Thứ Ba, tháng 11 03, 2015

IMF Kết Nạp Đồng Nguyên Vào Rổ SDR


Nguyễn Xuân Nghĩa, Thanh Hà RFI Ngày 151103Tạp Chí Kinh Tế RFI
Đồng tiền Trung Quốc sắp được quyền trích xuất đặc biệt như đô la và euro?



Đồng yuan/nhân dân tệ của Trung Quốc sắp được kết nạp vào rổ tiền tệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF/FMI. Hãng thông tấn Bloomberg đã tiết lộ tin trên trong bản tin ngày 23/10/2015.


Quyết định đó có khả năng được đưa ra nhân cuộc họp của Hội đồng quản trị đại diện cho 188 thành viên của IMF trong tháng 11/2015. Bloomberg còn cho biết thêm các chuyên gia của Trung Quốc tự tin đến nỗi đã bắt đầu tập trung soạn thảo thông cáo loan báo tin vui nói trên một khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế chính thức công bố việc cho đồng yuan/nhân dân tệ được hưởng «Quyền trích xuất đặc biệt» cùng với đồng đô la Mỹ, euro của châu Âu, bảng Anh và yen Nhật Bản.

Trung Quốc lâu nay đã có nhiều nỗ lực để đồng nhân dân tệ được hưởng quyền trích xuất đặc biệt của IMF, ngang hàng với bốn đơn vị tiền tệ vừa nêu, nhưng dưới áp lực chủ yếu là của Hoa Kỳ, Bắc Kinh chưa được toại nguyện. Vậy thì lần này, đồng tiền của Trung Quốc có nhiều cơ hội hơn hay không? Nếu được tham gia câu lạc bộ khép kín đó của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, liệu trật tự tài chính thế giới có thay đổi gì?

Rổ tiền tệ do IMF quản lý dưới tên gọi chính thức là «Quyền rút vốn hay quyền trích xuất đặc biệt», hiện có trị giá chưa đầy 300 tỷ đô la. Trong rổ riền này, đồng đô la Mỹ chiếm 41,9%. Euro là 37,4% ; đồng yen là hơn 9 % và đơn vị tiền tệ của Anh là gần 12%.

Vào tháng 3/2011 tại cuộc họp của nhóm G20 ở Nam Kinh các bên đã thảo luận về khả năng cải tổ hệ thống tiền tệ quốc tế. Đáng chú ý hơn hết là sáng kiến của tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, nước đang giữ chức chủ tịch luân phiên G20. Paris đề nghị Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế mở rộng Quyền trích xuất đặc biệt (Droits de Tirage Spéciaux/ Special Drawing Rights) đến đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. Washington đương nhiên không hưởng ứng sáng kiến của Pháp. Bản thân Bắc Kinh cũng không mấy mặn mà bởi Trung Quốc biết rằng sẽ phải mạnh dạn tiến hành cải tổ để đạt được những tiêu chuẩn của IMF. Quan trọng nhất là phải thả nổi đồng tiền.

Tuy nhiên trong bốn năm qua, Trung Quốc không ngừng mở rộng tầm ảnh hưởng của đồng tiền quốc gia, đặc biệt là qua các nghiệp vụ giao dịch hối đoái hoán đổi - currency swap - với nhiều đối tác thương mại Á châu, gần đây là với cả Anh Quốc.

Từ 2011 tới nay, Trung Quốc đã thay đổi một thế hệ lãnh đạo với những mục tiêu, tham vọng và tầm nhìn mới về vị trí của Trung Quốc, của đồng nhân dân tệ trên sân khấu chính trị, kinh tế và tài chính thế giới.

Trên thực tế, đồng tiền của Trung Quốc đã từng bước trở thành một ngoại tệ được sử dụng phổ biến hơn, và được dùng trong một số các dịch vụ thanh toán song phương.

Nhưng trước khi phân tích về tác động trong trường hợp đồng nhân dân tệ được hưởng quyền rút vốn đặc biệt, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nhắc lại định nghĩa cơ bản của rổ tiền tệ do IMF quản lý dưới tên gọi chính thức là Droits de Tirage Spéciaux/Special Drawing Rights/Quyền trích xuất đặc biệt.


Rổ Ngoại Tệ của IMF

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cái «rổ ngoại tệ» của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế FMI, gọi là Droits de Tirage Spéciaux hay Special Drawing Rights, mà Bắc Kinh muốn đưa đồng nhân dân tệ vào, tôi xin dịch là Quyền Trích Xuất Đặc Biệt, nói gọn lại là Quyền Đặc Trích. Mọi thành viên của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đều phải ký thác một ngân khoản nhất định vào quỹ chung để sử dụng cho việc ổn định tài chánh toàn cầu. Khi cấp bách cần ngoại tệ để giải quyết nhu cầu thanh khoản của mình thì căn cứ trên phần vốn góp, quốc gia thành viên có thể vay ngoại tệ từ một trương mục gọi là Quyền Đặc Trích DTS. Đấy là một ngân khoản tín dụng hay tín khoản nhưng cũng là một loại ngoại tệ dự trữ được các thành viên công nhận và sử dụng, nhưng là một ngoại tệ dự trữ bổ sung.

- Được lập ra từ 1969, Quyền Đặc Trích là một kho dự trữ gồm các loại ngoại tệ thông dụng nhất hòa chung làm một, và một đơn vị ngoại tệ được gọi là một Quyền Đặc Trích. Từ năm 1999 thì cứ 5 năm một lần, IMF quyết định về thành phần ngoại tệ nằm trong Quyền Đặc Trích. Tính đến tháng 9/2015 rổ Quyền Đặc Trích này trị giá tương đương với 286 tỷ đô la, một ngân khoản thật ra không lớn và bao gồm bốn loại ngoại tệ có sức giao hoán hay thanh toán thông dụng nhất là Mỹ kim, đồng Euro của Châu Âu, đồng Bảng của Anh và đồng Yen của Nhậtt. Bây giờ Bắc Kinh muốn đồng nhân dân tệ được đưa vào rổ ngoại tệ đặc biệt này vì đơn vị tiền tệ của Trung Quốc sẽ có giá trị như một ngoại tệ dự trữ của cộng đồng quốc tế.


Muốn được vào đó phải có những tiêu chuẩn nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, đồng bạc đó phải là một ngoại tệ giao hoán phổ biến, nghĩa là được nhiều nước sử dụng làm phương tiện thanh toán với nhau. Nhờ sức nặng kinh tế và lượng xuất cảng trong luồng giao dịch quốc tế, đồng tiền của Trung Quốc đã được các nước dùng nhiều hơn để thanh toán việc mua bán. Thí dụ như trong tháng 8/2015 đồng nhân dân tệ chiếm 2,79% trong tổng số nghiệp vụ giao dịch của thế giới và lần đầu tiên vượt qua đồng yen của Nhật chỉ có 2,76% mà thôi. Qua tháng 9/2015 tỷ lệ này có giảm, chỉ còn chiếm 2,45%, nhưng dù sao cũng chỉ là sự trồi sụt ngắn hạn và hình ảnh chung thì đồng Nguyên đang đứng hạng 5 hay hạng 4, tức là sau đồng Yen của Nhật, sau đồng Bảng Anh, Euro và Đô la Mỹ.

- Tôi nghĩ rằng điều này cũng tất nhiên thôi vì kinh tế Trung Quốc đứng hạng ba thế giới về kim ngạch xuất cảng trong suốt năm năm qua nên đồng bạc của họ là phương tiện giao hoán phổ biến.

- Tiêu chuẩn thứ hai của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thì hơi rắc rối hơn, đó là được «tự do sử dụng» để thanh toán các nghiệp vụ quốc tế trên các thị trường hối đoái hay ngoại hối. Theo tiêu chuẩn này thì IMF có thấy rằng đồng nhân dân tệ/Yuan đã được các nước sử dụng ngày một nhiều hơn trước nhưng thật ra, tính đến 8/2015 thì vẫn chưa thông dụng bằng bốn loại ngoại tệ «quý tộc» kể trên và vẫn còn thua đồng đô la của Úc hay của Canada. Nói cách khác thì đồng bạc Trung Quốc có chiều hướng đi lên, nhưng chưa tới mức tự do như nhiều đồng tiền kia. Chính vì vậy, từ 9/2015 Bắc Kinh mới ra sức chứng minh rằng sẽ cho các ngân hàng trung ương của thế giới được tự do mua bán đồng bạc của mình.

- Thật ra, từ nhiều năm nay đồng nhân dân tệ đã được Bắc Kinh đưa vào nghiệp vụ giao dịch chéo, «currencies swap», với các đối tác Á Châu theo thỏa ước song phương và ngạch số giao dịch loại này đã tương đương với hơn 730 tỷ đô la nên đồng bạc của họ đã là ngoại tệ giao hoán rồi, Bây giờ, nếu được đem vào rổ Đặc Trích DTS thì chỉ có kết quả biểu kiến về tư thế của Trung Quốc mà thôi.


Nhưng vì sao IMF lại xét khả năng cho đồng yuan vào DTS ở thời điểm này?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Theo thông lệ, 5 năm một lần IMF mới quyết định về nội dụng rổ ngoại tệ DTS gồm những đồng bạc nào căn cứ trên hai tiêu chuẩn vừa nêu, gọi tắt là sức giao hoán qua xuất cảng và khả năng tự do sử dụng. Khi hạn kỳ năm năm đã tới cho tài khóa 2016, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế quyết định đình hoãn sự chọn lựa và trong một phúc trình phổ biến từ giữa tháng7/2015 đã cho một lượng định lững lờ hai mặt. Một mặt thì xác nhận tính cách giao hoán phổ biến của đồng nhân dân tệ, mặt kia thì chưa kết luận về tiêu chuẩn gọi là tự do sử dụng và trù tính kéo dài kỳ hạn quyết định cho tới cuối tháng 9/2016 tức là đồng yuan có vào rổ ngoại tệ Đặc Trích này hay không kể từ ngày 01/10/2016.

- Chính là quyết định lửng lơ ấy mới khiến Bắc Kinh lật đật tung ra những biện pháp hối đoái hồi tháng 8/2015 và cho thả nổi mức lãi suất ký thác.

- Thế rồi trong tuần cuối của tháng 10/2015, chính các viên chức Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - dĩ nhiên là phát biểu với tính cách nặc danh - cho biết rằng định chế tài chính đa quốc gia này có thể đề nghị Hội đồng Điều hành gồm 34 Giám đốc đồng ý đưa đồng nhân dân tệ vào rổ DTS kể từ năm tới. Tin tức loan ra mới gây bàn tán trên các thị trường.


Tới nay, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã từng trì hoãn quyết định, nếu vậy thì có gì mới để IMF kết nạp thêm một đơn vị tiền tệ vào rổ tiền của mình như Bắc Kinh mong đợi?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thực tế thì đồng tiền của Trung Quốc đã là ngoại tệ giao hoán phổ biến rồi, nhưng khi được nhận vào rổ Đặc Trích này thì có phải tuân thủ nhiều điều kiện mới về chánh sách quản lý, chứ không thể do Bắc Kinh tự nhiên định giá theo chủ trương của mình. Quyết định của IMF có thể là một cách khuyến khích lãnh đạo Trung Quốc cải cách hệ thống quản lý của họ theo quy luật thị trường. Nôm na là phải thả nổi cho đồng nhân dân tệ lên xuống theo quy luật cung cầu, với phần thưởng là biểu tượng, là uy tín. Cho tới nay, hầu hết các cường quốc kinh tế kia như Anh, Pháp, Đức và cả Nhật Bản cùng Hoa Kỳ cũng tỏ ý chấp thuận đề nghị ấy của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.


Nếu đồng nhân dân tệ được gia nhập rổ tiền của IMF thì tác động kinh tế, tài chính và chính trị đối với Trung Quốc sẽ là gì? Và trật tự tiền tệ của thế giới có thay đổi hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nếu đồng bạc Trung Quốc được quốc tế công nhận là một trong năm ngoại tệ thông dụng và căn bản nhất của luồng giao dịch tài chánh toàn cầu thì người ta sẽ có khuynh hướng lưu trữ tài sản dưới dạng đồng yuan nhiều hơn trước. Những người lạc quan thì cho rằng dự trữ tài sản của thiên hạ dưới dạng đồng tiền của Trung Quốc có thể lên tới cả ngàn tỷ đô la. Có thể là nước Anh dự đoán như vậy nên trải chiếu cạp điều đón Chủ tịch Tập Cận Bình như một quốc khách, với hy vọng là thủ đô Luân Đôn sẽ thành một trung tâm giao dịch nhân dân tệ tại Âu Châu.

- Lãnh đạo Bắc Kinh đang đi nước cờ nhỏ là làm mọi cách để vào được bên trong rồi thì dần dần nâng giá trị của đồng nhân dân tệ thành ngoại tệ dự trữ hầu mươi năm sau này còn có thể truất phế đồng Mỹ kim nữa.


Tham vọng này có tính khả thi hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng từ biểu tượng đến thực tế thì còn một khoảng cách dài hơn Vạn lý Trường thành! Hoa Kỳ đã vượt Đế quốc Anh để dẫn đầu kinh tế thế giới từ cuối thế kỷ 19 mà nửa thế kỷ sau, đồng Mỹ kim mới trở thành ngoại tệ dự trữ phổ biến sau Thế chiến II. Trung Quốc chưa có khả năng đó.

- Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cho đồng nhân dân tệ vào rổ thì điều ấy có nghĩa là trong vòng một năm nữa, Bắc Kinh phải giải phóng chế độ hối đoái hay ngoại hối, thả nổi đồng bạc và bãi bỏ chế độ kiểm soát tư bản để bạc tiền tự do lưu thông ra khỏi lãnh thổ. Trong hiện tại, với nền kinh tế trì trệ và sáu lần hạ lãi suất trong có 12 tháng, Trung Quốc đang bị nạn chuyển ngân ra ngoài, nôm na là tẩu tán tài sản. Khi đồng nhân dân tệ là một ngoại tệ danh giá thì việc giải phóng hối đoái sẽ gây họa cho kinh tế Trung Quốc và làm đồng bạc sụt giá còn mạnh hơn nữa.

- Nhìn qua các nước khác thì với Ngân hàng Trung ương Âu Châu và Ngân hàng Trung ương Nhật còn phải bơm tiền kích thích kinh tế khiến đồng Euro và đồng Yen đều mất giá. Nếu đồng tiền của Trung Quốc cũng sụt giá nữa thì ta sẽ lại thấy cảnh «thi đua phá giá», hay trận chiến ngoại tệ ngay trong năm tới. Vì vậy, tin mừng cho uy tín hão huyền của đồng nhân dân tệ lại có thể là những biến động bất lợi cho Trung Quốc. Biết đâu chừng khi đó các phần tử thủ cựu của Bắc Kinh sẽ lại kết án âm mưu thâm độc của Tư bản Tây phương là cho mình ăn bánh vẽ! 

Nước Tầu Biến Pháp



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt ngày 151102
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"


Tập Cận Bình Dưới Xiêm Áo Từ Hy   


* Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành! * 



Chúng ta đều biết lãnh đạo của Trung Quốc đang phải cải tổ hệ thống cai trị sau hơn ba chục năm tăng trưởng kinh tế được coi là ngoạn mục nhất của lịch sử xứ này. Lẽ thành bại của việc “biến pháp” ấy không chỉ liên hệ đến hơn một tỷ người dân tại Hoa lục mà còn ảnh hưởng đến kinh tế thế giới và an ninh trong khu vực Đông Á. 

Trước hết, xin nói về đà tăng trưởng ngoạn mục.

Sau 30 năm hoang tưởng chết người của Mao Trạch Đông, từ 1949 đến 1979, Trung Quốc chỉ thật sự chuyển hướng và cải cách từ năm 1980 trở về sau. Thuần về kinh tế, chiến lược áp dụng khi đó là học từ Nhật Bản vào thập niên 50, từ Nam Hàn, Đài Loan và Singapore vào thập niên 1960, hoặc sâu xa hơn, từ nước Phổ vào cuối thế kỷ 19. Với một dân số rất đông, lại có lợi thế của một nước đi sau tiếp nhận được kinh nghiệm và kỹ thuật của các nước đi trước, Trung Quốc công nghiệp hóa rất nhanh. Đế quốc Anh mất hai trăm năm, Hoa Kỳ mất trăm năm, Nhật Bản mất nửa thể kỷ và Trung Quốc mất ba chục năm, để từ nay sẽ bước lên một hình thái tổ chức và sản xuất có giá trị cao hơn, cũng như các láng giềng Nhật Hàn đi trước….

Nhưng ngoài lợi thế đông dân và có một vựa người từ thôn quê đổ ra tỉnh kiếm việc trong mấy chục năm qua, Trung Quốc bị nhược điểm về địa dư hình thể là sự khác biệt quá lớn giữa các tỉnh duyên hải hướng ngoại và cả một khu vực rộng lớn bị khóa trong lục địa mà thể chế chính trị tập quyền không thể giải quyết được từ hai chục năm qua.

Nhược điểm thứ hai là xứ này có đà tăng trưởng thiếu phẩm chất nên gây ô nhiễm, bất công và đào sâu thất quân bình giữa các tỉnh trong ngoài, giữa nông thôn với thành thị. Giới lãnh đạo thuộc thế hệ thứ tư, như Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc và Ôn Gia Bảo có ý thức được những nhược điểm ấy mà cải sửa không nổi.

Thế rồi, Trung Quốc lại lãnh một mối họa ngoại nhập là vụ khủng hoảng 2008 và nạn Tổng suy trầm 2008-2009.

Hệ thống cai trị và quản lý kinh tế lật đật đối phó bằng liều thuốc đổ bệnh là ào ạt bơm tín dụng nên chất lên một núi nợ kỷ lục trong một thời gian rất ngắn. Thế hệ thứ năm lên lãnh đạo từ Đại hội 18 vào cuối năm 2012 cũng tiếp tục chiều hướng quản lý cũ là can thiệp vào thị trường và bơm thêm tiền nên thổi lên trái bóng địa ốc. Khi bóng xì từ Tháng Ba năm 2014 thì lại bơm tiền vào thị trường cổ phiếu dẫn đến cái họa bể bóng nữa vào Tháng Bảy vừa qua trong khi đà tăng trưởng sẽ không thể ở mức hai số như vào giai đoạn khởi phát….

Vì kinh tế cũng là chính trị, muốn tìm hiểu về khả năng ứng phó và cải cách sắp tới của lãnh đạo Bắc Kinh, chúng ta phải trở lại vấn đề then chốt là hệ thống cai trị.

Nhiều người có thể cho rằng hệ thống chính trị của Trung Quốc rất khó cải sửa và chuyển hướng kinh tế vì không áp dụng nguyên tắc dân chủ. Sự thật thì chế độ dân chủ không có giải pháp thần diệu mà chỉ có ưu thế là cho xã hội quyền chọn lựa giải pháp thay thế, và giải pháp ấy không nhất thiết là có hiệu quả. Các tấm gương đi trước của Trung Quốc, như nước Phổ, Nhật, hay Nam Hàn, Đài Loan và Singapore cũng chưa hẳn là chế độ dân chủ toàn hảo vì một đảng giữ độc quyền quá lâu, điển hình là nước Nhật ngày nay với đảng Tự Do Dân Chủ LDP.

Một số người khác thì nhìn từ giác độ kinh tế mà cho là chế độ tập trung kế hoạch của Liên bang Xô viết hay Trung Quốc thời Mao đã thất bại và sụp đổ vì không có ưu thế của kinh tế thị trường. Lý luận ấy hàm chứa một kết luận thú vị là Chiến tranh lạnh kết thúc và chủ nghĩa cộng sản thảm bại không vì nguyên tắc dân chủ mà nhờ chủ nghĩa tư bản. Khi Bắc Kinh áp dụng một phần của chủ nghĩa tư bản đó thì quả nhiên cũng tạo ra phép lạ, y như các nước tân hưng hay rồng cọp Đông Á mà thế giới ngợi ca cách nay ba chục năm.

Như vậy, nguyên tắc dân chủ hay tư bản chủ nghĩa mới là động lực then chốt cho thịnh vượng và chuyển hóa để cải thiện cuộc sống con người qua từng giai đoạn phát triển? Sự thật có khi nằm đâu đó ở nơi khác. Phải chăng hệ thống cai trị mới là yếu tố quyết định?

Kinh nghiệm Đông Á từ 70 năm qua cho thấy một hệ thống cai trị không hẳn là dân chủ vẫn có thể tôn trọng quyền sở hữu của tư nhân, quyền tự do sáng tạo để cạnh tranh thành công và cải thiện được mức sống của người dân. Cũng vậy, một “chính quyền mạnh” với bộ máy hành chánh công quyền liêm chính và độc lập cũng có thể tiếp cận và xâm nhập vào xã hội dân sự để điều hướng cả nước vào một phương án trường kỳ - từng bước tiến lên một hình thái tổ chức và sản xuất có giá trị cao hơn - mà không bị những tính toán cục bộ và nhất thời về bầu cử chi phối nên có thể là giải pháp ít tệ nhất. Lãnh đạo Bắc Kinh không thể không biết về các giải pháp hay lý luận nói trên.

Mà họ không áp dụng được chính là vì hệ thống cai trị mang 1) màu sắc Trung Hoa và 2) nhuốm mùi cộng sản.

Các nước Đông Á đã khởi phát và thành công là trong bối cảnh Chiến tranh lạnh dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Việt Nam là một ngoại lệ bi thảm nhờ thành tích cộng sản! Trung Quốc cũng đã có lợi thế tương tự từ năm 1980 vì sự suy sụp của đối thủ đáng ngại nhất là Liên Xô. Và cũng nhờ Hoa Kỳ.

Tình hình ngày nay đã đổi khác vì Trung Quốc phải công nghiệp hóa và đô thị hóa một quốc gia có quá nhiều mâu thuẫn nội tại và “chưa giàu mà đã già”, “chưa hùng mà đã hung”, lãnh đạo xứ này đang gây ra nguy cơ Chiến tranh lạnh mới vì rơi vào truyền thống Trung Hoa bá quyền. Từ ngàn xưa, quốc gia này tự xưng là trung tâm thiên hạ và coi các nước vây quanh là chư hầu, cho đến khi lụn bại từ giữa thế kỷ 19. Một trăm năm sau thì họ thống nhất vào năm 1949 rồi quật khởi dưới lá cờ cộng sản.

Ưu thế cộng sản có thể giúp lãnh đạo xứ này đi tắt và nhảy vọt bằng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Hoặc ngang nhiên can thiệp vào nội tình xứ khác dưới thời Mao Trạch Đông qua các “phong trào giải phóng”, hay bành trướng lãnh thổ và lãnh hải như trong hiện tại. Nhưng Trung Quốc chưa có hệ thống cai trị cần thiết và thích hợp cho một cường quốc của thế kỷ 21.

Trung Quốc không có một nhà nước mạnh vì không có một bộ máy hành chánh liêm chính và độc lập tương tự như các nước Đông Á vây quanh. Lý do là đảng mới quyết định về việc thăng quan tiến chức cho các đảng viên và cán bộ, cho nên hệ thống đảng trở thành trung tâm của hiện tượng tư bản thân tộc và là hậu phương mờ ảo của tham nhũng. Tập Cận Bình đã muốn cải sửa hệ thống cai trị ấy bằng chiến dịch diệt trừ tham nhũng, tức là giải quyết ở ngọn, không ở gốc.

Chiến dịch ấy dẫn tới hiện tượng thanh lọc đảng viên tham ô nhưng cũng thanh trừng đảng viên không cùng vây cánh và làm bộ máy hành chánh công quyền vốn dĩ bất lực lại càng tê liệt!

Cũng theo khuynh hướng cộng sản thời Mao, Tập Cận Bình cần tập trung quyền lực để chuyển hướng hay cải cách nên lập ra nhiều “tiểu tổ lãnh đạo”, từ an ninh đến kinh tế hay cải cách. Tức là trên thượng tầng của một hệ thống cai trị không có thực quyền về thuế khóa, xã hội hay chánh sách cải tổ, Tập Cận Bình đã gom hết quyền lực vào một thiểu số tay chân thân tín và mặc nhiên gạt ra ngoài các cơ chế như Quốc vụ viện (là Hội đồng Chính phủ, với Tổng lý là Thủ tướng Lý Khắc Cường), các chuyên gia am hiểu về kỹ thuật. Và còn cấm người dân nói về pháp quyền nhà nước, về một bộ máy tư pháp hay tòa án độc lập….

Ngày xưa, Vương An Thạch đã muốn cải cách để cứu nước Tống bằng chương trình “biến pháp” mà thất bại ê chề. Gần đây hơn, Từ Hy Thái Hậu cũng muốn củng cố quyền lực để cứu lấy nhà Đại Thanh mà khiến cho Mãn Thanh tiêu vong vào đầu thế kỷ 20.

Chúng ta đã qua thế kỷ 21 rồi. Nếu so sánh Tập Cận Bình với hai trường hợp trên, hình như chàng còn chuyên quyền và bảo thủ hơn bà Từ Hy. Chóng mặt!