Thứ Năm, tháng 7 19, 2012

Doanh Nghiệp và Thất Nghiệp

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120718

Hậu quả bất lường: bảo vệ công nhân mà gây thất nghiệp 



* AFP photo - Công nhân tổ hợp PSA sản xuất hai loại xe Peugeot 
và Citroen nổi tiếng của Pháp biểu tình tại Aulnay Sous Bois 
hôm 13/7/2012, một ngày sau tuyên bố sẽ cắt giảm 8,000 việc làm *


Kỳ trước, khi đề cập đến những ưu điểm của chủ nghĩa tư bản, chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa nói ra điều có vẻ nghịch nhĩ rằng nhà nước và cả các doanh nghiệp cũng không có nhiệm vụ tạo ra việc làm. Ông nhấn mạnh là nhà nước phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp tìm lợi nhuận và chính nhu cầu kiếm lời mới khiến doanh nghiệp tuyển người, nâng cao lợi tức cho xã hội và góp phần giảm bớt nguy cơ thất nghiệp. Diễn đàn Kinh tế xin trở lại đề mục này qua phần thực hiện của Vũ Hoàng.


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, doanh nghiệp có thể giải quyết nạn thất nghiệp như thế nào là đề tài mà chúng ta có gián tiếp nói tới qua chương trình phát thanh tuần trước. Hôm nay, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ đi sâu hơn vào lĩnh vực có thể rất sơ đẳng nhưng cũng là cơ bản của bộ môn kinh tế. Ông nghĩ sao về đề nghị này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước khi trình bày bối cảnh để xác định là chúng ta trao đổi về chuyện gì, tôi xin được kể lại một giai thoại có thật.

- Sau năm 1975, tôi được biết là một ông lãnh đạo Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Paris kể cho một người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, rằng giai cấp công nhân Pháp đấu tranh thành công đến độ nhân viên bị thất nghiệp vẫn hưởng trợ cấp bằng 70% mức lương cuối cùng nên nhiều người khỏi cần tìm việc nữa! Nghe thấy vậy thì tôi giật mình cho kinh tế Việt Nam nếu người ta tiếp tục lý luận theo kiểu đấu tranh giai cấp vì ai sẽ sản xuất cho người khác tiếp tục hưởng trợ cấp dồi dào như vậy! Sau này, mình cũng chẳng mấy ngạc nhiên về tỷ lệ thất nghiệp quá cao tại Pháp.

- Đó là cái chuyện "được" và "mất" trong kinh tế học là khi người ta chỉ nhìn thấy cái được của một thành phần này mà không thấy cái mất của cả nền kinh tế quốc dân trong lâu dài. Giai thoại năm xưa cũng phần nào giải thích vấn đề hiện tại của Âu Châu với nạn thất nghiệp quá cao khi thị trường lao động được bảo vệ như vậy. Bây giờ, mình mới nói qua phần bối cảnh.

Vũ Hoàng: Theo thói quen, khi trình bày về bối cảnh thì ông cũng có ý xác định là ta đang nói về chuyện gì, ở đâu. Có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như vậy vì trước hết, tôi đề nghị dùng chữ "nhân dụng", là vận dụng nhân lực, thay vì chữ "lao động" với hàm nghĩa tiêu cực. Lý do là nhân loại nói chung đã tiến lên trình độ sản xuất khác, khi bắp thịt không còn vị thế quan trọng bằng kiến thức, kể cả kiến thức của người thợ mà ta gọi là "tay nghề".

- Tiến trình tích lũy kinh nghiệm, tay nghề hay kiến thức nó giải thích vì sao mà người trung niên thường có lương cao dù sức khoẻ kém thanh niên và cũng giải thích vì sao mà phụ nữ hay phái yếu tham gia ngày càng nhiêu hơn vào tiến trình sản xuất. Yếu tố quan trọng ở đây là cái đầu, hay năng suất, hơn là cánh tay. Mà điều kiện then chốt cho sự thăng tiến đó là quyền tự do tìm nơi làm việc và học nghề để có mức lương cao hơn khi đáp ứng yêu cầu của thị trường.

- Thứ hai là trong chế độ độc tài, công nhân viên không có quyền tự do thành lập công đoàn hay hiệp hội độc lập để bảo vệ quyền lợi. Các công đoàn nhà nước là công cụ chính trị của đảng độc quyền và không chỉ giới hạn quyền tự do của thợ thuyền mà còn giúp nhà nước bóc lột công nhân và làm cơ chế lương bổng bị sai lệch, thí dụ như với chiến lược lương rẻ. Vì thế ta mới thấy có hiện tượng biểu tình chính đáng mà vẫn bị coi là phi pháp tại Việt Nam và Trung Quốc.

Vai trò Công đoàn  


000_118917745-250.jpg  

Xếp hàng nộp hồ sơ xin việc tại hội chợ việc làm
Hirevent, San Francisco, 12/7/2011. AFP photo  



Vũ Hoàng: Đó là về trường hợp của các nước độc tài, chứ công đoàn hay nghiệp đoàn trong các quốc gia có tự do thì lại khác hẳn. Ông giải thích thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong các xã hội dân chủ, công đoàn được tự do thành lập để bảo vệ quyền lợi công nhân đối diện với chủ nhân và đây là một nhu cầu chính đáng để định chế hóa việc đàm phán hay ngã giá giữa công nhân viên và doanh nghiệp. Khi người dân tại các nước độc tài đòi được quyền tự do lập hội và sinh hoạt công đoàn thì cũng trong mục tiêu này.

- Tuy nhiên, trong các nước dân chủ, người ta cũng chứng kiến hiện tượng không hẳn có lợi cho quyền lợi công nhân và sinh hoạt kinh tế. Trước hết là các công đoàn tự do có thể thành thế lực chính trị và tác động vào chính trường cho nhiều chủ trương nằm bên ngoài lĩnh vực kinh tế. Nạn chính trị hóa công đoàn là một lý do giải thích vì sao mà ngày càng có ít công nhân trở thành đoàn viên là hiện tượng đã thấy từ mấy chục năm nay.

- Thứ nữa, công đoàn mà bị chính trị hóa thì dễ cấu kết với bộ máy nhà nước và làm lệch lạc quy luật đàm phán giữa công nhân và doanh nghiệp, có khi gây vấn đề kinh tế và dẫn đến nguy cơ thất nghiệp. Nếu trong các nước dân chủ người ta lại theo quan điểm đấu tranh giai cấp như mình vừa nhắc tới tại Pháp thì đấy là vấn đề. Cho nên việc phân biệt này rất quan trọng khi ta nói đến vai trò của công đoàn ở hai thế giới trái ngược, có tự do hay không.

Vũ Hoàng: Phần bối cảnh và định nghĩa ấy dẫn ta về một đề tài thời sự là khi tập đoàn sản xuất xe hơi Peugeot của Pháp quyết định đóng cửa một xưởng ráp chế và sa thải tám ngàn nhân viên. Chính phủ Pháp đã phản đối và đòi can thiệp để bảo vệ quyền lợi của công nhân. Ông nghĩ sao và giải thích thế nào về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng tổ hợp PSA sản xuất hai loại xe Peugeot và Citroen nổi tiếng của Pháp đã quyết định hôm Thứ Năm vừa qua là sẽ đóng cửa một xưởng ráp chế tại Aulnay Sous Bois và tái phối trí lại công nhân với hậu quả là cắt mất tám ngàn việc trong hai năm tới. Lý do là nạn sản xuất thừa so với yêu cầu của thị trường, hoặc nói đúng hơn là sức cạnh tranh sút kém khiến xe bán không được và doanh nghiệp bị lỗ. Khi gặp một chuyện như vậy, chính quyền tất nhiên là phải tìm hiểu và can thiệp để giúp đỡ các công nhân có thể bị sa thải.

Trong các xã hội dân chủ, công đoàn được tự do thành lập để bảo vệ quyền lợi công nhân đối diện với chủ nhân và đây là một nhu cầu chính đáng để định chế hóa việc đàm phán hay ngã giá giữa công nhân viên và doanh nghiệp.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Nhưng then chốt ở đây là phải tìm hiểu vì sao hãng PSA không thể sản xuất nhiều hơn và bán được nhiều hơn hầu có thêm lợi nhuận và tạo thêm việc làm cho công nhân? Mối nguy trong vụ này là giữa công nhân và doanh nghiệp lại xuất hiện một lực lượng thứ ba là nhà nước, với lý do chính đáng về xã hội mà gây vấn đề về kinh tế là làm cho các hãng xưởng của PSA tại Pháp bị lỗ và mất sức cạnh tranh nếu so với cơ sở sản xuất cũng của PSA ở một nước Âu Châu khác, thí dụ  như tại Tây Ban Nha hay Slovakia.

- Chuyện ấy cũng khiến ta nên nhớ lại là vì sao ba hãng xe hơi Hoa Kỳ bị lỗ lã và gặp nguy cơ phá sản cách đây mấy năm khi các hãng xe của Nhật, Đức và Nam Hàn thiết lập tại Mỹ, tuyển dụng nhân công Mỹ lại vẫn có lời mà chẳng phải cầu cứu nhà nước. Vấn đề là khả năng cạnh tranh.

Vũ Hoàng: Ông nhấn mạnh đến yếu tố cạnh tranh, tức là khả năng sản xuất và bán ra có lời. Nhưng việc truy tìm lợi nhuận như vậy có gây thiệt hại cho công nhân hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta nên nhắc lại mục tiêu phải được xem là chính đáng chứ không là một cái tội của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận. Ngày nào mà sản xuất thêm vẫn còn có lãi thì doanh nghiệp còn tuyển thêm người. Muốn có lời cao thì doanh nghiệp có thể nâng giá bán nhưng chỉ trong một mức nào đó mà thôi vì đắt quá thì không thể cạnh tranh được và sẽ bị lỗ.

- Giải pháp kia là giảm bớt phí tổn cho mỗi đơn vị sản xuất thêm, tức là phải nâng cao năng suất, với công nhân có tay nghề cao hơn qua tiến trình đào tạo và huấn luyện. Việc cân nhắc hơn thiệt như vậy phải được thảo luận với công đoàn để đôi bên cùng thống nhất về mục tiêu có lợi cho cả hai. Trong mối quan hệ song phương này, nhà nước phải có mặt để đảm bảo là công đoàn và công nhân có quyền tự do chứ không bị ép.  Nhưng đôi khi nhà nước không chỉ giữ vị trí trọng tài và tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh để kiếm lời trong điều kiện lao động an toàn.

- Nhà nước có thể gây ra hậu quả bất lường khi là lực lượng can thiệp vào tiến trình thương thảo song phương giữa công nhân và chủ nhân, giữa công đoàn và doanh nghiệp. Thí dụ như với lý do đẩy lui nạn thất nghiệp, nhà nước hay các chính trị gia làm ra luật hoặc áp dụng chính sách bảo vệ để doanh nghiệp không được sa thải công nhân viên. Hậu quả bất lường ở đây là lý tưởng công bằng lại dẫn tới nạn thất nghiệp!

 

Thị trường nhân dụng  



000_GYI0057387508-250.jpg
Xếp hàng nộp hồ sơ xin việc về lĩnh vực y tế tại một hội chợ việc làm tổ chức ở New York vào 08/5/2009. AFP photo  


Vũ Hoàng:Chuyện hậu quả bất lường này quả là ly kỳ. Vì sao mục tiêu ban đầu là giải trừ thất nghiệp lại có thể dẫn tới thất nghiệp?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta nhắc đến một trường hợp phổ biến là các luật lệ bảo vệ quyền lao động hoặc chính sách lương bổng gọi là "công bằng". Mục tiêu ở đây là giúp công nhân viên đang có việc sẽ không mất việc và giữ được mức lương cao. Nhưng kết quả là làm thị trường lao động bị sơ cứng và lương bổng quá đắt khiến doanh nghiệp bị lỗ nên sẽ tìm giải pháp nâng cao năng suất và khỏi tuyển thêm người mới. Hậu quả là người đã có việc thì được ngồi mát ăn bát vàng, người chưa có việc thì tìm không ra doanh nghiệp tuyển dụng và kinh tế nói chung sa sút vì cái lý tưởng cao quý đó.

- Một thí dụ là trước khi cải cách kinh tế quãng hai chục năm trước, xứ Ấn Độ đã có loại luật lệ bảo vệ lao động như vậy. Cụ thể là kỹ sư trong doanh nghiệp nhà nước về điện thoại có quy chế làm việc toàn thời và vĩnh viễn, tức là không bao giờ bị sa thải. Kết quả là doanh nghiệp bị lỗ, nhân viên vẫn có việc có lương mà chẳng sản xuất gì nhiều. Sau khi cải cách và phải cổ phần hóa hay tư nhân hoá các cơ sở sản xuất này, tức là bán cho tư doanh, thì tư doanh bị kẹt vì hợp đồng bảo vệ đó. Họ không tham gia đầu tư và không tạo thêm việc làm cho kinh tế Ấn Độ cho tới khi xứ này phải sửa lại luật lệ. Chính là sự can thiệp của nhà nước để đẩy lui thất nghiệp lại là yếu tố gây ra thất nghiệp.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì thính giả của chúng ta có thể hiểu vì sao ông nói rằng nhà nước không có chức năng tạo ra việc làm vì đấy là vai trò của doanh nghiệp khi truy tìm lợi nhuận.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu không hiểu quy luật kinh tế thông thường thì người ta có thể nghĩ lý luận đó nhuốm mùi phản động nhằm bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp hay giới chủ nhân. Sự thật nó phức tạp hơn thế. Tôi xin lấy một thí dụ tại Hoa Kỳ này từ ba chục năm về trước để mình nhìn ra toàn cảnh.

- Năm 1982, tạp chí chuyên đề về kinh doanh là Forbes đã lần đầu tiên trình bày danh sách 400 người giàu nhất của nước Mỹ, trong đó có 23 người thuộc dòng họ du Pont, 14 người thuộc dòng Rockefeller và 11 người họ Hunt, là các đại gia tỷ phú từ nhiều đời. Hai chục năm sau, danh mục này chỉ còn ba ông Rockfeller, một ông Hunt và chẳng còn tay du Pont nào nữa. Điều ấy có nghĩa là xã hội thường xuyên chuyển dịch và đào thải chứ không thể có hiện tượng con vua lại cứ làm vua. 

Khi tìm hiểu thêm về các đại gia tỷ phú đó thì mình còn thấy rằng nhiều người khởi nghiệp rất sớm, từ khi còn ở tuổi thiếu niên. Họ cứ thế mà học nghề từ dưới lên, cho đến khi làm chủ doanh nghiệp xưa kia đã tuyển họ nên hiểu rất thấu đáo tiến trình sản xuất và kinh doanh.

Yếu tố ảnh hưởng đến nhân dụng chính là tính toán đầu tư của loại doanh nghiệp này và tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư chính là một cách thiết thực để đẩy lui thất nghiệp.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Yếu tố then chốt ở đây là quyền tự do và khả năng thay đổi chứ không nằm trong chế độ bảo vệ. Khi nhà nước thi hành chính sách bảo vệ, dù là vì động lực xã hội cao đẹp, thí dụ như về lương bổng, phúc lợi và điều kiện lao động, kể cả quyền nghỉ hè mà vẫn ăn lương, nhà nước lại góp phần gây ra tình trạng thất nghiệp lưu cữu ở mức cao, kéo dài khá lâu cho những người mất việc. Chúng ta có thấy hiện tượng đó tại Âu Châu nếu so sánh với Hoa Kỳ.

Vũ Hoàng: Chúng ta đi đến đoạn kết là tính toán kinh doanh với ảnh hưởng vào lĩnh vực nhân dụng như ông nói. Xin ông trình bày cho tiến trình này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thực tế thì doanh nghiệp phải tính toán làm sao để mỗi khi sản xuất thêm một đơn vị thì vẫn còn có lời và còn có lời thì còn sản xuất. Đó là hoàn cảnh chung, nhưng các tổ hợp lớn thật ra chẳng là những cơ sở tuyển dụng nhiều nhất. Khi nghiên cứu thị trường nhân dụng và cần giải quyết nạn thất nghiệp người ta mới thấy rằng các doanh nghiệp loại nhỏ và trung bình mới tuyển dụng nhiều nhất trong vòng năm năm mới được thành lập. Yếu tố ảnh hưởng đến nhân dụng chính là tính toán đầu tư của loại doanh nghiệp này và tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư chính là một cách thiết thực để đẩy lui thất nghiệp.

- Ngược lại, khi nhìn sự thể với nhãn quan đấu tranh theo lối "hơn bù kém", nghĩa là cái được của người này là cái mất của người khác, thì nhà nước tạo ra hiện tượng tranh ăn vì phe nào cũng muốn giành cho mình một phần bánh lớn hơn thay vì nghĩ đến sản xuất một cái bánh to hơn. Hậu quả của tâm lý đó là làm sản xuất co cụm và thất nghiệp kéo dài.

Vũ Hoàng: Xin cảm ơn ông Nghĩa về những lý luận rất cơ bản này của kinh tế học. 

Thứ Ba, tháng 7 17, 2012

Ngôn Từ và Hành Động


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120716
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Xảo ngữ bầu cử và thực tế ngoại giao


 * Ngoại trưởng Hoa Kỳ cùng Thủ tướng Thái Lan tại Hội nghị ASEAN *



Bài này sẽ từ bên trong nhìn lại Hoa Kỳ từ bên ngoài. Nhức đầu lắm!

Hôm Thứ Hai mùng chín, trong cái trớn của việc tái tranh cử, Tổng thống Barack Obama xém đoạt thêm một giải Nobel, về "Ngôn ngữ Nhiệm mầu", nếu thế giới có một giải thưởng như vậy.

Ông đề nghị triển hạn thêm một năm việc giảm thuế cho thành phần "trung lưu" - các hộ gia đình có lợi tức đồng niên 250 ngàn Mỹ kim trở xuống. Nhưng sẽ vĩnh viễn nâng mức thuế của người giàu hơn - chứ không cho hạ thuế như quy định trong hai đạo luật thuế vụ của vị tiền nhiệm vào các năm 2001 và 2003. Hai đạo luật này sẽ mạn hạn vào cuối năm nên sẽ chịu mức thuế cao hơn từ năm tới. Đây là một đề nghị có thể gây tranh luận với quan điểm của chính ông vào năm 2009: "điên sao mà tăng thuế giữa cơn suy trầm kinh tế"?

Nhưng chuyện ấy không là đề tài của bài viết.

Điều đáng nói là khi trình bày quan điểm của mình, ông Obama đả kích đối lập là "tin rằng thịnh vượng sẽ từ trên đỉnh (từ những người giàu nhất) tỏa xuống, cho nên nếu ta tiêu thêm nhiều ngàn tỷ khi hạ thuế cho những người Mỹ giàu nhất thì việc làm và đà tăng trưởng sẽ bằng cách nào đó bung ra".

Ngôn ngữ nhiệm mầu ở đây là một lý luận kinh tế được gán cho đảng Cộng Hoà, theo đó, thịnh vượng là hiện tượng "lọt sàng xuống nia", từ trên rỏ xuống, nghĩa là người giàu mà có cơ hội làm giàu hơn nữa thì người nghèo ở dưới sẽ được hưởng! Người viết chưa được thấy một kinh tế gia bình thường nào đưa ra một lý luận như vậy. Trừ phi là những nhà quản lý kinh tế Hà Nội, khi lý luận rằng sự lớn mạnh của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở trên sẽ đem lại ơn ích cho mọi doanh nghiệp và người dân ở dưới.

Nói cho nôm na đơn giản, ông Obama đã khéo làm một phép quy chụp để tấn công đối lập. Đây chỉ là thủ thuật chính trị trong mùa bầu cử. Nhưng phép màu về chữ nghĩa nằm trong chữ "tiêu".

Tổng thống Mỹ cho là nếu không tăng thuế thì cũng tựa như tiêu mất tiền của ngân sách quốc gia. Trong hoàn cảnh bội chi ngân sách quá nặng hiện nay, người dân sẽ phẫn nộ khi nghe nói là ngân sách sẽ lại "tiêu" thêm nhiều ngàn tỷ. Quý độc giả có thấy sự uyên áo của ngôn ngữ tuyên truyền trong mùa bầu cử hay chăng? Nó cũng xuất sắc như khi Chính quyền Obama đề nghị gia tăng công chi – nghĩa là tiêu thêm công quỹ - nhưng gọi đó là "đầu tư".

Chúng ta sống trong một thế giới đảo điên khi mà nội dung của chữ nghĩa lại xoay ngược, hiện tượng người ta tưởng chỉ thấy trong thế giới cộng sản.

Khi người cộng sản nói đến "xây dựng xã hội chủ nghĩa" – và truyền thông quốc tế dịch lại thành một khái niệm lạc quan và tích cực (socialism building) - thì người dân ở trong cuộc hiểu rằng muốn xây thì phải xoá đã - và chuyện xây dựng đó báo hiệu "cải tạo". Toé máu và mất tiền.

Thế giới ngày nay hết nghe nói đến lý luận cộng sản, nhưng dường như hiện tượng ngoa ngụy chữ nghĩa vẫn còn mà cũng chẳng là độc quyền của nước Mỹ trong mùa tranh cử. Với cảm nghĩ bi quan đó, xin hãy lùi về một bước và nhìn lại Hoa Kỳ từ bên ngoài.

Cách hay nhất là theo dõi bước chân của Ngoại trưởng Hillary Clinton.


***


Hoàn toàn đứng ngoài cuộc tranh cử, Ngoại trưởng Clinton đã có một cuộc chạy băng đồng, từ mùng sáu đến 17 để thăm viếng tám quốc gia, tham dự gần một chục hội nghị quốc tế, chính thức phát biểu 40 lần chưa kể những cuộc đàm phán tay đôi với lãnh đạo của nhiều nước.

Chỉ theo dõi những sinh hoạt "toàn phương vị" này thì cũng đã là một việc toàn thời. Điều ấy mới cho thấy những đa đoan của nước Mỹ trước quá nhiều hồ sơ của thế giới mà cách ăn nói đảo điên trong mùa tranh cử không thể khoả lấp được.

Trước hết, hôm mùng sáu, Ngoại trưởng Clinton ghé Pháp không để nói chuyện về Liên hiệp Âu châu, đồng Euro hay Minh ước NATO. Mục tiêu là để vận động quốc tế cùng giải quyết vụ khủng hoảng Syria. Rời Paris, bà bay qua Nhật Bản dự hội nghị viện trợ cho A Phú Hãn, một hồ sơ còn chiến lược hơn cho Hoa Kỳ.

Tại Tokyo, bà Clinton tất nhiên đàm đạo với Thủ tướng Nhật về mâu thuẫn Nhật Hoa liên hệ đến đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu ngư đài và đòi là của mình. Địa điểm chiến lược đó do Hoa Kỳ quản lý từ sau Thế chiến II, đã trao trả lại cho Nhật từ năm 1971 và nay đang là đầu mối tranh chấp Nhật-Hoa khiến Tokyo phải triệu hồi đại sứ về để tham khảo ý kiến.

Tại đây, bà Clinton cũng lại đụng vào chuyện ngôn từ khi chỉnh lại cách gọi của Nhật về các phụ nữ Á châu bị cưỡng bách phục vụ nhu cầu sinh lý cho binh lính Nhật trong Thế chiến II. Nhật gọi họ là "úy an phụ" hay "phụ nữ giải khuây" comfort women, Ngoại trưởng Mỹ nói thẳng rằng phải gọi họ là "nô lệ tình dục", sex slaves. Phút nói thật tuyệt vời! Nhất là khi Hoa Kỳ đang sát cánh với đồng minh Nhật Bản về an ninh chiến lược ngoài Đông hải.

Rời Nhật Bản qua viếng thăm Cộng Hoà Mông Cổ hôm mùng tám, Ngoại trưởng Clinton đàm đạo với lãnh đạo Ulan Baatar và phát biểu về dân chủ cùng nữ quyền, một đề tài nhạy cảm cho bên kia biên giới, là Nội Mông của Trung Quốc. Xuống Hà Nội hôm sau, bà nói về an ninh và kinh tế, ca tụng sự hợp tác Mỹ-Việt trong một số hợp đồng đầu tư, nhưng cũng nhẹ nhàng nhắc đến nhân quyền và dân chủ. Nhẹ thôi.... 

Từ Việt Nam bà là Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên đặt chân lên xứ Lào kể từ 57 năm nay, hôm sau qua tham dự năm hội nghị quốc tế tại Phnom Penh, kể cả hai hội nghị về hạ nguồn sông Mekong, và gặp gỡ lãnh đạo Cam Bốt. Trong ba ngày, Ngoại trưởng Clinton đã đạt một số thắng lợi với phụ nữ, nhưng Hoa Kỳ gặp thất bại với nhóm ASEAN, Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á. Do áp lực hay sự mua chuộc của Bắc Kinh, Chính quyền Phnom Penh gạt hồ sơ an ninh ngoài biển Đông ra khỏi Thông cáo chung và mặc nhiên phá vỡ thế liên kết của các nước Đông Nam Á trong một trận tuyến hay diễn đàn tập thể đối diện với sức ép của Trung Quốc.

Biến cố này cho thấy một bài toán của Hoa Kỳ: sau khi đắn đo cân nhắc, nhiều nước Đông Nam Á có thể hòa giải với Trung Quốc hơn là hòa hợp với Mỹ.

Rời Đông Á về Trung Đông, Ngoại trưởng Mỹ tới Ai Cập làm nhiệm vụ hòa hợp hòa giải khác: đàm đạo với Tổng thống tân cử Mohamed Morsi thuộc lực lượng Huynh đệ Hồi giáo và với lãnh tụ thật của Ai Cập là Thống chế Mohamed Hussein Tantawi, chủ tịch Thượng hội đồng Quân lực. Đòn bẩy viện trợ của Hoa Kỳ có cân bằng được cái thế đối nghịch lồng trong đối thoại giữa hai thế lực này không? Câu hỏi đầy rắc rối mà ngôn từ không thể giải quyết nổi.

Chỉ vì hôm sau, Ngoại trưởng Clinton phải bay vào mắt bão là xứ Israel. Hồ sơ nổi cộm tại đây là mối nguy Iran. Bên cạnh còn có mâu thuẫn giữa Israel với Chính quyền Palestine. Đúng lúc đó, một pháo hạm của Hoa Kỳ đã nổ súng ngoài khơi Dubai vì e ngại một vụ tấn công của quân khủng bố, như đã xảy ra cho Chiến hạm Cole ngoài khơi Yemen vào năm 2001....


***


Tổng kết lại, hơn 10 ngày công du của Ngoại trưởng Hillary Clinton đã đề cập tới một chục đề mục: Syria, A Phú Hãn, dân chủ, nữ quyền, đối thoại với Trung Quốc, hợp tác với Nhật Bản, an ninh Đông Á, đoàn kết ASEAN, hòa giải tại Ai Cập, gián chỉ Iran, trấn an Israel, ổn định Trung Đông và bảo vệ quyền lợi Hoa Kỳ trong một khu vực chiến lược. Chuyến đi được Bắc Kinh suy diễn như một nỗ lực liên kết của Mỹ để bao vây Trung Quốc. Nào chỉ có vậy!

Trong khi ấy, đề mục nóng nhất tại Hoa Kỳ vẫn là chuyện bầu cử và nghệ thuật ngôn ngữ để tranh thủ cử tri. Truyền thông chúng ta có quyền chọn, xem đề mục nào mới là ưu tiên.... 

Thứ Hai, tháng 7 16, 2012

Có tiền là mua được ghế Tổng thống Mỹ?


* Mitt Romney (trái) đang dẫn trước Tổng thống Obama về tiền quyên góp *

Trong hoàn cảnh kinh tế còn èo uột, năm nay hệ thống truyền hình Hoa Kỳ vẫn còn niềm an ủi. Là bội thu nhờ quảng cáo chính trị trong mùa tranh cử, nhất là ở các tiểu bang "xôi đậu" mà kết quả có thể ảnh hưởng đến cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.   

Lần này, số tiền mà các phe cùng tung ra sẽ vượt xa kỷ lục của cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tổng thống năm 2010. Từ đầu năm 2001 đến Tháng Sáu vừa qua, ngần ấy đài truyền hình đã thu được gần 600 triệu Mỹ kim. Chưa từng thấy! Cũng ly kỳ như những bùn nhơ đang được tung lên truyền hình để xuyên tạc đối thủ, ngân sách quảng cáo chính trị rất cao là điều đáng chú ý

Nhưng ai chi ra khoản tiền đó và để làm gì khi tác động vào quần chúng và cử tri?

Câu hỏi ấy dẫn tới huyền thoại về thế lực tiền tài trong thể chế dân chủ Hoa Kỳ. Chẳng hạn như bọn tài phiệt, dân Do Thái, thậm chí tổ chức tội ác, hay các tay lái súng, v.v. đã dùng tiền bạc lũng đoạn bầu cử và đưa tay chân lên lãnh đạo nước Mỹ.

Hình như sự thật lại không đơn giản như vậy.


Quần chúng thờ ơ


Từ nhiều năm nay, các nước dân chủ Tây phương đều gặp một hiện tượng chung là quần chúng ngày càng ít tham gia tiến trình quyết định chính trị qua việc đi bầu hoặc gia nhập công đoàn.

Người ta có nhiều ngả khác để tác động vào nhận thức lẫn chính sách quốc gia. Đó là các đoàn thể quần chúng, tổ chức ngoài chính phủ (NGO), hội thiện hay sáng viện, các nghiệp đoàn và doanh nghiệp đa quốc gia, v.v.... Trong số này, dư luận chú ý nhất đến doanh nghiệp. Cái "thuyết âm mưu" theo đó tài phiệt có thể bố trí nhân sự thi hành chính sách có lợi cho họ là một lý luận có vẻ hợp lý. Thể hiện ra bên ngoài là việc tung tiền vận động hành lang chính trị (lobby) và cấu kết với chính trường làm lệch lạc chính sách quốc gia, nên cứ mùa bầu cử là lúc tiền tài phấp phới màu sắc tham ô. Quy nạp vào chế độ tư bản Mỹ thì có vẻ đúng nhất.

Thuyết âm mưu này giúp người ta khỏi suy nghĩ. Nhưng sự thật lại rắc rối hơn vậy.

Nước Mỹ có 12 ngàn người ghi danh với pháp luật là tư vấn chính trị, nôm na là "thuyết khách", làm lobby tại thủ đô Washington, và năm ngoái chi hơn ba tỷ Mỹ kim cho hoạt động này. Nước Anh có 14 ngàn tay thuyết khách và chi ra hai tỷ Anh kim (quãng ba tỷ đô la) dù dân số chỉ bằng một phần sáu của Mỹ.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) chuyên trị về chống tham nhũng toàn cầu. Theo phúc trình mới công bố hôm mùng sáu Tháng Sáu, TI đã khảo sát quy chế vận động chính trị tại 25 quốc gia Âu Châu và thấy ra 19 nước không có luật lệ kiểm soát hoạt động lobby, trong đó có nước Anh, cũng là nơi không có giới hạn về việc góp tiền cho chính trị. Tổ chức TI còn than phiền là Liên hiệp Âu châu thiếu luật lệ chặt chẽ ngay trong cơ chế điều hành tại thủ đô Bruxelles và bị ảnh hưởng quá nặng và quá mờ ám của doanh trường.



Quần chúng ở phương Tây ngày càng ít đi bầu


Ngược lại, Mỹ là nơi có... quá nhiều luật lệ chi phối và kiểm soát các hoạt động nằm trong vùng tiếp cận giữa tiền bạc và chính trị.

Pháp quyền nhà nước tại đây không là khẩu hiệu mà là một cánh rừng nhiệt đới - không phải ngẫu nhiên mà đa số chính khách Mỹ lại là luật sư! Hoa Kỳ chỉ có 5% dân số địa cầu mà có 70% số luật sư của thế giới vì hệ thống luật lệ vô cùng phức tạp....

Một thí dụ của "đời thường": John Edwards là luật sư và trở thành triệu phú nhờ biệt tài "rượt xe cứu thương" - thành ngữ Mỹ về việc chạy theo xúi giục bệnh nhân kiện cáo bệnh viện. Làm Nghị sĩ North Carolina, ông ra ứng cử Tổng thống năm 2004, đứng Phó trong liên danh Dân Chủ cùng Nghị sĩ John Kerry rồi tính thử lại thời vận trong cuộc tranh cử 2008. Nhưng luật sư tài ba này thân bại danh liệt không chỉ vì tội ngoại tình ngay giữa bầu cử mà còn bị ra toà vì tội lấy hơn một triệu bạc quyên góp cho tranh cử để che giấu vụ ngoại tình: vi phạm luật lệ tranh cử liên bang. Nhờ công tố viên cột hồ sơ không chặt mà ông ta thoát được 30 năm tù!

Vận động tiền bạc

Hoa Kỳ là một xứ thường xuyên có bầu cử. Rẻ ra thì hai năm là bầu lại toàn thể 435 Dân biểu Hạ viện, một phần ba của 100 Nghị sĩ Thượng viện, và bốn năm một lần, lại bầu Tổng thống cùng Phó Tổng thống. Việc bầu ra 537 chức vụ dân cử cấp Liên bang đó bị luật lệ chi phối và thuộc quyền kiểm soát của Hội đồng Bầu cử Liên bang FEC. (Chuyện bầu bán tại tiểu bang và địa phương thì chấp hành luật lệ ở cấp thấp hơn.) Trong tranh cử cấp liên bang, các ứng viên được nhận tiền của công chúng hoặc của công quyền. Nguồn tài trợ của công quyền thì có giới hạn và điều kiện khắt khe chứ của công chúng mới là chuyện lớn.

Vì thế, đây cũng là đề mục gây tranh cãi, với hệ thống luật lệ thường thay đổi kể từ năm 1971. Đổi luật cũng là một tiến trình vận động tiền bạc!

"Dùng thế lực tiền tài trong chính trị có thể làm ung thối cơ chế quốc gia và bất công. Tìm ra giải pháp thỏa mãn hai yêu cầu trái ngược này là điều khó, thường gây bất mãn nên cứ thành đề tài tranh cãi."

Sở dĩ gây tranh cãi vì góp tiền vận động cho chính sách hay chính khách của mình là thể hiện quyền tự do ngôn luận của người dân. Nhưng dùng thế lực tiền tài trong chính trị có thể làm ung thối cơ chế quốc gia và bất công. Tìm ra giải pháp thỏa mãn hai yêu cầu trái ngược này là điều khó, thường gây bất mãn nên cứ thành đề tài tranh cãi.

Năm 2010, Tối cao Pháp viện và Tòa Kháng án của Hạt 9 tại thủ đô Washington lại có hai phán quyết lịch sử: cho doanh nghiệp và nghiệp đoàn rộng quyền góp tiền vào bầu cử ở cấp liên bang.

Vấn đề là thu tiền ở đâu và dùng vào việc gì?

Về số thu, người ta có bốn nguồn chính: từ cá nhân cò con, mỗi người không quá hai trăm bạc: từ các nhà hảo tâm giàu có; các ủy ban quyên góp; sau cùng là ứng viên tự tài trợ bằng tiền riêng. Thông thường, đảng Cộng Hoà có ưu thế trong ngả tự tài trợ và quyên góp cò con mà thua đảng Dân Chủ trong hai ngả kia (đại gia và ủy ban vận động). Về cách chi thì luật lệ có những quy định chặt chẽ với hơn hai chục giới hạn để tránh nạn lũng đoạn. Không đi đúng ngả, dùng đúng cách là phạm luật.

Nhưng các ứng cử viên và và tổ chức chính trị vẫn còn nhiều phương thức khác. "Tích tiểu thành đại" là cách gom các nguồn ủng hộ cò con thành một khoản lớn, qua một tay tích cực sau này có thể được đền đáp ân tình. "Vận động Hành lang" là một cách khác, với việc lập ra các Ủy ban Hành động Chính trị (Political Action Committees PACs) và cả "Siêu PAC" là các đơn vị độc lập không minh danh ủng hộ một ứng cử viên nào nhưng không bị giới hạn về tiền bạc để tác động vào tranh cử qua một số hồ sơ phản ảnh lập trường của ứng cử viên đó.

Ngoài ra, còn các đoàn thể vô vụ lợi được quy định trong điều khoản 501(c) và 527 của luật lệ thuế vụ liên bang. Các tổ chức này cũng tác động vào chính trường vì ảnh hưởng đến nhận thức của cử tri - miễn là phải làm ăn hợp pháp với sổ sách phân minh cho sở thuế liên bang. Sau cùng, các chính đảng cũng có quyền huy động quyên góp và khai thác ngần ấy ngả nói trên và một yếu tố thành công trong đấu tranh dân chủ cũng là khả năng huy động này. Nhưng quy luật chung vẫn là người nhận lẫn các tổ chức vận động đều phải khai báo rõ ràng.

Tựu trung, tiền bạc là cái đòn bẩy, được sử dụng khá tinh vi để ảnh hưởng đến nhận thức của cử tri và lá phiếu về chính khách và chính sách, nhưng mọi việc đều công khai hóa và phải hợp lệ.


Ngộ nhận



George Soros đã tuyên bố sẵn sàng hy sinh cả gia sản để đánh bại Tổng thống George W. Bush


Một trong những người giàu nhất thế giới là nhà đầu tư George Soros đã tuyên bố sẵn sàng hy sinh cả gia sản để đánh bại Tổng thống George W. Bush trong cuộc tranh cử năm 2004 và thực tế là chi tiền rất nhiều cho các tổ chức đấu tranh bên cánh tả của đảng Dân Chủ cho mục tiêu đó. Nhưng ông ta phải làm đúng luật, y hệt như các tỷ phú khác đã muốn tác động vào cuộc tranh cử tổng thống năm nay, qua cả hai đảng.

Trận chiến về tiền bạc này là đề tài hấp dẫn cho truyền thông. Nhưng báo chí không được mời tham dự dạ tiệc gây quỹ cho các ứng cử viên, một tiết mục hấp dẫn khác.

Tỷ phú David Koch theo xu hướng tự do tuyệt đối (libertarian) đã mời bằng hữu vào tư thất để ăn cơm riêng với ứng cử viên Mitt Romney sẽ đại diện đảng Cộng Hoà trong cuộc tranh cử tổng thống. Một khẩu phần ăn là năm vạn đô la. Bên kia ranh giới chính trị, hai tài tử điện ảnh là George Clooney và Sarah Jessica Parker, hay tỷ phú Tony James trong tập đoàn đầu tư Blackstone, cũng có sinh hoạt tương tự. Muốn ăn cơm tối để hàn huyên với thượng khách là Tổng thống Barack Obama thì xin chi ra dăm ba vạn. Đấy là phút nói thật giữa tiền bạc với chính trị?

Truyền thông không được biết nhiều về các cuộc gặp gỡ đó mà chỉ ghi nhận là khi chuẩn bị tái tranh cử, trong hai năm qua ông Obama đã dự 177 sinh hoạt gây quỹ. Cùng khoảng thời gian đó thì ông Bush cha có 86 lần, ông Bill Clinton 70 lần, ông Bush con 24 lần, Jimmy Carter 25 lần và Ronald Reagan vỏn vẹn ba lần trong các năm 1983-1984. Nhưng có phải vì vậy mà cử tri sẽ bỏ phiếu theo quan điểm của kẻ lắm tiền bộn bạc nhất không?

"Đa số người Mỹ gốc Do Thái lại dồn tiền qua đảng Dân Chủ, vốn dĩ có lập trường nhiều khi trái ngược với quốc gia Israel của dân Do Thái tại Trung Đông. Các tỷ phú Mỹ cũng thế, họ dồn tiền - nên dồn phiếu - nhiều hơn cho đảng Dân Chủ."


Sau cùng, ngoài việc dùng tiền tác động vào chính trị thì phải khai báo và hợp pháp trong mê cung của chính trường Mỹ, người ta vẫn thấy ra vài ba ngộ nhận.

Đa số người Mỹ gốc Do Thái lại dồn tiền qua đảng Dân Chủ, vốn dĩ có lập trường nhiều khi trái ngược với quốc gia Israel của dân Do Thái tại Trung Đông. Các tỷ phú Mỹ cũng thế, họ dồn tiền - nên dồn phiếu - nhiều hơn cho đảng Dân Chủ. Và thế lực tiền tài và nhân lực mạnh nhất tại Mỹ trong mùa tranh cử này không nhất thiết là tài phiệt mà còn có các nghiệp đoàn trong khu vực tư doanh lẫn công chức.

Nổi tiếng mà đầy nghịch lý là sức huy động rất mạnh của nghiệp đoàn giáo chức.

Các tổ chức này không chỉ dồn tiền vận động cử tri đi bầu và bỏ phiếu cho ứng viên Dân Chủ. mà còn tranh đấu cho các chủ trương xã hội như nữ quyền, dân quyền của thiểu số, hoặc quyền phá thai hay hôn nhân đồng tính. Nghịch lý ở đây là sự sa sút của nền giáo dục trung tiểu học tại Mỹ, trong khi đại diện của thầy cô lại phất cờ cho những mục tiêu khác. Nghịch lý ấy cũng giải thích vì sao mà ngay giữa cơn suy trầm kinh tế, ứng cử viên Obama lại chọn một số đề mục tranh cử về xã hội mà thiên hạ cho là không thuộc loại ưu tiên như kinh tế.

Ngoài đòn phép chính trị khá bẩn, việc theo đuổi tiền tài này mới là vấn đề cho nền dân chủ Mỹ. Nhưng hình như cử tri Hoa Kỳ mới là lực lượng được o bế nhất - và họ vẫn có thể gây bất ngờ.


Bài viết thể hiện quan điểm riêng của kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, sống tại California, Hoa Kỳ.

Săn Lùng Dưới Đáy Biển


Nguyễn -Xuân Nghĩa- Ngày Nay Houston, Ngày 120715

Khi Trung Quốc thị uy ngoài Đông hải, chuyện đáy biển còn ly kỳ gấp bội

 * Thêm một điểm nóng ngoài Đông Hải - tranh chấp Nhật-Hoa về đảo Senkaku (Điếu Ngư Đài) *

 
Từ 27 Tháng Sáu đến mùng bảy Tháng Tám, 22 quốc gia trên vành cung Thái bình dương có cuộc thao dượt hải quân gọi là RIMPAC. Do Hoa Kỳ khởi xướng năm 1971 và hai năm tiến hành một lần với sự tham gia ngày càng đông đảo của các nước, RIMPAC lại thiếu vắng quốc gia có nhiều tiềm thủy đĩnh nhất và đang muốn khống chế Đông hải của Việt Nam. Đó là Trung Quốc. Bỉnh bút Nguyễn-Xuân Nghĩa tìm hiểu và giải thích chuyện này....



Ngoài khơi Hawaii, trong cuộc thao dượt RIMPAC (Rim of the Pacific) lần thứ 23 kể từ năm 1971, có bốn quốc gia đã đưa tiềm thủy đĩnh vào cuộc kể cả Hoa Kỳ, duy nhất gửi tới loại tầu ngầm nguyên tử. Hải quân Trung Quốc hiển nhiên là theo dõi và tìm hiểu khả năng của Mỹ ở dưới đáy biển.

Tiềm thủy đĩnh là loại ám khí dưới biển có thể cân bằng lực lượng trong một trận giao tranh giữa hai cường quốc hải quân, vì có thể tiến rất sâu vào "phòng tuyến địch" để do thám và  bất ngờ ra đòn sát thương. Cho một quốc gia có tham vọng trở thành cường quốc hải dương trước sức mạnh độc bá của Hoa Kỳ, võ khí này của Trung Quốc có thể bảo vệ vùng biển cận duyên, từ lãnh thổ ra Hoàng hải, Đông hải hoặc xa lắm là Đông hải của Việt Nam. Đấy là lý thuyết.

Nhưng muốn từ vành đai đầu tiên mà tiến ra Thái bình dương, ám khí dưới biển của Bắc Kinh phải lách qua hai dàn phòng ngự là chuỗi hải đảo Ryu Kyu giữa Nhật Bản và Đài Loan và eo biển Luzon giữa Đài Loan và Phi Luật Tân. Đây là hai yết hầu dưới biển vẫn do Hoa Kỳ kiểm soát để bảo vệ quyền tự do giao lưu ngoài biển Đông.

Nhưng tầu ngầm Trung Quốc chưa có khả năng di chuyển ngầm – mà ít gây tiếng động – khi tiến tới vùng biển nằm sâu hơn, ở bên ngoài của thềm lục địa. Vì thế Bắc Kinh không muốn trực diện xung đột với Hoa Kỳ. Chỉ mong là sẽ chậm rãi kiểm soát được vùng biển cận duyên và gây ngần ngại nếu như Hoa Kỳ có muốn hay có phải can thiệp.

Việc Trung Quốc xây dựng lực lượng hải quân lớn mạnh đã khởi sự 10 năm sau cải cách kinh tế. Ngày nay, mục tiêu bành trướng của Bắc Kinh trở thành tinh vi và có trọng tâm là khống chế Đông hải như một vùng trái độn quân sự mà khỏi phải dụng binh.

Khu vực gọi là "Đông hải" này có hai phần Nam/Bắc.

Phía Bắc là biển Đông của Trung Quốc, kéo dài từ lãnh thổ Nga qua bán đảo Triều Tiên, biển Nhật Bản xuống tới Eo biển Đài Loan và dãy đảo Lưu Cầu hay Ryu Kyu của Nhật, trong đó có Senkaku hay Điếu Ngư Đài mà Nhật Bản và Trung Quốc đều đòi chủ quyền (cùng Đài Loan) và hiện do Nhật Bản kiểm soát. 

Phía Nam, là biển Đông của Việt Nam, có vùng biển Đông Nam Á. Vượt qua biển Đông Nam Á thì mới đến biển Phi Luật Tân và Thái bình dương. Đông hải của Việt Nam nối liền Thái bình dương với Ấn Độ dương và là khu vực sinh tử của Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan phía Bắc với lãnh hải của Úc Đại Lợi ở phía Nam. Đây cũng là nơi sinh sống của gần 600 triệu dân Đông Nam Á, trong đó có nguồn thủy sản và cả dầu khí thiết yếu cho gần 90 triệu người Việt.

Nhiều người cho rằng nếu Trung Quốc coi Đông hải là khu vực chiến lược của họ thì cũng chẳng khác gì Hoa Kỳ đã từng xem  đại lục Mỹ Châu là khu vực ảnh hưởng của Mỹ, theo lý luận của "Chủ thuyết Monroe" từ đầu thế kỷ 19 dưới thời Tổng thống James Monroe.

Thật ra, chủ thuyết ấy nhắm vào hai khía cạnh tích cực và tiêu cực. Sau hàng loạt cuộc chiến thời Napoléon, Hoa Kỳ không muốn can dự vào chuyện Âu Châu và thứ hai cũng không muốn các nước Âu Châu mở thêm thuộc địa tại Trung Nam Mỹ. Về sau, khái niệm đó được thu gọn thành "Mỹ châu là của người Mỹ". "Người Mỹ" ở đây là Hoa Kỳ. Trung Quốc ngày nay cũng có thể lý luận trên các diễn đàn quốc tế rằng "Á Châu là của người Á" với hàm ý là không của Hoa Kỳ.

Chỉ nội lập luận đó đã nói lên mâu thuẫn tất yếu: Hoa Kỳ khẳng định rằng mình là quốc gia Châu Á và bảo vệ quyền lợi của Mỹ tại Á Châu là mục tiêu chiến lược.

Hệ quả thứ hai của "chủ thuyết Monroe - với màu sắc Trung Hoa", rằng Á Châu là của người Á, còn đụng vào một thực tế khác tại Châu Á. Về địa dư, Á châu bao gồm các nước Tây Á như Iran hay Saudia Arabia qua tới Viễn Đông, như Nga, Đại Hàn, Nhật Bản, và bao trùm bán đảo Nam Á của Ấn Độ đến các quốc gia quần đảo hay bán đảo tại Đông Nam Á. Trong một chuỗi dài như vậy, Á Châu là của người Á nào?

Nói cách khác, Á châu có thể là của người Á, mà không thể là của người Trung Hoa. Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác tất nhiên cũng đồng ý như vậy! Các nước này đều tham gia thao dượt RIMPAC.

Một khía cạnh chiến lược khác là nếu ngoài Đông hải của Trung Quốc, lãnh đạo Bắc Kinh gặp bốn nước có khả năng đương cự là Nga, Nam Hàn, Đài Loan và Nhật Bản, thì tại Đông hải của Việt Nam, họ gặp các nước nhỏ yếu hơn, đó là 10 quốc gia trong Hiệp hội ASEAN. Vì thế, chiến lược Đông hải của Trung Quốc tất nhiên nhắm vào Đông Nam Á, gây ảnh hưởng tới 10 nước trong nhóm ASEAN. Đa số trong nhóm này lại là đồng minh hay đối tác của Hoa Kỳ.

Đấy là bối cảnh chung trên mặt biển. Dưới đáy sâu tình hình còn phức tạp hơn vậy.

Hoa Kỳ là siêu cường đại dương từ trăm năm. Hàng không mẫu hạm đầu tiên được Mỹ hạ thủy trăm năm trước khi hải quân Bắc Kinh thử nghiệm "tầu sân bay" Varyag mua lại của Ukraine. Hoa Kỳ cũng thường xuyên lâm chiến ở mọi nơi trong mọi hình thái chiến tranh và có kinh nghiệm chiến trường hơn hẳn mọi quốc gia khác trên địa cầu. Tướng lãnh Hoa Kỳ đều là sĩ quan lên lon là từ thành tích tác chiến và tổ chức hay chiến lược, chứ không từ các tiêu chuẩn vu vơ, như đảng tịch, hay sắc tộc. Sau chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc chỉ có kinh nghiệm quân sự là uy hiếp Việt Nam trong các năm 1974, 1979 và 1988.

Kết hợp với sức mạnh kinh tế và khả năng kỹ thuật từ cả trăm năm, Hoa Kỳ là quốc gia không đối thủ ngoài đại dương, trên không gian và dưới đáy biển. Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng hoặc đưa quân vào kiểm soát Trung Quốc như Nhật Bản đã làm và thất bại. Siêu cường này chỉ cần bảo vệ quyền tự do và ưu thế của mình trên các đại dương, và dĩ nhiên ngoài Đông hải của Trung Quốc và Đông hải của Việt Nam.

Trước một đối phương như vậy, Trung Quốc không dại gì mà trực diện thách đố, gây hấn hay tấn công trong một cuộc chiến tất bại ở ngoài đại dương.

Lãnh đạo Bắc Kinh chỉ muốn cản trở sự xâm nhập của Hoa Kỳ ở ngoài biển và ngăn ngừa sự khống chế của Mỹ trên không gian. Họ nhắm vào hai mục tiêu "cản trở" và "ngăn ngừa" (Ngũ Giác Đài gọi tắt là A2/AD, anti-access/area denial), nhưng với điều kiện là không bị thiệt hại. Họ thực hiện mục tiêu có điều kiện ấy qua nhũng tính toán về lẽ hơn thiệt: làm sao cho Hoa Kỳ cân nhắc lợi hại và e ngại tổn thất mà chấp nhận sự hiện diện của Trung Quốc ngoài biển.

Do không thể trực diện đối đầu ngoài biển và trên không gian, Trung Quốc đi ngầm ở dưới: dùng tiềm thủy đĩnh làm sức mạnh gián chỉ.

Vì lối tính toán ấy, Hải quân Trung Quốc ngày nay có lực lượng tiềm thủy đĩnh cổ điển lớn nhất thế giới, chạy bằng dầu cặn, diesel và vài tầu ngầm chạy bằng năng lượng hạch tâm và cốcải tiến loại cổ điển bằng sức đẩy của phản lực để có thể nằm lâu hơn dưới đại dương. Hải quân Trung Quốc hiện đã có 60 tầu ngầm đủ loại và muốn nâng số này lên 75 trong thập niên tới.

Nhưng nằm im dưới biển để làm gì nếu không có khả năng tấn công để can gián và cấm chỉ?

Khả năng đó là loại phi đạn đối hạm ASBM, Anti Ship Ballistic Missile, là dùng ám khí từ đáy biển để phục kích chiến hạm Mỹ. Nếu các ám khí này lại mang đầu đạn nguyên tử thì ưu thế của các hạm đội Mỹ có thể bị triệt tiêu. Các nhà nghiên cứu quân sự đều đang tìm hiểu khả năng này của Hải quân Trung Quốc.

Vì thế, cùng với cách dàn trận trên mặt đất hay xây dựng các đơn vị loại Hải quân Công xưởng ngoài biển Đông Nam Á là chuyện đang xảy ra, Trung Quốc cũng bố trí phương tiện dưới đáy biển. Và cần tìm hiểu xem Hoa Kỳ biết được tới đâu và sẽ làm những gì để chống trả phục binh của mình.

Đấy là trận đánh về tình báo và kỹ thuật không gây tiếng nổ đang tiến hành dưới đáy đại dương.

Tuy nhiên, một hệ thống quân sự thống nhất lại gồm có không gian ba chiều, trên không, ngoài biển và dưới đáy biển, với sự phối hợp chặt chẽ về thông tin, điều động và tác chiến. Vệ tinh, tầu ngầm hay hỏa tiễn gì thì cũng do con người điều khiển căn cứ trên nhận thức và tổ chức với những phương tiện hiện đại nhất mà cũng phải là bí mật nhất. Hoa Kỳ đã có cả trăm năm đào luyện, Trung Quốc mới chỉ bắt đầu và sớm lắm thì phải một thế hệ nữa mới làm ra trò. Trong khoảng thời gian đó, Hoa Kỳ không ngồi yên.

Duy nhất có một ưu thế của Trung Quốc là tâm lý của Hoa Kỳ, thường hay lạc quan tếu rồi hốt hoảng bậy và cãi nhau lung tung về ưu tiên.

Bên lề cuộc thao dượt RIMPAC có cuộc tranh luận về ngân sách quốc phòng. Lồng bên trong là ngân sách trang bị cho Hải quân.

Khi đã quyết định đưa 60% lực lượng Hải quân vào Thái bình dương, giới chức Hoa Kỳ và các nhà chiến lược ưa nói đến thuở vàng son là khi nước Mỹ có 600 chiến hạm vào thời Tổng thống Ronald Reagan. Hiện nay, Hải quân Mỹ có 284 đơn vị và thực tế chỉ có 250 chiến hạm có khả năng ứng chiến! Hoa Kỳ sa sút?

Một đề tài gây tranh luận khác là so sánh tương quan lực lượng. Từ năm 2000, so với Mỹ thì Hải quân Trung Quốc đã thiết kế tầu ngầm nhiều gấp bốn lần, và qua năm 2005 thì gấp tám. Trong khi ấy, Hải quân Mỹ mất dần khả năng tấn công tiềm thủy đĩnh và sẽ thua sút Trung Quốc. Nghĩa là lồng trong cuộc tranh luận về tiết giảm công chi để quân bình ngân sách, hình như nước Mỹ đang bật ra tín hiệu là sắp vỡ nợ nên phải cắt bớt quân phí!

Nhưng nếu nhìn từ Trung Quốc với tâm lý đa nghi và cũng do những tính toán về quyền lực của các đảng viên và tướng lãnh trước Đại hội 18, nhiều người lại không nghĩ vậy. Biết đâu đó chỉ là âm mưu giả yếu của lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ!

Phải chăng Hoa Kỳ đang tỏ vẻ yếu thế và tạo cơ hội cho Bắc Kinh có thái độ cương cường hơn như thế giới càng ngày càng thấy rõ. Thái độ ấy sẽ thuyết phục các nước ASEAN cùng nghĩ lại.... Nên hòa giải với Trung Quốc hay hòa hợp với Hoa Kỳ? 
 
Chúng ta có thể hiểu nội dung và mục tiêu chuyến Á du của Ngoại trưởng Hillary Clinton trong tinh thần đó. Tha hồ mà suy diễn!