Thứ Ba, tháng 1 05, 2016

Hoa Kỳ Vô Can?



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt  160104
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"


Không muốn can thiệp sau khi đã can thiệp - và gây chuyện đảo điên…


 * Trung Quốc đầu năm đã nhợt nhạt *



Vào ngày mở hàng đầu tiên của năm 2016, thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ rớt như cục gạch. Nói chung mất giá hơn 2%, điều chưa từng thấy từ 84 năm về trước, cũng vào một năm Thân, 1932. May quá, khi thị trường đóng cửa thì chỉ mất có 1,5%.

Giới quan sát nêu ra hai lý do.

Thứ nhất là thị trường cổ phiếu Thượng Hải mất giá hơn 7%, thị trường Thẩm Quyến nhỏ hơn thì mất trên 8%. Truy lên lý do mất giá bên Tầu là thị trường mất niềm tin vào 1) giá trị cổ phiếu, 2) đà tăng trưởng kinh tế và 3) khả năng quản lý của giới hữu trách. Tổng kết lại, mất niềm tin vào cơ chế kinh tế chính tri. Đấy là nguyên nhân. Còn hậu quả? Hậu quả là toàn cầu lo ngại ảnh hưởng bất lợi từ Trung Quốc nên thị trường Hoa Kỳ chưa mở bát vào sáng Thứ Hai thì các thị trường Âu Châu cũng sụt giá nặng. Nghĩa là Hoa Kỳ có bị hiệu ứng từ Trung Quốc, chỉ vài ngày sau khi Bắc Kinh biểu dương ý chí quân sự tại Đông Á….

Chúng ta sẽ trở lại chuyện bên Tầu sau, vì lý do thứ hai của vụ sụt giá cổ phiếu tại Hoa Kỳ là một biến cố Trung Đông.

Hôm Thứ Bảy mùng hai, Bộ Nội Vụ Saudi Arabia thông báo việc 47 tội phạm vừa bị hành quyết trên toàn quốc vì ba trọng tội là 1/ phản đạo Hồi, 2/ liên can đến việc tấn công lực lượng an ninh Saudi làm nhiều người thiệt mạng và 3/ âm mưu phá hoại kinh tế và uy thế chính trị Saudi khi đánh cướp ngân hàng và tràn vào tòa Tổng lãnh sự Mỹ tại Jeddah. Trong số bị hành quyết có giáo sĩ Sheikh Nimr al-Nimr là dân Saudi nhưng lãnh đạo hệ phái Shia trong lãnh thổ Saudi Arabia.

Với Hoàng gia Saudi thì khủng bố xưng danh Thánh Chiến, hệ phái Shia hay tội phạm hình sự đều là kẻ thù phải bị trừng trị.

Lập tức, lãnh đạo khối Hồi giáo Shia là Iran có phản ứng: tòa Đại sứ Saudi ở thủ đô Tehran bị đám đông tấn công và đốt phá. Hậu quả tức khắc ngày hôm sau là Hoàng gia Saudi quyết định đoạn giao với Iran và triệu hồi nhân viên ngoại giao trong vòng 48 tiếng. Hai đồng minh Sunni của Saudi Arabia là Bahrain, các Tiểu vương quốc Á Rập Thống nhất và Sudan cũng cắt đứt hay hạ múc bang giao với Iran.

Dù Iran chưa, và có thể là không, áp dụng nghệ thuật giam giữ nhân viên ngoại giao làm con tin, biến cố ấy cũng dội ngược vào thị trường Hoa Kỳ làm cổ phiếu sụt giá.

Nước Mỹ đã muốn vô can mà vẫn hữu họa! Vào buổi đầu năm, “Hoa Kỳ nhìn từ bên ngoài” là chuyện lý thú…


***

Lý thú đầu tiên là đa số dân Mỹ không theo dõi mâu thuẫn lâu đời giữa xứ Iran của dân Ba Tư theo hệ phái Shia với xứ Saudi của dân Á Rập theo hệ phái Sunni, nên ít chú ý đến sự kiện là hai cường quốc Hồi giáo này có hai tên gọi khác biệt cho cùng một vùng Vịnh. Saudi gọi đó là Vịnh Á Rập, Arabian Gulf. Iran gọi đó là Vịnh Ba Tư, Persian Gulf. Có mặt thì phải đặt tên, để xác định mặt đó là mặt gì, của ai.

Mâu thuẫn giữa hai cường quốc Ba Tư và Á Rập là chuyện quá xa cho người Mỹ. Năm xưa, khi Iran còn theo chế độ quân chủ của một Quốc vương, một Sa hoàng (Shah) và là đồng minh của Hoa Kỳ thì đã có tranh chấp ảnh hưởng với Hoàng gia Saudi, một đồng minh khác của Mỹ. Cả hai đều ngồi trên những giếng dầu rất thanh và ngọt, không cần xin viện trợ Hoa Kỳ, nhưng tranh đoạt quyền lợi vì những nguyên nhân sâu xa, thuộc về chủ nghĩa quốc gia dân tộc.

Thế rồi, nhìn từ bên ngoài, Hoa Kỳ dưới chánh sách ngớ ngẩn của Jimmy Carter và theo lập trường cực tả của truyền thông còn ngớ ngẩn hơn, đã kết án chế độ Sa hoàng của Mohammad Reza Pahlavi là độc tài. Kết quả là cuộc “Cách mạng Hồi giáo” tại Iran vào đầu năm 1979, Giáo chủ Ruhollah Khomeini lên lãnh đạo, sứ quán Hoa Kỳ bị phong tỏa, nhân viên ngoại giao Mỹ bị bắt làm con tin trong 444 ngày. Chuyện nhỏ, nhưng cũng khiến Ronald Reagan đắc cử Tổng thống.

Chuyện lớn hơn là mâu thuẫn giữa Iran và Saudi có thêm kích thước tôn giáo: giữa hai hệ phái Shia và Sunni.

Trên đà “thắng Mỹ”, Iran của Giáo chủ Khomeini còn xung đột với một cường quốc Sunni khác là Iraq, dưới sự lãnh đạo của Saddam Hussein. Tám năm chiến tranh Iran-Iraq từ 1980 là một tổn thất kinh hoàng sau Thế chiến II mà người Mỹ không biết, và khỏi cần biết. Sau khi thắng Iran, Hussein cũng lại thừa thắng xông lên mà tấn công Kuweit. Lần này thì bị Chính quyền George H. Bush chặn đứng với trận Bão Sa Mạc năm 1991, khi Liên Xô đã tàn lụi và sụp đổ.

Vì giấy báo có hạn nên xin nhìn lẹ hơn một chút mà gác qua chiến dịch Iraq tai hại của George W. Bush, làm Iran có thêm lợi thế, vừa can thiệp vào Iraq, vừa yểm trợ chế độ Bashar al-Assad….

Ngày nay, 25 năm sau. Hoa Kỳ dưới thời Chính quyền Barack Obama lại muốn bắt tay… Iran với một Hiệp ước đáng nghi. Và thấy đáng nghi nhất là hai đồng minh khác của Mỹ. Israel và Saudi Arabia. Đấy là nguyên nhân sâu xa khiến Hoàng gia Saudi lên lưới đối đầu với Iran, trực diện khai chiến với hệ phái Shia và huy động hậu thuẫn của dân Á Rập theo hệ phái Sunni.

Nói vắn tắt thì nước Mỹ không phải là vô can! Những đảo điên lật lọng của siêu cường này gây bất an cho các nước khác, cả bạn lẫn thù, và còn tạo cơ hội cho tổ chức Nhà nước Hồi giáo ISIS bành trướng. Và với cuộc tranh cử tổng thống đang diễn ra thì giao tranh giữa Saudi Arabia với Iran cũng chỉ là chuyện nhỏ. Miễn sao, Obama khỏi phải tung quân vào trận như ông Bush con!

Bây giờ, ta nói chuyện Trung Quốc. Cũng một mô hình lý thú tương tự.


***


Năm 1972, Hoa Kỳ giải vây Trung Cộng để chặn Liên Xô, với kết quả là Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, Việt Nam Cộng Sản mời hạm đội Xô viết vào Cam Ranh Đà Nẵng. Nhưng hậu quả là Trung Cộng chiếm ghế của Đài Loan trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, cho Hà Nội một bài học. Khi ấy, nước Mỹ cũng cóc cần vì đã thắng Liên Xô và chấm dứt chiến tranh lạnh.

Rồi có Trung Cộng có 36 năm tiến hành cải cách để trở thành cường quốc kinh tế hạng nhì thế giới. Nhưng lại là mối nguy hạng nhất tại vùng Đông Á, sau khi đóng đai Hà Nội trong vòng kiềm tỏa của mình từ 1991. Cũng chẳng sao. Năm 2015 vừa qua là khi Hoa Kỳ có quan hệ quân sự khắng khít nhất với Trung Cộng, sau khi Chính quyền Obama còn mời Bắc Kinh tham gia cuộc thao dượt quân sự RIMPAC trên vòng cung Thái Bình Dương, lần đầu tiên kể từ hơn hai chục năm của RIMPAC.

Bây giờ, chuyện đáng ngại cho nước Mỹ là tình trạng kinh tế sa sút của nước Tầu!

Sau 36 năm vênh váo, kinh tế Trung Cộng đang bước vào chu kỳ suy trầm – hạ cánh nhẹ nhàng – có khi là suy thoái tức là hạ cánh nặng nề. Chu kỳ ấy mới thách đố hệ thống chính trị. Một vụ sụt giá cổ phiếu có thể gieo họa kinh tế lớn hơn, mà chưa chắc, vì thị trường chứng khoán Trung Cộng không vận hành như các nước Tây phương. Nhưng nếu tình hình kinh tế lại nguy ngập hơn, bất ổn chính trị sẽ lan rộng. Trong hoàn cảnh rối bời hiện nay tại Âu Châu, Liên bang Nga và Trung Đông, Hoa Kỳ không muốn phải canh chừng thêm một sự bất ổn khác tại Hoa lục, đánh dấu năm cuối cùng của hai nhiệm kỳ Obama.

Còn sóng gió Đông Hải? Thì cũng như sóng gió tại vùng Vịnh, chỉ là chuyện nhỏ!

Thứ Sáu, tháng 1 01, 2016

Xuân Từ Trong Ấy Mới Ban Ra



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Sống 150103
"Vùng Oanh Kích Tự Do"

Cầm tờ lịch như nghịch ngợm với quyền lực....


* Năm con hầu của bọn "đầy tớ của nhân dân" * 


Khi bóc lịch, chúng ta tưởng là đếm thời gian mà chẳng hiểu gì cả....

Năm 1582, Đức Giáo hoàng Gregory XIII cho ban hành tấm lịch mới để thay Lịch Julian của Hoàng đế Julius Ceasar đã có từ thời Đế quốc La Mã, 1627 năm về trước (năm 45 trước Công nguyên). Từ đó, tấm lịch thịnh hành nhất thế giới hiện nay mới có tên là Lịch Gregorian, mà ta vẫn gọi là Dương lịch. Trong khi lịch Julian lại có ảnh hưởng rất lớn của vầng nguyệt nên cũng có thể gọi là Âm lịch. Mà vẫn khác lịch Ta.

Về thời khoảng thì lịch mới khác lịch cũ ở một khoảnh khắc trung bình chỉ là 0,002% của một năm: một năm thông thường từ 365 ngày và sáu tiếng thì chỉ còn 365 ngày, năm tiếng, 49 phút và 12 giây - vỏn vẹn có 10 phút 48 giây. Khác có vậy thôi mà sao cũng đổi để phiền lòng thần dân bá tánh?

Thật ra, khác biệt lớn nhất là cách phân bố khoảng thời gian ấy qua 12 tháng với mục đích ban đầu là tính ra lễ Phục Sinh cho sát ngày Xuân phân.... Xin hãy gọi mục tiêu đó thuộc về lễ nghi của tín ngưỡng, nhưng vẫn duy trì những quy ước sinh hoạt căn bản về canh tác mùa màng theo sự xoay vần của địa cầu chung quanh hai vầng nhật nguyệt.

Phải 170 năm sau, năm 1752, Đế quốc Anh lần đầu tiên dùng Lịch Gregorian.

Khi ấy, một trong mấy nhân vật thông thái nhất thời đại là Benjamin Franklin ở Hoa Kỳ dí dỏm nói đến điều mà chúng ta ở bên Mỹ có gặp một năm hai lần vì chuyện đổi giờ. Năm 1752 đó, Benjamin Franklin mới có 47 tuổi, còn trẻ lắm vì sẽ sống thêm 38 năm, mà đã tự coi là ông già. Có lẽ vì sự già dặn của tâm trí trong một tâm hồn rất thanh xuân. Bậc Quốc phụ trung niên đó của Hoa Kỳ bình như sau về chuyện Mẫu quốc đổi lịch: "Quả là rất vui cho một ông già vì có thể đi ngủ vào ngày hai Tháng Chín, rồi đến ngày 14 Tháng Chín mới phải thức giấc."

Lý do là hệ thống lịch mới đã phóng 11 ngày vào không gian vô tận: có 11 ngày bị thủ tiêu cho tiện việc sổ sách. Thời đó, anh chị nào mà khai rằng em sinh vào ngày 10 Tháng Chín năm 1752 thì chắc chắn là man khai lý lịch. Trước đấy, Lịch Gregorian (hay Gregorius) cũng đã thủ tiêu 10 ngày.... Cũng vì chuyện đổi thay ấy mà Tổ phụ của nước Mỹ là Georges Washington mới có hai lần sinh nhật: vào ngày sinh thật là 11 Tháng Hai năm 1731, rồi được toàn dân ăn mừng vào ngày 22 Tháng Hai....


***



Đầu năm tây, khi bóc tờ lịch mới, ta bâng khuâng nghĩ đến những đổi thay, và cách đánh dấu sự đổi thay. Ai đánh dấu? Mà tại sao Tú Xương lại viết "Xuân từ trong ấy mới ban ra"?

"Trong ấy" là trong kinh đô của nước An Nam tại Huế, và tấm lịch là do vua ban ra cho toàn dân theo đó mà sống. Nhưng khi ấy, nhà vua không có quyền và dân ta đã phải sống theo... lịch Tây. Khổ thật, mà hình như cũng tiện thật. Hình như thôi.

Cầm tấm lịch mới, người viết này không muốn làm độc giả mệt trí mà luận về lịch pháp là các phương pháp làm lịch. Nhưng cố tình làm độc giả khổ tâm khi nói về pháp lệnh!

Ngẫm lại thì từ khi nhân loại biết đếm, con người đã muốn đếm thời gian. Nếu suy cho đúng thì trước khi biết viết - để có ngôn ngữ - loài người đã phải biết đếm. Đếm con, đếm vợ, đếm gia súc và đấu gạo sau khi đã đếm con mồi từ buổi săn đầu ngày trong cõi hồng hoang. Những hệ thống đo đếm thời gian, kể cả thủ tiêu tháng ngày bất tiện như chúng ta vừa nhắc lại, thường có tính chất chủ quan độc đoán, và gây nhiều xáo trộn nếu áp dụng phương pháp thiếu khoa học. Không chỉ gây xáo trộn, người ta còn áp đặt một trật tự mới cho những người luyến tiếc chế độ cũ.

Lịch sử môn lịch pháp hay lịch số của nhân loại ở phương Tây thường xuất phát từ óc tự mãn của các Hoàng đế. Chẳng vậy mà Augustus Ceasar bị châm biếm là quy định Tháng Tám (tháng Sextilis trong lịch Julian của tiên đế Julius Ceaser) cũng phải có 31 ngày. Vì thế mà hai tháng JulyAugust đều có 31 ngày! Đấy chỉ là lời chọc cho vui của Johannes de Sacrobosco. Ông là một nhà tu, nhà thiên văn học và vị bác học của thế kỷ 14, đã góp phần sửa sai lịch Julian. Chứ thật ra tháng Sextilis cũng có 31 ngày.

Sau các Hoàng đế mới là những tính toán hơn thiệt về tiện dụng của các Giáo hội, các Giáo hoàng hay Trưởng lão. Nhưng trước sau thì họ vẫn phải dựa vào sự hiểu biết của giới thiên văn học và toán pháp, vì thành phần khoa học này mới biết nhìn lên các tinh tú và cúi xuống tính nhẩm để nhân loại có thể sống hài hòa với thiên nhiên. Thế rồi, vì tầm nhìn ngắn ngủi của con người ở từng nơi, trước vũ trụ mênh mông bí hiểm bao trùm lên vạn vật, ta thấy loại lịch nào cũng có những bất cập và sai trệch, cho nên mới phải bày ra tháng đủ tháng thiếu hay năm nhuận tháng nhuận khá nhức đầu.

Nói đến lịch vua ban cho nhà thơ Tú Xương và tấm lịch Tây mà ta bắt đầu phảỉ dùng, người viết này thấy ra một quy luật: dựa trên địa dư của từng khu vực, lịch pháp cũng là áp đặt chính trị.


*** 


Lịch Ai Cập dựa trên mùa nước của sông Nile. Lịch Gregorian dựa trên sự đổi thay về khí hậu do ảnh hưởng của vầng dương trên Bắc Bán cầu. Chứ xuống Nam Bán cầu thì mùa Hè ấm áp của Tây lại là mùa Đông lạnh lẽo của Úc. Như Nam Mỹ ngày xưa thì xài lịch của dân Maya. Người Hy Lạp, người Tầu, người Ta và nhiều dân khác cũng có lịch riêng của mình....

Thế rồi khi lịch Gregorian được nước Anh áp dụng và truyền bá ra Âu Châu thì cũng là lúc người dân của lục địa này khống chế cả thế giới qua các thuyền buôn đi cùng pháo hạm. Tiến trình "toàn cầu hóa" như ta nói thời nay khởi sự từ thế kỷ 18, từ vai trò lấn át của Đế quốc Anh rồi các nước Âu châu cho đến Hoa Kỳ ngày nay.

Toàn cầu hóa vì toàn cầu lần lượt cùng đếm ngày như nhau và loại bỏ dần tấm lịch cũ của mình... Chủ yếu là để làm ăn nói năng với nhau cho đúng hẹn đúng ngày.

Như mãi đến năm 1923, Hy Lạp mới theo trào lưu tân tiến ấy. Còn Liên bang Xô viết thì chỉ dùng lịch Gregorian từ năm 1918, cho nên "Cách mạng Tháng 10" vào năm 1917 của Lenin mới là Tháng 11 dương lịch. Trước đấy, nếu các nước theo Công giáo như Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha vui vẻ dùng lịch Gregorian thì các nước theo Thanh giáo, Tin lành như Anh và Đức, hoặc theo Chính thống giáo tại phương Đông của Âu châu (Eastern Orthodox) như Nga thì ngần ngại vì coi đó là một âm mưu áp đảo của Giáo hội La Mã. Ngày nay, Chính thống giáo tại Nga vẫn còn dùng lịch Julian là vì lẽ đó.

Thấy người viết này lóc góc gõ bài cho đầu năm, khách có kẻ cắc cớ mới hỏi. "Thế còn lịch Ta và lịch Tầu?"

Mẹ kiếp!



***


Nỗi khổ cho các sử gia cùa Đông phương nằm dưới bóng rợp Trung Hoa là ta đếm thời gian theo... hình tròn.

Cứ 60 lại xoay về vòng hoa giáp cũ. Ở trên cùng của cái ống tròn tròn đó, vẫn có vị Hoàng đế đã định ra mốc thời gian rất riêng tây của mình mà gọi là niên hiệu.

Vì vậy, nếu thấy sử viết rằng năm Ất Mùi hay Giáp Ngọ có biến cố gì xảy ra thì ta phải đếm lại, đó là năm Ất Mùi nào, năm Giáp Ngọ nào? Nghĩa là vuốt thời gian cho phẳng thì mới thấy được trước sau, cũ mới. Khốn khổ hơn nữa là khi thấy viết về chuyện xảy ra năm Vĩnh Lạc thứ sáu của Tầu hay Hồng Đức thứ tám của Ta!

Vì còn phải xem Chu Lệ Vương bên Tầu lên ngôi là Minh Thành Tổ và lấy niên hiệu Vĩnh Lạc từ năm nào. Còn Bình Nguyên Vương Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế là Lê Thánh Tông đã lấy niên hiệu Hồng Đức từ năm nào? Ông vua được coi là anh minh này lấy hai niên hiệu, trước là sáu năm Quang Thuận (1460-1469) sau mới là 27 năm Hồng Đức, từ 1470 đến 1497.

Mà những tên gọi như Minh Thành Tổ hay Lê Thánh Tông đều là miếu hiệu, tên để thờ sau khi ngấy ngài mãn kiếp ta bà.

Như vậy quả là sử gia rất khổ vì phải đếm lịch.

Sau đó, cả nước còn khổ vì nạn kỵ húy, phải tránh dùng những tên mà người trên đã lấy. Tức là người trên cho ta cái quy ước sinh hoạt với nhau, mà lâu lâu lấy lại vài chữ. Cho nên ta mới phát minh thêm cái chữ điền thế, như Nhậm thành Nhiệm, Hoa thành Bông, Hoàng thành Huỳnh, rồi Võ Vũ linh tinh lẫn lộn.... Càng thêm phong phú vì chú tân binh ra võ trường tập bắn khi vị sĩ quan vào vũ trường lả lướt. (Người viết này tự chọn lấy quy ước là dùng chữ 'võ' để chỉ võ khí hay quân sự, chứ không dùng chữ 'vũ').

Trong cả ngàn năm, chúng ta đã sống tựa con sâu cái kiến như vậy và cả nước có đo đếm hoặc thiểu số có đi thi thì phải nằm lòng những quy ước loại trời giáng đó để khỏi lọt trường thi. Qua đến thế kỷ 20 thì cõi Đông phương màu hồng này còn tiếp nhận thêm một chân lý trời hành khác.

Nó không là tấm lịch Gregorian mà là lý luận của Lenin.

Khai triển triết lý tào lao của Karl Marx rằng hạ tầng cơ sở vật chất mới chi phối thượng tầng ý thức là chính trị, Lenin đảo ngược học thuyết của Fredrick Engels trong cuốn "Chống Duhring" bằng lập luận quái đản: phải có ý thức tâm linh đúng đắn trên thượng tầng. Vì lý luận sai về tư tưởng là chệch hướng về chính trị, là đi ngược quy luật tiến hóa, là xét lại và phản đảng.

Các Hoàng đế ngày xưa chỉ ban tấm lịch từ Khâm thiên giám rồi ngồi khoanh tay mơ chuyện "vô vi nhi trị". Cóc làm gì hết mà cũng mưa thuận gió hoà. Cộng sản ngày nay thì mơ chuyện toàn trị - và kiểm soát từ cái đầu trở xuống! Từ đấy ta mới thấy Stalin, Mao Trạch Đông hay Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn hoặc Lê Đức Thọ thi thố cái tài áp đặt tư tưởng. Không chỉ đếm đúng ngày mà còn phải dùng đúng chữ và nói về chân lý bất di bất dịch từ trên ban xuống bằng nghị quyết!

Sau đó, nếu có đổi chữ, đổi lịch hay đổi tiền thì cũng chỉ là tất yếu, thường tình.

Hèn gì, dưới các chế độ ấy, người ta dùng tiền như vàng mã trong ngày Thanh Minh! Đốt thả cửa cho một đám cô hồn.

---

Chào năm mới bằng một bài cũ, mới một năm nên vẫn mới tinh! Happy Everything!