Thứ Ba, tháng 4 07, 2015

Cào Mặt Ăn Vạ Tại Hy Lạp



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 150406
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Khi nàng Helen quản lý kinh tế và tung đòn chính trị  

* Thủ tướng Đức, dưới con mắt của một số dân Hy Lạp: Hitler tái sinh! *



Theo dõi trận đấu trí giữa Chính quyền Hy Lạp, do đảng Syriza lãnh đạo từ đầu năm nay, với Liên hiệp Âu châu EU, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Chính quyền Angela Merkel của Cộng hòa Liên bang Đức, chúng ta học được nhiều điều về nghệ thuật quịt nợ. Chuyện này có ích trong tình trạng đáng ngại là sau vụ khủng hoảng 2008, các nước đều không trả bớt nợ nần mà còn vay nhiều hơn trước nên rủi ro vỡ nợ lại gia tăng.

Syriza là chữ viết tắt bằng tiếng Hy Lạp của Liên minh các Lực lượng Thiên tả và Cực tả. Đây là các nhóm vận động chính trị gom lại thành phong trào, bên trong vẫn còn nhiều dị biệt. Và khái niệm Cực tả, Radical Left, gồm cả các nhóm cộng sản, từ Đệ tam đến Đệ tứ. Bài này thiếu chỗ liệt kê lý lịch của hơn hai chục nhóm ô hợp đó - vì chú trọng đến việc khác.

Sau khi hai chính đảng truyền thống là đảng Tân Dân chủ thuộc phe trung hữu và Xã hội PASOK thuộc cánh trung tả đều thất bại trong việc giải quyết vụ khủng hoảng manh nha từ năm 2008 và bùng nổ dữ dội vào năm 2010, quần chúng Hy Lạp thất vọng, Tháng Giêng vừa qua, họ dồn phiếu cho Liên minh Syriza với hy vọng giải quyết chuyện nợ nần mà không ảnh hưởng đến cuộc sống họ cho là đã quá khó khăn. Chủ trương mâu thuẫn và mị dân của Syriza khó thoả mãn ngần ấy yêu cầu và lại gây vấn đề cho khối Euro lẫn các định chế có trách nhiệm giải quyết như Hội đồng Âu châu, Quỹ IMF và Ngân hàng Trung ương Âu châu ECB.

Đằng sau, bị trách nhiệm nặng vì gánh tài trợ và cấp cứu là Chính quyền của Thủ tướng Angela Merkel. Bà Merkel cần bảo vệ khối Euro vì quyền lợi kinh tế của Đức, nhưng nếu cái giá phải trả lại quá lớn - về kinh tế cho nước Đức và về chính trị cho đảng cầm quyền của bà – thì Đức đành cho Hy Lạp ra khỏi khối Euro của 19 nước trong Liên Âu gồm có 28 nước. Hậu quả sẽ là chuyện bất lường, mà đáng ngại.

Sau khi khái quát lại bối cảnh, chúng ta đi vào thực tế: đồng hồ đã điểm mà nàng Helen biểu tượng của Hy Lạp lại hết tiền.

Từ nay đến cuối năm, nàng Helen vẫn phải thanh toán nhiều khoản nợ theo lịch trình sẵn có. Hơn bù kém thì mỗi tháng  trả gần hai tỷ Euro khi công khố đã cạn kiệt và ký thác vào ngân hàng bị hao hụt nặng từ năm ngoái. Vì vậy, sau nhiều đợt đàm phán gay go về khoản cứu trợ, thứ nhì, trị giá bảy tỷ Euro (7,7 tỷ Mỹ kim) mà chưa ngã ngũ,  nàng Helen-Syriza tung ra hai đòn ngoạn mục, khá tiêu biểu cho tinh thần “kinh tế cũng là chính trị”.

Đòn thứ nhất là ăn vạ với quốc tế.

Ngày 10 Tháng Ba, Thủ tướng Alexis Tsipras đọc diễn văn trước Quốc hội và đề cập đến khoản bồi thường cho Hy Lạp những thiệt hại mà chế độ Đức quốc xã đã gây ra khi chiếm đóng xứ này từ 1941 đến 1944. Ít ai chú ý đến chuyện ấy, trừ tờ Der Spiegel của Đức có xu thế khuynh tả. Tạp chí này nói đến nỗi ân hận của dân Đức ngày nay về tội ác mà Đức quốc xã đã gây cho Hy Lạp ngày xưa. Giữa cuộc tranh luận nóng bỏng, dụng ý chính trị của tờ báo là điều độc giả thấy ra, nhất là khi nhiều lãnh tụ Syriza cũng đã ám chỉ tính chất “quốc xã” của bà Merkel.

Đòn thứ hai là đổ tội trong nội bộ.

Cuối Tháng Ba, Chính quyền Syriza đề nghị thành lập ủy ban điều tra trách nhiệm của các chính phủ tiền nhiệm khi giải quyết vụ khủng hoảng. Từ cuộc tranh cử cuối năm ngoái, Syriza đã nêu sáng kiến này. Bây giờ lại hâm nóng hy vọng, để giải tỏa sức ép từ cánh cực tả trong liên minh, về trách nhiệm của mình khi phải giải quyết di sản do các chính phủ trước để lại.



***



Nói về chuyện xưa trước.

Tháng Tư năm 1941, nước Đức dẫn đầu nước Ý trong phe Trục chiếm đóng xứ Hy Lạp cho đến Tháng 10 năm 1944, khi các nước Đồng Minh bước vào giải phóng Âu Châu và đánh tan phe Trục. Qua hơn ba năm chiếm đóng, việc tàn sát và bóc lột đã xảy ra với hậu quả thảm khốc cho nàng Helen. Sau khi chế độ Quốc xã sụp đổ, Hội nghị Bồi thường tại Paris cuối năm 1946 định ra việc các nước bại trận, như Đức, Ý và cả Bulgaria, phải đền tiền cho 23 quốc gia. Trong đó Hy Lạp được chừng 7% của tổng số, một con số thấp hơn những gì Helen đòi hỏi.

Nhưng vì tình thế đổi thay khi Liên Xô bành trướng vào Đông Âu và Trung Âu, khối Tây phương dời mục tiêu từ việc trừng phạt các nước phát xít qua việc bảo vệ Âu Châu. Chiến lược ấy dẫn đến việc liên kết với Tây Đức và tái thiết Tây Âu nhờ Kế hoạch viện trợ Marshall của Hoa Kỳ. Hy Lạp hưởng lợi về kinh tế, được yểm trợ để ngăn ngừa tổ chức cộng sản, đổi lại thì không đòi thêm tiền bồi thường. Năm 1953, tại hội nghị ở London, các nước Âu châu còn đồng ý giảm nợ cho Đức và năm 1960, Đức có trả thêm cho Hy Lạp 67 triệu đô la (115 triệu Đức Mã).

Năm 1990 Chiến tranh lạnh kết thúc, các nước đồng minh kể cả Hy Lạp đều đồng ý xóa hết nợ cho Đức, khi ấy phải cáng đáng việc chuộc lại, thống nhất và tái thiết Đông Đức. Với nước Đức thống nhất, quyết định này bao gồm mọi khoản nợ của chế độ Quốc xã ngày xưa. Nhưng sau đó, một số quốc gia, kể cả Hy Lạp, vẫn viện dẫn nhiều trường hợp thiệt hại cụ thể vào thời chiếm đóng để đòi thêm. Nổi lên từ năm 1995, các cuộc tranh luận và kiện tụng ấy vẫn chưa chấm dứt.

Và càng khó dứt khi mà trong vụ khủng hoảng Euro, Đức lại có nền kinh tế giàu mạnh nhất. Ngón võ của Helen là nắm anh có tóc, không nắm anh trọc đầu. Nhất là anh có tóc còn có tội tổ tông. Ngón võ ấy quả là chiến thuật hữu ích khi cần chứng minh với quần chúng ở nhà quyết tâm tranh đấu của mình. Đến độ moi tội phát xít của Đức, và còn đòi gá nghĩa với Vladimir Putin!

Nhưng, nếu có nằm mơ mà đòi được đền một tỷ đô la – điều bất khả - thì vẫn chưa đủ lấp vào hồ nợ quá sâu. Chưa kể là sẽ bị Âu Châu trừng phạt cách khác, trong khi Putin cũng đã cạn láng.


***

Đòn đổ lỗi của nàng Helen-Syriza còn hung hiểm hơn trò nắm tóc.

Ủy ban điều tra mà Chính phủ Tsipras muốn thành lập lại nhắm vào cái tội của Chính quyền thuộc đảng PASOK khi đề nghị việc chuộc nợ đầu tiên vào giữa năm 2010. Chi tiết ấy đáng chú ý vì chĩa mũi dùi vào chính đảng thuộc cánh tả, và bỏ qua trách nhiệm của Chính quyền Tân Dân chủ thuộc cánh hữu. Đảng này lãnh đạo từ năm 2004 đến 2009 và có góp phần gây nên khủng hoảng. Cùng là đồng chí đồng hành người ta mới hạ đòn hung hiểm - ở dưới đầu gối.

Nếu Ủy ban hài tội này kết luận rằng PASOK có lầm khi thương thuyết điều kiện giảm nợ năm 2010 thì Chính quyền mới sẽ chiều theo ý dân mà đòi quịt luôn một phần của khoản nợ. Helen-Syriza đã mớm việc đó khi đòi tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về nhu cầu trả nợ và sẽ dùng kết quả điều tra của Ủy ban này để tranh thủ hậu thuẫn cho cuộc trưng cầu dân ý.

Khốn nỗi, dù đã lỡ thời và mất ghế sau bầu cử, đảng PASOK vẫn có quan hệ với hai thế lực lớn của xã hội Hy Lạp là doanh giới và nghiệp đoàn. Ngón võ của Syriza chưa chắc đã thuyết phục nổi phe cực tả trong liên minh mà còn khiến đảng PASOK dùng thế lực của mình để chống đối, khiến Chính phủ Syriza càng lâm nguy vì bất ổn.

Hy Lạp có thể lại bầu cử sớm, hoặc trưng cầu dân ý để nhất trí quịt nợ. 


***


Bi kịch của nàng Helen xứ này là cử tri quên rằng các chính quyền tiền nhiệm đã khai gian thống kê để đủ tiêu chuẩn gia nhập khối Euro. Sau đó họ hưởng lợi nhiều hơn khả năng và nay vẫn muốn hưởng qua lời hứa hẹn của Syriza. Và, một mâu thuẫn khác mà cũng là mối nguy cho Syriza, là đa số dân chúng Hy Lạp ngày nay vẫn muốn xứ sở nằm trong khối Euro!

Kết luận ở đây là Syriza có thể mị dân thì cũng vì người dân vẫn chưa trưởng thành!

Thứ Năm, tháng 4 02, 2015

Trung Quốc Nói Láo Gần Bằng Nhà Báo



Hùng Tâm Ngày 150401
"Hồ Sơ Người-Việt"


Vài ba sự thật bị báo chí lãng quên khi nói về Trung Quốc

*Núi nợ của em lên tới trăng sao *



Chính quyền Hoa Kỳ đang mắc nợ rất nặng.

Tính đến ngày 30 Tháng Ba vừa qua thì nợ “tư nhân” trong và ngoài nước là hơn 13 ngàn tỷ đô la, khoản nợ của các cơ quan công quyền với nhau là hơn năm ngàn tỷ. Tổng cộng là: 18 ngàn tỷ 152 triệu 327 ngàn 875 đô la và 93 xu. Tại sao chúng ta biết đến tận số lẻ như vậy? Vì đây là con số được Bộ Ngân khố (Bộ Tài chánh của các nước khác), tính hàng ngày hàng giờ và còn niêm yết trên mạng www.treasurydirect.gov/NP/debt/current cho công chúng gần xa cùng biết.

Trung Quốc cũng mắc nợ rất nặng, mà nợ bao nhiêu và ai nợ ai thì chúng ta không biết. Cũng như chẳng biết là khối dự trữ ngoại tệ mà nhà nước Bắc Kinh nắm trong tay là bao nhiêu, đấy là một bí mật quốc gia. Mọi dữ kiện kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước (quốc doanh) cũng thế. Vì vậy, các chuyên gia kinh tế mới phải ước tính bằng các cuộc khảo sát kết hợp với những phương pháp thống kê khá chuyên môn. 

Hồ Sơ Người-Việt sẽ khởi sự từ sự khác biệt đó, để... nói về chuyện khác.

Nợ Nần Của Trung Quốc


Cách nay một tháng, viện nghiên cứu của tổ hợp tư vấn về quản trị McKinsey (thành lập từ 1926, doanh lợi là gần tám tỷ đô la, cố vấn cho 80% các doanh nghiệp lớn nhất thế giới) vừa công bố một phúc trình về tình hình nợ nần toàn cầu. 

McKinsey kết luận là sau vụ khủng hoảng 2008 vì nợ quá nhiều thì tình hình chưa cải thiện, các nước còn mắc nợ hơn trước. Phúc trình mấy trăm trang khá chuyên môn này là tài liệu khó nuốt cho nhà báo. Cho nên chúng ta ít biết về những rủi ro đang tích lũy đâu đó khi người ta mắc nợ quá nhiều. 

Đáng chú ý trong phúc trình của McKinsey Global Institute là tình trạng nợ nần của Trung Quốc. Thứ nhất là tăng vọt, thứ hai là lên tới mức khổng lồ. 

Tổng số nợ của Trung Quốc được ước tính khoảng hai ngàn tỷ 100 triệu đô la vào năm 2000, rồi bẩy ngàn tỷ 400 triệu vào năm 2007, trước cuộc khủng hoảng năm 2008. Trong bảy năm mà tăng hơn gấp ba. Nhưng tới cuối năm 2014 thì tổng số trái khoản ấy lên tới 28 ngàn 200 tỷ đô la (cho dễ hiểu thì đấy là số 28 trước 12 con số không); trong bảy năm nhân gấp bốn.

Cho năm 2014, sản lượng kinh tế của Trung Quốc được ước lượng là 10 ngàn đô la. Nghĩa là một quốc gia sản xuất được 10 ngàn mà mắc nợ đến 28 ngàn. Đấy là vấn đề. 

Giới kinh tế thu gọn cho dễ nhớ là tổng số nợ của Trung Quốc cao bằng 282% của Tổng sản lượng Nội địa GDP. Nhà báo thì viết là 282% GDP. Thế rồi thôi. Đấy là vấn đề khác, của truyền thông.

Đào sâu vào đó, ta mới thấy ra tình hình còn nghiêm trọng và rắc rối hơn vậy. 

Khi phân giải tổng số nợ (28 ngàn tỷ) người ta thấy công trái của Trung Quốc (nợ của khu vực công quyền) lên tới năm ngàn tỷ rưỡi (55% GDP). Nợ của các tổ chức tài chánh, thí dụ dễ hiểu là các ngân hàng hay công ty tín dụng lên tới 65% GDP; của các doanh nghiệp ngoài khu vực tài chánh là 125% GDP; và của các hộ gia đình là 38% GDP. 

Để so sánh, bốn tỷ lệ ấy của Hoa Kỳ lần lượt là 89% (công trái), 36% (tài chánh), 67% (doanh nghiệp) và 77% (gia đình). Nước Mỹ mang tiếng là mắc nợ, có tổng số nợ lên tới 269% của Tổng sản lượng và nợ nhiều nhất là công quyền và các hộ gia đình. Trung Quốc mắc nợ nặng nhất trong hai khu vực kinh doanh tài chánh và không tài chánh, tổng cộng lên tới 190% GDP.

Khi độc giả đã chịu khó đọc tới dòng chữ đầy số này thì cũng nên biết luôn rằng doanh nghiệp của Trung Quốc không có sổ sách minh bạch và kế toán rõ ràng. 

Khoản nợ lên tới 190% GDP hay 19 ngàn tỷ có rất nhiều nợ xấu. Giới tài chánh gọi đó là “nợ không sinh lời” - non performing loan - và có thể mất. Mà xấu tới cỡ nào thì chẳng ai biết, kể cả người trong cuộc là doanh nghiệp hay ngân hàng trung ương và các bí thư đảng bên trong các tổ chức này. Trong tổ chức của bộ máy nhà nước, kể cả các công ty quốc doanh, đều có chi bộ đảng sinh hoạt, và có một đảng viên giữ vai trò bí thư, để ghi chép và báo cáo mọi sự mà bên ngoài không được biết, thị trường tất nhiên là không.

Thêm một chi tiết nhức đầu khác là hệ thống vay mượn ngoại ngạch của các ngân hàng, ngoài bảng kết toán tài sản, hay shadow banking, được gọi là “ngân hàng chui” cho dễ hiểu. Số nợ này lên tới sáu ngàn tỷ 500 triệu và trút vào các nghiệp vụ đầu cơ đầy rủi ro của các đại gia có quan hệ lớn. Chỉ so sánh riêng khoản nợ bấp bênh ấy (6.500 tỷ của một nền kinh tế 10.000 tỷ), ta thấy ngay rằng dự trữ ngoại tệ bằng gần bốn ngàn tỷ (và đang sụt) của nhà nước thì chẳng có nghĩa lý gì. Khi ấy, có phải tính thêm dự trữ vàng của Trung Quốc ở khoảng 4.500 tỷ nữa không? Gánh vàng đem đổ sông Ngô?

Kết luận ở đây là Trung Quốc đang gặp rất nhiều rủi ro về tài chánh. Giới chuyên môn đánh giá là còn nguy ngập hơn Hoa Kỳ thời 2008 hay Nam Hàn thời 1997 hoặc Nhật Bản thời 1991.


Nhà Báo Nói Láo

Thế thì tại sao năm ngoái các nhà bình luận lại báo động về khả năng khuynh đảo của Bắc Kinh khi họ thành lập “Ngân hàng Phát triển Mới” của nhóm BRICS là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi với số vốn 100 tỷ? Thế giới đã có tám ngân hàng phát triển, kể cả Ngân hàng Thế giới có tính chất quốc tế và toàn cầu, và nhiều ngân hàng phát triển địa phương khác. Nay sẽ có thêm Ngân hàng BRICS. Chẳng có gì là ghê gớm. 

Rồi vì sao thế giới lại vừa hốt hoảng rằng Bắc Kinh muốn đẩy lui ảnh hưởng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB và Ngân hàng Phát triển Á châu ADB với sáng kiến thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu AIIB? 

Các nhà báo vô tình nói láo - vì không hiểu gì hết? 

Theo những gì đã được Bắc Kinh trình bày vào Tháng 10 năm 2013 rồi khai triển từ Tháng Sáu năm ngoái thì Ngân hàng AIIB có chức năng khác với IMF. Nếu có ý cạnh tranh thì AIIB chỉ có thể cạnh tranh với ADB tại Á châu, một định chế đã có 50 năm hoạt động, trong khuôn khổ Liên hiệp quốc, với số vốn hiện nay là 165 tỷ và kết hợp với Ngân hàng Thế giới về trình độ nghiệp vụ. 

Nói về Ngân hàng Thế giới thì đấy là định chế được thành lập chủ yếu để tái thiết Âu Châu sau Thế chiến II. Rồi mới mở rộng hoạt động sang lãnh vực phát triển qua hai địa hạt chính là tài trợ nhẹ lãi và cố vấn kỹ thuật cho các nước nghèo. Trong số các nước đó có Trung Quốc. 

Bắc Kinh mà được thế giới ngợi khen là tạo ra phép lạ kinh tế thì một phần cũng nhờ sự cố vấn của Ngân hàng Thế giới, và từ khi mở cửa thì được Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Á châu tài trợ tổng cộng 70 tỷ Mỹ kim. Ngày nay Trung Quốc vẫn còn được Ngân hàng Thế giới giúp đỡ trong khi đem mồi nhử với “ngân hàng đầu tư” – khác với “ngân hàng phát triển”.

Trình độ thành công của một ngân hàng phát triển – tài trợ nước nghèo với điều kiện ưu đãi theo tôn chỉ vô vụ lợi – tùy vào khả năng thẩm định, thực hiện và quản lý các dự án dài hạn. Khả năng đó của Trung Quốc đã được thấy qua nhiều tai nạn, như trong lãnh vực hỏa xa khiến một Bộ trưởng Hỏa Xa đã bị kỷ luật, hay tai họa về môi sinh như trong quá nhiều dự án kiều lộ hay thủy lợi. Và thiện chí phát triển Á châu của Trung Quốc thì có thể được thấy trên sông Mêkông hay ngoài Đông hải.

Kết luận ở đây là báo chí chưa làm đúng chức năng thông tin của mình.

Với mấy chục ngàn tỷ nợ, trong đó có nhiều ngàn tỷ sẽ mất, nếu Bắc Kinh có tung ra vài trăm tỷ để mua chuộc thế giới bằng ngân hàng này hay ngân hàng kia thì cũng chẳng thấm vào đâu. Ý chí chính trị của họ thì có thừa mà khả năng chuyên môn vẫn còn thiếu. Trong mấy tuần qua, chẳng thấy ai nêu lên mấy vấn đề ấy, mà chỉ thấy người ta phê phán Hoa Kỳ và Nhật Bản đã không hưởng ứng sáng kiến của Trung Quốc!


Học Phép IMF


Sau Đại hội khóa 18 vào Tháng 11 năm 2012 rồi Hội nghị kỳ ba của Ban chấp hành Trung ương vào năm kia, lãnh đạo Trung Quốc đã nói đến nhu cầu chuyển hướng và cải cách kinh tế cho sát với quy luật thị trường. Trong lần gặp gỡ tại Bắc Kinh vừa qua (hôm Thứ Hai 30 Tháng Ba), Tổng trưởng Ngân khố Hoa Kỳ than phiền thẳng với lãnh đạo Bắc Kinh rằng Trung Quốc quá chậm cải cách và điều ấy gây rủi ro cho kinh tế Trung Quốc và thế giới, kể cả Hoa Kỳ.

Một trong những điều được Tổng trưởng Jacob Lew nêu ra một cách ngoại giao là việc Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói tại Thượng đỉnh G-20 cuối năm 2010 là sẽ thi hành quy củ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF gọi là Special Data Dissemination Standard để công bố thông tin về dự trữ ngoại tệ. 

Tức là các nước tiên tiến có luật chơi rõ rệt cho kinh tế thị trường, là phải có thông tin đầy đủ. Bắc Kinh chưa đi tới trình độ ấy và hứa hẹn sẽ chấp hành – mà chưa. Vậy mà lại muốn lập ra cơ chế cạnh tranh để thay thế IMF. Trò khôi hài.

Phải chăng truyền thông đại chúng cũng chưa đi tới trình độ phơi bày ra chuyện ấy?

Có thể là cũng từ áp lực của Hoa Kỳ mà hôm Thứ Hai vừa qua, Bắc Kinh tạm hoãn áp dụng quy chế mới về kỹ thuật cao cấp cho các ngân hàng. Quy chế này hàm ý là các ngân hàng của Trung Quốc phải được quyền mua các kỹ thuật mới, an toàn và khả tín. Nghĩa là nếu muốn làm ăn tại Trung Quốc, doanh nghiệp ngoại quốc phải bán các kỹ thuật này, cho Trung Quốc tự tiện ăn cắp.

Vì lẽ đó, các doanh nghiệp Mỹ đã nêu vấn đề với Chính quyền và áp lực ấy mới khiến Bắc Kinh hoãn đà ăn cắp.

______________________

Kết luận ở đây là gì?

Truyền thông chưa đủ trình độ trình bày vấn đề cho rõ ràng. 

Cho nên làm việc hữu ích cho Bắc Kinh mà không biết.

Vận Chuyển Toàn Cầu

Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 150401
Diễn đàn Kinh tế
 
Chuyện hải cảng miền Tây của Mỹ là quyền lợi miền Đông của ta

  
Các tàu chở hàng trên biển (minh họa)
*Các tàu chở hàng trên biển (minh họa) RFA files *  


Sau chín tháng tranh chấp nghiệp đoàn, các hải cảng miền Tây Hoa Kỳ đang hy vọng phục hồi và sẽ đóng góp cho luồng vận chuyển hàng hóa từ Á Châu qua Bắc Mỹ. Nhưng một sự chuyển dịch khác đã lặng lẽ xảy ra khiến các hải cảng miền Tây của nước Mỹ mất dần vai trò trọng yếu, và điều ấy sẽ ảnh hưởng đến việc buôn bán qua Thái Bình dương. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện ấy qua phần trao đổi cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện.

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, báo chí Hoa Kỳ vừa loan tin vui là tranh chấp giữa công đoàn bốc rỡ hàng hóa tại miền Tây nước Mỹ và Hiệp hội Hàng hải Thái Bình dương đã bắt đầu có giải pháp sau gần chín tháng bế tắc. Trong giai đoạn ấy, việc bốc hàng từ Châu Á qua nước Mỹ bị trở ngại khiến nhiều thương thuyền ứ đọng ngoài khơi và gây thiệt hại cho mọi người, từ nhà sản xuất Á Châu đến các công ty nhập khẩu và phân phối tại Hoa Kỳ lẫn các hải cảng miền Tây nước Mỹ. Cư ngụ ở miền Tây đó, hiển nhiên là ông có theo dõi chuyện này. Xin đề nghị ông trình bày cho thính giả của chúng ta những nguyên nhân và hậu quả của một việc xảy ra ở rất xa nhưng có ảnh hưởng đến rất nhiều người.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Xin kính chào ông Việt Long. Thưa ông, từ cả chục năm nay, mâu thuẫn về quyền lợi vẫn thường xảy ra giữa hai tổ chức đại diện cho ngành hàng hải tại Mỹ khiến nhiều thành phần kinh tế khác đã bị thiệt hại. Hai tổ chức đó là công đoàn nhân viên bốc rỡ các bến cảng có tên là International Longshore and Warehouse Union và hiệp hội đại biểu các doanh nghiệp chở hàng qua biển Thái Bình dương, gọi là Pacific Maritime Associaton. Trong thời gian vừa qua, vụ tranh chấp đã kéo dài đến chín tháng và gây khá nhiều vấn đề kinh tế cho các nước Á Châu lẫn các tiểu bang miền Tây Hoa Kỳ và dội vào sinh hoạt buôn bán tại Mỹ.

- Trong hoàn cảnh bất lợi đó, chinh trường Mỹ lại có những ưu tiên khác nên chẳng mấy quan tâm đến chuyện này. Mãi cho đến khi Tổng trưởng Lao động Tom Perez và nhiều dân biểu nghị sĩ khác tìm cách hòa gỉải thì đôi bên mới tạm có một thỏa thuận sẽ áp dụng trong năm năm tới. Tuần này, các đại biểu của công đoàn Longshore đang có hội nghị nội bộ để thẩm xét thỏa thuận tạm và nếu họ đồng ý thì người ta hy vọng đẩy lui được cuộc khủng hoảng này.

Việt Long: Một câu hỏi rất ngắn thưa ông. Mức thiệt hại của vụ tranh chấp này là như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta đã từng thấy trong một tháng thì vài chục thương thuyền cứ cặm neo ngoài khơi mà không bốc rỡ được hàng hóa và thiệt hại chung được ước tính khoảng một tỷ đô la một ngày. Khi các doanh nghiệp như Wal-Mart, Home Depot hay Target của Mỹ mua hàng từ các nước Châu Á về mà hàng bị ứ tại miền Tây thì cả hệ thống sản xuất, phân phối lẫn giới tiêu thụ tại Hoa Kỳ đều bị thiệt hại. Cụ thể là người ta phải trả giá đắt hơn cho các món hàng và cho tầu hàng bị tê liệt ở các hải cảng như San Francisco/Oakland ở miền Bắc hay Los Angeles/Long Beach ở miền Nam tiểu bang California.


Từ cả chục năm nay, mâu thuẫn về quyền lợi vẫn thường xảy ra giữa hai tổ chức đại diện cho ngành hàng hải tại Mỹ khiến nhiều thành phần kinh tế khác đã bị thiệt hại. Hai tổ chức đó là International Longshore and Warehouse Union và Pacific Maritime Association - Nguyễn-Xuân Nghĩa

Việt Long: Câu hỏi thứ hai, thưa ông Nghiã. Lý do của tranh chấp là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, xin được nhắc là công nhân bốc rỡ do nghiệp đoàn Longshore đại diện không là khu khuân vác theo hiểu Cửu Vạn mà ta thường nghĩ. Họ vận trù nhiều thiết bị bốc rỡ các linh kiện hàng hóa to như tòa nhà, lĩnh lương công nhật tới 1.200 đô la một ngày và có điều kiện lao động của một xã hội hậu công nghiệp. Tổ chức Longshore đòi hỏi thêm về phụ phí y tế và quan trọng nhất là quyền quản lý các khung sườn gỡ hàng gọi là “chassis”.

- Xin nói về khí cụ tạm gọi là khung sườn có bánh này. Ta hãy tưởng tượng đến các xe rầy, mỗi bề cả chục thước,với khả năng di chuyển những linh kiện hàng hóa ngày càng lớn và càng nặng. Từ tầu chở hàng bốc xuống các xe rầy ấy người ta mới đưa hàng hóa ra khỏi hải cảng và chất lên xe hỏa hay xe vận tải chuyển tới các nơi khác trong nội địa.

- Chi tiết nhỏ nhặt ấy khiến chúng ta mường tượng ra một vấn đề lớn hơn. Chiều hướng chung của các doanh nghiệp hàng hải là đóng tầu chở hàng có sức trọng tải lớn hơn, với các linh kiện to nặng và tinh vi khiến cho việc bốc rỡ bằng cần cẩu trở thành nặng nề khó khăn hơn. Vì vậy, công nhân mới đòi thù lao cao hơn và nhất là quyền tham gia quản lý các thiết bị lao động của họ.

Việt Long: Thêm một câu nữa thưa ông về các chi tiết có vẻ như vụn vặt đó. Đấy là vai trò của nhà nước trong vụ này. Vì sao nhà nước không giải quyết các vấn đề ấy?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta nên thấy rằng nhà nước chỉ chạy theo sáng kiến của thị trường để phần nào giải quyết khi có vấn đề chứ nhà nước chẳng thể biết hết mọi chuyện! Thí dụ như với các khung sườn gỡ hàng thì chính quyền của các hải cảng đã đề nghị quản lý từ khâu sản xuất đến phân phối và sử dụng cho hiệu quả nhưng các nghiệp đoàn cũng muốn tham gia việc quản lý đó.

- Chuyện thứ hai là hệ thống luật lệ hiện hành đã có sẵn những văn bản làm cơ sở hòa giải tranh chấp, nhưng các dân biểu nghị sĩ, tức là cũng thuộc về nhà nước đấy, lại chưa chịu áp dụng, cho tới khi mâu thuẫn kéo dài và gây thiệt hại cho mọi người. Trong tương lai, có lẽ giới dân cử Mỹ sẽ được bài học và phải quan tâm nhiều hơn đến việc ấy. Tuy nhiên, và đây mới là chuyện chính trong đề tài của chúng ta. Đó là sau quá nhiều tranh chấp về công đoàn và tắc nghẽn kỹ thuật lẫn luật lệ, các hải cảng miền Tây Hoa Kỳ trở thành không đáng tin. Người ta đã tìm giải pháp khác.

Việt Long: Chúng ta đi vào phần hấp dẫn của đề tài này. Người ta là ai và giải pháp khác là gì?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Muốn thấy ra chuyện ấy, ta cần một tấm bản đồ của nước Mỹ, rồi một tấm bản đồ về đường chuyển vận toàn cầu, sau cùng là các thống kê về sản xuất của Trung Quốc và của cả Việt Nam và nhiều xứ khác. Trước hết là về nước Mỹ.

- Hoa Kỳ tiếp cận với ba mặt biển là Thái Bình dương ở hướng Tây, Đại Tây dương ở hướng Đông và Vịnh Mễ Tây Cơ ở hướng Đông Nam là nơi thông thương với cà Âu Châu, Trung Nam Mỹ và Phi Châu. Ở giữa, bên trong lãnh thổ là mạng lưới vận chuyển hàng hóa từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam, như từ Chicago tới Dallas, Houston hay New Orleans trong vùng Vịnh.

Người ta đã từng thấy trong một tháng thì vài chục thương thuyền cứ cặm neo ngoài khơi mà không bốc rỡ được hàng hóa và thiệt hại chung được ước tính khoảng một tỷ đô la một ngày.  Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Các hải cảng miền Tây mở ra Thái Bình dương là trung tâm tiếp nhận và xuất phát hàng hóa trao đổi với Canada và Trung Nam Mỹ nhưng chủ yếu với Đông Á và chiếm phân nửa các lượng tầu hàng ra vào Hoa Kỳ. Tại các hải cảng miền Đông và vùng Vịnh, người ta buôn bán với Âu Châu, Trung Nam Mỹ và Phi Châu. Nhưng vị trí trọng yếu hơn cả là mạng lưới vận chuyển bên trong, qua các hành lang bằng hỏa xa hay thiết lộ là phương tiện tương đối rẻ nhất.

- Thế rồi, sau các tranh chấp và bế tắc liên tục từ cả chục năm tại các cảng miền Tây, doanh nhiệp chở hàng, từ nhà sản xuất Mỹ tại Á Châu đến các công ty hàng hải xuyên đại dương tới các nhà phân phối Mỹ đã tìm bãi đáp khác. Họ chọn các cảng miền Đông hay vùng Vịnh lẫn miền Tây của Canada hay Mexico để rỡ hàng và ráp nối với mạng lưới trong nội địa để phân phối. Dù có đắt hơn thì cuối cùng vẫn lời vì tránh được ách tắc miền Tây. Chiều hướng ấy đã bắt đầu từ nhiều năm nay và sẽ còn tiếp tục. Miền Tây đang học được quy luật mà các cụ ta gọi là “già néo đứt dây”.

Việt Long: Ông có nói đến tấm bản đồ về đường chuyển vận toàn cầu. Chuyện ấy liên quan gì đến vấn đề các hải cảng miền Tây của Hoa Kỳ đang bị lánh xa?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Địa cầu của chúng ta là hình tròn chứ không là mặt phẳng của tấm bản đồ. Nếu nhìn như vậy ta có thể thấy ra ba đường chuyển vận lớn của các thương thuyền toàn cầu đang nối liền Châu Á với Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất của các nước.

- Thứ nhất, từ Thượng Hải của Trung Quốc mà men theo Thái Bình dương qua Ấn Độ dương rồi Vịnh Aden vào Hồng hải qua Địa Trung Hải tới Đại Tây dương để chất hàng tại New York thì người ta mất bình quân là 32 ngày, đi rất xa và có nhiều rủi ro lớn về an ninh, nên rất tốn kém. Con đường Tơ lụa trên biển mà Bắc Kinh đang nói tới sẽ đi qua ngả này.

- Thứ hai là cũng từ Thượng Hải mà vượt Thái Bình dương rồi kênh đào Panama để trở ngược lên Trung Mỹ và cập bến New York thì người ta mất 25 ngày. Với kế hoạch mở rộng và cải tiến kênh đào Panama sắp hoàn tất, con đường này sẽ còn có giá trị kinh tế cao hơn và rất đáng chú ý.

- Thứ ba là từ Thượng Hải mà vượt qua Thái Bình dương để bốc rỡ hàng tại hải cảng Long Beach của miền Nam California này, người ta chỉ mất từ 12 đến 14 ngày thôi. Nhưng lại gặp rủi ro là neo tầu ở ngoài khơi mất mấy tuần vì bên trong đang có tranh chấp hoặc rất thường có tranh chấp.

- Hậu quả là các doanh nghiệp vận chuyển đang bấm bụng tiết kiệm để chọn đường xa và tốn hơn mà rốt cuộc thì cũng có lợi. Hậu quả khác là các hải cảng miền Đông và miền Nam có thêm khách. Và mạng lưới ráp nối trong nội địa bằng nhiều hành lang hỏa xa cũng được đầu tư mạnh hơn để giải quyết bài toán phân phối ngược ở trong. Nhưng các doanh nghiệp loại nhỏ và ít vốn thì khó dời đổi con đường chuyển vận như vậy và có thể chết kẹt cùng các hải cảng miền Tây!

Từ Thượng Hải mà vượt qua Thái Bình dương để bốc rỡ hàng tại hải cảng Long Beach của miền Nam California này, người ta chỉ mất từ 12 đến 14 ngày thôi. Nhưng lại gặp rủi ro là neo tầu ở ngoài khơi mất mấy tuần vì bên trong đang có tranh chấp hoặc rất thường có tranh chấp - Nguyễn-Xuân Nghĩa

Việt Long: Chúng ta đi tới giai đoạn hấp dẫn của đề tài này : Kinh tế Trung Quốc và Việt Nam! Hậu quả của sự chuyển dịch mà ông vừa trình bày sẽ là những gì cho hai nền kinh tế đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là cùng với việc chuyển dịch hàng hóa tại các bến cảng của Mỹ từ Tây qua Đông lại có sự chuyển dịch sản xuất tại Á Châu từ Bắc xuống Nam. Trung Quốc đang mất dần vị trí công xưởng toàn cầu để sản xuất các mặt hàng tiêu dùng đại chúng như áo quần giày dép, hàng may mặc và cả đồ gia dụng lẫn bàn ghế giường tủ. Các nền kinh tế của miền Nam, là Đông Nam Á như Việt Nam hay Miến Điện và thậm chí Bangladeh đang có cơ hội trám vào khoảng trống của Trung quốc. Chiều hướng này sẽ tiếp tục trong cả chục năm tới.

- Khi ấy, Việt Nam và các xứ kia nên nhìn vào bài toán vận chuyển đang thay đổi mà tự chuẩn bị. Đầu tiên là nhìn trên toàn cảnh và chú ý các hải cảng miền Đông và vùng Vịnh của Mỹ và đến hai ngả thông thương ở xa mà sẽ là thiết yếu. Đó là kênh đào Panama đang được canh tân và hoàn tất năm tới và kênh đào Suez ở giữa những xung đột tại Trung Đông. Tình hình nơi đó sẽ chi phối cước phí hàng hòa của mình trong tương lai không xa lắm nên mình cần tìm hiểu và tính trước.

- Sau cùng, không nên nghĩ rằng vì vậy mà các hải cảng miền Tây sẽ thành bãi hoang cần xa lánh. Nơi này vẫn còn sự đắc dụng và vẫn là yếu tố cân nhắc của ta. Nhờ cộng đồng gốc Á nay đã mạnh tại Hoa Kỳ, giới dân cử địa phương sẽ phải được nhắc nhở về tình trạng tắc nghẽn và tìm giải pháp khai thông.

- Kết luận ở đây là Hoa Kỳ chỉ nhập khẩu có chừng 12% cho yêu cầu tiêu thụ nội địa nhưng vẫn là thị trường quan trọng nhất cho nhiều quốc gia và những gì xảy ra tại đây đều có thể chi phối lợi tức của xứ khác ở bên kia đại dương. Vì vậy, một vụ tranh chấp công đoàn tại miền Tây nước Mỹ cũng có ảnh hưởng đến chuyện làm ăn của xứ khác.

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích lý thú này.