Thứ Tư, tháng 9 23, 2015

Nếu Bắc Kinh Xuất Khẩu Đạn?

Nguyễn Lam - Nguyễn-Xuân nghĩa, RFA Ngày 150923
Diễn đàn Kinh tế
 
"Kho đạn ngoại tệ" của Bắc Kinh giảm sút vì họ "xuất cảng đạn" ra ngoài?

Kinh tế Trung Quốc, khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng ... (ảnh minh hoạ)
* Kinh tế Trung Quốc, khối dự trữ ngoại tệ đã giảm sút nặng ... (ảnh minh hoạ) *  



Từ hai tháng qua, các thị trường tài chính quốc tế đều chứng kiến hiện tượng là khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã giảm sút nặng và tính đến Tháng Bảy vừa rồi thì chỉ còn khoảng ba ngàn 560 tỷ đô la. So với đỉnh cao vào Tháng Sáu năm ngoái thì sụt chừng 440 tỷ đô la. Một trong các nguyên nhân của sự kiện ấy là nạn tẩu tán tư bản, hay chuyển tài sản từ dạng nội tệ là đồng Nguyên qua ngoại tệ là đồng đô la Mỹ. Nhưng nếu lãnh đạo Bắc Kinh lại nhân trào lưu ấy mà có chủ đích tung dự trữ để đầu tư ra ngoài thì sao? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu mặt trái của sự việc này qua phần trao đổi do Nguyên Lam thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong chương trình phát thanh vào mùng hai vừa qua, ông nói đến sự kiện khối dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc, được ước lượng là tương đương với bốn ngàn tỷ đô la vào năm ngoái nay đã hao hụt và chỉ còn chừng ba ngàn 560 tỷ tính đến Tháng Bảy. Ông gọi đó là “kho đạn của Bắc Kinh đang cạn dần” trên trận tuyến kinh tế đối ngoại. Kỳ này, chúng tôi xin hỏi ngược rằng nếu Bắc Kinh cố tình tung ngoại tệ ra ngoài trong mục tiêu đầu tư và bành trướng ảnh hưởng thì sao? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là câu hỏi này rất hay vì cho ta thấy một kịch bản khác về kho dự trữ ngoại tệ như một kho đạn. Có thể gọi kịch bản ấy là “Bắc Kinh xuất khẩu đạn” để sẽ có ngày sử dụng sau này. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những mục tiêu giả định và khả năng thực hiện kế hoạch này.

- Trước hết, ta nhớ là Trung Quốc học các nước Đông Á khi cải cách kinh tế, lấy đầu tư và xuất khẩu làm lực đẩy, rồi nhà nước thu về một lượng ngoại tệ rất lớn nhờ đạt xuất siêu, là xuất nhiều hơn nhập. Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới 15 năm trước, quả nhiên Bắc Kinh gom về một khối dự trữ rất cao, tính đến Tháng Sáu năm ngoái là lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la. Trong số này, họ dùng gần một phần ba, khoảng một ngàn bốn trăm tỷ, để mua tài sản Mỹ, chủ yếu là Công khố phiếu Hoa Kỳ, là cho Mỹ vay tiền. Mà việc cho vay tiền có giảm phân lời đi vay và lãi suất tại Hoa Kỳ nên giúp Trung Quốc dễ xuất khẩu hơn. Một mục tiêu kia của việc cho vay tiền là yêu cầu về an toàn vì thị trường tín dụng Mỹ có đặc tính sâu và rộng hơn năm thị trường lớn nhất đi sau và có tính lưu hoạt cao, là dễ đổi ra tiền mặt đem về.

- Xin nói thêm về bối cảnh hay tương quan trao đổi thì thị trường tiêu thụ Mỹ chỉ có  12% là nhập khẩu mà nhập khẩu từ Trung Quốc chưa bằng gần 1% của Tổng sản lượng Hoa Kỳ trong khi lại là thị trường sinh tử cho kinh tế Trung Quốc. Thứ nữa, thế giới khi đó cứ nói đến việc Trung Quốc là chủ nợ số một của Mỹ mà quên rằng chủ nợ số hai với gần một ngàn ba trăm tỷ là Nhật Bản và nước Nhật không coi Mỹ là một đối thủ về chính trị. Bây giờ, ta mới bước qua chuyện chính trị ấy.

Nguyên Lam: Trước khi nói đến tương quan chính trị như ông vừa nhắc thì chúng ta thấy một tương quan kinh tế khá bất ngờ. Đó là kinh tế Trung Quốc lại cần thị trường Hoa Kỳ hơn là ngược lại, và sau khi đạt xuất siêu thì cũng đẩy tiền qua cho Mỹ vay thì để dễ bán hàng vào Mỹ! Thưa ông có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng vậy nhưng tình trạng ấy đã hết sau vụ khủng hoảng tài chính và Tổng suy trầm 2008-2009. Hoa Kỳ giảm nhập khẩu và xuất siêu của Trung Quốc hết tăng. Trong khi ấy, Ngân hàng Trung ương Mỹ lại cắt lãi suất tới gần số không rồi ban hành biện pháp bơm tiền gọi là “tăng mức lưu hoạt có định lượng” hay “quantitative easing” khiến tiền rẻ và nhiều mới tràn ngập các thị trường. Trước sự kiện xuất khẩu vào Mỹ thì giảm mà đô la Mỹ lại rẻ, doanh nghiệp Trung Quốc bèn đi vay bằng đô la. Thực tế thì nhiều quốc gia cũng có động thái tương tự nên tổng cộng các nước đã mắc nợ thêm khoảng chín ngàn tỷ đô la, là một con số không nhỏ.

- Nhưng kinh tế Mỹ đã tạm phục hồi dù chưa mạnh nên từ năm kia, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ thông báo là giảm dần và chấm dứt việc bơm tiền rồi sẽ có lúc tăng lãi suất để trở về trạng thái bình thường nên từ năm ngoái, đồng Mỹ kim vọt lên giá. Khi đô la lên giá, và sẽ còn lên nếu lãi suất ngắn hạn được nâng khỏi số không, thì các quốc gia hay doanh nghiệp mà vay vào bằng đô la bị gánh nợ cao và đắt hơn. Vì vậy, yêu cầu trả nợ khiến các doanh nghiệp Trung Quốc cần nhiều đô la hơn. Đã thế, vì đoán trước là đô la còn lên giá so với các đồng bạc khác, kể cả đồng Nguyên, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền bèn nghĩ đến việc bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la trước khi tiền Mỹ lên giá.

- Ngần ấy yếu tố mới dẫn đến chuyện đồng Nguyên bị sức ép khiến Bắc Kinh phá giá vào tháng trước rồi dùng khối dự trữ bán ra đồng Nguyên để mua vào đô la nhằm thanh toán nợ nần. Dự trữ ngoại tệ vì vậy bị hao hụt cả trăm tỷ trong có một tháng. Đó là chuyện "kho đạ"n của Bắc Kinh bị bào mỏng.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, cho dù Bắc Kinh đã mất vài trăm tỷ và sẽ mất thêm thì phần còn lại của khối dự trữ đó cũng có thể là các khoản đầu tư ra ngoài. Huống hồ, như ông vừa phân tích, giới đầu tư hay các doanh nghiệp và đại gia có tiền của họ đều đã đoán trước rằng tiền Mỹ sẽ tăng nên mới bán ra đồng Nguyên để mua trước đô la. Như vậy thì mình có thể nói rằng việc tẩu tán tài sản ấy cũng mang ý nghĩa tích cực là đầu tư ra ngoài được không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là chẳng những lãnh đạo Bắc Kinh có mơ điều ấy mà còn nhắm vào nhiều mục tiêu sâu xa hơn. Nhưng họ có thành công hay không lại là chuyện khác.

- Trong trung hạn, theo quy ước chung là từ hai đến năm năm, thì các dự án xây dựng Con Đường Tơ Lụa trên đất liền và ngoài biển hoặc việc thành lập định chế tài chính như Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu AIIB hay Tân Ngân hàng Phát triển của nhóm BRICS đều là loại đầu tư để bành trướng ảnh hưởng kinh tế và chiến lược của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể đã dự trù 900 tỷ đô la cho giấc mơ đầu tư ấy và tin là kế hoạch lớn lao này sẽ nâng mức xuất khẩu của các tập đoàn kinh tế nhà nước Trung Quốc về thiết bị hay công nghệ, mà lại còn có lời lớn nếu đầu tư bằng đô la. Lý do là tiền Mỹ càng lên giá thì đồng bạc của các nước đối tác kia càng mất giá và chủ đầu tư là Trung Quốc sẽ thêm lợi.

- Trong dài hạn thì mối lợi ấy còn tăng gấp bội nếu Trung Quốc yêu cầu các nước đối tác thanh toán việc đầu tư hay đi vay bằng đồng Nguyên. Đấy là một cách đưa đồng bạc của họ vào thị trường quốc tế để sẽ thành một ngoại tệ giao hoán phổ biến trong toàn vùng Châu Á. Từ đó, Bắc Kinh tin rằng các nước kia sẽ dùng đồng Nguyên như một ngoại tệ dự trữ.

Nguyên Lam: Tức là Bắc Kinh vẫn có giấc mộng đưa đồng bạc của mình vào hàng ngoại tệ dự trữ sau này? Phải chăng là để cạnh tranh rồi sẽ có ngày thay thế đồng đô la Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh thường có tham vọng lớn và có cái nhìn trường kỳ như vậy.

- Chúng ta nên trở lại chuyện vừa nói ở trên là quan hệ kinh tế Mỹ-Hoa chỉ là sự lệ thuộc của toa tấu Trung Quốc vào đầu máy Hoa Kỳ nên họ có nỗ lực ta nên gọi là “thoát Mỹ” chứ không thể tiếp tục cho đối thủ vay tiền để dễ mua hàng của mình. Thứ hai, họ tung tiền đầu tư ra ngoài mà lại đầu tư bằng Mỹ kim để chiếm lợi thế khi đô la lên giá. Thứ ba, họ có thể đòi các nước thanh toán bằng đồng Nguyên để xứ nào cũng ghim sẵn đồng bạc Trung Quốc trong kho. Nếu sau này, hay vào năm tới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF mà cho phép đồng Nguyên là một ngoại tệ trong cái giỏ dự trữ có đồng Mỹ kim, đồng Euro, đồng Bảng của Anh và đồng Yen của Nhât, thì sẽ càng củng cố tư thế quốc tế của đồng bạc Trung Quốc.

Nguyên Lam: Đấy có thể là giấc mơ của Bắc Kinh, nhưng thưa ông liệu họ có thành công được chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là ai chẳng mơ chuyện cung trăng, huống hồ lãnh đạo Bắc Kinh! Họ muốn quốc tế hóa đồng Nguyên và kiểm soát được lưu lượng đầu tư ra ngoài lẫn cả luồng đầu tư của nước ngoài vào Hoa lục. Nhưng thực tế thì họ gặp nhiều rủi ro lắm.

- Trước hết trong cái đà họ gọi là chủ động đầu tư ra ngoài thì vẫn có hiện tượng tẩu tán tài sản, chuyển ngân lậu và cả cái nạn rửa tiền cho các đại gia. Chẳng vậy mà nhiều ngân hàng ma bị Bộ Công an đóng cửa vì tội đã rửa hơn 60 tỷ đô la ở nước ngoài chứ không ít. Ta không quên trường hợp tương tự là khi Liên Xô cho đảng viên cán bộ đem tiền ra ngoài để bành trướng ảnh hưởng thì đồng tiền ấy không trở lại sau khi chế độ tan rã.

- Thứ hai, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể mơ ngày đánh bạt ảnh hưởng của đống Mỹ kim bằng một đồng Nguyên được quốc tế hóa, nhưng việc một đồng bạc mà trở thành ngoại tệ giao hoán và dự trữ đòi hỏi nhiều biện pháp cải cách không dễ thực hiện. Một cách cụ thể, khi đồng bạc được thả nổi theo quy luật cung cầu thì cũng có nhiều thành phần bị thiệt hại. Họ không thiết tha với giấc mơ tốn kém của Tập Cận Bình nên tìm cách ngăn cản. Cho nên bên trong hệ thống lãnh đạo chìm và nổi đã có tranh luận và cả thanh trừng dưới danh nghĩa đả hổ diệt ruồi để trừ tham nhũng.

Nguyên Lam: Trong khi ấy, dường như kinh tế Trung Quốc lại bị suy trầm và khi cải cách để chuyển hướng thì càng khó giữ được đà tăng trưởng ngày xưa. Thưa ông, đấy có phải là một rủi ro phụ trội không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nhớ đến lời phát biểu của tỷ phú Warren Buffet, một nhà đầu tư xuất chúng của Hoa Kỳ, đại để là khi thủy triều rút trên bãi biển thì mình mới biết là ai không bận quần! Khi kinh tế suy trầm thì việc chuyển từ chiến lược lỗi thời sang một hướng khác mới làm các vấn đề tiềm ẩn bên dưới bùng phát lên trên.

- Mà lãnh đạo Trung Quốc lại đang ở vào thời điểm rất nhạy cảm về chính trị. Sau chuyến thăm viếng Hoa Kỳ tuần này, qua tháng 10, Chủ tịch Tập Cận Bình phải chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ 5 của khóa 18 để thông qua Kế hoạch Năm năm thứ 13, từ 2016 tới 2020. Chẳng những Trung Quốc đang đi vào bước ngoặt mà bản thân và uy tín của họ Tập cũng gặp vấn đề, và thậm chí bị thách đố, sau mấy tháng lụp chụp về chính sách trên thị trường cổ phiếu rồi thị trường ngoại hối.

- Tuần qua, khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ chưa tăng lãi suất vào ngày Thứ Năm 17 thì Bắc Kinh đỡ bị sức ép trên đồng Nguyên nhưng chẳng vì vậy mà đã ra khỏi những khó khăn triền miên. Vì thế, cả kế hoạch gọi là dùng kho đạn là ngoại tệ dự trữ để chủ động đầu tư ra ngoài như một hình thái xuất khẩu đạn trong thế đối đầu với Hoa Kỳ có khi chỉ là ảo vọng.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn kỳ này.


Thứ Ba, tháng 9 22, 2015

Ngân Hàng Trung Ương Mỹ Gieo Hoang Mang


Gia tăng rủi ro khi giữ lãi suất quá thấp quá lâu  



Gia tăng rủi ro khi lãi suất Mỹ thấp kỷ lục
* Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Janet Yellen tại cuộc họp báo ngày 17/09/2015. REUTERS/Jonathan Ernst * 
 
 
Việc Ngân hàng Trung ương Mỹ giữ nguyên lãi suất chỉ đạo ở mức gần như số không tiếp tục gây tranh cãi. Đâu là động cơ khiến Fed ghìm lãi suất ở mức thấp kỷ lục? Thái độ chần chờ đó là cơ may hay là mầm mống rủi ro đối với các nền kinh tế đang trỗi dậy? Tại sao Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ liên tục băn khoăn trước những khó khăn kinh tế của Trung Quốc?


Mổ sẻ quyết định của Cục Dự trữ Liên bang không điều chỉnh lãi suất chỉ đạo, không siết chặt chính sách tiền tệ, từ California chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, ngạc nhiên khi thấy bà Janet Yellen trong cuộc họp báo hôm 17/09/2015 liên tục nhắc đến những khó khăn của Trung Quốc và của nhiều quốc gia khác trên thế giới: Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ không có chức năng bảo đảm ổn định kinh tế, tài chính cho toàn cầu.

Trong bối cảnh kinh tế Mỹ đã có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng tài chính năm 2008 với những chỉ số khả quan: tỷ lệ thất nghiệp hiện đã rơi xuống còn 5,1 % tức là xuống mức thấp nhất trong 7 năm trở lại đây; Hoa Kỳ không phải đối mặt với lạm phát, nhờ giá năng lượng và nguyên, nhiên liệu giảm mạnh; tỷ lệ tăng trưởng được dự báo dao động trên dưới 2,5 %. Mọi người chờ đợi Ngân hàng Trung ương Mỹ siết lại chính sách tiền tệ sau gần 8 năm ghìm lãi suất chỉ đạo ở gần như là 0 %.

Tất cả những tính toán đó đã bị Fed xua tan sau hai ngày họp 16 và 17/09/2015 của Hội đồng tiền tệ FOMC. Trái với thông lệ, việc Mỹ không tăng lãi suất không được các thị trường tài chính đón nhận như một tin vui. Trong phiên giao dịch ngày 18/09/15, chỉ giá trên hầu hết các sàn chứng khoán chính quốc tế đã giảm mạnh. Quyết định giữ nguyên hiện trạng của chính sách tiền tệ, với lãi suất thấp ở mức sàn – 0 đến 0,25 % - của Ngân hàng Trung ương Mỹ gây lo ngại: những tín hiệu đáng lo ngại phát đi từ Trung Quốc, nền kinh tế thứ hai toàn cầu, được Thống đốc Yellen nêu lên là nguyên nhân hay cái cớ để Fed hoãn tăng lãi suất?

Nếu Trung Quốc là nguyên nhân của vấn đề, thì đây là lần đầu tiên Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đưa ra một quyết định ngoài chức năng của mình, do Fed theo đuổi hai mục tiêu: Ổn định giá cả và tăng trưởng, lao động trên nội địa của Hoa Kỳ. Còn nếu như Trung Quốc chỉ là cái cớ hoãn binh của Hội đồng tiền tệ FOMC thì phải chăng các giới chức tài chính Mỹ không thực sự an tâm về sự phục hồi của chính kinh tế Hoa Kỳ?


Trả lời đài RFI, trước hết chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích thêm về bốn yếu tố giải thích cho thái độ thụ động vừa qua của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Qua quyết định không tăng lãi suất ngắn hạn, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã một lúc chứng minh ít ra bốn chuyện: 

- Thứ nhất, chính sách hạ lãi suất đến sàn từ 81 tháng qua, rồi ào ạt bơm tiền qua ba đợt liền thật ra chẳng mấy công hiệu. Kinh tế Mỹ có mức hồi phục chậm nhất sau nạn suy trầm đã manh nha từ cuối năm 2007. Nếu thất nghiệp có giảm - tháng qua chỉ còn 5,1% - thì lợi tức đa số người dân vẫn chưa trở về mức cũ. Nói cách khác, Ngân hàng Trung ương Mỹ cho rằng Hoa Kỳ chưa trở về trạng thái bình thường để có thể tăng lãi suất ra khỏi tình trạng quá bất thường là mấp mé ở số không.

- Thứ hai, sau hai ngày họp 16 và 17/09/201 của Hội đồng Tiền tệ FOMC, cơ chế hữu trách về lãi suất ngắn hạn của Ngân hàng Trung ương Mỹ, bản tuyên bố chính thức cho thấy định chế này mù mờ về tương lai, cụ thể là thiếu khả năng dự báo về mức lạm phát như một tiêu chuẩn quyết định là tăng 2%. Vì không tiên đoán được tương lai, dù có những chuyên gia và mô thức kinh tế tân kỳ nhất, Ngân hàng Trung ương Mỹ mới trì hoãn quyết định về lãi suất - ít ra là thêm sáu tuần nữa, cho đến kỳ họp tới của Hội đồng Tiền tệ vào hai ngày 27 và 28/10/2015. Chính sự phân vân ấy mới khiến thị trường chứng khoán tuột dốc vì các doanh nghiệp e rằng cơ quan có trách nhiệm về chính sách tiền tệ và tín dụng lại không nắm vững tình hình hoặc dự phóng rằng tình hình còn có thể tệ hơn nữa.

- Thứ ba, bản thân tôi còn thấy một mối nguy khác là định chế lãnh đạo hệ thống ngân hàng của Hoa Kỳ lại hốt hoảng về sự hốt hoảng của thị trường chứng khoán Mỹ trong tháng qua. Đây là điều bất thường vì khác với Trung Quốc, Ngân hàng Trung ương Mỹ không có chức năng hay nhiệm vụ can thiệp vào thị trường chứng khoán. Khi duy trì lãi suất ở số không quá lâu, định chế này còn mặc nhiên điều phối dòng tư bản vào thị trường cổ phiếu, khiến cổ phiếu tăng giá một cách bất thường rồi khi thấy thị trường này hốt hoảng sụt giá thì lại không dám tái lập trạng thái bình thường là nâng lãi suất, dù chỉ ở mức thấp là có 25 điểm, hay 0,25%.

- Nghiêm trọng hơn thế là nửa tiếng sau bản thông cáo, Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang, bà Janet Yellen có cuộc họp báo. Trong một giờ, bà sáu lần nhắc đến Trung Quốc và 10 lần nói tới kinh tế toàn cầu, trong đó cũng có kinh tế Trung Quốc. Khác với kỳ họp trước vào tháng 7/2015, lần này Ngân hàng Trung ương căn cứ trên sự bất trắc của kinh tế toàn cầu mà quyết định về chính sách tiền tệ của Mỹ. Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ không có nhiệm vụ duy trì lãi suất ở số không để cấp cứu kinh tế toàn cầu. Quyết định ấy không chỉ gây tranh luận trong giới kinh tế mà còn đào sâu dị biệt quan điểm ngay trong thành phần 12 người lãnh đạo Hội đồng Dự trữ Liên bang.

RFI: Dù sao tình hình kinh tế Trung Quốc cũng đáng quan ngại vì Trung Quốc là nền kinh tế thứ nhì của thế giới và sự sa sút của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến các nền kinh tế trong nhóm gọi là “đang phát triển” và gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Hoa Kỳ? Trung Quốc là cái cớ hay nguyên nhân để Mỹ không tăng lãi suất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lý do hay lý cớ thì chưa rõ, nhưng kinh tế Trung Quốc không sa sút từ Tháng Sáu và Bảy sau vụ sụt giá cổ phiếu rồi vụ phá giá đồng nhân dân tệ vào Tháng Tám. Kinh tế Trung Quốc sa sút từ năm 2010 mà Ngân hàng Trung ương Mỹ đáng lẽ phải biết. Thứ nữa, nạn suy trầm ấy làm nguyên nhiên vật liệu hay thương phẩm sụt giá từ bốn năm nay chứ có là điều gì mới xảy ra đâu ?

- Quả thật là hai bạn hàng lớn nhất của kinh tế Hoa Kỳ là Canada và Trung Quốc đang bị suy trầm, nhưng tác dụng vào kinh tế Hoa Kỳ không lớn như người ta nghĩ vì nước Mỹ ít lệ thuộc vào xuất nhập cảng. Trái lại, quyết định không nâng lãi suất khiến đồng đô la Mỹ không tăng mà sụt và gây khó cho Ngân hàng Trung ương Âu Châu vì làm đồng euro lên giá và hàng Âu Châu khó xuất cảng. Đấy là lý do khiến thị trường Âu Châu sụt giá vào ngày 18/09/2015.

- Tôi không tin vào “thuyết âm mưu” hay “conspiracy theory” nhưng e là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ vừa có một cử chỉ đẹp với Bắc Kinh khi duy trì lãi suất ở số không vì mặc nhiên giảm sức ép cho kinh tế và cho đồng tiền của Trung Quốc. Hãy tưởng tượng ra sự hốt hoảng của Bắc Kinh nếu lãi suất tăng sẽ làm Mỹ kim càng lên giá và kéo theo đồng bạc Trung Quốc. Khi ấy, họ lại phải phá giá nữa trong khi tư bản càng tháo chạy ra khỏi thị trường Trung Quốc.

- Ngân hàng Trung ương Mỹ không có chức năng ngoại giao và các thành viên trong Hội đồng Tiền tệ FOMC đều hiểu rằng họ có nhiệm vụ quan tâm đến kinh tế Hoa Kỳ, đến thị trường nội địa, chứ không phải là cấp cứu kinh tế Trung Quốc. Vì vậy, khi phải điều trần trước các ủy ban ngân hàng và tiền tệ của Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ, tôi nghĩ rằng thể nào Chủ tịch Janet Yellen cũng sẽ bị vặn hỏi về quyết định này.

RFI: Thế còn tác động của việc không tăng lãi suất đối với nền kinh tế Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, khi giữ lãi suất ở số không và nếu thông báo là “chúng tôi chưa tăng lãi suất kỳ này, nhưng sẵn sàng nếu tình hình kinh tế Hoa Kỳ có dấu hiệu khả quan hơn” thì ai cũng có thể hiểu được và tin tưởng. Nhưng khi lòng vòng nói đến tình trạng bất định của kinh tế Hoa Kỳ và bất trắc của kinh tế toàn cầu thì Ngân hàng Trung ương Mỹ gây thêm hoang mang, điều ấy càng dẫn tới biến động trên thị trường trong thời gian tới.

- Một số chuyên gia về động thái của Ngân hàng Trung ương Mỹ còn đoán rằng lãi suất sẽ không tăng trong kỳ họp Tháng 10 rồi Tháng 12 mà phải đợi năm tới. 2015 cũng là năm có tranh cử Tổng thống với nhiều yếu tố chính trị sẽ chi phối giới lãnh đạo định chế này. Ta không quên rằng đa số của giới lãnh đạo này là giáo sư kinh tế, theo xu hướng thiên tả của trường phái Keynesien và có ít kinh nghiệm về ngân hàng.

- Nói về tác động của việc duy trì lãi suất ở số không một cách bất thường và quá lâu như vậy thì chúng ta nên nhớ rằng biện pháp giả tạo này làm lệch cán cung cầu và lãi suất hay giá vay tiền hết là một chỉ dấu xác thực và đáng tin về cung cầu. Đi vào chi tiết thì giới tiết kiệm và thành phần cao niên sống nhờ hưu liễm bị thiệt vì phân lời quá thấp. Giới trẻ thì quên hẳn khái niệm tiết kiệm vì thấy chẳng có lợi.

- Lãi suất thấp khiến các ngân hàng ghim một khối dự trữ cao hơn mức pháp định tối thiểu và lại cho nhà nước vay hơn là tài trợ đầu tư nên khó giúp kinh tế hồi phục. Lãi suất thấp cũng thổi lên bong bóng trên thị trường cổ phiếu, làm giàu cho giới đầu tư có tiền ở chóp bu mà chẳng giúp gì các cơ sở nhỏ và vừa hoặc thuộc loại tân lập ở dưới. Nói vắn tắt thì lãi suất bằng số không đã và sẽ còn gây lệch lạc cho thị trường và nếu kinh tế năm tới mà bị suy trầm thì Ngân hàng Trung ương chẳng thể hạ lãi suất xuống số âm để kích thích sản xuất.

RFI: Hậu quả cho kinh tế thế giới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chẳng riêng gì Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia cũng đã hạ lãi suất đến sàn kể từ năm 2008. Hậu quả bất lường của chính sách ấy là tiền nhiều và rẻ khiến các nước lại vay mượn nhiều hơn. Theo Viện Nghiên cứu McKinsey thì tổng số nợ trên thế giới đã tăng 40% kể từ năm 2007 và nay lên tới 200 ngàn tỷ đô la. Mà lãi suất không thể nằm mãi ở số không như vậy nên sẽ phải tăng và chi phí trả nợ cũng vậy. Khi ấy, núi nợ sẽ sụp và bên trong các khoản nợ xấu tích lũy từ mấy năm nay sẽ dẫn đến nạn suy thoái chứ không phải là suy trầm kinh tế.

- Những gì đã xảy ra cho Hy Lạp thật chưa thấm vào đâu so với trận động đất tài chánh sắp tới, tại Trung Quốc lẫn nhiều quốc gia đang phát triển khác. Trong khi chờ đợi cái “ngày tính sổ” ấy, người ta có thể thở phào khi Ngân hàng Trung ương Mỹ chưa nâng lãi suất, nhưng được bao lâu?

- Kết luận ở đây, ít ra là cho các nước đang phát triển như Việt Nam, là người ta nên chú ý đến việc cải sửa cơ chế để thu hút đầu tư trực tiếp của ngoại quốc vào các dự án lâu dài, hơn là tính ăn xổi nhờ sai biệt lãi suất là đầu tư vào thị trường tài chánh vì loại đầu tư ấy trút vào rất nhanh mà rút ra cũng lẹ nên rất dễ gây khủng hoảng.

Kinh Tế Thị Trường và Tôn Giáo



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 150921
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"


Đức Giáo Hoàng Francis Nên Vận Dụng Kinh Tế Cho Mục Tiêu Xã Hội

 * Đức Giáo hoàng Francis giữa dân nghèo *



Người viết này thường tránh nói đến tôn giáo vì kém hiểu biết về cảm quan và ấn tượng của con người trong các vấn đề tín ngưỡng. Nhưng, trong chuyến Mỹ du của đức Giáo Hoàng Francis, có một vấn đề kinh tế được đặt ra, mà vì kinh tế cũng là chính trị, nên đề tài kỳ này sẽ là chuyện kinh tế thị trường và đức tin tôn giáo.


Về triết lý kinh tế chính trị học, đức Giáo Hoàng Francis có thể được liệt vào cánh tả, liberal theo giác độ Hoa Kỳ, trong ý nghĩa là ngài quan tâm đến công bằng xã hội, chú trọng đến nhược điểm của tư bản chủ nghĩa, và ưu lo cho số phận của dân nghèo, thành phần đa số trong mọi xã hội. Đây là một niềm tin xuất phát từ một động lức đáng kính trọng. Về triết lý xã hội chính trị, ngài cũng thuộc thành phần cấp tiến, có cái nhìn khoan hồng về cách ứng xử của con người với các khái niệm đạo lý, như việc ly dị hay thậm chí hôn nhân giữa người đồng tính. Đây cũng là một quan điểm phóng khoáng khiến ngài gặp phản ứng của hàng tăng lữ bảo thủ.

Người viết này thông cảm với quan điểm xã hội đó của vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo Hoàn vũ. Nhưng hoài nghi về quan điểm kinh tế của ngài.


***


Như Winston Churchill đã nói về nền dân chủ, là “chế độ ít tệ nhất trong dăm ba thể chế chính trị mà con người đã thử nghiệm”, tư bản chủ nghĩa cũng là chế độ kinh tế ít tệ nhất trong các chế độ con người đã áp dụng - từ kinh tế thần linh vào buổi hoang sơ đến loại kinh tế tập quán, đời trước làm sao đời sau làm vậy. Tư bản chủ nghĩa vận dụng quy luật thị trường để giải quyết bài toán khan hiếm của loài người và tạo ra những tiến bộ chưa từng thấy kể từ cả trăm thể kỷ vừa qua.

Xin ghi thêm rằng “tiến bộ” ấy có nghĩa là nhân loại ít bị nghèo khốn hơn xưa mà không do việc ban phát trợ cấp của một lãnh tụ anh minh hay một đấng thần linh hào phóng.

Những ai quan tâm đến kinh tế sử có thể kể rằng từ hậu bán thế kỷ 19, khi chủ nghĩa tư bản áp dụng quy luật thị trường một cách phổ biến từ Âu Châu qua Bắc Mỹ, cuộc sống vật chất của con người được cải thiện, nhiều người ra khỏi tình trạng đói khổ truyền thống, tuổi thọ con người được kéo dài, trình độ học vấn được nâng cao cho đại đa số. Lợi tức, tuổi thọ và học vấn là các tiêu chuẩn thuộc loại vật chất, nhưng có nâng cao giá trị tinh thần của đời sống. Còn giá trị tâm linh, hay tín ngưỡng, lại là chuyện khác và thuộc phạm vi của giới lãnh đạo tôn giáo.

Khi đức Giáo hoàng Francis than phiền về tình trạng đói khổ và bất công trên thế giới hiện này, và coi đó một tai họa mà Giáo hội cần góp phần giải trừ, ngài bày tỏ lòng từ tâm đáng quý. Nhưng khi ngài kết án sự mù quáng của tư bản chủ nghĩa, “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường, hoặc tác hại của nguyên tắc tự do kinh doanh, đức Thánh Cha có thể đã lầm về tương quan nhân quả.

Có lẽ, ban tham mưu về kinh tế chính trị của ngài không làm tròn nhiệm vụ giải thích sự thể thực tế của nhân sinh. Và cứ theo đà này, có khi ta lại thấy sự hồi sinh tai hại của việc nhà nước hay một cơ chế cao cả nào đó can thiệp vào thị trường để cứu giúp dân nghèo. Lý do bi quan ở đây là chính đức Giáo hoàng đã phát biểu rằng giá trị của kinh tế thị trường chưa hề được chứng minh bởi thực tế, và rằng dù hiện tượng toàn cầu hóa có đưa nhiều người ra khỏi sự cùng quẫn, thì cũng dìm nhiều người vào nạn đói. Ngài còn cho rằng dù mức thịnh vượng toàn cầu có gia tăng, nhưng nạn bất công và nghèo khốn cũng vậy.

Rất nhiều tay lý luận thiên tả sẽ vin vào uy tín của vị chủ chăn hoàn vũ mà kết luận rằng kinh tế thị trường hay trào lưu toàn cầu hóa đã gia tăng mức nghèo khổ và làm nhiều người chết đói.

Nhiều định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới, hay quốc gia như các trung tâm nghiên cứu chuyên biệt đều cho thấy rằng kể từ cuộc Cách mạng Kỹ nghệ vào thế kỷ 18 cho đến khi Thế kỳ 21 được 15 tuổi, tình trạng bất công toàn cầu về kinh tế đã giảm sút đáng kể. Một cách cụ thể hơn thì xứ Hoa Kỳ mà đức Giáo hoàng thăm viếng tuần này là nơi mà, cách nay nửa thế kỷ, lợi tức trung bình của người dân được ước lượng là gấp 11 lần lợi tức tiêu biểu của dân Á Châu. Ngày nay, khoảng cách đáng tởm ấy chỉ còn gấp 4,8 mà thôi. Chỉ vì từ quãng 1960, các nước Á Châu đã áp dụng quy luật thị trường trong chánh sách kinh tế. Họ chuyển hướng theo nguyên tắc tự do.

Sau các nước Á Châu, Trung Quốc đi trễ mất hai chục năm sau 30 năm đòi cào bằng tất cả để thực hiện lý tưởng công bằng xã hội. Cũng chế độ này mới nhân danh nhu cầu bảo vệ thành phần nghèo khốn mà điều hướng thị trường bằng bàn tay thô bạo của nhà nước, và dẫn tới chủ nghĩa tư bản thân tộc và nạn bất công phổ biến. Đức Thánh Cha không thể dùng phép quy nạp mà kết án quy luật thị trường vì điều ấy mặc nhiên biện minh cho sự can thiệp với viễn ảnh là “giải pháp Bắc Kinh”.

Năm xưa, một nhà nhân khẩu học bậc thầy cùa nước Pháp là Alfred Sauvay từng lý luận rằng mô hình tập trung quản lý theo kiểu Xô viết quá thành công nên sẽ khiến Liên Xô sản xuất thừa lúa mì và sẽ phát không bánh mì cho mọi người. Lịch sử đã minh chứng sự nông cạn của lý luận này qua việc Liên Xô sụp đổ. Còn kinh tế chính trị học lớp đồng ấu thì cho biết rằng nếu dư ngũ cốc thì người ta nuôi thịt chứ không thể có chuyện phát không như vậy.

Lý tưởng “bánh mì miễn phí” ấy vào thời Stalin có thể là một quyến rũ tôn giáo, nhưng bị thực tế phủ nhận. Chế độ Xô viết tan rã và Trung Quốc xuất hiện với một giải pháp hấp dẫn hơn: nhà nước điều tiết thị trường cho mục tiêu công bằng xã hội. Giải pháp ấy vừa tự chứng minh tính chất viển vông khi các đại gia Trung Quốc đều hạ cánh ở nước ngoài, với đầy đủ tài sản và con cái!

Nhưng chúng ta chưa vội mừng về sự lầm than của trí tuệ.

Chỉ vì cùng với nỗi quan ngại chính đáng của đức Giáo hoàng, ta đang thấy tái sinh trào lưu “xã hội chủ nghĩa” tại hai nước tiên phong của tư bản chủ nghĩa. Đó là việc “đồng chí” Jeremy Corbyn vừa lên lãnh đạo đảng Lao Động Anh, như một tiếng vang của việc “đồng chí” Bernie Sanders đang ra tranh cử Tổng thống từ cánh cực tả của đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ. Cũng với lý luận cào bằng và lấy của người giàu chia cho nhà nghèo, họ thể hiện tinh thần bác ái từng gieo họa cho nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa trong quá khứ.

Nếu lại châm thêm yếu tố môi sinh vào bài toán kinh tế - một đề mục khác cũng được đức Thánh Cha nhấn mạnh - chính là các quốc gia đã cho nhà nước thọc tay vào thị trường mới gây ra nạn ô nhiễm môi sinh trầm trọng nhất mà ngài đang nói tới.


***


Kết luận ở đây là dường như đức Thánh Cha đã vạch ra lằn ranh đối lập tinh thần hay đạo lý giữa những ai tin vào kinh tế thị trường và những người quan tâm đến sự nghèo khốn. Điều ấy sai vì kinh tế thị trường không tạo ra sự nghèo khốn mà còn góp phần đẩy lui nạn bần cùng trong xã hội. Những người thành công trong nền kinh tế ấy có thể và nên quan tâm đến dân nghèo, ở mọi nơi, và họ có các hội thánh hay hội thiện để giải quyết nhu cầu này. Còn lại, ta rất nên hoài nghi những kẻ nhân danh dân nghèo mà làm xứ sở lụn bại.

Đức Thánh Cha vừa gặp họ tại Cuba.

Thứ Tư, tháng 9 16, 2015

Kinh Tế Trong Vụ Khủng Hoảng Di Dân Tại Âu Châu

Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày150916 
"Diễn đàn Kinh tế" 

Vì sinh đẻ ít, ÂuChâu phải nhập cảng lao động và nhiều vấn đề khác ở bên ngoài  

Hàng ngàn người tị nạn đứng đằng sau một hàng rào ở biên giới Hungary với Serbia gần thị trấn Horgos ngày 16 tháng Chín năm 2015.
* Hàng ngàn người tị nạn đứng đằng sau một hàng rào ở biên giới Hungary với Serbia gần thị trấn Horgos ngày 16 tháng Chín năm 2015. AFP *
 


Ngoài yếu tố an ninh liên quan đến tình hình Syria khiến làn sóng tỵ nạn đã từ miền Nam tràn ngập vào biên giới của các nước Âu Châu, một động lực chậm rãi và mãnh liệt không kém cũng dẫn đến cuộc khủng hoảng về di dân hiện nay tại Âu Châu. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về động lực ấy, đó là những tính toán kinh tế tại Âu Châu xuất phát từ dân số. Xin quý thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn do Nguyên Lam thực hiện sau đây với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, tình hình an ninh cực kỳ bất ổn trong khu vực trải dài từ Bắc Phi tới Trung Đông có thể đã dẫn tới làn sóng tỵ nạn đang tràn ngập Âu Châu và gây ra khủng hoảng. Là chuyên gia kinh tế, ông có thấy gì khác ngoài lý do an ninh khiến các nước Âu Châu đang gặp những thách đố này không vì hình như là trước đây, Liên hiệp Âu Châu cũng từng có nhiều đợt di dân đổ vào lãnh thổ của mình?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng cô nêu câu hỏi này là rất đúng vì cho dù là không có biến động tại Trung Đông như Syria hay Iraq hoặc tại Bắc Phi như Libya thì Âu châu vẫn phải rà soát lại chính sách di dân và nhập cư của mình vì yếu tố kinh tế. Lý do là các nước Âu Châu cần lực lượng lao động bổ sung cho một hiện tượng nhân khẩu chậm rãi và lâu dài là nạn lão hóa dân số. Vì người dân bản địa sinh đẻ ít hơn, tỷ trọng người cao niên có tuổi thọ kéo dài so với dân số lao động ngày càng giảm là một vấn đề kinh tế trường kỳ cho ngân sách các nước. Ngoài ra, hiện tượng nhân khẩu này lại chẳng đồng bộ nên dẫn tới khác biệt và mâu thuẫn giữa nhiều nước trong việc áp dụng hay phát huy lý tưởng tự do lưu thông và di trú tại Âu Châu.

Nguyên Lam: Hèn gì mà người ta thấy vài nước Âu Châu tranh luận với nhau về việc nhận hay không nhận dân tỵ nạn, ai nhận và nhận bao nhiêu. Câu chuyện này quả là phức tạp vì liên hệ đến dân số, ngân sách, chính sách tự do di trú và lý tưởng tự do lưu thông Âu Châu cho nên xin đề nghị ông đi từng bước để trình bày toàn cảnh cho thính giả của chúng ta cùng hiểu rõ. 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất là như tại nhiều quốc gia công nghiệp hóa tiên tiến, người dân các nước Âu Châu thường lập gia đình trễ và có con ít hơn nên về dài thì dân số càng giảm. Thứ hai, tiến bộ khoa học kỹ thuật khiến con người sống thọ hơn trước và sau khi về hưu, bình quân là ở quãng tuổi 65, thì sống nhờ tiền hưu liễm mà lại cần nhiều dịch vụ y tế hơn trước cho sức khỏe. Thứ ba, tỷ trọng của lực lượng lao động, là thành phần ở lớp tuổi từ 15 đến 64, có giảm trong cơ cấu dân số, mà phải lao động và đóng thuế để công quỹ có thể chu cấp cho lớp cao niên. Thứ tư, các xã hội đó đều gặp bài toán là có “tỷ số lệ thuộc” ngày càng tăng, tức là tỷ số cao niên ngày càng lớn so với lực lượng lao động. Kết cuộc thì chênh lệch tất yếu giữa thành phần xin gọi là “sản xuất” và thành phần “tiêu thụ” gây sức ép cho ngân sách quốc gia, dù có giàu mạnh về kinh tế như Mỹ, Nhật hay Đức cũng vậy. Từ những chuyển động chậm rãi mà mãnh liệt ấy về nhân khẩu, người ta mới nói đến “dân số như một định mệnh”, là bài toán khó tránh của các chính quyền.

Nguyên Lâm: Thưa ông, có phải là vì sự chuyển động về cấu trúc dân số như vậy mà các nước mới đón nhận di dân để tăng cường nhân số cho lực lượng lao động hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng như vậy về đại thể mà lại có khác biệt vì lý do văn hóa hay chính trị. Nhật là quốc gia hải đảo đất chật và nghèo mà lại có nét văn hóa là cố duy trì sự thuần chủng nên hạn chế di dân. Hoa Kỳ là quốc gia hình thành nhờ di dân nên đón nhận di dân và là nước tương đối trẻ nhất, trên một lãnh thổ phì nhiêu bát ngát so với Âu Châu hay cả Trung Quốc. Sau này, dân số Hoa Kỳ sẽ còn trẻ hơn dân số Trung Quốc, Âu Châu hay Nhật Bản.

- Đã vậy, Âu Châu còn có lý tưởng tự do lưu thông hàng hóa và nhân lực để xây dựng hợp tác kinh tế bên trong, đấy là động lực manh nha từ năm 1982 và hình thành năm 1995 theo đó, 26 quốc gia ký kết Hiệp ước Schengen để cùng chấp nhận quyền tự do này. Tức là 26 xứ đó hết kiểm soát biên cương với nhau, và dân nước này có quyền tự do di chuyển qua nước kia, nhưng cũng có nghĩa là các nước bên trong phải tin tưởng các nước ở ngoài rìa về việc kiểm soát biên giới. Khi các nước tại vòng ngoài bị sức ép của làn sóng di dân mà không chặn được thì các nước ở vòng trong phải lo ngại vì ủy thác việc bảo vệ biên giới của mình cho xứ khác! Chuyện này còn rắc rối hơn nữa vì trong 26 hội viên của khu vực Schengen chỉ có 22 thành viên của Liên hiệp Âu châu và cơ chế Liên Âu này có những nước đang xin gia nhập nhóm Schengen như Croatia, Rumania hay Bulgaria thì cũng có Anh quốc cùng Ireland thì quyết liệt không gia nhập.


Sau khi rời khỏi các nhà ga xe lửa chính của Budapest hàng ngàn người di cư tiếp tục đi bộ đến biên giới nước Áo. Ngày 4 tháng 9, 2015. AFP
Sau khi rời khỏi các nhà ga xe lửa chính của Budapest hàng ngàn người di cư tiếp tục đi bộ đến biên giới nước Áo. Ngày 4 tháng 9, 2015. AFP  


- Sau cùng, cần nói thêm rằng khối Liên Âu có quy chế đón nhận người tỵ nạn thiết lập từ năm 1997 và cải tiến nhiều lần thành ra “Quy định Dublin” được áp dụng từ Tháng Sáu năm 2013 để cùng chấp hành chính sách đón nhận và bảo vệ nạn dân theo Công ước Quốc tế tại Geneva. Thành thử truyền thông chúng ta sẽ rất lúng túng khi có tin tức dồn dập về vụ khủng hoảng hiện nay và lập trường khác biệt hoặc thay đổi của từng quốc gia hoặc tại Liên Âu, hay trong khu vực Schengen và theo Quy định Dublin hay không.

Nguyên Lam: Nhờ ông Nghĩa trình bày cho cả bối cảnh quá phức tạp này may ra thính giả của chúng ta mới hiểu được vấn đề kinh tế tiềm ẩn bên dưới những tranh luận hay thậm chí tranh chấp của các nước khi vòng ngoài bị sức ép của nạn di dân mà vòng trong lại không chịu mở cửa.

Nguyễn-Xuân Nghĩa:
- Sau khi mô tả hồ sơ quá phức tạp này, ta mới trở lại bài toán kinh tế.

- Sau Thế chiến II, Âu Châu áp dụng chiến lược phát triển với niềm tin là lực lượng lao động đông đảo sẽ góp đủ thuế để chu cấp cho thành phần ở ngoài tuổi lao động. Khi thấy tỷ lệ sinh sản giảm dần, một số quốc gia có tăng trợ cấp cho gia đình đông con nhằm khuyến khích việc sinh đẻ với kết quả thật ra cũng giới hạn trước một chiều hướng văn hóa phổ biến và khó cưỡng. Vì vậy, Âu Châu mới có giải pháp di dân, là nhập khẩu sức lao động từ ngoài.

- Về lý tưởng kinh tế, di dân sẽ nâng mức lao động và số cầu kinh tế để tạo thêm việc làm và sự thịnh vượng. Thành phần di dân có tay nghề cao thì giúp kinh tế phát triển các ngành sản xuất chuyên biệt để khai thác lợi thế tương đối của từng quốc gia. Thành phần thiếu chuyên môn thì lao động trong các ngành cực nhọc mà dân bản xứ không muốn làm. Đã vậy, lực lượng lao động càng đông thì thành phần thọ thuế càng nhiều sẽ tăng mức thu cho ngân sách để nhà nước lo toan cho những người ở ngoài tuổi lao động. Nhưng lý luận kinh tế lạc quan ấy lại đụng vào thực tế cứng đầu và Âu Châu đang khủng hoảng với làn sóng di dân thứ ba, dữ dội nhất, kể từ 10 năm qua.

Nguyên Lam: Ông nói như vậy thì những gì đang xảy ra chỉ là làn sóng thứ ba thôi?. Thưa ông, hai làn sóng kia là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991, các nước Âu Châu lạc quan thúc đẩy việc hội nhập để thành lập Liên hiệp Âu châu. Từ đó, Liên Âu đã “Đông tiến”, là kết hợp dân số đông đảo của các nước Đông Âu, nhất là các quốc gia có mật độ dân số cao như Ba Lan hay Rumania. Lao động Đông Âu đã “Tây tiến” và góp phần giải quyết vấn đề thiếu hụt dân số của các nước tân tiến hơn ở miền Tây. Đấy là đợt di dân đầu tiên, vào thời 2004-2007.

- Nối tiếp là đợt thứ nhì vào các năm 2009-2010, khi khủng hoảng tài chánh tại các nước miền Nam mở ra phong trào “Bắc tiến”. Dân cư của các nước lâm nạn ở miền Nam đi tìm việc làm trong các quốc gia giàu mạnh hơn ở “vùng cốt lõi” là miền Bắc, từ Pháp qua Đức và các lân bang. Trong hai đợt ấy, hiện tượng di dân vẫn có tính chất nội bộ Âu Châu và dù có gây va chạm, kể cả phản ứng chống di dân, thì cũng chẳng dẫn tới khủng hoảng khi 22 thành viên trong số 28 nước Liên Âu đã ký Hiệp ước Schengen về quyền tự do lưu thông người và vật từ năm 1995.

- Đợt thứ ba là ngày nay thì khác. Làm sóng di dân bùng lên từ Trung Đông và một số quốc gia bị nội loạn ở nơi khác đã dập vào bến bờ Âu Châu để xin tỵ nạn. Di dân là nạn dân và gây vấn đề trước tiên cho các nước lâm nạn kinh tế tại miền Nam, như Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, rồi lan qua nước khác, với cao điểm là Hungary rồi cả quốc gia giàu mạnh nhất trong vùng cốt lõi là nước Đức.

Nguyên Lam: Ông giải thích thế nào về hoàn cảnh và lập trường của nước Đức trong vụ khủng hoảng này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì có nền kinh tế mạnh nhất và tinh thần rộng lượng nhất với nạn dân nên Đức quyết định đón nhận 800 ngàn người một năm. Nhưng thật ra, Đức là nạn nhân của nạn lão hóa dân số. Theo dự phóng của Liên Âu, từ năm 2020 đến 2060, dân số Đức sẽ mất 10 triệu người.

- Nhìn cách khác, lực lượng lao động tại Đức sẽ mất một phần tư. Và “tỷ số lệ thuộc” của thành phần cao niên sống nhờ hưu bổng và trợ cấp y tế do lực lượng lao động tạo ra lại từ 36% trong hiện tại tăng đến mức 59%, cao nhất của Âu Châu. Cho nên bài toán ngân sách của đệ nhất cường quốc kinh tế Âu Châu sẽ là thiếu tiền. Đức chủ trương đón nhận di dân nhiều hơn xứ khác là vì lý do nhân khẩu và kinh tế. Nôm na là Đức hào phóng với di dân để nhập khẩu sức lao động.

- Nhưng trong vụ khủng hoảng hiện nay, sự rộng lượng ấy lại khiến Đức là thỏi nam châm thu hút nạn dân. Mà thiên hạ từ Bắc Phi, Trung Đông hay từ các khu vực bất ổn miền Đông Nam Âu Châu mà muốn vào Đức thì phải đi qua các nước ở vòng ngoài. Các nước này, như Hy Lạp, Hung thì cần phương tiện chu cấp cho dân tạm trú và cần xứ khác đón nhận nhiều và sớm để giảm sức ép. Vì thế, Chính quyền của Thủ tướng Angela Merkel mới bị áp lực từ các nước bên ngoài và bên trong thì nhiều người Đức lại lo sợ làn sóng nạn dân sẽ gây hỗn loạn, chưa nói đến nạn khủng bố.

Nguyên Lam: - Bàn về trường hợp của Đức thì người ta nhớ đến lập trường cùa nước Anh. Trong vụ khủng hoảng này, dường như là nước Anh lại rất kín tiếng. Ông giải thích thế nào về điều ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Là quốc gia hải đảo thật ra cũng chật hẹp, Anh đã chẳng ký Hiệp ước Schengen và cố đứng ngoài vòng tranh luận – dù bị đả kích – vì không gặp bài toán nhân khẩu như Đức. Anh quốc sẽ là nước đông dân nhất Âu Châu: từ 67 triệu vào năm 2020 dân số Anh sẽ lên tới 80 triệu vào năm 2060. Nhìn cách khác, tỷ lệ sinh sản tại Anh thuộc loại cao nhất Liên Âu: trong quãng đời sinh sản của mình, bình quân một phụ nữ đẻ được 1,9 con . Nhờ các bà lạc quan yêu đời như vậy, tỷ số lệ thuộc tại Anh chỉ tăng từ 30% đến 43% trong khoảng thời gian dự phóng của Liên Âu từ 2020 đến 2060. Anh không có nhu cầu nhập khẩu lao động như Đức, lại  từng bị khủng bố Hồi giáo tấn công ngay trong ruột gan nên cố tránh né bài toàn di dân của các nước kia. Tôi nghĩ rằng vì vụ khủng hoảng này, cả Âu Châu sẽ phải duyệt lại chính sách di dân và những khác biệt quá lớn giữa các nước sẽ khiến Liên Âu càng bị rạn nứt vì vụ khủng hoảng.

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Thề Xong Rồi Quên



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Tuần báo Sống ngày 150916
"Vùng Oanh Kích Tự Do"

Con sông chảy mãi vào chốn cũ sẽ thành cái ao

 * Ground Zero, ghi lại di tích của tòa tháp đôi World Trade Center đã sụp đổ *


Bài này viết đúng ngày, xuất bản trễ vài ngày, đâm ra lại như được viết sớm một năm. Sang năm sẽ đọc lại, như mới….


Sáng ngày 11 Tháng Chín năm 2001, Hoa Kỳ bị quân khủng bố tấn công một lúc nhiều mục tiêu.

Mục tiêu là tòa tháp đôi World Trade Center tại New York và Ngũ giác đài Pentagone tại Thủ đô. Còn phi vụ số 93 của hãng United Airlines thì chưa bay tới mục tiêu - tòa Bạch Ốc hay trụ sở Quốc Hội? - được hành khách cướp lại và tự lao vào chỗ chết tại một cánh đồng ở Pennsylvania. Có 44 người tử vong kể cả bốn tên khủng bố, nhờ vậy mà cứu được nhiều người. Tổng cộng thì hơn ba ngàn người thiệt mạng…

Mãi mãi sau này, mọi người không thể quên rằng khi biết những tin dồn dập ấy thì chúng ta đang ở đâu. Người viết này nhớ là khi ấy mình vừa qua một đêm không ngủ rồi hoa mắt ngó truyền hình mà không hiểu nổi. Sau đó là điện thoại tới tấp. Khi ấy, mình còn nhớ là vì có quá nhiều mục tiêu bị tấn công ở mọi nơi nên chỉ có thể chọn một mẫu số chung là thời gian.

Và gọi đó là “Vụ Khủng bố 9-11”: Hoa Kỳ vừa bị một trận Trân Châu Cảng ngay tại bộ não.

Khách có kẻ bước vào thì kinh hãi vì vẻ rười rượi của người viết nên lặng lẽ ngồi một xem kẻ có tâm sự buồn này gõ những gì mà lại ủ dột như người viết bản cáo phó của chính mình….

***

Vào ngày đó, mọi người Mỹ đều bị chấn động bởi hình ảnh kinh hoàng và cả ngàn cuộc phỏng vấn thương tâm của người thoát chết, của gia đình các nạn nhân, gia đình các anh hùng đã hy sinh là cảnh sát và lính cứu hỏa. Rồi đến rất nhiều chi tiết bi hùng về chuyến bay United 93.

Không chỉ nước Mỹ mà cả thế giới cũng bàng hoàng, và có phản ứng liên đới.

Tối hôm đó, tại Paris, giáo sư Nicole Bacharan của trường “Sciences Po” và Đại học Stanford trả lời phỏng vấn trên truyền hình France 2 với một câu để đời: “Tối nay, chúng ta đều là người Mỹ”. Nhật báo Le Monde của giới trí thức thiên tả xuất bản tại Paris vào hôm sau có bài xã luận của Giám đốc (Chủ nhiệm/Chủ bút) Jean Marie Colombani với đề tựa phản ảnh tâm lý khi đó của mọi người trên thế gian: “Nous sommes tous Américains”.

We Are All Americans.

Với người Mỹ cao niên hoặc thuộc sử, “We Are All Americans” là ca khúc nguyện thề ủng hộ các chiến binh trong Đệ nhất Thế chiến. Là sử gia và học giả gốc Mỹ tại Pháp về Hoa Kỳ, hiển nhiên Nicole Bacharan cũng biết như vậy và diễn tả ý tưởng thề nguyền đó. Sau “Vụ Khủng bố 9-11”, cả thế giới đồng tâm chung sức với Hoa Kỳ

Trong khi ấy, nước Mỹ tự chuẩn bị cho đợt tấn công khác, có thể là với võ khí nguyên tử bỏ túi. Chẳng vậy mà các cấp lãnh đạo theo thứ tự hiến định, từ Tổng thống trở xuống, không được ở cùng nơi, xuất hiện cùng lúc. Sau cơn bàng hoàng là sự giận dữ: lòng dân khi ấy sát cánh với lãnh đạo trong tinh thần ái quốc rạng ngời. Đừng ai dại dột chọc giận một quốc gia sùng tín, yêu Chúa và thích súng.

Khi ấy, tinh thần ái quốc và tôn vinh các lực lượng bảo vệ dân sự lẫn quân sự, cảnh sát và binh lính, đã đánh dạt các phong trào quá khích trong xã hội.

Đám vô chính phủ, hung hăng chống toàn cầu hóa hay tư bản chủ nghĩa được Tổng thống Bill Clinton nhượng bộ từ vụ biểu tình bạo động tại Seattle vào Tháng 11 năm 1999 bỗng mất giọng. Tháng Hai năm 2002, Diễn đàn Kinh tế Toàn cầu (World Economic Forum) còn được tổ chức ngay tại New York thay vì thị trấn Davos của Thụy Sĩ như mọi năm. Đấy là tình liên đới của doanh gia và giới kinh tế quốc tế với Hoa Kỳ, với trung tâm tài chánh của Mỹ vừa bị khủng bố tấn công.

Từ phía cực hữu, các nhóm võ trang bạo động bảo vệ quyền da trắng và lấy việc tấn công đền đài hay công thự làm vui cũng hụt hẫng mà trôi xuống rãnh. Họ chỉ còn luận điệu xuyên tạc rằng vụ khủng bố là do Chính quyền liên bang dàn dựng làm lý cớ thiết quân luật để đàn áp bên trong.

Cả nước Mỹ lúc đó đã cùng nhìn về một hướng là Tổ Quốc.

Đạo luật Patriot Act ra đời ngày 26 Tháng 10 năm đó. Người Việt chúng ta hãnh diện có một người chấp bút văn kiện lịch sử này là Giáo sư Đinh Việt, chuyên gia luật pháp khi ấy là Phụ tá Tổng trưởng Tư pháp đặc trách về chánh sách. Còn người Mỹ và đại diện của họ trong Quốc hội đã đông đảo bỏ phiếu ủng hộ đạo luật. Vì an ninh chung, mọi người chấp nhận hy sinh một phần của tự do cá nhân cho nhà chức trách dễ làm việc.

Thế rồi nước Mỹ mở chiến dịch phản đòn, trên chiến trường Afghanistan vào cuối năm 2001 rồi toàn cầu với hậu thuẫn của các thành viên Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO, căn cứ vào điều 5: tấn công một thành viên là tấn công cả minh ước nên các nước cùng có nhiệm vụ tham chiến. Qua năm 2002, Hoa Kỳ còn tiến xa hơn vậy và vận động Liên hiệp quốc ra nghị quyết cho phép mở rộng chiến dịch vào Iraq. Lần này, đại đa số quốc gia và thành viên Quốc hội Mỹ cũng đồng ý, căn cứ trên những thông tin tình báo quốc tế và quốc gia cho thấy chế độ độc tài Saddam Hussein tại Baghdad có loại võ khí tàn sát hàng loạt và có quan hệ với lực lượng khủng bố.

Mãi sau này, người ta mới biết rằng tin tức tình báo ấy là sai. Và Chính quyền George W. Bush bị chính những người đã từng ủng hộ việc tham chiến đả kích là có ý đồ gian dối. Như mọi khi, vấn đề trở thành chính trị….

***

Bây giờ, hơn 14 năm sau, Hoa Kỳ đang trở về chốn cũ, về trạng thái tâm lý “tiền 9-11”. Tinh thần đồng tâm nhất trí đã hết. Lời thề năm xưa không còn. Những gì đã xảy ra trong 14 năm đó?

Hoa Kỳ mở ra cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu với một số thắng lợi quân sự ban đầu mà thất bại chính trị trong lâu dài. Việc tấn công và chiếm đóng Afghanistan để tiêu diệt khủng bố và xây dựng cơ chế dân chủ là một đòi hỏi trường kỳ, gây thiệt hại sinh mạng binh linh lẫn thường dân, làm công quỹ hao hụt.

Người Mỹ mệt mỏi nhìn lại, lắc đầu than khổ và trở lại thói cũ là nghi ngờ chính quyền.

Dù lãnh tụ al-Qaeda là Osama bin Laden đã bị hạ sát, các chi nhánh tự phát của al-Qaeda vẫn xuất hiện ở nhiều nơi khác, với phương tiện tuyên truyền (báo điện tử INSPIRE) để quảng bá kỹ thuật phá hoại và khủng bố bên trong các nước Tây phương lẫn nhiều quốc gia Á Rập Hồi giáo. Từ hàng ngũ al-Qaeda, tổ chức xưng danh Nhà nước Hồi giáo là ISIL còn dã man hơn vậy. Họ có tay súng, võ khí, phương tiện kinh tế là giếng dầu và ngân hàng trên một phần lãnh thổ của Syria, Iraq lẫn Libya để dùng phương pháp khủng bố ghê tởm hơn al-Qaeda nhằm tái lập một Đế quốc Hồi giáo mới, dưới sự lãnh đạo của một Giáo chủ mới.

Khác al-Qaeda với lý tưởng tôn giáo là mở cuộc Thánh chiến vào ruột gan các nước Tây phương và các chế độ Hồi giáo “phản đạo”, tổ chức ISIL dùng tạp chí Anh ngữ DABIQ phát huy tinh thần quốc gia dân tộc và kêu gọi chiến binh của cuộc Thánh chiến cùng rời bỏ xã hội Tây phương để về cố hương xây dựng Đế quốc Hồi giáo. Ý thức hệ tôn giáo của al-Qaeda và tinh thần đế quốc của ISIL cùng áp dụng phương pháp khủng bố nhưng cho hai mục tiêu riêng.

Người Mỹ nóng ruột không mất thời giờ tìm hiểu những chuyện rắc rối ấy. Họ chỉ thấy Hoa Kỳ xuất huyết và bạo lực lan rộng ở nhiều nơi rất xa lãnh thổ Hoa Kỳ. Họ dồn sự thất vọng ấy vào chính quyền và các chính đảng truyền thống của nước Mỹ. Họ nghi ngờ đạo luật Patritot Act có mục tiêu xoi mói đời tư của công dân. Họ thù ghét chính trị và cảnh sát, họ kỳ thị dân thiểu số và trong sự phân hóa chung của cả xã hội, nhiều người đã lấy việc giết cảnh sát làm thú tiêu khiển.

Đạo luật ái quốc bị xé vụn. Tấm khiên bảo vệ nước Mỹ trở thành một bảng hồng tâm cho nhiều người tập bắn. Cảnh sát hết là anh hùng mà là hung thủ.

Chánh sách mị dân đầy nguy hiểm của Chính quyền Barack Obama không thể giải thích tất cả những vụ bạo động ấy giữa dân da trắng và đa đen. Nhưng ngược lại, tâm lý chán chường đến độ thờ ơ của người dân đã giúp Obama tiến hành kế hoạch cải tạo bên trong và giải kết ở nhiều nơi bên ngoài.

Hoa Kỳ lặng lẽ thoái nhiệm và chẳng xứ nào còn nhớ tinh thần “Chúng ta đều là người Mỹ”!

Nước Mỹ trở lại truyền thống cũ là lạc quan tự tin rằng Hoa Kỳ có thể làm được mọi chuyện trên đời rồi bi quan hốt hoảng về những rủi ro bất ngờ trên thế giới. Thế giới cũng trở lại truyền thống cũ: coi Hoa Kỳ như tay súng hung hăng sẵn sàng nã đạn ở mọi nơi, rồi còn có gian ý rình rập xứ khác. Các nước có thể quên rằng nguồn tin tình báo của Hoa Kỳ đã từng giúp họ giải quyết mối nguy khủng bố mà chỉ sợ sự xoi mói của tình báo Hoa Kỳ.

Như một con sông đã tuôn chảy nhiều nơi, nước Mỹ đang chảy về chốn cũ. Thành một cái ao tù.

***

Khách ngồi bên bèn hiểu vì sao người viết này ứa lệ nói chuyện lỗi thề tại Hoa Kỳ. Thật ra chẳng hiểu gì cả. “Cây đa bến cũ con đò năm xưa?” Với con bé con trên đò, cây đa là quê hương của thằng Cuội…. 


(Viết ngày 11 Tháng Chín 2015 đầy u buồn)