị hạn chế vận chuyển qua các dòng hải lưu hay hiểm lộ ngoài biển. Chúng ta đã thấy và sẽ thấy phản ứng đó của quốc tế.

- Nếu Bắc Kinh chấp nhận luật lệ quốc tế như đa số các nước về quyền khai thác tài nguyên và quyền vận chuyển ngoài biển thì còn có đàm phán hầu giải quyết các mâu thuẫn. Vì đa nghi và chủ quan, họ không tôn trọng điều ấy nên mới là vấn đề cho thế giới chứ không là vấn đề riêng của Việt Nam. Còn vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, có lẽ nó nằm trong đảng Cộng sản và vấn đề ấy thì người Việt phải giải quyết lấy hầu có thể hợp tác cùng các nước để giải quyết vấn đề Trung Quốc của thế giới. Nhưng chuyện ấy vượt khỏi đề tài của chúng ta ở đây.

Vũ Hoàng: Đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Thứ Ba, tháng 8 07, 2012

Chiến Lược Bành Trướng Năng Lượng Của Trung Quốc

Thanh Hà & Nguyễn-Xuân Nghĩa RFI - Ngày 120807
Giàn khoan của Tập đoàn Dầu hỏa Trung Quốc CNOOC.
* Giàn khoan của Tập đoàn Dầu hỏa Trung Quốc CNOOC- REUTERS *


Trung Quốc gọi thầu quốc tế thăm dò dầu khí ở 9 lô trên Biển Đông. Tập đoàn CNOOC của Trung Quốc thông báo mua lại Nexen của Canada để làm chủ nhiều giếng dầu trên thế giới. Ấn Độ, Nga và Hoa Kỳ theo dõi sát chiến lược bành trướng về năng lượng của Bắc Kinh.


Ngày 19/07/2012, tập đoàn dầu khí nhà nước của Ấn Độ, ONGC Videsh thông báo duy trì hợp tác với Petro Vietnam, đặc biệt là sẽ cùng với đối tác Việt Nam tiếp tục thăm dò dầu khí ở lô 128 tại vùng Biển Đông. Phía Việt Nam đã yêu cầu Ấn Độ duy trì đầu tư tại lô 128 sau khi tập đoàn dầu khí Trung Quốc CNOOC gọi thầu quốc tế tại 9 lô, trong đó có lô 128 nằm trong vùng lãnh hải Việt Nam.

Trước đó hai ngày, trong chuyến công du nước Nga, vào trung tuần tháng chủ tịch nước, Trương Tấn Sang và tổng thống Vladimir Putin tuyên bố: Nga và Việt Nam tăng cường hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam.

Về phía Trung Quốc, cũng lại CNOOC, vào hôm 23/07/2012 tập đoàn này thông báo kế hoạch chi hơn 15 tỷ đô la Mỹ để mua lại một phần tập đoàn dầu khí Canada. Nexen đang làm chủ và khai thác nhiều giếng dầu trên thế giới, từ Bắc Hải của Anh Quốc đến Vịnh Mexico của Hoa Kỳ.

Phải chăng vì muốn tăng cường vị thế của CNOOC tại Canada, Nigeria, trong vùng Vịnh Mêhicô sát bờ biển Hoa Kỳ, ở khu vực Bắc Hải mà tập đoàn Trung Quốc đã chấp nhận mua lại Nexen của Canada với giá cao hơn giá thị trường đến 61 %?

Sau một thời gian sao nhãng, Hoa Kỳ đã giật mình trước khả năng Trung Quốc một khi mua lại Nexen sẽ với tới những giếng dầu của Mỹ trong vùng Vịnh Mêhicô. Quốc hội Mỹ đòi cứu xét hồ sơ CNOOC mua lại Nexen. Trước mắt chính quyền Canada chưa lấy quyết định sau cùng về đề nghị rất hời của phía Trung Quốc còn Bắc Kinh thì đang ráo riết mở chiến dịch vận động hành lang để lập pháp Hoa Kỳ không gây trở ngại trên đà «vươn ra thế giới» của tập đoàn dầu khí nhà nước CNOOC.

Chính sách của CNOOC phải chăng nhằm phục vụ mục đích của Trung Quốc là mở rộng tầm kiểm soát tài nguyên năng lượng của thế giới, trong đó có cả những khu vực tiềm năng trên thềm lục địa Việt Nam? Trữ lượng dầu khí tại khu vực Biển Đông đang thu hút sự chú ý của các siêu cường thế giới, từ Nga, đến Mỹ, từ Ấn Độ đến Trung Quốc. Hồ sơ năng lượng, không chỉ đơn thuần là một vấn đề kinh tế mà còn liên quan cả đến vấn đề an ninh và chiến lược.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, lần lượt phân tích về những ý đồ của tập đoàn dầu khí Trung Quốc nói chung và đối với khu vực dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam nói riêng. Theo quan điểm của ông đây là một «ván cờ đầy bất trắc» khi có ngần ấy nước lớn trên thế giới quan tâm.


Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng đây là một cuộc chơi đầy bất trắc cho ngần ấy tác nhân trong cuộc và nếu nhìn thấy những rủi ro bất trắc ấy, may ra ta sẽ hiểu ra nước cờ của thiên hạ.

- Trước hết, người ta thường nghĩ rằng vùng biển Đông Nam Á, tức là Đông hải của Việt Nam hay biển Hoa Nam của Trung Quốc, có một trữ lượng dầu thô và khí đốt rất lớn ở bên dưới. Thật ra, tất cả chỉ là dự đoán và trung bình thì phải mất vài chục triệu đô la thăm dò ở ngoài khơi thì mới biết được là dưới đáy biển có bao nhiêu triệu thùng dầu thô hay bao nhiêu tỷ thước khối khí đốt. Trung Quốc có ưu thế tài chính hơn các nước đang cùng tranh chấp về chủ quyền nên có thể dám chi tiền để thăm dò. Nhưng không nhất thiết là họ sẽ có lời trong chuyện khai thác này.

- Thứ hai, và đây mới là vấn đề đáng chú ý, Trung Quốc không chỉ cho tập đoàn CNOOC tìm dầu dưới biển mà còn muốn mời doanh nghiệp quốc tế cùng liên doanh với CNOOC trong nghiệp vụ đầu tư có rủi ro này để qua đó khẳng định chủ quyền của họ trên các vùng biển đang tranh chấp với các nước Đông Nam Á, trước tiên là với Việt Nam và Philippines.

RFI: Anh nhắc đến tập đoàn CNOOC, hiện CNOOC cũng đang thương lượng để mua lại tập đoàn dầu khí của Canada là Nexen với giá hơn 15 tỷ đô la Mỹ, cao hơn đến 60 % so với trị giá của tập đoàn này trên thị trường. Kế hoạch mua lại Nexen đó của CNOOC có liên hệ gì đến tranh chấp về chủ quyền tại Biển Đông hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng có nhưng lại kết luận ngược là vì "già quá mà hóa dại"! Tôi xin được giải thích như sau:

- Canada có tài nguyên năng lượng dồi dào và đã tính bán cho Mỹ. Tai họa của Mỹ trong mùa bầu cử là Chính quyền Barack Obama lại bác bỏ dự án lập ra hệ thống ống dẫn dầu khí Keystone từ tỉnh Alberta của Canada qua tám tiểu bang của Mỹ vì lý do bảo vệ môi sinh là điều tôi cho là lố bịch và nông cạn. Hậu quả là chính quyền và doanh nghiệp Canada thất vọng và đấy là cơ hội cho CNOOC nhảy vào đề nghị mua tổ hợp Nexen của Canada với giá còn cao hơn giá trị trường.

- Qua nước cờ của CNOOC, Trung Quốc muốn thụ đắc công nghệ thăm dò và khai thác năng lượng dưới đáy biển để có thể nhờ đó tìm thêm năng lượng của họ ở bên trong. Nhưng mục tiêu quan trọng hơn vậy là nhờ làm chủ kỹ thuật mới, Trung Quốc trở thành đối tác có lợi thế hơn các doanh nghiệp Việt Nam hay Philippines hầu có thể cùng doanh nghiệp quốc tế chia chác quyền lợi trên chín lồ dầu họ đòi rao bán.

- Thứ ba là nhờ kiến năng hiện đại, Trung Quốc còn muốn là qua tổ hợp Nexen sẽ làm chủ các giếng dầu của Anh ở Bắc Hải, của Mỹ trong Vịnh Mexico và các giếng dầu khác của Nexen trên thế giới, kể cả ngoài khơi Canada. Lợi thế thứ tư là nếu kiểm soát được nguồn cung cấp năng lượng, họ cũng có thể chi phối giá dầu quốc tế, kể cả giá dầu tại Hoa Kỳ.

- Nhưng tham vọng lớn lao ấy lại khiến các nước giật mình và nghĩ lại. Hoa Kỳ là một nước đang nghĩ lại vì năm 2005 đã từng bác bỏ đề nghị của CNOOC đòi mua tổ hợp Unocal của Mỹ.

RFI: Bây giờ chúng ta chuyển qua chuyện Ấn Độ và dự án liên doanh với Việt Nam để thăm dò lô dầu 128. Anh giải thích thế nào về quyết định mới đây của New Delhi ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Doanh nghiệp ONGC Videsh của Ấn có hai dự án liên doanh với Việt Nam trên hai lô dầu 127 và 128. Khi thăm dò như vậy thì tốn kém và họ đã mất 45 triệu đô la mà chưa thấy triển vọng. Vì vậy, hai tháng trước đây, Ấn Độ tính rút khỏi lô 127 và cân nhắc lại về lô 128 trong khi Việt Nam cố thuyết phục họ ở lại. Thế rồi quyết định của Trung Quốc là đem chín lô trên thềm lục địa của Việt Nam ra gọi thầu lại làm Ấn Độ bị kẹt.

- Vì lý do kinh doanh không có lời mà triệt thoái thì ai cũng thông cảm. Nhưng khi Trung Quốc nhảy vào một nơi mà Ấn Độ đang liên doanh với Việt Nam thì việc triệt thoái của Ấn lại có ý nghĩa ngoại giao, như phải bỏ chạy vì sợ đụng độ với Trung Quốc.

- Chính là thái độ của Trung Quốc mới khiến Ấn Độ nêu vấn đề với khối ASEAN và mới đây nhất là với Ngoại trưởng Indonesia là thứ nhất, các nước phải đảm bảo quyền tự do lưu thông ngoài biển, thứ hai là phải tôn trọng quyền khai thác kinh doanh theo đúng luật lệ quốc tế.

- Đâm ra Trung Quốc có thể mua chuộc được xứ Cam Bốt để cho chìm xuồng hồ sơ ứng xử ngoài biển Đông trong thượng đỉnh vừa qua của Hiệp hội ASEAN tại thủ đô Cam Bốt. Nhưng cũng vì thế mà gây phản ứng dội ngược từ các thành viên ASEAN khác và từ Ấn Độ. Nghĩa là Bắc Kinh vừa góp phần xây dựng thế liên kết của các nước ASEAN với nhau và với Ấn Độ.

RFI: Qua phần trình bày của anh thì người ta có thể mường tượng ra một thế liên hoàn hay các vòng xoáy đan kết với nhau mà trung tâm hay trọng tâm lại là Trung Quốc. Tất nhiên là ở bên kia Thái Bình Dương, Hoa Kỳ cũng theo dõi kỹ động thái của Bắc Kinh.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là một tin mà đài RFI đã loan tải khi Hội đồng Kiểm soát Chứng phiếu SEC của Mỹ lập tức tiến hành thủ tục truy tố một doanh nghiệp Trung Quốc có hội sở tại Hong Kong về tội giao dịch qua nội tuyến. Cụ thể là doanh nghiệp Well Advantage Limited này đã có thể biết trước về việc CNOOC mua tổ hợp Nexen của Canada với giá cao nên mới gom trước cổ phiếu của Nexen. Hội đồng SEC của Mỹ còn phong tỏa tài sản của các tay giao dịch cổ phiếu đã dùng tài khoản ở Hồng Kông và Singapore để kiếm ra 13 triệu đô là tiền lời nhờ cổ phiếu Nexen trước khi có tin CNOOC đòi mua Nexen. Thật ra, đấy chỉ là chuyện nhỏ của giới đầu tư có quan hệ với CNOOC nên đã nhân cơ hội kiếm lời lặt vặt.

- Chuyện lớn là phía Hoa Kỷ cũng biết CNOOC tức là Trung Quốc đã thuê hai công ty vận động hành lang chính trị Mỹ để tác động vào Quốc hội Hoa Kỳ hầu khỏi gặp trở ngại trong việc mua tổ hợp Nexen. Tổ hợp này có tài sản là những giếng dầu của Mỹ trong Vịnh Mexico. Khi CNOOC mua Nexen và làm chủ các giếng dầu này thì Chính quyền Mỹ, cụ thể là Hội đồng SEC và Ủy ban Đầu tư Nước ngoài thuộc Bộ Tài chính Mỹ, phải cứu xét và đề nghị biện pháp ứng phó nếu mà việc thụ đắc ấy xâm phạm vào quyền lợi Hoa Kỳ. Khi ấy, Bắc Kinh sẽ phải đàm phán và có khi chấp nhận những nhượng bộ kinh tế khác, như Nghị sĩ Dân chủ tại New York là ông Charles Schumer đã gợi ý cho Tổng trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner.

- Cho nên vấn đề không chỉ là CNOOC kéo dàn khoan và mời chào quốc tế vào khai thác năng lượng trên thềm lục địa của Việt Nam. Vấn đề cũng chẳng là nâng cấp bộ hành chính của thành phố Tam Sa chơ vơ ngoài Đông hải mà cũng chẳng là kéo tầu hải giám hay chiến hạm vào uy hiếp các nước. Vấn đề ở đây là sự ngang ngược của Trung Quốc đã gây phản ứng ngược của thế giới và đấy là một sự bất trắc cho Bắc Kinh.

RFI: Những bất trắc đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh đã rất già đòn khi mở ra thế cờ năng lượng ngoài Đông hải đề vừa kiếm dầu khí ở dưới vừa khiến cho các nước ham làm ăn kiếm lời mà mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các khu vực quần đảo đang có tranh chấp. Thế cờ ấy khiến các nước Đông Nam Á có tranh chấp sẽ phải chọn một trong ba ngả.

- Hoặc là hợp tác với CNOOC để chia chác một chút lời thay vì đứng ngoài mà phản đối xuông. Hai là mời một nước thứ ba vào liên doanh với mình để có lực đối trọng với Trung Quốc, như trường hợp liên doanh của Việt Nam với Ấn Độ hay với các doanh nghiệp Âu, Mỹ, Nga sau này. Ngả thứ ba là thắt lưng buộc bụng và ráo riết đầu tư vào công nghệ cao về dầu khí để thu ngắn khoảng cách với Trung Quốc. Cả ba loại giải pháp này đều có lợi hại riêng và không dễ thi hành.

- Nhưng giữa thế cờ phức tạp ấy, Trung Quốc lại già néo và khiến cho khu vực Đông Nam Á trở thành bất ổn làm cả thế giới đều quan tâm và báo động. Trong hoàn cảnh đó, chưa chắc là các tập đoàn dầu khí quốc tế lại mau mắn nhảy vào để đứng giữa hai ba lằn đạn. Rốt cuộc thì chính Trung Quốc lại gây ra sự bất trắc khiến các nước đều ngần ngại và đều muốn Hoa Kỳ xác định sự hiện diện quân sự ở trong vùng.

- Chưa thấy tổ hợp dầu khí của Mỹ đâu thì đã thấy chiến hạm Hoa Kỳ lảng vảng ở ngoài, với sự cổ võ của các nước từ Nhật Bản, Ấn Độ đến Úc. Trong mùa bầu cử tại Mỹ, cả hai phe đều sẵn sàng nhắm vào mối nguy kinh tế hay an ninh từ Trung Quốc để huy động cử tri và Bắc Kinh đang cho chính trường Hoa Kỳ một đề mục tranh luận rất hấp dẫn. Chúng ta sẽ còn cơ hội theo dõi những chuyện bất trắc này ở Đông hải.



Nhất Thời và Vạn Thế

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120806
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Bí ẩn Hoa Kỳ và Bầu cử Tổng Thống

 * George Washington - Quốc phụ và Tổng thống đầu tiên *


Người ta thường nói, không mấy sai, rằng Hoa Kỳ cứ thay đổi chính sách đối ngoại sau một cuộc bầu cử tổng thống. Nhưng, nhìn trong trường kỳ thì ai lên lãnh đạo nước Mỹ cũng vẫn chấp hành một số chính sách nhất định. Một nghịch lý của chuyện nhất thời và trường cửu chăng?

Khi ra tranh cử tổng thống năm 2000, Thống đốc Texas là George W. Bush đả kích việc Chính quyền Bill Clinton can thiệp vào Kosovo và nhấn mạnh đến chủ trương đối ngoại của ông: hãy khiêm cung với thiên hạ, không áp đặt giá trị của Hoa Kỳ với các nước, tránh hao tốn tài nguyên đi "xây dựng quốc gia" cho xứ khác, để rồi sẽ gánh vác chuyện của thiên hạ. Quan điểm ấy phần nào phản ảnh một xu hướng tự cô lập trong đảng Cộng Hoà, hoặc của nước Mỹ nói chung từ thời lập quốc vào cuối thế kỷ 18, khi muốn tránh bị lôi vào các cuộc chiến của thế giới bên ngoài, thời đó là thế giới Âu Châu.

Chúng ta đều biết kết quả.

Chính quyền Bush mở ra ba chiến trường, chống khủng bố Hồi giáo, đưa quân vào A Phú Hãn rồi Iraq, với những hậu quả tệ hại mà ứng cử viên Bush đã tiên báo, trước khi thành Tổng thống. Thân phụ của ông, Tổng thống George H. W. Bush mở chiến dịch tấn công Iraq năm 1991, nhưng vào thật sâu rồi rút thật nhanh chứ không lật đổ chế độ Baghdad, theo khuyến cáo của Tổng trưởng Quốc phòng khi đó là Dick Cheney: lật đổ chế độ Saddam Hussein thì sẽ lãnh vạ xây dựng Iraq. Ông Cheney đầy khôn ngoan này chính là Phó Tổng thống của Bush 43, và mang tiếng là diều hâu chủ chiến trong vụ tấn công Iraq năm 2003!

Khi ra tranh cử tổng thống năm 2008, Nghị sĩ Illinois là Barack Obama có lập trường tương tự như Thống đốc Bush năm 2000. Phải xác định lại mục tiêu của Hoa Kỳ với Âu Châu, Liên bang Nga và thế giới Hồi giáo để tìm một vị trí khiêm nhường hơn cho nước Mỹ chứ không thể hung hăng can thiệp vào thiên hạ sự. À quên, nhân tiện thì phải đóng trại tù tại Guantanamo.

Chúng ta cũng đều biết kết quả.

Trở thành "người vái tứ phương" và phân bua về những sai lầm trước, ông Obama tiếp tục áp dụng đối sách ngoại giao của người tiền nhiệm, đôn quân vào A Phú Hãn như ông Bush đã làm tại Iraq, can thiệp vào Libya, gửi biệt kích qua Uganda, mở thêm căn xứ quân sự tại Úc và cho máy bay không người lái bắn hạ quân khủng bố trong lãnh thổ của xứ khác. Còn Guantanamo thì vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.

Chúng ta đụng vào một nghịch lý của Hoa Kỳ trong mùa bầu cử tổng thống, bốn năm lại có một lần. Đó là mâu thuẫn giữa lý luận tranh cử và chính sách thực tế. Chẳng lẽ Tổng thống nào cũng nói một đàng, làm một nẻo?


***

Từ nguyên thủy, George Washington đã có thể làm... Hoàng đế Hoa Kỳ.

Ông là tư lệnh quân đội giải phóng, lãnh tụ cách mạng và... chủ đất có thế giá của khu vực sau này sẽ là thủ đô Hoa Kỳ. Nhưng may cho nước Mỹ, các bậc quốc phụ lại chọn thể chế Cộng hòa, thành lập nền dân chủ. Và Hiến pháp soạn thảo thì cố tình thu hẹp quyền lực của Tổng thống!

Vì vậy, lãnh đạo nước Mỹ cứ bị đề cao là "lãnh đạo thế giới" chứ lại chịu nhiều dây nhợ bó buộc nhất. Tổng thống Mỹ cũng chẳng có toàn quyền về đối nội vì ba định chế có thẩm quyền và thực lực về ngân sách, hiến chế và tiền tệ: Quốc hội, Tối cao Pháp viện và Ngân hàng Trung ương.

Hiến pháp Hoa Kỳ không trao tay hòm chìa khóa cho Hành pháp. Có muốn lách qua một bên để tìm đề mục xã hội hấp dẫn cho thành phần cử tri của mình, như quyền phá thai hay đồng tính, Tổng thống còn phải đếm số phiếu bên Lập pháp, cứ hai năm một lần là lại có Hạ viện mới và nhiều khuôn mặt và tư tưởng mới.

Vì vậy, Tổng thống chỉ còn một ngả nhằm để lại dấu ấn cho hậu thế là lãnh vực đối ngoại. Nhưng phải tìm đủ hậu thuẫn chính trị bên trong và được Quốc hội mở hầu bao cho ngân sách về ngoại giao, an ninh và quốc phòng. Tức là phải lọt qua một khung cửa hẹp.

Chúng ta đang chứng kiến sự thể này.

Khi lưỡng viện đánh nhau tơi tả làm Quốc hội bị ách tắc, tổng thống chỉ có thể bí beng phát biểu chứ thị trường và kinh tế ngó chừng xem Ngân hàng Trung ương có xả thêm tiền vào kinh tế nhờ một đợt QE thứ ba hay chăng. Do quyết định của Quốc hội, ngân sách quốc phòng đương nhiên bị cắt mấy trăm tỷ trong 10 năm tới dù Tổng thống, giới chức ngoại giao và quốc phòng lẫn lãnh đạo cả hai đảng đều nói tới việc tái phối trí phương tiện về Đông Á. Từ Tổng trưởng Quốc phòng Leon Panetta đến lãnh đạo Cộng Hoà bên Quốc hội đều lên giọng diều hâu, bị cắt cánh, và Tổng thống thì du dương nói qua chuyện khác.

Khi tranh cử, ứng viên Tổng thống vẽ ra giấc mơ xoay bạch ốc dựng lầu đài. Sau khi đắc cử thì đành liệu cơm gắp mắm và thỏa hiệp bên trong để tìm đủ đa số cho một quyết định đối ngoại. Nếu không thì vẫn xoay về chốn cũ, như người tiền nhiệm. Cho nên bảo rằng Mỹ ưa thay đổi chính sách ngoại giao sau mỗi lần tranh cử là không sai – mà chưa đúng.

Nhiều người ưa nói đến một thuyết âm mưu. Rằng thế lực này hay nhóm tài phiệt nọ đã tính trước cả, để đưa lên một người sẽ lãnh đạo nước Mỹ hầu thi hành những việc có lợi cho họ. Nếu quả như vậy thì may quá! Khi cử tri còn phân vân về chuyện chợ búa hay việc làm thì ai đó đã dựng sẵn lá bài cho cuộc cờ toàn cầu.  Xin cứ yên tâm vì... "Mỹ nó tính trước cả rồi"!

Chúng ta quá quen với lập luận đó trước và sau 1975. Rồi ngỡ ngàng không hiểu vì sao một tổng thống đầy thành tích nội chính là Lyndon Johnson lại mất việc vì chuyện đối ngoại ở Việt Nam. Hoặc một tổng thống lẫy lừng về đối ngoại như Richard Nixon lại rớt đài vì một chuyện không đâu ở bên trong là vụ Watergate.

Nhìn từ bên ngoài, chúng ta có thể tìm ra một cách giải thích khác:  

Lãnh tụ nào cũng lãnh một tụ bài khi ngồi vào canh bạc - rồi liệu đó mà chơi. Ông Bush lãnh một quả bất ngờ là vụ khủng bố 9-11 đã có cái nhân từ các chính quyền tiền nhiệm nên vào cuộc là đành xoay 180 độ. Ông Obama cũng ôm kỳ vọng và lãnh hậu quả bất ngờ là bội chi ngân sách cho nên cái khó mới bó cái khôn. Khác nhau chỉ ở cách nín thở "giải nghiệp" như ông Bush năm 2004 hoặc đổ lỗi như ông Obama năm 2012.

Thật ra, từ trăm năm nay bất cứ ai lên lãnh đạo Hoa Kỳ đều đành quên mộng mị khi cầm ấn tín Tổng thống. Sau khi đọc hồ sơ và học bài về an ninh đối ngoại, Tổng thống phải dung hòa với các định chế bên trong và tìm cách củng cố mục tiêu truyền thống trước những xoay vần của thế giới bên ngoài.

Các mục tiêu đó là bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi cốt lõi tại Tây bán cầu, hai lục địa Nam-Bắc Mỹ. Kế tiếp là cân bằng quan hệ quốc tế để các cường quốc bị giàng vào nhau mà không xứ nào có thể đe dọa quyền lợi Hoa Kỳ. Quan hệ đó như chuyện Liên Xô với Đức Quốc Xã, như Nga với Tầu, Âu với Á, như Sunni với Shia hay dân Thổ dân Kurd  trong khối Hồi giáo. Như Trung Quốc ngày nay với các nước bán đảo hay hải đảo vây quanh: Ấn Độ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi, khối ASEAN.... Đó là về chiến lược.

Về chiến thuật thì khi phải giải quyết một mâu thuẫn, Hoa Kỳ vận dụng ngần ấy phe can dự, cả đồng minh lẫn đối thủ, để tùy thế tác động. Yểm trợ phe chống Mỹ hoặc đàm phán với kẻ thù cũng không là sự lạ. Miễn rằng sau cùng, ai thắng ai bại thì nước Mỹ vẫn có lợi hơn cả.

Hoa Kỳ là nền cộng hoà có đạo lý cao thượng mà cũng đầy thủ đoạn quái quỷ của một đế quốc. Dung hoà được hai mâu thuẫn đó mới là Tổng thống vĩ đại. Trong thể kỷ 20, có hai người là thuộc lớp siêu hạng này. Nhưng được ca tụng vì thành quả nội chính, về xã hội như F. D. Roosevelt hoặc kinh tế như Ronald Reagan!