Thứ Tư, tháng 8 22, 2012

Hình Sự trong Kinh Doanh

Vụ Bầu Kiên là một cuộc khủng hoảng chính trị



* AFP photo - Các nhà đầu tư chứng khoán theo dõi giá cổ phiếu tại 
Ngân hàng Thương mại Châu Á (ACB) của sàn giao dịch chứng khoán 
Hà Nội vào ngày 22 tháng 8 năm 2012. *


Vụ một nhà đầu tư nổi tiếng tại Việt Nam là ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt chiều ngày Thứ Hai 20 Tháng Tám tại Hà Nội đã khiến thị trường chứng khoán tại Việt Nam sụt giá trong sự hốt hoảng chung và Ngân hàng Nhà nước của Việt Nam phải ào ạt bơm tiền qua thị trường mở để tránh một vụ sụp đổ dây chuyền. Nhân vật bị tống giam và khởi tố cùng thời điểm tiến hành nội vụ khiến dư luận ưu lo về những khó khăn kinh tế và chính trị hiện nay của Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện này qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa của đài Á châu Tự do.

Khủng hoảng chính trị?  


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Sáng lập của một ngân hàng lớn tại Việt Nam bị cơ quan cảnh sát điều tra của Bộ Công An bắt giữ đã gây chấn động cho thị trường tài chính tại Việt Nam và được truyền thông quốc tế loan tải. Chúng tôi xin đề nghị là kỳ này mình sẽ cùng tìm hiểu về chuyện đó, ông nghĩ sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ban đầu, tôi có cảm giác ngán ngẩm vì những lý do sau đây.

- Thứ nhất, về bối cảnh chung, tình hình kinh tế Việt Nam quả là kém sáng sủa với quá nhiều vấn đề dồn dập vì đà tăng trưởng sẽ giảm, lạm phát có khi tái xuất hiện và trăm ngàn doanh nghiệp đang ở trong tình trạng dở sống dở chết, thậm chí là chết lâm sàng, hoặc là những "xác chết chưa chôn".

- Giữa khung cảnh bên trong như vậy, biến động ngoài Đông hải do động thái ngang ngược của Trung Quốc hiển nhiên là những thách đố nan giải cho người cầm quyền. Nhưng vấn đề đầu tiên là "ai là người cầm quyền" hoặc cơ chế nào sẽ quyết định về những bài toán sinh tử cho quốc gia? Khi ấy, người ta mới chú ý đến những tranh chấp cá nhân không còn che giấu nổi ở trên thượng tầng.

- Thứ ba, hệ thống ngân hàng của Việt Nam đang bị khủng hoảng nặng với một số nhỏ của nhà nước thì tập trung tài sản mà không kích thích sản xuất trong khi nhiều ngân hàng khác thì thiếu thanh khoản và có thể sụp đổ dưới núi nợ xấu nên vẫn cố thu vét ký thác bằng cách tăng lãi suất. Họ lao về phía trước trong sự tuyệt vọng. Tình hình đó càng khiến các doanh nghiệp điêu đứng vì thiếu vốn kinh doanh và sẽ theo nhau phá sản, công nhân viên mất việc.

- Thứ tư, dư luận kinh doanh quốc tế thì theo dõi xem lãnh đạo kinh tế và ngân hàng Việt Nam giải quyết ra sao bài toán nợ xấu, khó đòi và sẽ mất. Khối nợ xấu đó thật sự lên tới mức nào thì không ai rõ và làm sao thanh toán là một vấn đề sẽ có ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia. Vì vậy, dư luận chờ đợi người cầm đầu hệ thống ngân hàng trung ương của Việt Nam sẽ giải trình những việc đó trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong phiên họp chiều Thứ Ba 21.

Tôi e rằng đấy là một chỉ dấu khó sai về khủng hoảng chính trị, chứ không chỉ là ngân hàng hay kinh doanh. Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa   

  
Vũ Hoàng: Và đấy là lúc bùng nổ vụ ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt, làm các thị trường đều bị rúng động!

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và tôi e rằng đấy là một chỉ dấu khó sai về khủng hoảng chính trị, chứ không chỉ là ngân hàng hay kinh doanh.

- Trước hết, trong một quốc gia bình thường, nếu một cá nhân hoặc doanh nghiệp có sai phạm về nghiệp vụ vì lý do kỹ thuật hay pháp lý thì cơ quan thanh tra giám sát có thể mở cuộc điều tra. Nếu sai phạm về kỹ thuật, tức là không cố tình nhưng có lầm lẫn thì cơ quan giám sát phải có biện pháp dân sự, thuộc về tội hộ. Tức là có thể bồi thường thiệt hại cho nạn nhân vì sự bất cẩn của mình. Nếu là sai phạm về pháp lý, tức là cố tình gian lận để trục lợi bất chính, thì cơ quan thanh tra phải yêu cầu nhà chức trách can thiệp và lập hồ sơ truy tố kẻ bất lương, chứ không phải bất cẩn, về tội hình. Nghĩa là không chỉ phải bồi thường thiệt hại mà còn bị trừng phạt về tài chính và thủ phạm có thể bị án tù.

- Việt Nam là một quốc gia bất thường vì luật lệ thiếu phân minh nên rất khó xác định nguyên do của sai phạm là thuộc về dân sự hay hình sự. Ví dụ có thể thấy ngay là trong lĩnh vực ngân hàng hay mớ bòng bong khó gỡ của những nghiệp vụ đầu tư chòng chéo trong một chế độ kiểm soát lỏng lẻo, rất rộng mà cũng rất nông.

- Nhưng bất thường hơn vậy, Việt Nam là nơi mà việc kinh doanh đòi hỏi những quan hệ thật ra là bất chính với giới chức có quyền. Người ta khó thành công, và trở thành "đại gia" như bà con trong nước thường nói, nếu không có quan hệ và trở thành vây cánh của những người quyền thế nhất ở trên cùng. Đó là trường hợp của đương sự, người vừa mới bị bắt. 

Cách xử lý của chính quyền   


000_Hkg7716650-200.jpg
Nhân viên nhà máy thép Thành Đô biểu tình trước Ngân hàng Thương mại HDBank ở Hà Nội vào ngày 14 Tháng 8 năm 2012. Ảnh minh họa. AFP photo   


Vũ Hoàng: Theo những tin tức được cơ quan Cảnh sát Điều tra loan tải, ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt về tội kinh doanh trái phép và liên quan tới vi phạm tại ba doanh nghiệp do ông ta làm chủ tịch, gồm có Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại B&B, Công ty Cổ phần Đầu tư ACB Hà Nội và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đầu tư Tài chính Á Châu Hà Nội.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chỉ nội một cáo trạng như vậy cũng đã cho thấy sự bất thường. Ít khi nào có chuyện bắt giam một người về tội kinh doanh trái phép. Biện pháp quyết liệt này cho thấy là có cái gì đó nghiêm trọng hơn nhiều. Chuyện thứ hai là cách xử lý của nhà cầm quyền trong vụ bắt giam. Nó vẫn nhuốm mùi hành xử của "xã hội đen" trong một xã hội chưa có ý thức về luật pháp và một hệ thống cai trị không có trách nhiệm với quốc dân. Tôi xin được giải thích.

- Đáng lẽ, ngay sau khi tống giam đương sự, hãy cứ coi như một nghi can bị trọng án, giới hữu trách phải lập tức và công khai tổ chức một cuộc họp báo. Ngồi ở giữa là viên sĩ quan công an, hai bên là hai giới chức dân sự thuộc cơ quan thanh tra hay giám sát. Một trong hai người phải là viên chức có thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu là để trình bày dù ngắn gọn những kết quả của cuộc điều tra và thủ tục truy tố về những tội danh được minh định bởi viên chức thanh tra. Nhưng quan trọng nhất là để công chúng biết được rằng những sai phạm của đương sự, dù là một doanh gia về ngân hàng, không thuộc lĩnh vực ngân hàng. Lý do là để thị trường khỏi hốt hoảng và dân chúng mất tiền oan khi suy đoán rằng một đại gia ngân hàng đã rút ruột ngân hàng và tìm cách tẩu tán tài sản nên mới bị bắt.

- Trong một xã hội thiếu thông tin chính thức và minh bạch và báo chí không có tự do thì thị trường thông tin là thị trường đen. Đó là nơi mà sản phẩm được phổ biến chính là lời đồn. Khi dân tin vào lời đồn hơn là thông báo chính thức – nhiều khi mâu thuẫn - thì niềm tin vào nhà nước không có và người đồn đãi không có tội, nhưng rốt cuộc thì đa số thiếu thông tin mới là nạn nhân.

Vũ Hoàng: Ông cho rằng trong vụ án hình sự này, những lời đồn đãi hay bàn tán của người dân cũng có tầm quan trọng?

Trong một xã hội thiếu thông tin chính thức và minh bạch và báo chí không có tự do thì thị trường thông tin là thị trường đen. Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hiển nhiên là có và đấy mới là vấn đề!

- Trước hết, người ta có thể suy đoán không sai, rằng đương sự là người có quan hệ vững chắc và rộng rãi với nhiều quan chức nên mới thành công rất nhanh như vậy, để trở thành một trong những người giàu nhất nước. Thứ hai, đương sự là người rất kín đáo trong các nghiệp vụ đầu tư của mình, hoặc của ai đó mà anh ta đứng tên. Thứ ba, đương sự lại có lối chơi nổi của kẻ thích vẻ hào nhoáng bên ngoài với xe hơi trị giá bạc triệu, nghĩa là chẳng sợ gây ra phản ứng đố kỵ ghen ghét. Thứ tư, đương sự còn bước vào một lĩnh vực được quảng đại quần chúng quan tâm là bóng đá và không ngại ngần gây hấn với tổ chức khác trong lĩnh vực này.

- Ngần ấy sự việc khiến cho mọi người đều có thể kết luận rằng đương sự có gốc lớn, được nhiều thế lực bảo trợ ở đằng sau. Đấy là lúc người ta kết hợp với các tin đồn, rằng những thế lực đó là sĩ quan công an cao cấp, có người là thứ trưởng, và trên cùng là ông Thủ tướng vốn dĩ được đánh giá là có mức liêm chính dưới trung bình sau hàng loạt những vụ sụp đổ của các tập đoàn kinh tế nhà nước do Trung ương quản lý. Khi tổng hợp lại thì câu hỏi chính vẫn là động lực. Và câu trả lời là việc đương sự khỏi cần ấn tín gì, như chủ tịch một tập đoàn kinh doanh, mà vẫn thâu tóm khoảng 12 cơ sở kinh tế trong nhiều lĩnh vực, phân nửa là các ngân hàng. Nghĩa là làm sao?

- Người vừa mới bị bắt chỉ là một nhà đầu tư đại diện cho nhiều nhà đầu tư giấu mặt ở bên trên. Với chế độ hiện hành, mỗi thế lực chính trị lại tỏa xuống dưới thành hệ thống kinh doanh có khả năng vi phạm luật lệ mà không bị trách nhiệm vì đã có trong túi những người có trách nhiệm thực thi luật pháp. Mọi sự chỉ vỡ lở khi các thế lực chính trị ở trên xung đột với nhau nên tay chân ở dưới mới bị sa lưới nếu không kịp thông báo để bỏ chạy, như trường hợp đã xảy ra. Rốt cuộc thì vụ việc được trình bày như một nỗ lực giải trừ tham nhũng để kiện toàn nhân sự, là khẩu hiệu đang được đảng tung ra sau màn phê bình và tự phê bình vừa qua.

 

Hiện tượng tất yếu  


000_Hkg7732293-250.jpg
Ông Nguyễn Đức Kiên phát biểu tại một sự kiện bóng đá tại Hà Nội vào ngày 16 Tháng 2 năm 2012. AFP photo  


Vũ Hoàng: Thưa ông, rồi đây sự thể sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta rất khó biết được sự thể trong khung cảnh không chỉ là mờ ảo của một xứ lạc hậu mà còn mờ ám và đầy bạo lực vì là sự lạc hậu phát sinh từ nạn độc tài.

- Sau một sâu chuỗi những tai tiếng và phải nói là phạm pháp nghiêm trọng từ các tập đoàn kinh tế nhà nước ra tới khu vực tôi gọi là "tư doanh nhập nhằng" vì những thế lực chính trị và trung tâm lợi ích kinh tế ở đằng sau, thì vụ "Bầu Kiên" như người ta gọi chỉ là một nối tiếp tất yếu. Hiện tượng tham ô và khuất tất trên doanh trường còn lan vào chính trường khi một đại gia kinh doanh và đảng viên làm nữ dân biểu lại bị truất bãi trong một hoàn cảnh khó hiểu. 

- Những vụ nổ liên tiếp này chỉ là mấy cầu chì bị cháy ở dưới để dòng điện khỏi lan lên trên và báo hiệu nhiều biện pháp trả đũa khác của thế lực đang bị tấn công. Chúng ta có thể coi đây là những tranh chấp của các tổ chức tội ác trong xã hội đen, không hơn không kém.

Vũ Hoàng: Ông có một kết luận khá bi quan về sự thể này, vì sao như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đến một đảng Mafia có cái vẻ đa nguyên của nhiều phe nhóm toàn là đại gia.

Dân chúng chưa thấy một nỗ lực lớn lao của chính quyền để đưa kinh tế ra khỏi những khó khăn chồng chất hiện nay. Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Khốn nỗi, và đây mới là vấn đề gây ra sự ngán ngẩm cho mọi người, khốn nỗi người ta thanh lý môn hộ hoặc thanh toán nhau như vậy mà dân chúng chưa thấy một nỗ lực lớn lao của chính quyền để đưa kinh tế ra khỏi những khó khăn chồng chất hiện nay. Việc một kẻ gian có thể sa lưới và lãnh án tù chỉ là một niềm an ủi nhỏ, trong khi bất ổn kinh tế và khủng hoảng chính trị mới là vấn đề lớn lao gấp bội cho mọi người.

- Khi lại nhìn trên toàn cảnh, ở bên cạnh xứ Trung Quốc cũng đang có những bài toán nan giải bên trong vì tiến trình chuyển quyền đầy sóng gió của họ, người ta thấy rằng Việt Nam lại lỡ một cơ hội cải cách hầu có thể xây dựng một nền móng vững bền hơn cho việc bảo vệ quyền lợi của đất nước. Con thuyền đang lao vào giông bão mà thuyền trưởng, tài công và thủy thủ đoàn đánh nhau để giành lấy phao cứu hộ thì hành khách khó tìm ra lối thoát.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc trao đổi này. 

Thứ Ba, tháng 8 21, 2012

Minh Bạch Hóa Các Dịch Vụ Tài Chính Quốc Tế

Thanh Hà & Nguyễn-Xuân Nghĩa Ngày 120821
Tạp Chí Kinh Tế RFI

Phải cải cách thị trường biến phiếu derivatifs cho minh bạch hơn  


Một nhân viên giao dịch cổ phiếu tại Madrid. Ảnh chụp ngày 02/08/2012.
* Một nhân viên giao dịch cổ phiếu tại Madrid. Ảnh chụp ngày 02/08/2012. REUTERS/Juan Medina *


Bất bình đẳng về thông tin giữa các ngân hàng với giới đầu tư là yếu tố gây nên khủng hoảng tài chính toàn cầu và vụ tai tiếng về lãi suất Libor. Các ngân hàng có thể là thiểu số, chiếm ưu thế và gây thiệt hại cho đại đa số những người còn lại. Khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2008 và tại Âu Châu ngày nay có liên hệ đến hình thái đầu tư tinh vi và phức tạp ấy. Vụ khủng hoảng về lãi suất Libor bùng nổ vì một số ngân hàng lại ở vào vị trí ưu đãi là đưa ra những con số thiếu xác thực về lãi suất nên có thể trục lợi bất chính.

Chính là cảm nghĩ chung của mọi người về tình trạng bất công ấy mới khiến dư luận nói đến "thiểu số 1%" các đại gia cự phú đã cùng nhau chia chác quyền lợi trên đầu trên cổ của đa số còn lại. Nhưng thuần về kinh tế thì sự thể diễn tiến thế nào, nhất là với loại hình đầu tư cực kỳ phức tạp như các "biến phiếu" đã đề cập trong một chương trình tuần trước. Phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa từ Hoa Kỳ.

RFI: Kỳ trước chúng ta phân tích vụ tai tiếng Libor, tuần này ta cùng trao đổi về loại hình đầu tư "dérivatifs" rất phức tạp mà anh gọi là "biến phiếu". Thí dụ như loại "swap de devises" hay hợp đồng hoán đổi ngoại tệ mà người ta gọi theo Anh ngữ là "currency swap" hay nhiều loại đầu tư khác. Vấn đề đặt ra ở đây là trong môi trường đầu tư cực kỳ rắc rối ấy, có thể nào mà người đầu tư bị một thiểu số là các ngân hàng bóc lột một cách bất chính hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi thấy rằng đề tài này rất hấp dẫn và cần thiết ở hai khía cạnh: thứ nhất là về quy tắc đạo đức, khi mà một thiểu số lại có ưu thế về thông tin hơn đa số còn lại thì nhà nước có cách nào giải trừ hay ngăn ngừa được không? Thứ hai là về thực tế vì vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ năm 2008 chính là từ các ngân hàng phá sản do mất vốn trong các nghiệp vụ đầu tư biến phiếu như những kén nợ chằng chịt mà bên trong bị ung thối cỡ nào thì chẳng ai biết. Trước hết, ta sẽ phải đi lại từ đầu để nói về khái niệm đầu tư và đầu cơ.

- Đầu tư là khi mình nhịn tiêu thụ và dùng tài sản đó cho một việc khác với kỳ vọng có lời cao hơn sau này, nhưng cũng với rủi ro là có thể bị lỗ. Trong hoạt động đầu tư ấy, có loại khí cụ có thể đem lại mức lời rất cao nhưng cũng với rủi ro rất nặng, khi ấy, người ta gọi là đầu cơ hay "spéculation". Thuần về kinh tế, đầu cơ chỉ là đầu tư và không hàm ý xấu xa về đạo đức mà thật ra cũng khác với nạn tích trữ mà người Việt chúng ta thường nghĩ.

- Chuyện thứ hai là trong nghiệp vụ đầu cơ, người ta có hai phe hai vế là người mua và kẻ bán, và mối lời của người này là khoản lỗ của người kia theo quy luật tạm gọi là "hơn bù kém" hay "jeu à somme nulle", nói theo tiếng Pháp, "zero sum game" theo tiếng Anh. Điều ấy có khác với đầu tư sản xuất là khi người mua kẻ bán đều có lợi. Vì vậy, những người nhập cuộc đầu cơ đều phải ý thức được sự rủi ro nằm trong bản chất của nghiệp vụ, chính quyền chỉ có thể giám sát để bảo đảm tính chất bình đẳng và trong sáng minh bạch của luật chơi. Nhưng ngay từ đó mình cũng thấy nổi cộm một quy luật là "có ăn có chịu", khi lỗ thì đừng đòi chính quyền hay ai đó nhảy ra chuộc nợ cho mình.

RFI: Đó là quy luật căn bản của luật chơi trên các thị trường đầu cơ tài chính. Bây giờ mình bước vào cuộc thì sự thể diễn tiến:

Nguyễn-Xuân Nghĩa:  Về căn bản của luật chơi trong thị trường đầu tư hay đầu cơ tài chính.

- Thí dụ như trên thị trường cổ phiếu, ngần ấy tác nhân hay nhà đầu tư đều nhập cuộc và mua hay bán cổ phần của các công ty được công khai niêm yết trên thị trường. Trong loại đầu cơ về "biến phiếu" thì ta có hoàn cảnh khác là đôi bên thỏa thuận riêng với nhau về những giao kết, người ta gọi đó là giao dịch qua quầy, "over the counter" hay "gré à gré".

- Nói một cách dễ hiểu là khi mình bước vào sòng bạc vì thật ra đầu cơ như vậy cũng chỉ là một cách đánh bạc hay cá độ! Hai người có thể đánh bạc đánh cá với nhau và ở giữa là một kẻ vô can chỉ có nhiệm vụ chia bài và ăn tiền xâu, ăn hoa hồng. Nhưng người ta cũng có thể đánh bạc hay đánh cá với chủ sòng, là nhà cái, khi ấy thì tương quan đã bất lợi cho con bạc.

- Hai ngân hàng có thể giao dịch với nhau trên thị trường song phương theo lối “lời thì ăn, lỗ thì chịu”chứ không thể bắt nhà nước tức là dân thọ thuế chi tiền cấp cứu khi họ phá sản. Nhưng nếu ngân hàng lại thủ vai nhà cái với những lá bài do họ xào nấu trong tay áo, là vấn đề đang bị điều tra trong vụ lãi suất Libor, thì các con bạc là giới đầu cơ sẽ bị thiệt hại.

- Đấy là chuyện thiếu minh bạch và thiếu bình đẳng trong luật chơi. Khi lãi suất này lại ảnh hưởng đến mấy trăm ngàn tỷ đô la của các thị trường tài chính quốc tế thì vấn đề thành nghiêm trọng vì có thể đánh sụp cả nền kinh tế. Bây giờ ta mới bước qua các loại hình giao dịch biến phiếu hay "dérivatifs" được trao đổi theo kiểu song phương, qua quầy, giữa người mua với kẻ bán.

RFI: Họ mua những gì hay bán những gì và tính toán thế nào về triển vọng sinh lời?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin nói riêng về một loại trong nhiều loại đầu tư như vậy, đó là hợp đồng giao dịch ngoại tệ hay "swap de devises":

- Trong luồng giao dịch ngoại thương giữa các nước, người ta cần tới ngoại tệ, là đơn vị tiền tệ của một xứ khác. Giá trị của ngoại tệ này có thể lên hay xuống khi so với một đồng tiền khác. Như vậy, làm sao giảm thiểu rủi ro trong tương lai là khi ta cần một ngoại tệ nào đó để thanh toán nghiệp vụ xuất nhập cảng hay vay mượn của mình ? Nhu cầu khách quan ấy mới dẫn đến sự xuất hiện của những người môi giới, trung gian. Họ ký sẵn hợp đồng bảo đảm sẽ cung cấp loại ngoại tệ này theo một hối suất hay tỷ giá nào đó với hy vọng kiếm lời hoặc rủi ro bị lỗ.

- Vì thế, những người môi giới này mới có trong tay một nắm hợp đồng mua hay bán của nhiều loại ngoại tệ và cũng có nhu cầu giảm thiểu rủi ro trong tương lai. Họ gặp nhau trên thị trường giao dịch ngoại tệ và thủ thân bằng loại hợp đồng hoán đổi ký kết với nhau. Hợp đồng ấy quy định việc trao đổi hai khoản nợ của hai loại ngoại tệ. Trong khoản nợ này ta có phần vốn và phần lời, tức là lãi suất. Đến kỳ hạn thì người ta có thể thanh thỏa một khoản nợ bằng một khoản nợ khác, của một ngoại tệ khác. Nghĩa là người ta thỏa thuận mua bán với nhau hai tờ giấy nợ và trị giá tương lai của giấy nợ đó chính là tiền lời, là lãi suất.

RFI: Nhưng sự hữu ích của lối đầu tư này là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Các doanh nghiệp xuất nhập cảng cần ngoại tệ để giải quyết nhu cầu buôn bán của họ và có thể bị rủi ro hối đoái. Môt công ty Anh cần đồng yen Nhật để thanh toán việc mua bán với doanh nghiệp Nhật. Trong khi một công ty Nhật lại cần đồng bảng của Anh và cả hai đều có thể bị rủi ro nếu hai ngoại tệ này lên hay xuống giá bất ngờ. Họ bèn san sẻ và giảm thiểu rủi ro ấy nhờ các tay trung gian đang làm nghiệp vụ đầu cơ ngoại tệ với nhau.

- Các tay đầu cơ này bước vào canh bạc với hy vọng tìm ra hợp đồng vay mượn ngoại tệ rẻ nhất và với nhu cầu phòng ngừa biến động thái quá trên thị trường ngoại hối. Trong tính toán đó mới có nghiệp vụ đầu tư "đối xung", là đóng chốt ở hai đầu đối nghịch, khi ký một hợp đồng dự báo là ngoại tệ này hay lãi suất này sẽ lên giá cùng với một hợp đồng trái ngược.

- Chuyện này chưa đủ phức tạp đâu vì không chỉ có những kẻ đầu cơ bị lỗ khi tính sai mà còn có nạn lạm dụng như trường hợp chính quyền Hy Lạp đã nhờ tập đoàn đầu tư tài chính Mỹ là Goldman Sachs huy động cho một khoản nợ trị giá một tỷ đô la trên thị trường giao dịch ngoại hối loại này vào năm 2002, với gian ý là không bút ghi nghiệp vụ vay mượn trong bảng tổng kết tài sản của quốc gia. Tức là có khách nợ đã gian lận nhờ sự đồng lõa của một ngân hàng đầu tư thuộc loại đại gia quốc tế. Đến khi Hy Lạp vỡ nợ thì bắt đền ai? Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2008 và tại Âu Châu ngày nay có liên hệ đến hình thái đầu tư tinh vi và phức tạp ấy.

RFI: Anh cứ lần lượt mở ra từng mối của mớ bòng bong rắc rối này, như vậy, câu hỏi mà thính giả thắc mắc là nhiều ngân hàng đã trục lợi phi pháp và nhiều chính quyền đã nhờ ngân hàng giúp mình gian lận. Thế thì ai được và ai thua ở trong canh bạc phải nói là rất quái đản này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là chưa đủ quái đản đâu vì trong cuộc còn có một nhà cái khác là các chính quyền.

- Xin hãy nói về trường hợp Hoa Kỳ. Các tập đoàn tài chính Mỹ như Lehman Brothers hay AIG đã lấy rủi ro rất lớn mà chính họ cũng không ước đoán được khi bước vào thị trường đầu cơ này. Mỗi khi mua hay bán họ đều ăn hoa hồng và cứ thế mà đẩy kén nợ thối như một cục than hồng vào tay người khác. Trong khi ấy, về cơ bản thì vốn pháp định của họ không đủ trang trải rủi ro. Khi thị trường hốt hoảng bán tháo các kén nợ thối ấy, các doanh nghiệp tài chính này mới vỡ nợ.

- Nếu mà để các đại gia đó vỡ nợ thì tai họa sẽ lan rộng ra các ngành nghề và cả nền kinh tế nên chính quyền mới phải cân nhắc và quyết định nhảy vào tung tiền chuộc nợ. Tiền ấy từ ngân sách quốc gia tức là tiền thuế của dân. Như vậy, các đại gia cứ làm bậy với nhau và ăn hoa hồng hoặc ăn lương rất cao, khi có chuyện thì nhà nước nhảy vào và dân đen bị thiệt. Bây giờ ta mới nói chuyện về nhà cái kia, tức là nhà nước.

RFI: Nghĩa là anh cho rằng nhà nước thật ra cũng chẳng là vô can?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đúng như vậy. Thí dụ như 70 năm trước, Hoa Kỳ có đạo luật tài chính gọi là Glass-Steagall với nội dung phân biệt các ngân hàng đầu tư kinh doanh bằng vốn riêng với các ngân hàng thương mại có chức năng huy động ký thác trong dân chúng.

- Lý do phân biệt là để có hai hệ thống thanh tra khác nhau và nhất là để ngăn ngừa việc ngân hàng thương mại lấy tiền ký thác của thiên hạ mà đi đầu cơ khiến các trương chủ ký thác có thể mất vốn nếu ngân hàng vỡ nợ. Năm 1999, Chính quyền Tổng thống Bill Clinton và Quốc hội bên đảng Dân Chủ thu hồi đạo luật này và đấy là một trong nhiều nguyên nhân khiến ngân hàng thương mại cũng đi làm nghiệp vụ đầu tư bằng tiền của người khác và gây rủi ro cho công chúng. Vụ khủng hoảng năm 2008 phần nào xuất phát từ chính sách giải toả này.

- Chuyện thứ hai là Hoa Kỳ có hai đại gia trong thị trường thế chấp tín dụng gia cư là Fannie May và Freddie Mac. Hai doanh nghiệp này thuộc loại bán công, do nhà nước bảo trợ để nói là giúp dân nghèo dễ có cơ hội mua nhà. Nhưng cả hai đều bành trướng rất mạnh và chiếm phân nửa thị phần tín dụng gia cư mà lại tích lũy những rủi ro rất lớn.

- Năm 2005, chính quyền George W. Bush mới đề nghị tăng cường kiểm soát hai định chế này, nhưng lại bị Quốc hội trong tay đảng Dân Chủ cản trở. Lý do là hai cơ quan này chi tiền rất nhiều cho đảng Dân Chủ, và giới lãnh đạo của họ cũng là viên chức cao cấp trong chính quyền Clinton. Kết cuộc là hai cơ sở này vỡ nợ, gây họa cho cả nước và phải được châm tiền cấp cứu.

- Sau đó, là chuyện thứ ba, người ta quên hoặc cố tình quên như đã cố tình quên về những rủi ro của lãi suất Libor mà tri hô rằng phải tăng cường kiểm soát các ngân hàng để tránh lạm dụng. Một nghị sĩ Dân Chủ đã được tiền yểm trợ của Fannie Mae và Freddie Mac và bảo vệ hai cơ sở ấy đến tận cùng sau khi dính líu rất sâu với các tổ hợp tài chính bị khủng hoảng cũng là người đồng soạn thảo đạo luật kiểm soát này.

- Với kết quả là các đại gia ngân hàng còn tập trung tài sản nhiều hơn trước, có thế lực hơn trước, trong khi các ngân hàng nhỏ thì chết ngộp dưới hệ thống kiểm soát. Đạo luật kiểm soát có tên là Dodd-Frank bị chỉ trích từ cả hai phía là bên Dân Chủ thì đòi kiểm soát nhiều hơn, bên Cộng Hòa thì cho là kiểm soát quá đáng!

RFI: Câu hỏi cuối: người ta nên kết luận thế nào và giải quyết ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Kết luận cho vấn đề rắc rối này gồm có hai phần. Thứ nhất, trên thị trường đầu tư chứng khoán, thí dụ như mua bán cổ phiếu, mọi sự đều công khai với luật lệ minh bạch và quần chúng đầu tư biết rõ về rủi ro của mình. Trong thị trường "biến phiếu" như "swap de devises" hay trao đổi ngoại tệ thì chỉ có hai phe đánh bạc với nhau nên thiên hạ cứ tưởng rằng người ngoài là vô can vô sự. Thật ra, thị trường đó thiếu minh bạch và có rủi ro rất lớn mà ít ai tính ra.

- Một tổ hợp tài chính như JP Morgan của Mỹ vừa mất sáu tỷ đô la cho loại đầu tư ấy mà giờ này vẫn chưa biết tại sao. Nếu người ta không có nỗ lực công khai hóa phương pháp ước tính và thủ tục đầu tư thì cũng lại tích lũy những yếu tố khủng hoảng trong tương lai. Cho nên, có lẽ người ta không nên lập thêm một vòng kiểm soát đồng hạng như đạo luật Dodd-Frank mà phải cải cách riêng hệ thống đầu tư biến phiếu để chấm dứt tình trạng giao dịch qua quầy rất mờ ảo. Nghĩa là phải có quy chế minh bạch như trên thị trường cổ phiếu và chứng khoán. Chính là sự minh bạch mới giảm thiểu rủi ro và lạm dụng.
  

Thanh Hà

Hồi Quang Phản Chiếu

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120820
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Nhìn vào trong gương, chính quyền là nhân dân, tay trái là tay mặt....

* Thủ bút của nhà văn John Steinbeck trong bài diễn văn ông soạn cho 
Tổng thống Lyndon Johnson năm 1965 - nhưng không được xài * 



John Steinbeck (1902-1968) là một nhà văn lớn của California và của thế giới với giải Nobel Văn chương năm 1962. Ông có nhiều tác phẩm đã ghi lại dấu ấn cho đời sau. Chúng ta có thể thưởng thức văn chương của ông. Nhưng theo dõi tư tưởng của ông thì dễ bị loạn trí.

Thời trẻ, ông đứng hẳn vào phía cực tả, chịu ảnh hưởng của các tác giả đảng viên Cộng đảng Mỹ, gia nhập hội Liên hiệp các Nhà văn, một tổ chức do đảng này thành lập năm 1935. Năm 1959, khi một Ủy ban Hạ viện Hoa Kỳ (House Committee on Un-American Activities) điều tra các phần tử thân cộng, thời ấy gọi là "chống Mỹ", ông dõng dạc bảo vệ các đồng nghiệp và đồng chí. Và trở thành khuôn mặt đáng nhớ trong trào lưu phản kháng của văn nghệ sĩ tả khuynh thời đó.

Chỉ mươi năm sau, trong cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam, năm 1967, ông được tạp chí thiên tả Newsday gửi qua làm phái viên chiến trường. Ông viết về những bài ngợi ca quân lực Mỹ và bị tờ New York Post kết án là phản bội lý tưởng của cánh tả. Xin ghi thêm rằng thời ấy, tờ New York Post kỳ cựu (do một lãnh tụ đời nay ta gọi là "bao cấp" Alexander Hamilton thành lập từ năm 1801) còn thuộc phe tả. Đến năm 1976 mới được tỷ phú Rupert Murdoch mua lại và chuyển dần thành tờ lá cải thiên hữu. Lá cải vì hay đi tin cụp lạc với đề tựa bắt mắt mà bất kể về sự trung thực trong nội dung. Và thiên hữu vì có những bài quan điểm bảo thủ, thậm chí bênh vực Trung Quốc!

Nhưng tội của John Steinbeck còn nặng hơn vậy vì có hai người con phục vụ chiến trường Việt Nam. Ông ủng hộ cuộc chiến do người bạn thân là Tổng thống Lyndon Johnson tiến hành, nên lãnh tội "diều hâu chủ chiến"....

Trong vài trăm chữ ở trên, ta đã có thể thấy "bức tranh vân cẩu", hay hiện tượng đảo điên của xã hội Hoa Kỳ, qua một nhà văn lớn mà mình nghĩ rằng ai cũng biết.

***


Nổi tiếng với các tác phẩm về sự u ám của xã hội Mỹ thời Tổng khủng hoảng 1929-1933, John Steinbeck còn để lại câu danh ngôn: "Chúng ta chỉ cần nhớ một số tài phiệt lang sói (wolfish financiers) đã dành hai phần ba cuộc đời vơ vét tiền bạc trong cống rãnh xã hội và một phần ba còn lại là để vun tiền vào đó".

Nhà văn kết án bọn tư bản tài chánh, những dòng họ tài phiệt như Carnegie, Rockefeller hay Ford? Ông nghĩ sao về những người đã khởi nghiệp từ chốn lầm than, như F.W. Woolworth, J.C. Penney hay Sam Walton, rồi dựng lên các doanh nghiệp lớn với cả vạn nhân công bán hàng ngày một rẻ hơn? Hoặc chán vạn người đã thất bại sau các dự án đầu tư bất thành. Hay các tỷ phú đời nay đã gom lại một tài sản rất lớn rồi lập ra các sáng hội (foundation) giúp đỡ người khác. Như Warren Buffet, Bill Gates hay Georges Soros, những nhân vật không hề che giấu thiện cảm của họ với đảng Dân Chủ "của người nghèo".

Câu chuyện Steinbeck là một ngụ ngôn về nước Mỹ.

Ông có thể là một nhà văn xuất chúng mà chẳng hiểu gì – và cũng chẳng cần tìm hiểu – về kinh tế hay kinh doanh. Nhưng nhận xét vu hồ của ông vẫn được nhiều người coi là lời vàng ý ngọc để phê phán cái xấu xa của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ. John Steinbeck không là một ngoại lệ. Rất nhiều đại trí thức hay văn nghệ sĩ giàu xụ trong thế giới tự do của Hoa Kỳ cũng nghĩ thế.

Họ nói như người... Hà Nội năm xưa. Trước thời "đổi mới"!

Trước "Cách mạng Tháng 10", Vladimir Ilyich Lenin viết rằng quản lý kinh tế quốc dân cũng dễ tựa việc phát thư (xin lỗi quý độc giả làm việc trong Bưu điện!) Còn quản trị một doanh nghiệp là loại nghiệp vụ đơn giản nên chẳng có lý do gì khiến các doanh gia được trả lương cao hơn bất cứ một công nhân bình thường nào.

Ba năm sau khi cầm quyền để cải tạo nền kinh tế tư bản chủ nghĩa của nước Nga, Lenin thú nhận là gặp phải thực tế "đổ nát, đói khát và tàn tạ".

Ông ta bèn tiến hành... đổi mới với "Chính sách Kinh tế Mới" New Economic Policy hay NEP sau khi phê phán trước Đại hội IX của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1920. Rằng "Những quan điểm về quản trị doanh nghiệp thường thấm nhuần tinh thần dốt nát và chống lại sự chuyên nghiệp". Chính sách Kinh tế Mới của Lenin là trở lại Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước.

Hoặc tiến lên chủ nghĩa tư bản nhà nước như ta đang chứng kiến tại Trung Quốc hay Việt Nam.

Nhưng vì sao bài này lại viết về những chuyện ấy?


***


Hoa Kỳ là một xã hội phát triển đến độ tinh vi phức tạp mà người bên ngoài khó hiểu ra. Trong nét phức tạp đó có lắm điều huyền hoặc, fiction, thậm chí là sự dối trá kỹ thuật dựng thành chân lý. Đã thường đọc nhiều sự huyền hoặc về lịch sử cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam, chúng ta còn gặp những huyền hoặc kinh tế hay pháp lý mà không để ý.

Huyền hoặc kinh tế như lời phê phán của nhà văn John Steinbeck là điều thông cảm được. Nhưng từ một giáo sư về quản trị và kinh tế của Đại học MIT nổi tiếng là Lester Thurow thì ta nên giật mình.

Năm 1980, Thurow xuất bản cuốn "The Zero Sum Society" với lý luận "hơn bù kém" - cái mà kẻ này được là cái người kia bị mất. Đấy là một triết lý kinh tế không được thực tế phản ảnh. Trong cuốn sách, được tái bản vào năm 2001, khi viết về nạn thất nghiệp tại Hoa Kỳ từ năm chục năm qua, "trầm trọng nhất trong các nước công nghiệp hoá", ông chẳng hề so sánh với kinh tế Âu Châu và mức thất nghiệp mấp mé 10%. Tất nhiên là cũng chưa thấy ra vụ khủng hoảng ngày nay của Âu Châu bao cấp.

Thurow dựng lên một sự huyền hoặc kinh tế, economic fiction hay fallacy, với mục tiêu đề cao sự can thiệp của nhà nước. Ông đề cao chuyện đó vì triết lý chính trị của mình hơn là vì thực tế kinh tế, nhưng làm sao những người ít chú ý đến kinh tế chính trị học lại thấy được thực hư?

Về loại huyền hoặc pháp lý, ta có ngạn ngữ "không ai được phép không biết luật". Đó là khi nhà chức trách phản bác lời biện bạch của một nghi can là họ vô tình vi phạm vì chẳng biết luật.

So với Đạo luật về An sinh Xã hội năm 1935, chưa tới 50 trang gồm 15.600 chữ, Đạo luật Cải tổ Y tế năm 2010 dày 2.700 trang là một thí dụ về sự phức tạp khiến người chống kẻ thuận mà ít ai rõ về nội dung hay hậu quả quá rắc rối sau này. Nhưng chẳng sao, Nancy Pelosi, chính khách triệu phú năm đó là Chủ tịch Hạ viện, đã khuyên các đồng viện là cứ biểu quyết đi, rồi sẽ biết về nội dung! Không ai được phép không biết luật?

Trong cuộc bầu cử năm nay, tranh luận về hai hướng tả hữu, như tăng cường quyền hạn cho nhà nước hay công dân, đã phản chiếu sự nhiêu khê rắc rối của xã hội Mỹ.

Nhưng nhìn từ bên ngoài, như từ Bắc Kinh hay Hà Nội, chuyện rất đáng nói là người ta có thể hiểu ngược!

Tăng cường vai trò của một nhà nước bao biện với tay chân thân tộc có đầy quyền thế là một tai họa cho người dân Trung Quốc, Việt Nam. Hay các nước độc tài hoặc thiên về xu hướng tư bản nhà nước, như Argentina hay Venezuela. Nhà nước đó là trung tâm tham nhũng và chính sách đó là sự bất công, không bền. Vì quyền lợi của quốc dân trong các nước đó, đề cao quyền tự do của người dân trong xã hội dân sinh và của tư doanh trong thị trường là điều cần thiết.

Chúng ta sống trên một địa cầu hình tròn, đi hết hướng Tây là gặp phía Đông. Mà lại đi bằng tin tức điện tử với tốc độ gần như tức thời.

Trong thế giới như tấm gương đó, tay trái của ta được hồi quang phản chiếu thành tay phải của người. Lý luận chính đáng ở bên này mà nhập vào trong gương thì có thể ngợi ca một chính sách quái đản ở nơi mà nhà nước có quyền gia tăng công chi vô tội vạ để lấy tiền thuế của dân mà tài trợ các dự án lãng phí nhưng có lợi cho tay chân nhà nước.

Có điều an ủi cho xã hội Hoa Kỳ, là các đại gia đã vét tiền nơi cống rãnh của mấy xứ kia đều sẽ lại chuyển vào Mỹ, là nơi mà tư doanh hay bọn đầu tư xấu xa vẫn được quý trọng và bảo vệ!

Thứ Năm, tháng 8 16, 2012

Dân Á-Mỹ Biểu Tình Chống Trung Quốc

Nguyễn-Xuân Nghĩa & Trọng Nghĩa RFI - Ngày 120816

Vì sao người Mỹ gốc Philippines biểu tình phản đối một ngân hàng của Trung Quốc ngay tại Chinatown của San Francisco?  


Tổ chức US Pinoys for Good Governance biểu tình trước toà Lãnh sự Trung Quốc tại San Francisco (Reuters)
* Tổ chức "US Pinoys for Good Governance" biểu tình trước toà Lãnh sự Trung Quốc tại San Francisco (Reuters) *

 

Thái độ hung hăng của Trung Quốc trong việc đòi chủ quyền biển đảo khiến mọi nước châu Á quan ngại, từ Ấn Độ đến Úc hay ngược lên vùng Đông Nam Á, đặc biệt là Philippines và Việt Nam, rồi lên tới Nhật Bản. Tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Mỹ gốc Á châu cũng bắt đầu bày tỏ thái độ.

Hai tổ chức người Mỹ gốc Á có hội sở tại California đã mở cuộc vận động dư luận biểu tình chống lại ngân hàng lớn nhất của Trung Quốc và thế giới - Ngân hàng Công thương Trung Quốc ICBC. Nhưng vì sao lại chống một ngân hàng? Từ California, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa giải thích. 

 
RFI: Xin kính chào anh Nghĩa. Thưa anh, nhiều đoàn thể trong cộng đồng người Mỹ gốc Á bắt đầu mở chiến dịch phản đối Trung Quốc sau thái độ gây hấn của Bắc Kinh tại Biển Đông. Ngày 21/08 này, họ sẽ tổ chức biểu tình và họp báo trước chi nhánh của ICBC, một ngân hàng lớn nhất của Trung Quốc tại San Francisco. Theo dõi chuyện này, xin anh cho thính giả biết rõ bối cảnh của tình hình. 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa anh và kính thưa quý thính giả của đài Phát thanh Quốc tế Pháp. Hoa Kỳ có khoảng 17-18 triệu người gốc Á Châu, đây là ta kể cả những người có huyết thống Á châu từ cha hay mẹ. Đông nhất trong số này là những người gốc Ấn Độ, Trung Quốc và Phi Luật Tân hay Philippines. Kế tiếp là Việt Nam rồi Đại Hàn và Nhật Bản, sau đó mới đến các xứ khác. 

- Việc Trung Quốc có thái độ hung hăng từ ngoại giao đến kinh tế và quân sự ở vùng biển Đông Nam Á tất nhiên được người Mỹ gốc Á quan tâm, kể cả người Mỹ gốc Hoa vì không phải người Hoa nào cũng đồng ý với chính quyền Bắc Kinh. Đó là tại Hoa Kỳ. Tại Châu Á thì hầu hết các quốc gia trong khu vực cũng thấy là họ phải có phản ứng, như trường hợp Ấn Độ hay Nhật Bản và nhất là các nước Đông Nam Á. Chuyện ấy cũng ảnh hưởng đến cộng đồng người Mỹ gốc Á bên này. 

- Trong cộng đồng này, xuất hiện sớm nhất và thật ra có dân số đông đảo ngang ngửa với người Hoa hay người Ấn chính là cộng đồng Phi Luật Tân. Khi xứ Phi Luật Tân bị Trung Quốc uy hiếp thì họ càng muốn có phản ứng mạnh. Hai đoàn thể vận động mà anh vừa nhắc tới xuất phát từ cộng đồng Phi Luật Tân.

- Đó là "Liên đoàn Quốc gia người Mỹ gốc Á" viết tắt là NAAC, và tổ chức "US Pinoys for Good Governance", có nghĩa là Người Phi Luật Tân Tranh Đấu Cho Một Chế Độ Cai Trị Tốt. "Pinoys" là danh xưng của người Phi, từ "pino" trong chữ "Pilippino" và chữ "y" của thổ ngữ Tagalog. 

RFI: Anh nói rằng chính người Philippines khởi xướng chuyện phản đối, thế còn người Mỹ gốc Việt thì sao, thưa anh? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chuyện này đáng chú ý thưa anh. Chính quyền Manila có thái độ đương cự Trung Quốc rất rõ rệt nên cộng đồng người Phi tại Mỹ và ở nhà coi như một lòng và dù không mấy ồn ào, người Mỹ gốc Phi hoạt động từ đã lâu và có sức huy động khá cao. 

- Trong khi đó, Chính quyền Việt Nam thì có thái độ nhập nhằng nước đôi và còn đàn áp những người ở nhà tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Vì vậy, người Mỹ gốc Việt cho rằng vấn đề Trung Quốc của Việt Nam chính là đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức tranh đấu dồn nỗ lực phá vỡ hệ thống bảo vệ sự xâm lăng của Trung Quốc hiện nằm tại Hà Nội. 

- Tuy nhiên, nhiều đoàn thể người Việt tại Mỹ đã kêu gọi phải có thái độ, ví dụ như tẩy chay hàng Trung Quốc, và Tháng Sáu vừa qua, người Việt cũng đã cùng người Phi biểu tình chống Trung Quốc tại trụ sở Liên hiệp quốc ở New York. Tôi nghĩ là trong tương lai, người ta sẽ thấy sự kết hợp rộng lớn của dân Mỹ gốc Á, tương tự như sự liên kết mặc nhiên giữa các nước ở tại khu vực Đông Á. 

RFI: Anh giải thích thế nào về sự kiện là trong cuộc biểu tình sắp tới các tổ chức người Mỹ gốc Philippines lại nhắm vào Ngân hàng Công thương Trung Quốc ICBC?  

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng đấy là một kỹ thuật đấu tranh tinh vi. Họ có Liên đoàn Quốc gia người Mỹ gốc Á là một tổ chức hỗ tương có mục đích bảo vệ quyền lợi và nâng đỡ doanh gia Mỹ-Á. Hội sở chính của họ là tại miền Bắc California, ở thị trấn San Bruno ngoại ô phía Nam của San Francsico, với chi nhánh tại San Diego ở miền Nam California và tại thủ đô Hoa Kỳ. Còn tổ chức kia là "US Pinoys for Good Governance" thì thiên về chính trị và đấu tranh cho dân chủ. Tôi nghĩ là hai tổ chức này phối hợp tấn công Trung Quốc từ hai ngả. 

- Trung Quốc Công Thương Ngân Hàng ICBC của Bắc Kinh là ngân hàng có tài sản lớn nhất thế giới, đang bung ra khắp nơi, có Bank of East Asia tại Mỹ và và trù tính sát nhập hai ngân hàng gốc Á tại Hoa Kỳ là East-West Bank và Cathay Bank có tài sản là 33 tỷ đô la là 175 chi nhánh. 

- Liên đoàn NAAC nêu lý do là ngân hàng ICBC này có chính sách kỳ thị và không tuyển dụng, tài trợ hay đầu tư với người Mỹ gốc Á, gốc Nam Mỹ, gốc Phi Châu và vì vậy vi phạm luật lệ Mỹ. Họ vừa biểu tình phản đối ngày 21/08 này trước trụ sở Bank of East Asia của ngân hàng ICBC ngay giữa Chinatown của thành phố San Francisco, vừa yêu cầu tiếp xúc với cơ quan hữu trách là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ vào mùng 10/09 để chính thức yêu cầu điều tra và cấm ngân hàng ICBC này không được mua thêm ngân hàng nào của Mỹ trong năm năm tới. 

- Qua việc này, Liên đoàn NAAC muốn huy động hậu thuẫn của cộng đồng thiểu số da màu vì tội kỳ thị của ngân hàng Trung Quốc, vừa dùng hai đạo luật của Hoa Kỳ để chặn cửa ngân hàng ICBC vì đòi nhà chức trách Mỹ kiểm tra lại. Tôi còn cho rằng họ không muốn một ngân hàng của Bắc Kinh sẽ dùng thêm vỏ bọc là hai ngân hàng East West và Cathay để xâm nhập và hoạt động trong cộng đồng Á châu. 

- Song song, hai tổ chức này cũng tố cáo Công thương Ngân hàng của Trung Quốc là trực tiếp hay gián tiếp tài trợ hoạt động quân sự của Bắc Kinh tại vùng biển Đông Nam Á. Đấy là lúc tổ chức US Pinoys kia nhắc đến quyền lợi của các nước liên hệ như Việt Nam, Phi Luật Tân, Malaysie, Indonesia và cả Nhật Bản cùng Đài Loan. Họ kêu gọi người Mỹ gốc Á thống nhất hành động để Bắc Kinh phải thương thuyết theo đúng luật pháp quốc tế. Chính tổ chức US Pinoys này chủ xướng cuộc biểu tình sắp tới tại California. 

RFI: Chúng ta sẽ theo dõi cuộc vận động này, nhưng riêng anh thì có ý kiến gì thêm về cách đấu tranh của người Mỹ gốc Á? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin tự giới hạn trong lĩnh vực kinh tế. Nếu chịu khó tìm hiểu luật lệ Hoa Kỳ liên quan đến Trung Quốc thì người ta có thể tìm ra nhiều đầu mối tác động vào cả chính trường lẫn thị trường Mỹ. Thí dụ như việc Trung Quốc chưa có quy chế của một nền kinh tế thị trường nên có thể bị tấn công bằng nhiều ngả qua các doanh nghiệp và các cơ quan hữu trách của Hoa Kỳ.

- Tại châu Âu, Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng rất tích cực đầu tư và tìm thị trường, nhưng họ rất nghiêm khắc với Trung Quốc vì cái quy chế ấy chứ không nhắm mắt ngậm miệng ăn tiền như Mỹ. Nếu người Mỹ được dân Á châu nhắc nhở về sự sai trái của Trung Quốc và nhất là những thiệt thòi cho bản thân thì họ sẽ có phản ứng. Còn về phương thức đấu tranh khác thì xin nhường cho các đoàn thể chính trị. 
RFI Việt ngữ xin cảm ơn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ.

Thứ Tư, tháng 8 15, 2012

Đạo Luật Canh Nông Hoa Kỳ

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, Ngày 120815
Diễn Đàn Kinh Tế


Mâu thuẫn giữa lý tưởng với thực tế - với kết quả bất công cho xứ khác 




AFP photo - Tổng thống Mỹ Barack Obama (thứ 2 từ trái) 
đến thăm nông tại bắp McIntosh ở Thung lũng Missouri, Iowa, vào ngày 13 tháng 8 năm 2012.


Vì vụ hạn hán trầm trọng tại khu vực Trung Tây Hoa Kỳ và với nhịp độ dồn dập của cuộc bầu cử Tổng thống chỉ còn có tám chục ngày, dư luận nước Mỹ đang lo về việc giá cả nông sản gia tăng và nhu cầu giúp đỡ nông gia Mỹ có thể bị mất mùa thua lỗ. Trong bối cảnh đó, người ta mới để ý đến Đạo luật Canh nông Hoa Kỳ, năm năm lại tái tục một lần. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về dự luật hiện đang chờ đợi Quốc hội Mỹ biểu quyết để thay thế đạo luật Farm Bill năm 2008. Vũ Hoàng cùng trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa của đài Á châu Tự do về đạo luật quan trọng này. 


Chỉ có 2% dân số làm nông

 

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Đạo luật về canh nông và lương thực Hoa Kỳ ban hành năm 2008 sẽ đáo hạn vào tháng tới và Thượng viện cùng Hạ viện Mỹ đang chuẩn bị biểu quyết một đạo luật thay thế, theo thông lệ là năm năm ban hành một lần. Vụ hạn hán lan rộng tại nhiều tiểu bang được coi là "vựa lúa của nước Mỹ" và cuộc tranh cử tổng thống rất gay go và hào hứng năm nay càng khiến người ta chú ý đến văn kiện này. Trong khi đó, các nước khác và các tổ chức quốc tế cũng không quên rằng chính sách canh nông trong nội bộ Hoa Kỳ lại ảnh hưởng rất lớn đến việc mua bán nông sản và lương thực toàn cầu. Ông nghĩ sao về hồ sơ này và có thể trình bày bối cảnh cho thính giả của chúng ta cùng theo dõi được không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng đây là một hồ sơ kỳ lạ với nhiều khía cạnh kỳ cục về chính sách canh nông Hoa Kỳ, được phản ảnh qua đạo luật mà họ gọi là "Farm Bill". Đây là một văn kiện trị giá mấy trăm tỷ đô la do Bộ Canh nông quản lý và có ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực sinh hoạt của Mỹ lẫn nền ngoại thương của các nước khác. Chúng ta hãy nói về bối cảnh trước.

- Thuần về kinh tế, chỉ có chừng 2% dân số Hoa Kỳ là còn sinh hoạt trong khu vực nông nghiệp, nhưng với sản lượng canh nông và lương thực cao nhất thế giới và còn dư để nuôi sống xứ khác. Thuần về chính sách thì sau vụ Tổng khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933, từ năm 1935, người ta định chế hóa chính sách nông nghiệp trong ý hướng giúp đỡ nông gia khỏi bị thiệt hại vì biến động của thị trường. Sau đó, chính sách này còn nhắm vào nhiều mục tiêu khác.

- Ngày nay, nói về "nông dân" thì ta nên nghĩ đến các nông trại bạt ngàn có đầy thiết bị canh tác hiện đại với năng suất cực cao và đến các đại công ty kinh doanh về thực phẩm, chứ không phải các tá điền cầy cấy trên những thửa ruộng nhỏ. Đạo luật Canh nông Hoa Kỳ không đáp ứng yêu cầu của thế kỷ 21 mà sau nhiều năm tích lũy những quyết định của các thời đại khác nhau nên lại trở thành một văn kiện phức tạp, có đầy mâu thuẫn và năm năm lại một lần gây tranh luận lớn.

Vũ Hoàng: Và như ông vừa trình bày, đạo luật này liên hệ đến 2% dân số Hoa Kỳ trong lĩnh vực canh nông nhưng lại chi phối hoạt động xuất nhập khẩu của nhiều quốc gia. Bây giờ, ta khởi đầu từ chuyện nông gia của nước Mỹ.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ phải rất thận trọng khi phân tích hồ sơ canh nông của một quốc gia hậu công nghiệp và có những mối quan tâm hay thể thức quyết định khác hẳn các nước nghèo, nơi mà quyền lợi của nông dân thật ra vẫn chưa được đảm bảo. Chúng ta bước vào một thế giới khác với rất nhiều vấn đề đảo ngược mà mình không nên hiểu lầm.

Thuần về kinh tế, chỉ có chừng 2% dân số Hoa Kỳ là còn sinh hoạt trong khu vực nông nghiệp, nhưng với sản lượng canh nông và lương thực cao nhất thế giới và còn dư để nuôi sống xứ khác.   Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Trước hết, sau khi Tổng khủng hoảng xảy ra, Hoa Kỳ có gần bảy triệu nông trại, ngày nay họ chỉ còn hai triệu, tức là số dân sống trong lĩnh vực nông nghiệp đã giảm mạnh, là điều chúng ta hiểu được. Thứ hai, nhờ tiến bộ về kỹ thuật canh tác và về sinh học, năng suất canh nông Hoa Kỳ đã tăng vượt bậc, gấp ba gấp bốn thời trước. Thứ ba, diện tích canh tác nói chung thì giảm, mà không nhiều bằng dân số sống về nghề nông, với kết quả là người ta có loại nông trại ngày một rộng. 

- Tổng kết về phẩm và lượng thì số nông trại lớn, một năm đạt mức thương vụ trên 250 ngàn đô la, chỉ bằng 12% tổng số nông trại toàn quốc, nhưng sản xuất ra 84% nông sản Hoa Kỳ. Còn lại, 88% các nông trại là loại nhỏ và chỉ cung cấp 16% sản lượng. Khi nói đến trợ giúp nông gia người ta có thể quên rằng chính các nông trại lớn có doanh vụ rất cao lại được hưởng nhiều trợ cấp nhất, trong khi các gia đình có doanh vụ dưới 250 ngàn đô la một năm lại được ít hơn.

Vấn đề trợ cấp người nghèo    



000_GYI0061964227-250.jpg
Một cửa hàng thực phẩm tại New York chấp nhận Food Stamp. AFP photo  

Vũ Hoàng: Ông nêu ra một mâu thuẫn cứ tưởng như chỉ xảy ra trong các xã hội khác mà thôi. Bây giờ, nói về lợi tức thì thành phần gọi là nông dân Mỹ ngày nay sinh sống ra sao. Liệu họ có khổ như nông dân xứ khác hay chăng? 

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Bắt đầu đi vào chi tiết mà tôi mong là thính giả của chúng ta có thể mường tượng ra, nông dân Mỹ thật ra là doanh gia hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, với lợi tức đồng niên cao gần bằng sản lượng của cả nước Việt Nam, năm nay có thể hơn 90 tỷ đô la. Năm ngoái thì còn lên tới gần trăm tỷ.

- Khi ta thấy thế giới than vãn là giá lương thực tăng vọt thì không quên là nông trại hay doanh nghiệp canh nông của Mỹ lại đạt mức lợi tức rất cao. Đã thế, so với các doanh nghiệp khác của Hoa Kỳ, doanh nghiệp canh nông Mỹ lại có mức nợ tương đối thấp hơn cả nhờ giá đất gia tăng dù chúng là loại cơ sở sản xuất dùng nhiều thiết bị chứ không là lao động tay chân nữa.

- Thứ ba là trong kinh doanh thì hiển nhiên phải có rủi ro bất trắc, khi lời khi lỗ nhưng mỗi khi có hoạn nạn vì hạn hán, lũ lụt, sâu rầy, hoặc giá nông sản lên xuống bất ngờ thì người ta lại tìm ra một biện pháp cứu vãn doanh gia nông nghiệp, được viết thành luật. Thế rồi biện pháp nhất thời ấy được duy trì hay tích tụ thêm, nào là trợ giá, nào là bảo hiểm, nào là bảo đảm tín dụng, v.v.... Kết quả là một gánh nặng cho ngân sách, tức là cho người thọ thuế, mà chẳng ai dám gỡ bỏ hay tiết giảm. Ở trên cùng là các đại tổ hợp thu mua và biến chế nông sản thành lương thực, nước uống với khả năng vận động rất cao vào chính sách canh nông của nhà nước.

- Cho nên, người ta có gặp hiện tượng mà kinh tế học gọi là "hậu quả bất lường" là thiện chí cứu giúp nông gia lại bảo vệ quyền lợi cho các nông trại hay doanh nghiệp lớn trong khi các cơ sở nhỏ thì lại khó cạnh tranh hơn. Khi hữu sự, như trong lúc này là vì hạn hán và tranh cử, người ta lại đặt ra yêu cầu cấp cứu nông gia với kết quả có khi lại trái ngược với mục tiêu nguyên thủy. Nhưng đấy chưa phải là vấn đề lớn nhất.

Chế độ trợ cấp lương thực cho dân nghèo hay "Phiếu Thực phẩm", tức là "Food Stamp" chiếm gần 80% của ngân sách và là vấn đề cực kỳ nhạy cảm cho mọi người. Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thế vấn đề lớn nhất trong hồ sơ rắc rối này là gì?  

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong Đạo luật Canh nông có một con voi trắng lù lù nằm giữa mà không ai xoay chuyển nổi là chế độ trợ cấp lương thực cho dân nghèo hay "Phiếu Thực phẩm", tức là "Food Stamp". Nó chiếm gần 80% của ngân sách canh nông và là vấn đề cực kỳ nhạy cảm cho mọi người. Hiện nay, bình quân thì cứ bảy người Mỹ lại có một người được cấp cho phiếu lương thực và nói đến việc cắt giảm khoản trợ cấp này trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì ai cũng ngại. Trước đây quãng bốn chục năm thì cứ 20 người mới chỉ có một người lãnh phiếu trợ cấp thực phẩm mà thôi nên đấy là một vấn đề xã hội mà cũng là một bài toán ngân sách.

- Nhưng ngoài tệ nạn lạm dụng là điều xảy ra ở mọi nơi mọi thời trong mọi thành phần dân chúng, việc ỷ lại vào một nhà nước bao cấp cũng là vấn đề khác. Trong kế hoạch cải tổ chế độ an sinh xã hội thời Chính quyền Bill Clinton vào năm 1996, người ta đã nói đến việc khuyến khích người dân chịu khó kiếm việc làm để khỏi lệ thuộc vào sự trợ cấp của nhà nước. Ngày nay, vấn đề ấy cũng đang xảy ra và 80% dân Mỹ cho rằng những người sống nhờ an sinh xã hội nên cố gắng tự túc. Nhưng muốn như vậy thì phải cải tổ toàn bộ chế độ tem phiếu, là điều dễ gây hiểu lầm là cắt giảm trợ cấp cho dân nghèo. Lập luận này đang được triệt để khai thác trong cuộc bầu cử khi Hoa Kỳ đang bị bội chi ngân sách quá nặng.

Vũ Hoàng: Hình như là ngoài chế độ tem phiếu cho người nghèo và tinh thần tự lực cánh sinh rất truyền thống của nước Mỹ, người ta còn nói đến chế độ dinh dưỡng và nhu cầu cấp dưỡng sữa tươi cho thiếu nhi nữa. Những chuyện ấy có nằm trong Đạo luật Canh nông hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: -Thưa rằng có. Xứ Mỹ văn minh này còn nêu ra yêu cầu là bảo đảm cho các thiếu nhi đi học là phải có sữa tươi và cây trái trong một chế độ dinh dưỡng lành mạnh. Kết quả lại là nhiều chương trình trợ cấp sữa cho các trường học song song cùng việc đảm bảo là giá sữa khỏi sụt, nghĩa là lại tốn vài trăm triệu. Nhưng ít ai liên hệ chuyện ấy với tình trạng mập phì của thiếu nhi vì chế độ ăn uống thật ra cẩu thả của nhiều gia đình. Nghịch lý ở đây là càng nghèo lại càng dễ mập khiến cho một thành phố như New York đã phải đề nghị biện pháp kiểm soát nước uống có quá nhiều đường và ta không quên rằng đường cũng là một nông sản cần bảo vệ!

- Rốt cuộc thì Đạo luật Canh nông bao hàm nhiều tham vọng với hậu quả là cả chục mâu thuẫn giữa lý tưởng với thực tế. Khi kết hợp thêm vấn đề bảo vệ môi sinh, là một lý tưởng khác, thì ta có một con quái vật ít ai kiểm soát được.

 

Cần cải tổ Luật Canh Nông? 

 


000_149950850-250.jpg
Bắp khô do hạn hán tại Hoa Kỳ, ảnh chụp hôm 07/8/2012. AFP photo  

Vũ Hoàng: Đúng như vậy vì hình như các định chế quốc tế như Liên Hiệp Quốc hay Ngân hàng Thế giới có than phiền Hoa Kỳ về chuyện bảo vệ môi sinh này. Thưa ông, đầu đuôi ra sao?   

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hình như là năm năm về trước, khi phân tích Đạo luật Canh nông và nói về vụ khủng hoảng vì giá lương thực, diễn đàn của chúng ta có đề cập tới hồ sơ này.

- Do nhu cầu bảo vệ môi sinh và giảm dần việc xe hơi tiêu thụ xăng dầu nên cứ gây ô nhiễm, người ta nghĩ đến việc chế cất nông sản như ngô bắp thành cồn cho xe chạy. Hậu quả bất lường của tinh thần phát huy công nghệ xanh là... gây thêm ô nhiễm vì muốn có một lượng cồn cho xe chạy thì các nhà máy phải chế biến rất nhiều nông sản và thải ra nhiều độc chất hơn việc sản xuất ra một lượng xăng tương đương. Giới khoa học đã than phiền rằng các dự án phát triển loại năng lượng tái tạo gốc sinh học, tức là nông sản, lại gây thêm ô nhiễm môi trường.

- Nhưng tai hại hơn vậy là vì yêu cầu môi sinh bên trong, kinh tế Mỹ thu mua ngô bắp hay đậu nành, là thực phẩm cho người và gia súc ở xứ khác, nên mới đẩy giá lương thực và thương phẩm trên thế giới. Vì vậy mới gặp phản ứng bất bình từ nhiều định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới hay Cơ quan Lương nông của Liên Hiệp Quốc.

Hoa Kỳ phải làm cuộc cách mạng về tư duy và cải tổ toàn bộ hồ sơ canh nông và trợ giá thì mới ra khỏi khó khăn lưu cữu về ngân sách và không bị các nước đả kích là chỉ nhìn vào quyền lợi của mình. Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa

- Hậu quả tai hại thứ nhì là vì yêu cầu chế cất ra cồn bên trong nội địa, người ta lập hàng rào bảo vệ và thí dụ như gây thiệt hại cho kỹ nghệ trồng mía để làm ra cồn của Brazil. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO phải thụ lý nhiều hồ sơ khiếu nại về chuyện này. Nói chung, hình ảnh mà nước Mỹ toả ra ngoài có những điều đi ngược với lý tưởng hay giá trị đạo đức Hoa Kỳ. Thí dụ như vì muốn bảo vệ nông gia hay môi trường trong lành của mình, Hoa Kỳ có thể gây khó khăn cho xứ khác về giá nông sản và lượng lương thực.

Vũ Hoàng: Câu kết luận của ông cho hồ sơ này là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là năm năm một lần, Hoa Kỳ lại tranh luận về chính sách canh nông và trợ cấp bên trong, với sự tính toán và vận động của nhiều thành phần dân chúng lẫn các trung tâm về lợi ích riêng. Đây là một sinh hoạt dân chủ và cần thiết. Nhưng hậu quả kinh tế và quốc tế về những tranh luận hay quyết định trong nội bộ Hoa Kỳ minh diễn một quy luật kinh tế cơ bản.

- Đó là người ta dễ nhìn thấy cái "được" nhất thời và cục bộ của một thành phần ở nơi đây mà ít thấy cái "mất" trong lâu dài của mọi thành phần khác ở trong và ngoài nước. Một thí dụ mà ta không quên được là trận chiến về cá da trơn của Việt Nam bán vào thị trường Mỹ. Tôi cho rằng Hoa Kỳ phải làm cuộc cách mạng về tư duy và cải tổ toàn bộ hồ sơ canh nông và trợ giá thì mới ra khỏi khó khăn lưu cữu về ngân sách và không bị các nước đả kích là chỉ nhìn vào quyền lợi của mình.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Thứ Ba, tháng 8 14, 2012

Quả Bom LIBOR

Thanh Hà & Nguyễn-Xuân Nghĩa - RFI Ngày 120814
Tạp Chí Kinh Tế RFI  

Tai tiếng về gian lận lãi suất liên ngân hàng LIBOR

 
Trụ sở ngân hàng Barclay tại Luân Đôn. Ảnh chụp ngày 20/07/2012.
* Trụ sở ngân hàng Barclay tại Luân Đôn. Ảnh chụp ngày 20/07/2012. REUTERS/Simon Newman *


“Quả bom” LIBOR, đó là cụm từ báo chí dùng để nói về vụ tai tiếng tài chính đang bao phủ lên hàng chục tập đoàn ngân hàng thế giới. Gian lận trong việc niêm yết lãi suất có lợi cho các ngân hàng nhưng gây nhiều thiệt hại cho hàng triệu người phải đi vay tín dụng. Bốn năm sau khi bị phanh phui, lần này mọi chuyện xuất phát từ kinh đô tài chính châu Âu: Luân Đôn.

Tai tiếng thao túng lãi suất liên ngân hàng là bằng chứng cụ thể cho thấy thị trường tài chính thế giới kể từ sau cơn bão 2008 tới nay vẫn chưa được cải thiện. Các hoạt động tài chính vẫn rất mờ ám và dựa trên sự gian dối của giới ngân hàng.

Đầu tháng 7/2012 thống đốc ngân hàng Anh Barclays, Bob Diamond và tổng giám đốc Jerry del Missier đã phải từ chức sau khi nhìn nhận tập đoàn này thao túng công cụ đo lường các hoạt động tài chính là lãi suất liên ngân hàng LIBOR, trong thời gian từ 2005 đến 2009.

Barclays đồng ý xin nộp phạt 453 triệu đô la để thoát khỏi búa rìu pháp lý của Anh Quốc và Hoa Kỳ. Nhưng dù nộp phạt ban lãnh đạo của Barclays vẫn không khỏi bị truy tố về hình sự. Nhiều ngân hàng lớn khác của thế giới cũng đang trong tầm ngắm của tư pháp. Các tập đoàn Royal Bank of Scotland, Lloyds Bank của Anh, Deutsche Bank của Đức, Bank of America hay CitiGroup của Hoa Kỳ cũng đang bị điều tra. Riêng đối với Pháp, hiện có hai tập đoàn ngân hàng là Société Générale và Crédit Agricole bị tình nghi có tham dự vào vụ tài tiếng tài chính được gọi là vụ “Liborgate” qua lãi suất liên ngân hàng của châu Âu mang tên Euribor Tại châu Á thì nhiều ngân hàng nhật bị dính líu đến xì-căng-đan LIBOR.

Tại Hoa Kỳ bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner bị Quốc hội gọi ra điều trần vì với tư cách Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ New York trước khi tham gia thành phần chính phủ.

Vào tháng 5 2008 nhật báo kinh doanh The Wall Street Journal tại Hoa Kỳ tung ra một kết quả nghiên cứu theo đó một số ngân hàng quốc tế đã có hành vi gian lận khi đề nghị những lãi suất thấp hơn thực tế trên thị trường giao dịch ngoại tệ. Nhưng khi ấy, Hiệp hội Ngân hàng Anh quốc khẳng định rằng dù ở vào hoàn cảnh khủng hoảng tài chính, hệ thống lãi suất gọi là LIBOR vẫn đáng tin vậy. Chẳng những thế, nhiều cơ quan hữu trách về thanh tra ngân hàng cũng phản bác tài liệu nghiên cứu của tờ The Wall Street Journal, rằng các ngân hàng không có gian lận trong việc niêm yết lãi suất này.

Bốn năm sau, khi tình hình kinh tế vẫn chưa sáng sủa và còn bị nhồi vào vụ khủng hoảng của đồng Euro thì lại nổ ra một vụ tai tiếng khác. Trước tiên là việc ngân hàng Barclays của Anh bị các cơ quan hữu trách của Anh, Mỹ phạt gần 400 triệu đô la về tội gian lận các lãi suất khai báo, gọi là LIBOR và Euribor. Sau đó, hàng loạt ngân hàng quốc tế đã bị điều tra tại Mỹ, Anh và Nhật.

Lãi suất LIBOR là gì  các ngân hàng đã thao túng công cụ tài chính này ra sao để chuộc lợi? Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lần lượt trả lời các câu hỏi trên.


RFI: Thân chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa tai tiếng tài chính đang nổi cộm lên từ đầu mùa hè năm nay cụ thể là như thế nào ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đây là một hồ sơ khá chuyên môn nên tôi xin phép phải đi từng bước.
  
- Trước hết, trên các thị trường đầu tư tài chính, người ta phát minh ra nhiều khí cụ đầu tư tinh vi qua việc mua bán lời hứa trong tương lai, như sẽ mua một tờ giấy nợ hoặc một số ngoại tệ trị giá ngần này tiền trong một kỳ hạn nhất định nào đó. Đến thời hạn mà phân lời của giấy nợ hay hối suất của ngoại tệ lại cao hơn hay thấp hơn dự tính thì người đầu tư có thể lời lớn và đối tác ở đầu bên kia thì lỗ nặng. Nôm na thì ta có thể nghĩ đến việc đánh cá, đánh cược về những gì sẽ xảy ra sau này, như phân lời trái phiếu, lãi suất tín dụng hay hối suất hoặc tỷ giá ngoại tệ.

- Chức năng của loại hình đầu tư đó là san sẻ và giảm thiểu rủi ro trên thị trường và thực tế đó là đầu cơ, tức là đầu tư với mức lời cao mà rủi ro lớn. Khối lượng giao dịch trong thị trường đầu tư loại này thực tế đã lên tới mấy trăm ngàn tỷ đô la chứ không ít nên cũng thu hút các ngân hàng tham gia để kiếm lời hoặc phòng ngừa rủi ro trong đầu tư theo kiểu đóng chốt ở cả hai đầu. Trong thị trường đầu tư rắc rối ấy, có loại "biến phiếu" hay "dérivatifs" là các khí cụ đầu tư mà giá trị biến thái từ một thông số chưa biết trước như lãi suất hay hối suất chẳng hạn.

- Năm 1984, các ngân hàng của Anh quốc mới thấy nhu cầu là nên tiêu chuẩn hóa cách tính lãi suất trên một cơ sở tương đối thống nhất vì điều ấy có lợi cho sự giao dịch trong nghiệp vụ đầu tư. Từ những nỗ lực đó, và có phối hợp với Ngân hàng Trung ương Anh quốc, người ta tiến tới việc thiết lập hệ thống lãi suất gọi là LIBOR, là viết tắt từ Lãi suất Liên ngân hàng Anh quốc và ta phải đọc như "lai-bơ".

RFI: Như anh vừa trình bày thì đây là một sáng kiến của các ngân hàng tư nhân Anh Quốc và có tham khảo với Ngân hàng Trung ương của Nhà nước Anh, chứ không là một quyết định của chính quyền?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa là trong nền kinh tế tự do, các hiệp hội tư doanh có thể định ra những quy ước giao dịch miễn là minh bạch và bình đẳng mà những người tham gia cùng chấp nhận. Chính quyền có nhiệm vụ tìm hiểu và xác định giá trị của các quy ước này rồi kiểm soát sự thi hành để bảo vệ quyền lợi của công chúng và sự ổn định của thị trường, chứ không nhất thiết là cơ chế duy nhất có quyền ban hành quy ước sinh hoạt của thị trường.

- Trở lại chuyện lãi suất LIBOR thì đấy là tác phẩm của Hiệp hội Ngân hàng Anh. Hiệp hội là một tổ chức có uy tín được thành lập từ năm 1919 và nay có thành viên là 250 ngân hàng Anh hoạt động tại gần 200 quốc gia trên thế giới. Sau hai năm thử nghiệm thì từ đầu năm 1986 hiệp hội này lập ra hệ thống lãi suất LIBOR.

- Nói cho dễ hiểu thì đây là lãi suất nền tảng mà các ngân hàng dùng để tính như phí tổn cơ bản của nghiệp vụ tài trợ. Trên nguyên tắc thì mỗi ngày, hiệp hội tính ra các lãi suất của 10 loại ngoại tệ thông dụng cho 15 hạn kỳ đi vay từ ngắn nhất là qua đêm đến dài nhất là một năm, rồi đúng 11 giờ rưỡi giờ London gửi qua cho hãng tin Thomson Reuters phổ biến cho thế giới. 

- Căn cứ trên lãi suất chuẩn này, các ngân hàng trên thế giới mới tính ra lãi suất cho các nghiệp vụ tài trợ khác. Nghĩa là Lãi suất LIBOR trở thành tiêu chuẩn tham chiếu cho các thị trường tài chính và xuất xứ của các loại lãi suất hay phân lời của các nước. Đó là một thước đo cho tính toán kinh doanh và chi phối rất mạnh thị trường đầu tư "biến phiếu" như chúng ta vừa nói hồi nãy.

RFI: Bây giờ thì người ta mới thấy rằng cái thước đo ấy không đáng tin. Vì sao từ tháng 5/2008 tờ Wall Street Journal bên Mỹ đã nghiên cứu và nêu vấn đề về sự thiểu khả tín này, mãi đến bây giờ câu chuyện mới bùng nổ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta bước qua phần chi tiết kỹ thuật của cách tính này thì mới hiểu ra sự thể là tại sao: 

- Hàng ngày, 16 ngân hàng tại Luân Đôn, trong đó có cả ngân hàng của Mỹ, thông báo cho Thomson Reuters biết rằng đây là lãi suất mà họ trù tính sẽ trả cho các nghiệp vụ đi vay, từ loại ngắn hạn trong ngày cho đến loại một năm. Thomson Reuters bèn công bố bốn lãi suất thấp nhất và bốn lãi suất cao nhất của nhóm ngân hàng này và số trung bình của tám lãi suất còn lại. Con số trung bình ấy được dùng làm chuẩn để tính ra cỡ 150 thứ lãi suất khác nhau của các thị trường thế giới. Chi tiết nên chú ý ở đây là lãi suất được thông báo chỉ là tiền lời mà ngân hàng trù tính sẽ trả chứ không là tiền lời thực tế đã trả. Nói cách khác, đây chỉ là dự tính hoặc ước tính mà thôi.

- Trong mấy chục năm liền, lối tính đó thường thì khá gần với thực tế nên được mọi nơi, kể cả chính quyền, chấp nhận để tính ra tiền lời của mình, thí dụ như phân lời công khố phiếu. Nhưng đôi khi lối ước tính ấy chỉ là ước đoán hay thậm là dàn xếp và dàn xếp với gian ý.

- Chuyện "đôi khi" này xảy ra trong vụ khủng hoảng tài chính năm 2008. Khi ấy, thế giới lo sợ nạn ách tắc tín dụng và cạn kiệt thanh khoản và thị trường liên ngân hàng thực tế bị đông lạnh vì các ngân hàng hết dám vay nhau dù với bất cứ lãi suất nào. Như vậy thì làm gì có lãi suất nền? Con số đưa ra chỉ là hư cấu mà vẫn được công bố như thường vì nếu không có một cái kim chi nam thì người ta biết là nên chạy theo hướng nào?

- Thực tế thì nhiều ngân hàng đưa ra lãi suất thấp để chứng tỏ tình hình kinh doanh của họ vẫn còn khả quan. Có ngân hàng lại đưa ra lãi suất cao, có thể vì nghĩ đến việc khai thuế thấp hơn sau này. Hiệp hội Ngân hàng Anh không thể không biết về sự thể ấy.

RFI: Thế các ngân hàng trung ương hay cơ quan hữu trách Anh hay Mỹ có biết điều ấy không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Bây giờ mà nhìn lại thì người ta thấy các cơ quan hữu trách tại Anh và Mỹ đều có biết cả. 

- Năm đó, chính Hiệp hội Ngân hàng Anh có thông báo cho cơ quan Thanh tra Tài chính Anh rằng họ gặp vấn đề trong việc ấn định lãi suất. Tổng trưởng Tài chính Mỹ ngày nay là ông Geithner khi ấy là Chủ tịch Ngân hàng Liên bang New York với trách nhiệm kiểm tra các ngân hàng Mỹ tại Wall Street hiển nhiên là cũng biết vì đã gửi thư cho cơ quan Thanh tra Tài chính Anh với đề nghị cải tiến cách tính lãi suất này.

- Bây giờ thì mọi người cứ làm như bị bất ngờ chứ khi đó các định chế có thẩm quyền như Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI hay Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS còn phản bác kết quả nghiên cứu của tờ The Wall Street Journal và nói rằng cách tính lãi suất LIBOR vẫn là thích hợp.

- Chúng ta không quên rằng năm 2008, cả thế giới đang bị một trận bão tài chính, nếu giới hữu trách có tri hô rằng nơi kia bị sạt lở chỉ gây thêm hốt hoảng cho thị trường nên có lẽ mọi người đều nín thinh. Ngày nay, mọi người đùng đùng đổ lỗi cho nhau và các chính khách lại có cơ hội đàn hặc hay can thiệp để chứng tỏ là họ ưu lo cho dân chúng. Tôi nghĩ rằng đây là một hài kịch phi lý.

RFI: Anh vừa đưa ra một nhận xét với nhiều nghịch lý. Thứ nhất, việc ước tính lãi suất ấy có sự mờ ám; thứ hai, các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra có biết mà không làm gì; thứ ba là bây giờ người ta mới tri hô, đổ lỗi và điều tra. Thế là thế nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết là về nguyên tắc thì các thị trường cần có một chỉ số hay dấu mốc tài chính làm cơ sở cho những tính toán về đầu tư hay tài trợ. Thứ hai là về phương pháp thì chỉ số hay lãi suất đó phải xuất phát từ các ngân hàng là tác nhân của hoạt động tài chính trên thị trường, chứ không thể là từ một định chế tài chính trung ương nào đó của thế giới nằm bên ngoài thị trường. Thứ ba, về thủ tục ước tính ra lãi suất đó thì người ta cần có sự minh bạch, là điều thực tế không hề có trong cách tìm ra lãi suất LIBOR, và đấy mới là vấn đề.

- Sở dĩ như vậy, và đây là chuyện đáng quan tâm nhất khi ta nghĩ đến giải pháp cải thiện, là vì các ngân hàng hay giới điều hành ở trên cùng rất khó tìm ra con số thật trong hoàn cảnh hỗn mang của một vụ khủng hoảng thời 2008. Và càng khó cấp bách chọn ra một con số có thể làm cơ sở tài chính của họ bị sạt nghiệp và chính họ bị mất việc. Vì thế, trong khung cảnh thiếu minh bạch của thủ tục tính toán và đầy biến động của thị trường, người ta rất dễ gặp cái nạn dàn xếp với gian ý.

RFI: Làm sao cơ quan hữu trách của các nước và trước tiên là các ngân hàng có thể cải cách hệ thống này?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Yếu tố then chốt ở đây là sự minh bạch rõ ràng để mọi người cùng có thông tin như nhau để mà tính toán một cách bình đẳng hầu không một ai, người đi vay hoặc người cho vay chẳng hạn, lại thủ lợi bất chính. 

- Thứ nhì, khi tính toán như vậy, người ta phải nghĩ đến trường hợp thực tế là giữa cơn khủng hoảng thì thà rằng có một con số mơ hồ thiếu chính xác còn hơn là chẳng có một chỉ số nào cả. Nghĩa là trong cơn bão tố người ta vẫn cần một cái neo. Nhưng làm sao đảm bảo rằng cái neo đó không cứu riêng một ngân hàng mà nhận chìm những người khác xuống nước?

- Các định chế có trách nhiệm sẽ phải tìm ra giải pháp thực tế cho nhu cầu này. Nhưng điều tai hại nhất là khi họ lại nhân đó mà chăng thêm một tấm lưới cứng ngắc trói buộc tất cả các ngân hàng vào với nhau. Nghĩa là nhà nước lại can thiệp và bó chặt thị trường.

- Vấn đề căn bản là phải có hệ thống pháp quyền và luật lệ minh bạch và bình đẳng cho mọi người trong cuộc, với những quy định rõ ràng về các biện pháp chế tài hay trừng phạt khi có vi phạm. Đây là một nhu cầu rất phức tạp và căn bản của viêc định ra luật chơi rõ ràng. Chứ có truy tố hay trừng phạt một vài ngân hàng mà chưa cải cách được thủ tục và phương pháp thì vẫn chẳng giải quyết được vấn đề.

RFI: Xin cảm ơn anh Nghĩa và xin hẹn lại anh tuần tới.



Tư Bản Thân Tộc

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120813
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Thành lũy Wall Street Vẫn Vững Bền

* Tài phiệt Jon Corzine tại Wall Street - cựu Nghị sĩ, cựu Thống đốc Dân Chủ của New Jersey -
một trong các chính khách giàu nhất Hoa Kỳ! Ông đang chủ trì một vụ thua lỗ hai tỷ mà không biết vì đâu. * 


Tư bản thân tộc, "crony capitalism" - hay "tư bản đái quần" nói theo kiểu Trung Quốc - thật ra xuất hiện... trước khi có tư bản chủ nghĩa.

Nó chỉ là hiện tượng "một người làm quan cả họ được nhờ" trong mọi xã hội cổ xưa. Tinh thần cưu mang đại gia đình, hoặc chỉ tin vào người thân hay dân cùng làng cùng họ là điều mà người ta hiểu được. Nhưng khi việc đỡ đần và nhờ cậy nhau trở thành phổ biến thì ta dễ gặp hiện tượng phe phái. Và càng ở trên cao thì càng dễ có cách vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp.

Tại các quốc gia mà vương quyền được coi là tối thượng, việc vận động hay củng cố phe phái - nội thân, ngoại thích, các quan thái giám hay cận thần - quanh ngai vua trở thành một phần cốt tủy của mưu lược chính trị ở mọi nơi. Khi có quyền thì ai ai cũng có thể nghĩ đến lợi. Quyền ở trên đem mối lợi cho người dưới và trên dưới đều xây dựng quan hệ hữu cơ để nuôi nấng nhau.

Ngày nay hiện tượng cấu kết giữa quyền lực chính trị và quyền lợi kinh tế lại tăng gấp bội. Vì mưu thuật chính trị thì vẫn vậy, chứ tiền tài đã hơn xưa triệu lần nhờ kinh tế thị trường.

Tại các nước độc tài theo kinh tế thị trường nhưng dưới định hướng của nhà nước, chủ nghĩa tư bản thân tộc đã thành bản chất. Lý do chẳng có gì khó hiểu vì quyền bính được ban từ trên xuống, còn quyền lợi được dâng từ dưới lên.

Tại các nước dân chủ, vì người cầm quyền là do dân bầu lên, hiện tượng cấu kết khó xảy ra hơn. Mà nếu có thì cũng khó bền vì người dân có thể bầu lại. Với điều kiện là họ biết về tệ nạn cấu kết nhờ truyền thông có quyền tìm hiểu, và khả năng trình bày. Bài này sẽ nói về chuyện đó.

Từ nguyên nghĩa, chữ "crony" tiếng Anh hay "copinage" tiếng Pháp chỉ là bè bạn. Nhưng đi vào chính trường và doanh trường thì chuyện bạn bầy lại mở ra cho tay chân, thân hữu và gia tộc. Vì vậy, người viết xin dịch gọn là "thân tộc". Chứ nếu gọi là "đái quần" (cái dải quần) như Trung Quốc thì độc giả thấy khó hiểu. Hoặc... hiểu ra chuyện bài tiết hay thoát y phẩn dưới thì nguy.

Tại Hoa Kỳ, hiện tượng tư bản thân tộc cũng có, còn gia tăng sau biến động kinh tế của bốn năm qua. Vì năm nay lại có tranh cử, chúng ta nên ngó vào góc tối này.

Qua khảo sát hồi Tháng Bảy của viện Gallup, chỉ có 16% dân Mỹ hài lòng với lưỡng viện Quốc hội. Đây là tin mừng cho các dân biểu nghị sĩ vì Tháng Hai vừa qua, tỷ lệ tín nhiệm chỉ có 10% thôi. Thực tế thì trong các định chế Hoa Kỳ, Quốc hội đứng cuối bảng! Còn tệ hơn bốn thành phần tệ nhất - lần lượt là các HMO, đại tổ hợp, nghiệp đoàn và tài phiệt Wall Street.

Có gì đó quả là không ổn cho nền dân chủ này, mà không chỉ vì bế tắc chính trị do sự đối lập giữa hai đảng đang cố thủ trong hai viện như hai pháo đài. Cứ tưởng rằng chỉ có đám tài phiệt mới là đáng nghi và khó thương, thật ra họ tung hoành được cũng là nhờ chính khách.

Wall Street là tên gọi chung về giới quản trị các ngân hàng lớn nhất, các tổ hợp đầu tư, giao dịch chứng khoán và định chế tài chánh. So với 10 năm trước, ngày nay hỗn danh Wall Street là sản phẩm mất giá nặng nhất trên thị trường công luận, còn thua truyền hình và báo chí, là hai định chế chưa có được 30% dân Mỹ tin cậy! Cuộc thăm dò Tháng Năm của viện Harris còn cho thấy 70% dân Mỹ nghĩ rằng tài phiệt Wall Street sẵn sàng phạm luật nếu tin là có lợi và sẽ thoát tội.

Nhiều phần thì họ vẫn thoát như đã thoát sau những bất cẩn và bất lương khiến hệ thống tài chánh và ngân hàng Hoa Kỳ bị khủng hoảng năm 2008. Lý do là chính Wall Street đã hào phóng yểm trợ các chính khách thuộc cả hai đảng - và nhiều nhất là cho Barack Obama, vào năm tranh cử 2008 lẫn năm nay. Không những vậy, nhiều đại gia Wall Street hay thân hữu của họ đã tham chính từ năm 2009, hoặc ngồi cạnh giới làm luật, hay bên trong Bộ Tư Pháp, kể ra không hết.

Người ta cứ nghĩ đảng Dân Chủ là đảng tranh đấu cho dân nghèo và người thiểu số, có thể lắm! Nhưng đảng này được các tài phiệt chiếu cố tận tình qua những khoản tiền vận động gây chóng mặt. Bên kia đường, đảng Cộng Hoà nhận tiền yểm trợ nhiều nhất là từ giới tiểu thương, nhưng Mitt Romney đang ra tranh cử tổng thống là tài phiệt có lý lịch, và đang bị ghim vào tội này. Đề tài ấy, xin để khi khác, ở nơi khác.

Chuyện đáng chú ý là từ mấy năm nay, ta nghe nói nhiều – dù hết còn thấy – về phong trào "Chiếm đóng Wall Street" và khẩu hiệu bên đảng Dân Chủ là phải triệt hạ thế lực tài phiệt. Vậy mà sau cơn khủng hoảng 2008, tài sản của hệ thống ngân hàng còn tập trung nhiều hơn trước, dưới một Chính quyền Dân Chủ!

Về chuyện tập trung: năm 1994, bốn ngân hàng lớn nhất là Bank of America, J.P. Morgan, Wells Fargo và Citibank nắm gần 12% tổng số tín dụng của cả nước. Đến năm 2000, tỷ lệ tập trung này vượt 21% và qua năm 2007 thì gần 30%. Khi vụ khủng hoảng bùng nổ năm 2008, vì nguyên lý "to big to fail" - các đại gia quá bự ở trên không thể sụp được, nếu sụp thì tiểu doanh ở dưới sẽ chết - chính quyền phải tung tiền cấp cứu cho cả hệ thống khỏi sụp đổ. Kết quả là các đại gia được bơm  mấy trăm tỷ chứ không ít, và thoát nạn.

Nhưng hậu quả ít ai biết là ngày nay bốn tổ hợp đó đã kiểm soát 40% thị trường tín dụng của 10 tiểu bang lớn nhất Hoa Kỳ, một sức tập trung cao hơn năm 2009 đến 10% và gấp đôi con số của năm 2000. Không chỉ nắm nhiều tài sản hơn, các tài phiệt còn có khả năng tác động mạnh hơn.

Sau vụ khủng hoảng 2008, ai cũng nghĩ là phải tăng cường kiểm soát các ngân hàng để khỏi có chuyện bất cẩn hay bất lương khiến dân nghèo bị vạ lây. 

Tháng Bảy năm 2010, Quốc hội bèn biểu quyết đạo luật Dodd-Frank, được Tổng thống Obama ban hành, để "Cải cách Wall Street và Bảo vệ Giới tiêu thụ". Cái tên của đạo luật là từ hai chính khách bảo trợ: Dân biểu Barney Frank và Nghị sĩ Chris Dodd, hai nhân vật Dân Chủ cầm đầu ủy ban tài chính ở hai viện. Nhưng báo chí ít nhắc đến sự kiện là họ được hai cơ sở bán công là Fannie Mae và Freddie Mac ủng hộ tiền bạc rất nhiều trước khi vỡ nợ trong vụ khủng hoảng. Trước vụ khủng hoảng, giới lãnh đạo hai cơ quan này cũng đã từng tham chính từ thời Bill Clinton, nên mới ra cơ sự!

Kết quả của mẻ lưới Dodd-Frank? Chỉ muốn bắt lòng tong cá chốt thôi: các ngân hàng nhỏ ở địa phương chết ngộp vì không có tiền tìm ra luật sự thượng thặng để lách khỏi mấy tầng kiểm soát nên hơn 300 cơ sở âm thầm đóng cửa, nhân viên mất việc. Trong khi ấy, các đại gia vẫn trụ vì có sẵn loại luật sư đắt tiền đó trong túi. Hoặc đã nhét túi tranh cử cho những ai muốn kiểm soát....

Vì vậy, sau cuộc tranh cử năm nay, xin yên tâm là thành lũy Wall Street vẫn vững bền nếu cử tri không thấy ra điều ấy.

Nhưng nói về Hoa Kỳ lại không nhắc đến Trung Quốc thì khí bất công! Cũng xin yên tâm. Vì Trung Quốc vẫn là tấm gương sáng về kinh tế và chính trị.

Kẻ lý luận như vậy trên tờ New York Times (ngày hai Tháng 12 năm ngoái) không là bình luận gia Thomas Friedman quen thuộc về tình thần phục Tầu, mà là người có thẩm quyền: tài phiệt Steven Rattner đầy tai tiếng đã từng phục vụ chính quyền Obama. Mà trong khối nhân lực Wall Street đã đi vào chính quyền, Rattner không là ngoại lệ. Việc họ ngợi ca hay dung túng Bắc Kinh không là hãn hữu. Một đồng một cốt đề huề.

Nói của đáng tội, chỉ tại Trung Quốc ta mới thấy tệ nạn thân tộc được định chế hóa với "Thái tử đảng", thế lực chính trị và kinh doanh của đám con cháu công thần "cách mạng". Nàng Cốc Khai Lai chẳng cô đơn.

Vả lại, nếu có sự gì thì xứ này đã phát minh ra điều kỳ diệu, là phép "đính tội". Có lỡ sa lưới thì thuê người thay mặt ra toà - để vào tù cũng được. Ở nhà, gia đình sẽ được các đại gia chu cấp cho! Việc "mạo danh đính thế" là một nghiệp vụ đầu tư đầy tội nghiệp của dân nghèo xứ này. 

Chẳng phải "kinh tế cũng là chính trị" sao?