Thứ Hai, tháng 5 25, 2015

Lệ Thần Trần Trọng Kim



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 150525

Khí Lực Văn Chương - Nhân Huân Chính Trị

 
Hình bìa Hồi ký Trần Trọng Kim

























Chúng ta có nhiều cách đánh giá một nhân vật như Trần Trọng Kim, một người sinh ra khi quốc gia vừa mất chủ quyền vào năm 1883. Nhưng cách đánh giá khách quan và trung thực nhất là phải đặt ông vào hoàn cảnh lịch sử thời đó, chứ không nên dùng những khái niệm đã trở thành phổ biến và được đa số chấp vào thời nay.

Vào thời đó, cả một hệ thống văn hóa và chính trị của Việt Nam bị sụp đổ khiến cho một đất nước từng là cường quốc vùng Đông Nam Á lại bị Tây phương khuất phục sau 25 năm tấn công từ Nam ra Bắc. Khi giao tranh bùng nổ năm 1859, lãnh thổ của chúng ta, từ Nam kỳ Lục tỉnh đến miền Bắc - đã anh hùng đánh bại quân Mãn Thanh 60 năm trước - đều lần lượt rơi vào vòng thống trị của Pháp. 

Nhưng dù triều đình đã phải ký “hòa ước”, nào Quý Mùi 1883 nào Giáp Thân 1884, nơi nơi vẫn còn người tranh đấu để giành lại nền độc lập. Nơi nào có Pháp thống trị, nơi đó có phong trào kháng Pháp. Thế rồi ngần ấy phong trào đều thất bại. Tại sao? 

Vẫn biết rằng “Việt sử là tranh đấu sử” và anh hùng hào kiệt thời nào cũng có, nhưng tại sao dân ta lại thất bại sau ngần ấy hy sinh?

Trưởng thành từ khi nhân loại bước vào Thế kỷ 20, và bắt đầu đi làm khi Á châu vừa qua một cơn chấn động khác là sự sụp đổ của nhà Mãn Thanh ở phương Bắc vào năm 1911, một người như Trần Trọng Kim thì không thể không tự hỏi “vì sao dân ta thất bại”? Nhất là khi thân phụ của người là cụ Trần Bá Huân cũng từng tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. 

Câu trả lời của ông được thấy trong cái cách Trần Trọng Kim chọn nghiệp. Là nhà giáo dục.

*

Ông là nhà giáo với ước nguyện mở mang dân trí. Trong ba chục năm liền, từ 1911 đến 1941, ông tận tụy đảm nhiệm rất nhiều công việc, mà ngần ấy việc đều tập trung vào ý hướng nâng cao dân trí và chấn hưng dân khí. 

Chuyện dân trí thì ai cũng rõ. 

Còn dân khí? Bài “Bình Ngô Đại Cáo”, tác phẩm được coi là “thiên cổ hùng văn” của dân tộc do Nguyễn Trãi thảo ra năm 1427 đã lần đầu tiên được ông lược dịch từ Hán ngữ sang quốc ngữ cách nay trăm năm, trong cuốn “Sơ học An Nam Sử lược” cho cấp sơ học xuất bản năm 1916. Rồi được dịch lại hoàn chỉnh vào năm 1919 trong cuốn “Việt Nam Sử lược” dành cho cấp trung học. Cùng với người anh rể là cụ Phó bảng Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim là tác giả của bản dịch đó, cho tới nay vẫn được đánh giá là hay nhất, vì ngôn ngữ có thần.

Tức là Trần Trọng Kim muốn hun đúc tinh thần yêu nước cho giới trẻ, từ khi còn nhỏ. Tầm nhìn rất sâu và độ mở rất rộng qua mọi lãnh vực tư tưởng của các công trình biên khảo và trứ tác của một con người tân học phải được nhìn thấy từ đó, với hai chục cuốn sách đủ loại chưa kể cả trăm bài viết có khi đang thất truyền.


*

Đã vậy, thế kỷ 20 cũng là khi Việt Nam bước qua một cuộc cách mạng văn hóa ít được chú ý, hoặc còn bị đánh giá sai.

Trải qua ngàn năm độc lập, dân ta vẫn dùng chữ Hán để truyền đạt tư tưởng, nhưng cố giữ lấy hồn nước bằng chữ Nôm mà dân ta gọi là “quốc âm”. “Âm” và “quốc” là hai điều nên nhớ thì hiểu được tầm quan trọng của ngôn ngữ. Nhưng khi “quốc âm” vừa thắng thế mà chưa kịp thấm vào mọi giai tầng xã hội thì cũng là lúc quốc gia bị khuất phục. 

Sau đó, ngôn ngữ lại bị đổi một lần nữa!

Bắt đầu từ thế kỷ 20 thì người ta dùng mẫu tự Latinh để diễn tả lời nói và gọi đó là “quốc ngữ” cho cả nước. Từ “quốc âm” qua “quốc ngữ”, dân ta đã làm một cuộc cách mạng văn hóa, hoặc bị áp đặt một thứ cách mạng. 

Nhiều người cho rằng nhờ đó mà dân ta đã có thể canh tân. Đấy là một sai lầm nếu ta nhớ đến hai nước đã rất sớm canh tân và đang trở thành hiện đại nhất mà vẫn dùng ngôn ngữ cũ, là Nhật Bản và Đại Hàn. 

Nói theo danh từ điện toán của thế kỷ 21, dân ta vừa thay đổi “nhu liệu” hay “software”, khiến cho việc thông hiểu di sản tinh thần của tổ tiên bị cách ngỡ. Dù có văn bản trước mắt, đa số chúng ta không còn biết Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du, Nguyễn Huệ nói sao và viết gì. Đọc lại các bài phú của Ngô Thì Nhậm hay thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thậm chí Truyện Kiều hay Thơ Nôm của Nguyễn Trãi là mình phải có người thông dịch.

Trong giai đoạn giao thời đầy những khó khăn và băn khoăn giữa hai vùng cũ mới, Trần Trọng Kim là người đi tìm chìa khóa cho đời sau hiểu được đời trước mà khỏi đánh mất quốc hồn. 


*


Chẳng những vậy, với sự tài hoa của người tân học mà thấm nhuần cựu học, ông đã “làm mới văn chương” trước khi khái niệm này được đời sau nói tới.  

Con người Trần Trọng Kim có khí có lực và điều ấy phản ảnh qua ngôn ngữ văn chương của ông. Từ sau Trần Trọng Kim, dân ta không còn viết như trước với nhịp điệu biền ngẫu, mà dùng những chữ đơn giản, súc tích, viết ra và nói ra là ai cũng hiểu.   

Trong cuộc cách mạng bất ngờ hay bất đắc dĩ, Trần Trọng Kim góp phần bảo tồn di sản và vẽ ra hướng mới trong một địa hạt quan trọng nhất của xã hội, là ngôn ngữ, là khả năng truyền đạt. Nhờ vậy mà sau này Nội các Trần Trọng Kim mới có chương trình chuyển ngữ và cải cách giáo dục của cấp trung tiểu học.

Ba chục năm đầu của nhà giáo dục đại chúng Trần Trọng Kim là những cống hiến lớn lao như vậy về lượng. Với “khí lực văn chương” là nét đặc sắc về phẩm. Chỉ nội việc đó cũng đủ để hậu thế phải tìm lại và giữ lại các công trình biên khảo và trứ tác của ông. 

Trần Trọng Kim Toàn Tập” là một nhu cầu cho các thế hệ về sau.


*


Khốn nỗi vận nước lại chìm trong những xoay vần của thế giới. 

Không gian hành xử của dân ta hết còn kích thước hai chiều Nam-Bắc, nước Nam và Trung Hoa, mà cũng chẳng còn là tam giác Tây-Ta-Tầu nữa. Chúng ta trôi vào không gian đa chiều với việc thực dân Pháp bị đánh bại ở bên Pháp và Nhật Bản can thiệp vào Việt Nam. 

Trần Trọng Kim không thể không hiểu ra điều ấy, khi ông viết

“Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.

Trong khi Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt để quyến dụ người ta theo mình. Người Việt Nam không phải là không hiểu cái tâm địa người Nhật, song có nhiều người muốn thừa cơ hội hiện tại mà phá vỡ cái khuôn khổ bé hẹp nó ràng buộc mình đã bao lâu để gây ra cái không khí mới, rồi sau thế nào cũng tìm cách đối phó. Phần nhiều người trí thức trong nước đều có cái quan niệm ấy, nhưng vì thế lực không đủ, cho nên không ai hành động gì cả, trừ một bọn người hoặc vì lòng nóng nảy, hoặc vì lòng ham danh lợi chạy theo người Nhật.

Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng sau đã theo Âu Hóa, dùng những phương pháp quỉ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Ðông đã bị người Âu Châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp”, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào chòng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.

Trần Trọng Kim đã viết như vậy trong cuốn Hồi ký Một Cơn Gió Bụi mà chúng ta chào mừng hôm nay. Ông không thể nhẹ dạ về chính trị như người ta đã phê phán. Ông cũng chẳng thể là bù nhìn tay sai của Nhật của Pháp như nhiều người đã xuyên tạc. 

Nhưng tại sao lại có người quy tội cho ông, thậm chí còn muốn thủ tiêu mọi công trình biên khảo và vẽ ra chân dung lệch lạc của một nhân vật yêu nước như vậy? 

Bởi vì, từ rất sớm, gần như sớm hơn mọi người từ Nam chí Bắc, Trần Trọng Kim đã nhìn ra bản chất cộng sản đằng sau phong trào Việt Minh. Trong ngần ấy tác phẩm có đặc tính ôn hòa chừng mực của mình, Trần Trọng Kim viết về người cộng sản với sự nghiêm khắc hiếm hoi:

Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động của họ, là một thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ cốt lấy sự mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài. Song các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đường là nơi cực lạc. Cộng sản giáo ngày nay thì hoàn toàn duy vật, nghĩa là ngoài vật chất ra, không có sự tin tưởng nào khác nữa, cho thiên đường không phải ở cõi trời mà chính ở cõi trần gian này. Ai tin theo đạo ấy là phải tin lý thuyết của Mác Lê Nin là tuyệt đối chân chính, đem áp dụng là sung sướng đủ mọi đường, tức thực hiện được cảnh thiên đường ở cõi đời. Còn về đường tín ngưỡng, thì đạo Cộng sản là đạo hoàn toàn duy vật, tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa, nhất thiết phải nghĩ sùng bái những người như Các Mác, Lê Nin, Stalin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị truất bỏ.

Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối, thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, là tà giáo, là tả đạo. Ai không tin theo và phản đối những người đứng đầu đảng, tức là những bậc giáo chủ, thì là người phản đạo, tất phải trừng trị rất nghiêm. Vì vậy mới có sự tàn sát những người trong đảng cộng sản theo Trotsky, chủ Cộng sản Ðệ Tứ Quốc tế, là một chi cộng sản phản đối Stalin, người chủ của Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế.

Người cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ có hơn gì?

Cái thủ đoạn Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá, đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản, nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên dân gian thường có câu “nói như Vẹm”. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt VM, đọc nhanh mà thành ra.

Ngày nay, sự thật rất căn bản ấy đều được mọi người công nhận, kể cả những người đã tham gia phong trào cộng sản vì lầm tin vào lý tưởng giải phóng dân tộc. Chính là từ trong hàng ngũ này mà chúng ta hiểu thêm về người cộng sản và những thủ đoạn lừa bịp, kể cả và nhất là hành động cướp chính quyền mà Cộng sản gọi là Cách mạng Tháng Tám, ngày 19 Tháng Tám năm 1945.

Cũng chính vì vậy mà sau Thế chiến II, Việt Nam vẫn không có độc lập. Và 70 năm sau là ngày nay lại bị mất chủ quyền sau khi đã mất mấy chục năm chinh chiến điêu linh.


*


Trong cả một kho trứ tác đồ sộ như một di sản lớn lao và quý báu cho hậu thế, cuốn “Một Cơn Gió Bụi” không chỉ là tập bút ký nói lên cái nhìn của Trần Trọng Kim về giai đoạn ngắn ngủi khi ông phải làm Thủ tướng đầu tiên của một nước Việt Nam lần đầu có độc lập từ khi ông ra đời. Đấy là một giai đoạn mà ông chỉ coi là “một cơn gió bụi” cho bản thân. 

Cuốn Một Cơn Gió Bụi còn cho thấy cái “nhân huân chính trị” của Trần Trọng Kim, là những công lao chính trị của Nội các Trần Trọng Kim trên nền tảng nhân bản của một bậc chính nhân quân tử. 

Cuốn sách cũng là chứng sử của người viết sử lão thành về những lầm than của đất nước giữa nhiều chọn lựa đều nan giải - mà sau cùng lại chọn giải pháp tệ hại nhất. Những gì đang xảy ra cho đất nước ngày nay có những nguyên nhân sâu xa nằm ngay trong nội dung của cuốn sách. 

Lời cuối ở đây là thế hệ trẻ ngày nay cần tìm đọc tác phẩm này để hiểu ra sự thật đã bị khỏa lấp quá lâu. 

Trong thế hệ trẻ ngày nay, anh chị em chủ trương tuần báo Sống và cơ sở Xuất bản Sống đã không quản ngại khó khăn mà tái bản cuốn hồi ký duy nhất của Trần Trọng Kim và cho phát hành qua hệ thống Amazon rất hiện đại. Nhờ vậy, Trần Trọng Kim đã trở lại với chúng ta trong thế kỷ 21. 

Và cộng dồng người Việt tại Hoa Kỳ nên yêu cầu mọi thư viện bên Mỹ phải có Một Cơn Gió Bụi để mọi người có thể tham khảo rộng rãi. Những người có khả năng thì nên tìm cách phiên dịch ra ngoại ngữ để thế giới hiểu rõ hơn về đất nước và dân tộc Việt Nam.

Sau cùng, thế hệ trẻ của người Việt tham gia sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ có thể tìm thấy trong tác phẩm nhiều chỉ dẫn thiết thực khi cần tác động vào chính trường Hoa Kỳ để phát huy chính nghĩa của người Việt và để bảo vệ quyền lợi của quê hương ngày nay vẫn chưa ra khỏi những nguy cơ của một tôn giáo vô thần.

Cái tôn giáo cộng sản không chỉ giữ độc quyền chân lý và làm thui chột dân trí. Nó giữ độc quyền diễn giải quá khứ, nắm quyền kiểm soát hiện tại và đưa tương lai vào vòng nguy nàn. Vạch trần sự thật về quá khứ là bước đầu để gỡ bỏ ách độc tài trong hiện tại, và tìm ra cho dân tộc một tương lai sáng láng hơn. 

Xin cám ơn nhà Xuất bản Sống.

______


Phát biểu tại lễ ra mắt cuốn hồi ký Một Cơn Gió Bụi của Trần Trọng Kim - Ngày 150524 tại Hội trường Việt Báo, California


11 nhận xét:

  1. Thưa bác Nghĩa !
    Hôm nay cháu đọc bài này của bác thì cháu chợt nhớ đến ông Fukuzawa Yukichi - một nhà giáo dục, nhà tư tưởng kiệt suất của Nhật Bản, đã góp công không nhỏ để đưa nước Nhật trở thành một cường quốc kinh tế thế giới như hiện nay.

    Cháu nhận thấy ông Fukuzawa Yukichi và Cụ Trần Trọng Kim có nhiều điểm giống như về khao khát muốn đưa Việt Nam thảy đổi trở thành một quốc gia có độc lập tự chủ. Hai người đều sống trong giai đoạn nhận được sự ủng hộ tích cực từ các bậc quân vương như Vua Minh Trị bên Nhật và vua Bảo Đại Việt Nam.

    Tuy nhiên thì chỉ có Fukuzawa Yukichi là thành công trong công cuộc biến Nhật Bản thành cường quốc với những tư tưởng về giao dục, kinh tế, chính trị..... của mình còn cụ Trần Trọng Kim đã thất bại. Cháu không tin về số phận hay " nghiệp " của dân tộc nhưng thực tế cho thấy dân tộc Việt Nam còn mang " nghiệp " nặng quá, cháu không biết bao giờ Việt Nam mới có thể " độc lập, tự chủ " được nữa ?

    Cháu chúc bác nhiều sức khỏe !

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cám ơn Thành.

      Ông Phúc Trạch Dụ Cát này của Nhật xuất hiện cùng thời với nhiều nhà cải cách của nước ta như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, nhưng triều Nguyễn hôn ám không nghe. Trăm năm sau mới đến lượt những người như Trần Trọng Kim thì khi đó lại bị nạn cộng sản. Đúng là cái nghiệp, một "cộng nghiệp" của cả tập thể. Mất toi thế kỷ 20!

      Trong bài phát biểu, tôi chú trọng đến đóng góp văn hóa của cụ Trần hơn là những luận bàn chính trị - thì nhường lời cho cụ, trong cuốn Hồi ký.

      Cụ cũng biên soạn cuốn Vương Dương Minh mà tôi tìm chưa ra.

      Vương Dương Minh là nhân vật kiệt xuất đã muốn cải cách đạo Nho và đứng ngang tầm Khổng Mạnh. Người ta kể, mà tôi chưa kiểm được, một số học trò của Vương Dương Minh đã qua Việt Nam để dạy về "Dương Minh học" mà chỉ thấy các thầy đồ Đại Việt hỏi về địa lý phong thủy và cách để mả cầu công danh phú quý cho con cháu! Họ chán qua đi qua Nhật và quảng bá tinh thần canh tân từ đó...

      Nhật Bản đã học và áp dụng tư tưởng Vương Dương Minh sớm nhất, trong khi Trung Quốc và Việt Nam lụn bại rồi học chuyện Mác-Lenin nhảm nhí!

      Xóa
    2. Thưa bác Nghĩa !

      Cuốn sách mà bác nhắc đến chắc là cuốn " Nho học đời Minh - Diêu Giang phái " của Cụ Trần Trọng Kim. Nhưng cháu không tìm thêm được bất cứ thông tin nào của cuốn sách ở trên Internet.

      Cháu nghĩ ảnh hưởng của Nho học Vương Dương Minh đến xã hội, văn hóa Nhật Bản là lớn nhưng đến mức " canh tân " lại đất nước Nhật Bản thì cháu nghĩ là không đúng ạ.

      Ảnh hưởng của Dương Minh phái đến xã hội Nhật Bản mạnh nhất vào thế kỷ 17 với như tư tưởng tiêu biểu là Nakae Tôju ( 1608 - 1648 ). Còn nước Nhật thật sự canh tân vào thế kỷ 19 thời vua Minh Trị với tư tưởng " Thoát Á Luận " của Fukuzawa Yukichi . Trong tư tưởng này của ông Fukuzawa nổi lên là quan điểm học tập nền giáo dục của phương Tây. Cháu nghĩ đây mới chính là nền tảng về tư tưởng để nước Nhật canh tân ạ

      Cháu mong bác chỉ bảo thêm ạ !

      Xóa
    3. Trần Trọng Kim có biên soạn một cuốn riêng về Vương Dương Minh. Việc canh tân thời Minh Trị Thiên Hoàng xảy ra tử cưới thế kỷ 19, nhưng trước đó đã có những trào lưu tư tưởng mới do ảnh hưởng của Dương Minh học, chúng ta thì không được như vậy.

      Xóa
  2. Xin cảm ơn Thầy Nghiã đã giới thiệu, độc giả Poorshope chắc chắn sẽ đọc. Hồi nhỏ ở Việt Nam, cuốn sách lịch sử Việt Nam - ngoài luồng sau 1975 - mà em đọc được chính là sách cuả Lệ Thần Trần Trọng Kim.
    Những trích đoạn thể hiện quan điểm độc lập, sáng suốt cuả ông. Nhưng xét cho cùng, thì Pháp, Nga, Tàu, Nhật, Mỹ hay bất kỳ nước lớn nào đến đô hộ nước mình mà người lãnh tụ giỏi giang, bản lãnh thì cũng có thể vận dụng và tìm cách bảo vệ dân tộc. Nếu hồi đó Nhật không đại bại, hay thậm chí Pháp không bỏ đi, tiếp tục cai trị Việt Nam, thì cụ Trần cũng sẽ tiếp tục làm việc với họ và xử sự như em vưà nói thôi. Ngày nay, những nước lớn khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Nga , thậm chí cà châu Âu và HoaKỳ đều cũng là những nước lớn khác cuả nhau, mạnh hơn khắc chế lẫn nhau, và họ cũng phải nhún nhường khi cần thiết, biết hợp tác vì lợi ích chung. Không có cái gì tuyệt đối hoàn toàn, phải không Thầy Nghiã.

    Trả lờiXóa
  3. Trong tinh thần độc lập và đoàn kết dân tộc, xin mời Thầy Nghiã và các bạn đến đọc comment cuả Seagull - một BCA:

    http://www.gocnhinalan.com/bai-tieng-viet/nhung-con-chim-canh-cut.html#comment-134467

    Tôn trọng quyền dân chủ và quyền... nhân vật, các tác giả cuả giả tưởng không độc quyền lãnh đạo. Các nhân vật có thể đưa ra những sáng kiến hoặc xu hướng khác, nhưng xin vui lòng nêu ra và cùng bàn thảo :-)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cám ơn Poorshope, trong cái biệt hiệu, chữ "hope" mới là quý. Ông Alan Phan là người xuất chúng - tương đối dễ - nhưng có lòng mới là điều đáng quý và đáng học. NXN

      Xóa
  4. Poorshope is simply hope of a poor person, very personal thơ Nguyễn
    Từ dạo về đây sống rất nghèo
    Bạn bè chỉ có gió trăng theo
    Những phường bất nghĩa xin đừng đến
    Hãy để thềm ta xanh sắc rêu…

    This name doesn't stand for others or anything else.
    Hope Thay Nghia like him/her ;-)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Tuy nhiên, Poorshope không hoàn toàn trong tâm cảm cuả Nguyễn Bính, nên đã tự sưả thơ ông ...

      Từ dạo về đây sống rất nghèo
      Bạn bè chỉ có gió trăng theo
      Riêng tư cũng mất, tình cũng bỏ
      Hơi thở âm thầm như tíếng kêu

      Xóa
  5. Chàng - hiện nay - không đánh CS Trung Quốc vì sợ mất bạn hàng lớn, sợ TQ thắt chặt mối quan hệ với Nga, trong khi dù thế nào đi nữa thì họ vẫn cứ thắt chặt, thế mới đau.

    Chàng - hiện nay - không muốn đánh CS Việt Nam, vì lo lập lại lịch sử VNCH, muốn CSVN ngả theo mình cho nó có lợi đỡ tốn kém, cứ như một giấc mơ, thế mới khổ.

    Rồi ngày mai Chàng sẽ như thế nào nhỉ? Chỉ có ông trời mới biết. Chàng quá trì trệ với việc có quan hệ tốt ngay với Miến Điện. Lơ là Đài Loan. Việt Nam thua Campuchia trong mentality đấy. Tuy ông Hun Sen lúc nào cũng lạnh nhạt với vấn đề Biển Đông, còn nhắn nhe với VN rằng "Trung Quốc là người bạn thân thiết cuả chúng ta đấy". Of course, it's. But so what? Ông ấy cho con trai đi West Point học quân sự Mỹ cho nó chéc en. :-) Em thực sự thấy thương hại tội nghiệp cho những tinh hoa cuả Việt Nam trong dân sự lẫn quân sự, vì họ phải đội trên đầu một giàn lãnh đạo ngớ ngẩn.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Kien thuc cua Poorshope chi co the thoi sao? Voi trinh do nhu the nay ma doi gop mat voi doi thi biet den bao gio moi kha duoc???

      Xóa