Thứ Bảy, tháng 12 08, 2012

Chủ Nghĩa Dân Tộc Và Sức Ly Tâm


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Báo Ngày 121207

Sau cơn địa chấn, nhiều đợt sóng đáy đang nổi lên....

* Lá cờ Catalonia trên lá cờ Liên Âu *

 
Thời sự quốc tế cho thấy một trào lưu mới, xuất phát từ những khủng hoảng liên tục vừa qua. Đó là sự tái sinh của chủ nghĩa quốc gia dân tộc, theo lối suy diễn đáng ngại nhất...

Khi theo dõi thời sự ấy, chúng ta ít thấy ra mẫu số chung của Osaka, Catalonia hay Gaza....

Tại Nhật Bản, ngày 17 Tháng 11, Đảng Thái Dương (Tachiagare Nippon) do ông Shintaro Ishihara thành lập từ năm 2010 đã sát nhập với đảng Duy Tân (Nippon Ishin no Kai) do Thị trưởng Osaka là Toru Hashimoto sáng lập từ Hội Duy Tân Thành phố Osaka để trở thành một đảng ở cấp quốc gia. Họ chuẩn bị tranh cử với hai chính đảng lớn của Nhật là Đảng Dân Chủ (DPJ) và đảng Tự Do Dân Chủ (LDP). Ngày tranh cử sẽ là 17 tháng này.

Ishihara nguyên là Đô trưởng Tokyo, nổi tiếng từ năm 1989 ở chủ trương quốc gia triệt để và gần đây là người châm ngòi cho vụ khủng hoảng với Bắc Kinh khi đề nghị thủ đô Tokyo mua lại ba đảo nhỏ của tư nhân trong cụm đảo Senkaku mà Trung Quốc nhận là của mình và gọi là Điếu Ngư Đài. Toru Hashimoto là lãnh tụ sáng giá và mới nổi từ Osaka, thành phố đứng hạng ba về dân số, và hiện là người được gần hai phần ba cử tri Nhật tin tưởng. Trong khi hai đảng lớn chỉ được khoảng 20%.

Một tuần sau, ngày 24 Tháng 11, đảng Giảm Thuế (Genzei Nippon) của Thị trưởng Nagoya là Takashi Kawamura thảo luận việc thống hợp với đảng Tương Lai (Nippon Mirai no Tō) của Tổng trấn Shiba là bà Yukiko Kada thành một lực lượng thứ ba, cũng  ra tranh cử với hai đảng LDP và DPJ.

Theo chủ trương chống tăng thuế, chống năng lượng nguyên tử, bảo vệ môi sinh và bảo hộ mậu dịch nên chống Hiệp định Xuyên Thái bình dương TPP, cái đảng có tên rất dài là Genzei Nippon - Han TTP - Datsu-Genpatsu o Jitsugen suru Tō chỉ là một chính đảng địa phương, thành lập từ năm 2010. Nhưng Genzei Nippon có ảnh hưởng mạnh từ vụ thiên tai Tohoku vào Tháng Ba năm 2011 khiến động đất và sóng thần gieo họa cho các lò nguyên tử Nhật.

Đảng Tương Lai thì mới thành hình hôm 28 Tháng 11 sau khi kết hợp với 49 đại diện dân cử ly khai từ đảng Dân Chủ, đứng đầu là chính trị gia Ishiro Osawa nổi tiếng đầy tham vọng. Là Tổng thư ký đảng Tự Do Dân Chủ LDP, Osawa tách riêng và trở thành lãnh tụ đảng Dân Chủ DPJ và thất bại vì tai tiếng tham nhũng nên lại đứng thế đối lập nhờ đảng Dân Sinh (Sinh Hoạt của Quốc Dân là Đệ Nhất!) với chủ trương chống tăng thuế và năng lượng nguyên tử. Osawa khai thác tinh thần mị dân để chống đảng Dân Chủ đang cầm quyền và sắp lung lay của Thủ tướng Yoshihiko Noda.

Việc các đảng nhỏ, có tinh thần địa phương, đại chúng và mị dân đang kết hợp nỗ lực để thách đố hệ thống chính quyền trung ương và hai chính đảng truyền thống phản ảnh một sự chuyển động lớn trong xã hội Nhật.

Chính quyền trung ương và các đảng lớn bị bất lực và không thể cải cách cơ chế thư lại già lão sau hai chục năm suy sụp nên gây thất vọng cho dân Nhật. Sự bất mãn kết tụ vào một số đảng địa phương hay các lãnh tụ đầy tham vọng, nhưng cũng chậm rãi đưa Nhật Bản trở lại bài toán cổ điển của lịch sử là sự đối nghịch giữa khuynh hướng trung ương tập quyền và địa phương cát cứ. Chính là nỗ lực thống hợp để xây dựng sức mạnh quốc gia mới dẫn đến chủ nghĩa đế quốc và chế độ quân phiệt trong nửa đầu của Thế kỷ 20, cho tới khi Nhật bị đánh bại trong Thế chiến II.

Ngày nay, bên cạnh sự bành trướng đáng ngại của Trung Quốc, sự kiện nhiều lãnh tụ Nhật còn khơi dậy tinh thần quốc gia dân tộc, và được quần chúng ủng hộ, cho thấy nhiều bất ổn cho cả khu vực Đông Á. Điều này, cử tri Hoa Kỳ không biết mà cũng chẳng cần biết. Nhưng chúng ta thì nên quan tâm.


***

Nếu có chú ý đến thời sự quốc tế, dân Mỹ có vài giây thắc mắc về việc Liên hiệp quốc vừa chính thức công nhận Chính quyền Quốc gia Palestine PNA của lực lượng Fatah do Tổng thống Mahmoud Abbas lãnh đạo trong khu vực gọi là Tây ngạn sông Jordan (West Bank). Họ thắc mắc vì Hoa Kỳ đã chống lại quyết định này mà không cản được.

Thật ra, họ nên quan ngại một chuyện khác.

Lực lượng Fatah chỉ có hư danh trên vùng Tây ngạn vì không lãnh đạo được toàn thể cộng đồng Palestine. Đang giành quyền lãnh đạo sau khi tấn công lực lượng Fatah và tổ chức PNA vào năm 2006 là lực lượng Hamas, hiện kiểm soát Dải Gaza và vừa xung đột với Israel nhờ hỏa tiễn Fajr-5 do Iran cung cấp. Nếu Fatah có chủ trương tương đối ôn hòa thì Hamas là lực lượng quá khích, đã có hành vi khủng bố trong thực tế, và tồn tại nhờ sự yểm trợ của Syria, Iran và lực lượng Hezbollah tại Lebanon.

Nói cách khác, chính quyền Palestine hiện có hai đầu ở hai nơi và dù rằng cả hai đều nhân danh dân tộc Palestine (người Á Rập sống tại Palestine), sự phân hóa ấy gây trở ngại cho việc hình thành một quốc gia Palestine độc lập có thể sống chung – hay không - với quốc gia Israel của người Do Thái.

Khi nhìn về Âu Châu, người ta cũng chú ý đến một tin lạ từ xứ Tây Ban Nha là cuộc bầu cử hôm Chủ Nhật 25 Tháng 11 tại Catalonia.

Khu vực tự trị Catalonia gồm có bốn tỉnh là Barcelona, Girona, Lleida, Taragona với thủ phủ Barcelona, là thành phố lớn thứ nhì của Tây Ban Nha và là một trung tâm thương mại và kinh tế của Âu Châu. Cuộc khủng hoảng tài chánh của khối Euro đã đào sâu mâu thuẫn – và tranh chấp quyền lợi - giữa chính quyền Catalonia với chính quyền trung ương tại thủ đô Madrid. Mâu thuẫn ấy dẫn tới cuộc vận động ly khai để thành hình một nước Calatonia độc lập của dân Catalan, nói tiếng Catalan.

Lãnh đạo Catalonia là ông Artur Mas mới cho tổ chức bầu cử để tăng cường ảnh hưởng của đảng cầm quyền hầu tiến tới một cuộc trưng cầu dân ý về việc ly khai hay không. Cuộc bầu cử không đem lại kết quả như ông mong muốn, và ngay trong nội bộ khuynh hướng ly khai cũng có nhiều mâu thuẫn. Nhưng đa số dân Catalan hiện đang muốn là công dân một nước độc lập.

Sự kiện ấy khiến người ta để ý đến trường hợp nước Bỉ, một quốc gia tập hợp hai sắc dân có chung một lãnh thổ mà nhìn về hai hướng. Dân Flemish (60%) ở phía Bắc thì gần với Hoà Lan về văn hóa và ngôn ngữ; còn dân Walloons (40%) thì gần với Pháp. Từ nhiều năm nay, mâu thuẫn sắc tộc đã gia tăng tại Bỉ khiến chính quyền gần như bị tê liệt tại thủ đô Bruxelles và gây tê liệt cho cả chính quyền Liên hiệp Âu châu tại thủ phủ Bruxelles.

Liên Âu vốn dĩ đã bị khủng hoảng vì khối Euro. Câu chuyện Tây Ban Nha và Bỉ mới khiến người ta quay trở lại vụ Euro.

Vụ khủng hoảng Euro đào sâu mâu thuẫn giữa 17 thành viên đã thống nhất tiền tệ mà không thống nhất về chính trị để có một chính sách kinh tế và ngân sách chung. Trong nội bộ khối Euro đã có mâu thuẫn giữa các nước lâm nạn, đa số ở miền Nam, với các nước giàu mạnh hơn ở miền Bắc. Vụ khủng hoảng còn phơi bày những dị biệt giữa 17 nước thuộc khối Euro và 10 nước còn lại của Liên hiệp Âu châu.

Khi bất mãn về những dàn xếp tất nhiên là bất toàn, người ta thường có phản ứng lui về quá khứ, với giấc mơ lãng mạn của thời rau cháo có nhau trong một cộng đồng dân tộc, trước khi các thế lực khác bước vào làm đảo lộn cuộc sống.

Nghĩa là chủ nghĩa dân tộc trở thành một cám dỗ lớn.

Nó cũng giải thích sự lớn mạnh của xu hướng cực hữu và bài ngoại ngay tại các nước Pháp, Đức hay Hung Gia Lợi. Chủ nghĩa dân tộc ấy cho phép người ta giải thích và quy tội cho ai khác về những khó khăn của mình: chúng ta mất dần quyền lợi, bản sắc và việc làm vì người khác, đến từ Bắc Phi, Trung Đông hay Đông Âu...

Vụ khủng hoảng Euro đào sâu những khác biệt sắc tộc và địa phương trong cộng đồng Âu Châu. Sự khác biệt ấy có thể dẫn đến mâu thuẫn và xung đột nếu khuynh hướng cực hữu thắng thế. Tức là có khi Âu Châu lại rơi vào nghiệp cũ, chẳng khác gì những xung đột giữa các nước Châu Á.

Vì giới hạn của trang báo, bài viết này chưa thể đề cập tới những vấn đề tương tự mà còn trầm trọng hơn về địa dư và sắc tộc của Liên bang Nga và Trung Quốc. Xin để kỳ khác....


***


Tuy nhiên, trong sự chuyển động đáng ngại ấy, chúng ta cũng nên liếc về Việt Nam.

Nếu có ai đó chủ trương xây dựng các khu vực tự trị - thí dụ như tại Ninh Thuận cho người Chàm, tại Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên) cho người Thượng, tại An Giang Châu Đốc cho người Khmer Krom (người Việt gốc Miên), hoặc nên giành vùng Thượng du Bắc Việt tiếp giáp với Trung Quốc cho các sắc dân thiểu số – thì chúng ta có thấy rợn mình về an ninh của Việt Nam không? Đây chẳng là gỉả thuyết mà đang lặng lẽ xảy ra.

Nếu tìm hiểu thì mình có thể thấy bàn tay Bắc Kinh đằng sau trò chơi xé xác này.

Các chế độ độc tài thường chủ quan duy ý chí cải tạo xã hội và tiêu diệt bản sắc thiểu số để mọi cộng đồng đều sống đồng dạng dưới sự cai trị của một đảng. Chế độ cai trị này gây ra khủng hoảng và khi vòng đai nhất thống bị đánh bung thì phản ứng dội ngược là tinh thần quốc gia hay dân tộc có thể dẫn đến phân hóa và nội chiến. Chúng ta đã thấy chuyện ấy từ khi Liên Xô sụp đổ hoặc Nam Tư tan rã. Đấy là chuyện cũ, của 20 năm trước.

Chuyện mới là ngay trong các nước dân chủ, như Nhật Bản, Tây Ban Nha và nhiều xứ Âu Châu, phản ứng quốc gia và tinh thần dân tộc cũng đang mở ra nhiều cuộc phiêu lưu đáng sợ trong màu hồng của những mơ tưởng lãng mạn. Ở cuối chân mây có thể là chủ nghĩa phát xít, quân phiệt.

Đấy mới là chuyện đáng lo. Nhưng đang vượt ra khỏi sự quan tâm của nước Mỹ và nhiều người Việt.

Thứ Tư, tháng 12 05, 2012

Thuyết Đấu Trí

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 121205

Liều thì được, sợ thì thua - Nhưng ai thua ai dược? 


* AFP photo - Nhà toán học Thomas C. Schelling nói chuyện với sinh viên 
tại trường Đại học Maryland sau khi ông được trao giải thưởng Nobel Kinh tế 
cho việc sử dụng lý thuyết đấu trí để giải quyết xung đột hôm 10 Tháng 10 năm 2005. *


Trong một chương trình chuyên đề cách đây hai tuần, chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa đã trình bày các xảo thuật thương thuyết của Trung Quốc. Nội dung của tiết mục này được nhiều thính giả chú ý, và câu hỏi được nêu ra là các nước có thể làm gì để ứng phó với động thái của lãnh đạo xứ này?

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Hôm 21 Tháng 11 vừa qua, ông có phân tích các thủ thuật đàm phán ngoại giao và thương thuyết kinh tế của lãnh đạo Trung Quốc với nhiều nhận xét gây chú ý về nỗi khó khăn của các nước trong tiến trình hợp tác với Bắc Kinh. Trong hoàn cảnh đó, thưa ông, thính giả của chúng ta muốn biết các nước đối tác có thể làm gì khi thương thuyết với Trung Quốc hầu bảo vệ được quyền lợi của họ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Để tìm hiểu câu trả lời, tôi xin tự giới hạn trong phạm vi thương thuyết về kinh tế hay kinh doanh hơn là về ngoại giao. Nhưng cũng xin nhấn mạnh ngay từ đầu, rằng mọi việc thương thuyết dù là ngoại giao hay kinh tế, đều bị chi phối bởi chính trị, là yếu tố mà ta không thể xao lãng. Khi nói đến chính trị, ta không quên rằng kinh tế chính là chính trị, và trước Marx trăm năm, có lẽ cha đẻ của môn kinh tế học là Adam Smith đã sớm nói đến "kinh tế chính trị học". Cho nên khi đàm phán về kinh tế hay kinh doanh, về các hồ sơ người ta gọi là "vĩ mô" hay "vi mô", chúng ta không thể bỏ qua yếu tố chính trị.

- Sở dĩ như vậy, và đây là chuyện đáng lưu ý nữa, các nước nói chung đều tham gia hợp tác và đàm phán cho việc hợp tác trong môi trường lý tưởng là có pháp quyền, với tinh thần minh bạch tôn trọng các luật lệ và cam kết. Sự thể thực tế thường không được như vậy và càng không hề có với Trung Quốc. Một thí dụ cụ thể là chủ trương của Bắc Kinh trong các hợp đồng khai thác và mua bán một sản phẩm tối cần thiết cho công nghiệp là đất hiếm, khi họ sẵn sàng bội tín để ấn định hạn ngạch xuất khẩu hoặc thay đổi giá biểu đã cam kết trước đó. Khi các nước phải tìm ra nguồn cung cấp khác về đất hiếm thì Bắc Kinh liền đổi giọng. Chính là sự yếu kém của các nước cũng tạo ra sức mạnh thương thuyết của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Ông nói như vậy thì ai cũng ngại, nhất là ở tại Việt Nam vì là một nước láng giềng nghèo và yếu hơn, đang bị Trung Quốc uy hiếp về nhiều mặt, lại do một đảng Cộng sản lãnh đạo mà đảng này lại coi lãnh đạo Bắc Kinh như một đồng chí về ý thức hệ.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng thế, nhưng cũng chính vì vậy mà mình càng phải nói ra để thấy được đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả khi phân tích nghệ thuật đàm phán hay đấu trí với Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Ông nói đến "đấu trí" vì nghĩ rằng việc đàm phán chính là đấu trí?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa ông, câu trả lời của tôi gồm có hai phần, truyền thống và hiện đại.

- Thứ nhất là về truyền thống thì người Việt đã có hơn hai ngàn năm đấu trí để tồn tại và còn giành lại độc lập sau ngàn năm Bắc thuộc. Kinh nghiệm tích lũy đó đã trở thành một phần hồn của dân tộc và là một kho kiến thức của tập thể mà mình nên nhắc lại và giáo dục cho các thế hệ. Phải nói rằng ít có dân tộc nào lại có nhiều kinh nghiệm ứng xử trong một chiều dày văn hóa và lịch sử như vậy. Cho nên những gì đang xảy ra từ mấy chục năm nay, từ khi có đảng Cộng sản Việt Nam được thành hình trong lãnh thổ của Trung Quốc, chỉ là một giai đoạn ngắn mà thôi.

- Thứ hai và về chuyện hiện đại thì tôi muốn nhân dịp này nhắc đến giải Nobel Kinh tế năm 1994 của ba học giả được giải thưởng vì lập ra một học thuyết về cách đấu trí. Người ta hay gọi đó là "thuyết trò chơi" do phiên dịch chữ "game theory" mà tôi xin phép dịch khác đi thành "thuyết đấu trí". Nếu áp dụng thuyết này thì ta có thể nhìn ra cách đàm phán thắng lợi với Trung Quốc.

 

Thuyết Đấu Trí là gì?


000_APH2003021833266-250jpg.jpg
Nhà toán học John Nash được trao giải Nobel Kinh tế vào năm 1994. AFP photo   

Vũ Hoàng: Quả là ông hay có lối dẫn nhập hấp dẫn! Ông nói rằng có một thuyết đấu trí đã được giải Nobel về kinh tế trong khi đa số chúng ta thường chỉ nghĩ đến thuyết trò chơi trong phạm vi toán học thôi. Rồi ông còn cho rằng ta có thể áp dụng thuyết này khi đàm phán với Bắc Kinh. Đầu tiên, xin ông trình bày khái quát và thật dễ hiểu nội dung của cái thuyết đấu trí này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, để các thính giả trẻ tuổi hay những ai quan tâm có thể tìm lên ngọn nguồn, xin nói rằng ba học giả đã lãnh giải Nobel Kinh tế 1994 là nhà toán học John Nash, và hai kinh tế gia là John Harsanyi người Mỹ gốc Hung-Áo và Reinhard Selten người Đức gốc Do Thái. Thuyết đấu trí của họ về sau được gọi là "Mô hình Nash/Harsanyi" vì ông Nash viết ra khi còn là sinh viên toán và ông Harsanyi giải thích cho tinh vi hơn về mặt tâm lý và kinh tế. Về nội dung thì tôi xin được tóm lược với ví dụ minh diễn như sau. 

- Thứ nhất, cuộc đấu trí hoặc đàm phán có nhiều đối tác chứ không chỉ có hai người, thí dụ như Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn và Hoa Kỳ, tức là có 14 nước. Thứ hai là trong tập thể ấy, hãy tưởng tượng đến giải pháp thương thuyết của từng cặp hai nước, ví dụ như Mỹ với Việt Nam, Miên với Lào, Nhật với Trung Quốc, căn cứ trên quan hệ song phương của họ. 

- Bước thứ ba là nghĩ đến thế liên kết đa phương để từng nước tranh thủ hay đấu tranh với nhau, ví dụ như giữa ba nước dân chủ theo kinh tế thị trường là Mỹ, Nhật, Hàn, hoặc giữa ba nước Đông Dương Việt, Miên, Lào bên cạnh Trung Quốc. Từ đó thì từng nước hay từng đối tác đã có nhiều chiến lược khác nhau trong tinh thần biến hoá là liên kết hay đối lập với nhau, kể cả chiến lược hăm dọa có thể sử dụng, thí dụ như những thiệt hại khả dĩ xảy ra nếu không đạt nổi đồng thuận.

Vũ Hoàng: Như ông vừa trình bày thì không chỉ có hai xứ, ví dụ như Việt Nam và Trung Quốc, đang đàm phán với nhau mà ngay trong cuộc đàm phán này còn có nhiều nước khác cũng liên hệ và có thể làm thay đổi chiến lược của từng nước. Tức là ta phải nghĩ rộng ra ngoài và vận dụng được các nước khác làm lợi thế thương thuyết của mình vì mở ra nhiều chiến lược khác. Nhưng ông cũng nói đến cả chiến lược hăm dọa, ví dụ như nêu ra những thiệt hại nếu không có thoả thuận và việc đàm phán tan vỡ. Đấy là chuyện gì vậy, thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ trở lại cái điểm hăm dọa ấy vì đấy là nội dung chủ yếu của trò đấu trí này.

- Tôi xin trình bày tiếp là sau khi tính ra những chiến lược khác nhau mà từng nước có thể áp dụng khi đàm phán thì mình vẫn trở lại chuyện thế và lực. Tức là từng nước phải nghĩ đến các phương tiện kinh tế hay quân sự mà họ có thể huy động được từ bên trong, hoặc vận dụng từ các nước liên kết khác ở vòng ngoài. Thí dụ như trong vụ Hoàng Sa Trường Sa hay việc đầu tư khai thác năng lượng ngoài thềm lục địa của Việt Nam, người ta không chỉ có Hải quân Việt Nam đối diện với Hải quân Trung Quốc có bộ chỉ huy ở huyện Tam Sa mà còn có hải quân của các nước khác, hoặc không chỉ có tập đoàn dầu khí CNOOC của Bắc Kinh với các tổ hợp dầu hỏa Mỹ mà còn có nhiều quyền lợi kinh tế khác của ASEAN, Ấn Độ, Nhật, Nga, v.v...

- Bước thứ sáu là trong lối tính toán về huy động và vận dụng ấy, mình phải nghĩ đến quyền lợi có thể chia cho nước khác căn cứ trên sự đóng góp của họ, chứ thế gian không có chuyện hợp tác hay yểm trợ miễn phí. Sau cùng và quan trọng nhất trên một trận thế có rất nhiều giải pháp và chiến lược khả dụng, từng nước phải châm thêm yếu tố rủi ro, hoặc khả năng chịu đựng rủi ro, trong cách tính toán về quyền lợi của mình. Nếu chỉ nghĩ đến giải pháp ta cho là thuận lợi nhất mà không lý đến rủi ro hay thiệt hại thì mình bị nhược điểm duy ý chí trong cuộc đấu trí. Tôi biết là sự tình này rất phức tạp và khi vào cuộc thương thuyết thì phải vẽ ra một trận đồ bát quái.

- Trong truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa mà nhiều người Việt mình đã gần như thuộc lòng có đoạn mô tả Gia Cát Khổng Minh giả bệnh mà không lâm triều khiến Hậu chúa Lưu Thiện rất lo sợ vì có sáu đạo quân đang hăm he tấn công Tây Thục. Qua cách thêu dệt của tác giả, ta thấy ra Khổng Minh đã vẽ trong đầu cả một cuộc cờ để đẩy lui sáu đạo quân này. Chuyện hiện đại là ngày nay người ta còn cố gắng định lượng từng yếu tố để cân nhắc rủi ro so sánh với lợi ích của cả trận đồ hầu giảm thiểu được sự chủ quan và nhất là đánh giá đúng sự hăm dọa về thiệt hại.

 

Nghịch lý của thuyết đấu trí  



000_Hkg7588591-250.jpg
Người dân Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc bị công an canh gác chặt chẽ. AFP photo 
Vũ Hoàng: Nếu chúng tôi hiểu không lầm thì trong cuộc đấu trí này, người ta cần nghĩ đến nhiều tác nhân chứ không chỉ có hai nước trong cuộc và cái lợi luôn luôn đi cùng cái hại, và yếu tố ông gọi là rủi ro ấy có giữ một vai trò quyết định. Thưa ông có phải như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng thế và mô hình đấu trí Nash/Harsanyi nêu ra một nghịch lý đáng chú ý. Đó là người ta thường lầm tưởng rằng trong cuộc đàm phán như vậy, đôi bên đều biết tiến và lùi để sau cùng nhường nhau một phần quyền lợi hầu đạt được một tỷ lệ chia chác hay nhượng bộ quân bình là 50-50, tức là đôi bên cùng có lợi, còn hơn là chẳng được gì, tức là mất cả. Nghịch lý ở đây là trong mọi cuộc đấu trí, duy nhất có một kết quả chung cuộc là tỷ lệ 65-35, tức là một phe lại được nhiều hơn. Ông Harsanyi giải thích nghịch lý mà nhà toán học John Nash tìm ra, đó là vì một phe có khả năng chịu đựng rủi ro thấp hơn và vì sợ mà nhượng bộ nhiều hơn. Chúng ta trở lại khả năng hăm dọa và xảo thuật thương thuyết của Trung Quốc.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì có lẽ thính giả của chúng ta hiểu ra cái điểm mà ông nhấn mạnh, đó là sự sợ hãi của các nước, như sợ lỗ, sợ khổ, sợ chiến tranh, mới giúp Bắc Kinh đạt lợi thế. Và xảo thuật thương thuyết của Trung Quốc như ông trình bày kỳ trước là liên tục gây sức ép về đủ loại vấn đề làm đối phương rối trí và mệt mỏi nên không thẩm định được sự rủi ro cho chính xác.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa nôm na là họ biết tháu cáy và dọa già nên có cái thế lớn hơn cái lực, trong khi ấy, ở bên trong họ lại rối trí vì rất nhiều vấn đề nội bộ. Thực chất của vấn đề là Trung Quốc có nền kinh doanh ăn cắp, nền kinh tế ăn cướp và chính sách đối ngoại bá quyền bao trùm lên sự ung thối trong nội tạng mà vẫn cứ làm ra vẻ văn minh hiếu hòa trong đàm phán. Nếu các nước nhìn ra bản chất ấy và không nhượng bộ mà cũng chẳng hãi sợ thì chính lãnh đạo Bắc Kinh sẽ lùi vì họ biết ra và rất khéo vận dụng quy luật "mềm nắn rắn buông".
Nghịch lý ở đây là trong mọi cuộc đấu trí, duy nhất có một kết quả chung cuộc là tỷ lệ 65-35, tức là một phe lại được nhiều hơn. Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Trở lại chuyện Việt Nam, ta thấy lãnh đạo xứ này có mức chịu đựng rủi ro thấp hơn vì sợ bị mất quyền và sẵn sàng nhượng bộ để tìm lợi riêng. Đây không phải là một sự phê phán võ đoán mà là thực tế khi lãnh đạo Việt Nam ngăn cản và cầm tù những ai biểu tình kết án Trung Quốc. Đáng lẽ phản ứng đó của người dân tạo thêm lợi thế quốc gia và quốc tế cho Việt Nam khi cần đàm phán vì phơi bày bản chất của Trung Quốc và dễ huy động công luận thế giới. Lý do là Trung Quốc có nhược điểm là cái danh, là nỗi sợ hãi bị mất thể diện. Và căn bản nhất, kinh tế xứ này rất cần thế giới chứ không thể bế môn tỏa cảng hay tự tung tự tác ở bên trong. Vi thời lượng có hạn, chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội khác để đi vào từng chuyện cụ thể.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc trao đổi này.


Thứ Ba, tháng 12 04, 2012

Khi Vào Húng Hắng



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt 121203
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"


Chuyện hướng nội và hướng ngoại của Hoa Kỳ   

 * Trước là đẹp mặt... *


Tổng thống Barack Obama đã tái đắc cử và đảng Dân Chủ chiếm thêm nghế trong Quốc hội dù kinh tế chưa khởi sắc, thất nghiệp còn cao và lợi tức trung bình của người dân bị sụt trong nhiệm kỳ đầu của ông. Người ta đã luận bàn về các nguyên nhân của nghịch lý này. Do tài năng của đảng Dân Chủ hay khiếm khuyết của đảng Cộng Hoà? Vì sự chuyển dịch dân số và đổi thay văn hoá khiến thiểu số da màu và các đề tài xã hội như thuốc ngừa thai hay quyền hôn nhân đồng tính đã có ảnh hưởng hơn xưa? Câu trả lời thật ra chỉ có ích cho cuộc tranh cử tới. Riêng người viết vẫn trở lại truyền thống tự bắn vào chân rồi tự vả vào miệng của phe Cộng Hoà, được trình bày từ đầu năm nay qua bài "Bầy voi Donner và cuộc hành trình bi hài của đảng Cộng Hòa..." (số ra ngày 30 Tháng Giêng).

Hãy để bầy voi dày xéo nhau mà ngó về tương lai.

Hoa Kỳ xoay về chốn cũ với hệ thống chính trị hai đầu. Đảng Dân Chủ kiểm soát Hành pháp và Thượng viện, đảng Cộng Hoà giữ đa số tại Hạ viện và chiếm 30 ghế Thống đốc của 50 tiểu bang. Tình trạng lưỡng cực ấy tiếp tục cuộc tranh luận về ngân sách và nội trị, với biệt tài của Obama và đảng Dân Chủ là dấy lên tinh thần tranh cử trong quần chúng. Và như mọi khi, đảng Cộng Hoà sẽ lại mắc bẫy nữa. Chuyện hai phe giằng co bên bờ vực ngân sách là hài kịch thời sự.

Nhưng trong bốn năm tới, Tổng thống Barack Obama sẽ dẫn nước Mỹ về đâu?


***

Theo truyền thống, Tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ hai đã thoát khỏi bài toán chính trị của nhiệm kỳ đầu là phải tái tranh cử. Ông có thể nghĩ đến sự nghiệp lịch sử của mình cho hậu thế.

Hiến pháp Hoa Kỳ có một ưu điểm của nền cộng hòa là không cho Tổng thống quá nhiều quyền lực vì phải thỏa hiệp với lưỡng viện Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Ngân hàng Trung ương và các Thống đốc tiểu bang, trước sự phán xét của thị trường. Riêng trong trường hợp hiện nay thì đó là sự phán xét của các chủ nợ, giới đầu tư toàn cầu trên thị trường trái phiếu. Họ đang làm chủ một khoản nợ cao bằng Tổng sản lượng nội địa của Hoa Kỳ.

Khi rơi vào ách tắc vì phải chia quyền với các cơ chế khác trong hồ sơ nội chính như kinh tế hay xã hội, các Tổng thống thường nhìn ra ngoài. Lãnh vực đối ngoại là nơi mà Hiến pháp cho họ nhiều quyền hạn hơn. Barack Obama là một ngoại lệ.

Ngay từ nhiệm kỳ đầu, ông đã muốn cải tạo xã hội. Bất chấp khó khăn kinh tế - của vụ suy trầm cuối năm 2007 và nạn vay mượn quá nhiều từ quá lâu nên đến hồi phải trả nợ trong một vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008 và nạn Tổng suy trầm 2008-2009 - ông thúc đẩy các đạo luật cải tạo xã hội, như bảo vệ môi trường xanh hay cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế, và lồng trong kế hoạch tăng chi ngân sách tới mức kỷ lục nhiều mục chi có chủ đích xã hội. Phản ứng của cử tri trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào Tháng 11 năm 2010 giúp đảng Cộng Hoà chiếm lại Hạ viện. Nhưng biến cố mà chính Obama khi đó gọi là "tan tành", shellacking, chỉ mở ra hai năm bế tắc và dẫn tới ngày nay. 

Việc đảng Dân Chủ không thua đậm mà lại thắng tại Quốc hội và Tống thống Obama tái đắc cử càng khiến ông vững tâm hoàn tất cuộc cách mạng để làm thay đổi nước Mỹ, tương tự như Lincoln, Roosevelt hay Reagan. Đây là sự cám dỗ lớn cho một người muốn có sự nghiệp lịch sử. Mà nếu Obama có nghĩ như vậy thì không sai vì đa số cử tri tín nhiệm ông hơn là ứng cử viên Cộng Hoà về hồ sơ đối ngoại: Hoa Kỳ đã triệt thoái khỏi Iraq và sẽ ra khỏi Afghanistan sau 10 năm chinh chiến đầy hao tốn. Và nhất là khéo tránh cho nước Mỹ nhiều mìn bẫy của thế giới.

Thay vì "xây dựng quốc gia" cho xứ khác, Obama sẽ xây dựng lại xã hội Hoa Kỳ.  


***

Nhưng từ bên ngoài, thế giới không để Hoa Kỳ thử nghiệm việc xoá và xây theo kiểu Obama.

Cuộc cách mạng dân chủ trong khối Á Rập Hồi giáo – "Mùa Xuân Á Rập" – có thể đã bị cưỡng đoạt và khu vực từ Bắc Phi qua Trung Đông đến Trung Á sẽ thành một chuỗi dài khủng hoảng. Từ Dải Gaza, Israel đến Syria, Egypt, Iran và cả Pakistan, nhiều sự biến sẽ bất ngờ đánh thức Obama "vào ba giờ sáng", theo lối ví von của Ngoại trưởng Hillary Clinton khi bà còn là Nghị sĩ tranh cử với Obama trong vòng sơ bộ của đảng Dân Chủ năm 2008.

Các quốc gia đang phát triển, đồng minh hay đối tác kinh tế của Hoa Kỳ, cũng chẳng thoải mái với khuynh hướng bảo hộ mậu dịch nay đang thắng thế tại Mỹ. Giữa các khó khăn kinh tế toàn cầu, xứ nào cũng đều tận dụng đòn bẩy xuất cảng mà không thể xuất cảng hàng hóa lên Nguyệt cầu hay Hỏa tinh. Vì phải bán hàng để thoát hiểm, các nước sẽ không để Hoa Kỳ tự biên tự diễn luật chơi kinh tế và chiếm lại ưu thế về ngoại thương.

Sự cưỡng chống đó thể hiện rõ rệt nhất tại Đông Á, nơi mà thế lực đang lên là Trung Quốc đã thành bạn hàng số một của các nước. Hoa Kỳ vừa mất ưu thế truyền thống là thị trường của thế giới lại gặp sức ép rất mạnh từ Trung Quốc. Mà sức ép này không chỉ thể hiện qua các cuộc đàm phán song phương về ngoại thương với Nhật Bản, Nam Hàn, khối ASEAN hay qua Hiệp định Đối tác Chiến lược Xuyên Thái bình dương TPP, là nơi mà Hoa Kỳ gặp thế yếu hoặc không muốn xây dựng thế mạnh vì những ưu tiên khác của Obama.

Sức ép của Trung Quốc được mở ra hướng quân sự và an ninh và đẩy các nước Đông Á vào thế phải chọn lựa.

Chính quyền Barack Obama nói đến việc "chuyển trục về châu Á" sau khi tưởng là sẽ rút chân khỏi cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo. Nhưng từ nói đến làm không chỉ là khoảng cách về thời gian mà còn là sự khác biệt giữa thế và lực. Sau khi trù tính đưa thêm Thủy quân Lục chiến vào Darwin của Úc, tăng phái phương tiện cho Nhật Bản tại căn cứ Okinawa và mở rộng phạm vi trách nhiệm của căn cứ Guam ngoài biển Thái bình, Hoa Kỳ xoay vào trong để cãi cọ về ngân sách quốc phòng và về nhu cầu chiến hạm.

Sự khác biệt giữa thế và lực nằm ở vài con số có tính chất giải ảo: Hoa Kỳ có sản lượng kinh tế bằng 23% của thế giới. Sức mạnh kinh tế ấy bị soi mòn vì gánh nợ quá lớn - và còn gia tăng đột ngột trong nhiệm kỳ đầu của Obama - và lại phải cáng đáng một ngân sách quốc phòng cao bằng 45% của toàn cầu. Lực bất tòng tâm!

Muốn dồn 60% phương tiện Hải quân qua châu Á vì nhu cầu "chuyển trục", Hoa Kỳ chỉ còn 40% cho các khu vực còn lại, kể cả Trung Đông, Địa Trung Hải và địa bàn phòng thủ của Minh ước NATO. Trong khối NATO, các nước Âu Châu đều khéo lấy sức Mỹ là chính, để giữ vai ngự sử về đối sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Tuần qua, lá phiếu của họ trong vụ Liên hiệp quốc công nhận Chính quyền Quốc gia Palestine - ngược với yêu cầu của Mỹ - là một nhắc nhở về tình nghĩa đồng minh! Với Âu Châu đó, làm sao nói chuyện phải quấy với Trung Quốc hay Liên bang Nga?

Mà Âu Châu thì chưa ra khỏi khủng hoảng với hậu quả sẽ dội ngược vào kinh tế Hoa Kỳ, nằm dưới vực thẳm ngân sách hay chưa....

Tổng thống Obama chuẩn bị cải tạo nước Mỹ và không muốn lý vào thiên hạ sự theo kiểu hung hăng của George W. Bush. Nhưng ông sẽ bị bất ngờ và có khi lại lấy quyết định bất lường như nhiều người tiền nhiệm, từ Truman đến Kennedy, Johnson, hay cả W. Bush. 

Kịch bản lạnh mình.

Chủ Nhật, tháng 12 02, 2012

Thương Mại Mỹ-Việt

Nguyễn-Xuân Nghĩa / Trọng Nghĩa RFI Ngày 121202

Ống thép Việt Nam tránh được một đòn trừng phạt của Mỹ

Sản phẩm thép ống sản xuất tại Công ty thép SeAH Steel 
* Sản phẩm thép ống sản xuất tại Công ty thép SeAH Steel - Nguồn: vietstock *


Ngày 14/11/2012, Hội đồng Thương Mại Quốc Tế ITC của Hoa Kỳ đã ra một phán quyết mà Bộ Thương Mại Mỹ sẽ phải chấp hành. Đó là không được áp dụng biện pháp trừng phạt trên các ống thép từ bốn quốc gia xuất khẩu vào Mỹ, trong đó có Việt Nam, như yêu cầu của một số doanh nghiệp sản xuất của Mỹ.

Vì sao một cơ quan độc lập của Mỹ có một quyết định đi ngược với yêu cầu của các doanh nghiệp Mỹ mà Bộ Thương Mại Hoa Kỳ sẽ phải tuân thủ? Từ Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích thêm về câu chuyện lý thú và hy hữu này.

RFI: Xin chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa anh, International Trade Commission ITC của Hoa Kỳ có một phán quyết mà Bộ Thương Mại Mỹ phải chấp hành : Không được phép có biện pháp trừng phạt trên ống thép của bốn quốc gia nhập vào Mỹ, trong đó có Việt Nam. Phán quyết của Hội đồng ITC có nghĩa là Bộ Thương Mại Hoa Kỳ sẽ không có biện pháp áp giá và trừng phạt ống thép của Việt Nam trên thị trường Mỹ. Đầu đuôi câu chuyện này là như thế nào, xin anh cho biết về bối cảnh vụ việc.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng thị trường Hoa Kỳ cần nhiều loại ống thép hàn, với chiều dày mỏng và to nhỏ khác nhau. Loại sản phẩm liên hệ đến vụ kiện có đường kính dưới 40 phân và số tiêu thụ toàn quốc trị giá chừng một tỷ 600 triệu Mỹ kim. Hoa Kỳ có 19 doanh nghiệp hoạt động trên 17 tiểu bang, sản xuất được một tỷ đô la ống thép với chừng 1.500 nhân công. Phần còn lại thì phải nhập cảng, trị giá 600 triệu đô la. Theo thứ tự về trị giá, sáu nơi bán nhiều nhất vào Mỹ là Mexico, Các Tiểu Vương Quốc Á Rập Thống Nhất, Nam Hàn, Ấn Độ, Việt Nam.

- Tháng 10 năm ngoái, bốn doanh nghiệp Mỹ tại hai tiểu bang Illinois và Pennsylvania và có sản lượng gọi là đủ tiêu biểu cho cả kỹ nghệ ống thép Mỹ, nộp đơn lên Bộ Thương Mại để kiện bốn quốc gia đã phá giá hoặc trợ giá khi xuất khẩu ống thép vào Hoa Kỳ với giá thấp hơn thực giá nên đe dọa hoặc có thể đe dọa gây thiệt hại cho kỹ nghệ sản xuất của Mỹ. Họ yêu cầu Bộ Thương Mại có biện pháp ngăn ngừa nạn cạnh tranh bất chính và áp dụng thuế biểu trừng phạt tình trạng phá giá này. Bốn quốc gia đó là Ấn Độ, Các Tiểu Vương Quốc Á Rập Thống Nhất, tiểu vương quốc Oman và Việt Nam, với số bán tổng cộng vào Mỹ ở khoảng 190 triệu đô la.

- Chi tiết đáng chú ý ở đây là kích thước nhỏ của thị trường và lực lượng lao động liên hệ. Và Mỹ phải nhập khoảng 600 triệu đô la mà vụ kiện liên quan đến nguồn cung ứng của 190 triệu, là một phần ba của số nhập khẩu, phần còn lại là trên 330 triệu đô la thì coi như không có vấn đề.

RFI: Thưa anh, thế rồi Bộ Thương Mại Mỹ đã thụ lý hồ sơ khiếu nại này ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Bộ Thương Mại Hoa Kỳ lập tức mở cuộc điều tra từ Tháng 11 năm ngoài khi yêu cầu bên khiếu nại lẫn các nước bị khiếu nại cùng trình bày hồ sơ của vụ này. Rồi họ thẩm định sơ khởi rằng quả là kỹ nghệ Mỹ bị thiệt hại do ống thép mua từ ba nước là Ấn Độ, Oman, Tiểu Vương Quốc Á Rập và rằng thép ống từ bốn nước nói trên, tức là kể thêm Việt Nam, đã bán vào Mỹ với giá thấp hơn thực giá. Nhưng cũng theo luật lệ thương mại rất phức tạp của Hoa Kỳ, Bộ Thương Mại phải thỉnh ý của Hội đồng Thương Mại Quốc Tế ITC.

RFI: Anh có nêu lên việc doanh nghiệp Hoa Kỳ yêu cầu Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của họ. Đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ là Bộ Thương Mại đã điều tra, nghiên cứu và xác định là đã có sự cạnh tranh bất chính. Vậy mà tại sao Bộ Thương Mại Mỹ vẫn phải tham khảo ý kiến của một cơ quan khác là cái Hội đồng ITC này. Cơ quan ấy là gì vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Được thành lập từ năm 1916 và được cải tiến nhiều lần, Hội đồng hay Ủy ban ITC này gồm có sáu ủy viên thuộc cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà, được Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn cho từng nhiệm kỳ chín năm, có quy chế tự trị về ngân sách và độc lập về thẩm quyền để khuyến cáo cả Hành pháp lẫn Quốc hội về các vấn đề liên hệ đến ngoại thương hay mậu dịch quốc tế. Với chừng 600 nhân viên mà đa số là luật gia và chuyên gia về ngoại thương, Hội đồng phải khách quan nghiên cứu và điều tra vô tư để đưa ra những kết luận có giá trị tương tự như phán quyết của tòa án. Theo đúng luật của Mỹ, Bộ Thương Mại phải chấp nhận phán quyết của Hội đồng ITC này.

- Trong hồ sơ chúng ta đang nói đến ở đây, Hội đồng ITC đã nghiên cứu và tham khảo ý kiến của đôi bên, xin tạm gọi là nguyên cáo và bị cáo, rồi mới quyết định. Kết quả là có bốn trong sáu Ủy viên đã đề nghị bác bỏ sự cáo buộc của doang nghiệp Mỹ và kết luận sơ khởi của Bộ Thương Mại. Hai Ủy viên kia, trong đó có Chủ tịch luân phiên hiện nay của Hội đồng, thì lại đồng ý. Kết quả là Hội đồng theo ý kiến của đa số và ra phán quyết hôm 14 vừa qua. Thứ Tư mùng năm tháng 12 tới đây, họ sẽ chính thức thông báo cho Bộ Thương Mại về phán quyết này và hồ sơ kiện cáo coi như kết thúc. Hai doanh nghiệp xuất khẩu ống thép của Việt Nam vào Mỹ vừa thoát được một tai nạn. Đến ngày 26 tháng tới thì Hội đồng công bố toàn bộ hồ sơ, khi đó chúng ta mới có thêm những chi tiết phức tạp về một đề tài rắc rối này.

RFI: Thưa anh, chúng ta biết rằng từ trước đến nay ở Mỹ cũng đã có những vụ kiện tụng đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam, chẳng hạn như tôm hay cá da trơn. Kết luận của anh về vụ ống thép hàn lần này là gì, tại vì thông thường thì ITC, trong rất nhiều trường hợp, đã đi theo đề nghị của bộ Thương mại, nhưng lần này thì lại không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, Hoa Kỳ thường công khai hóa mọi chuyện nên luật chơi của họ dù có rắc rối thì cũng rất minh bạch. Nếu mình biết thì vẫn có thể tranh đấu thắng lợi, dù là hơi tốn kém tiền bạc cho các luật sư! Thứ hai, Việt Nam lại thiếu loại thông tin cần thiết này nên các doanh nghiệp có thể gặp bất ngờ và bất lợi. Thứ ba, Việt Nam cứ tưởng rằng khôn khi đòi quy chế đặc biệt của một quốc gia chưa có kinh tế thị trường đích thực. Nhưng chính là quy chế ấy mới càng khiến doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam dễ bị kiện là được trợ giá hoặc bán phá giá và gây thiệt hại cho doanh nghiệp ngoại quốc.

RFI: Xin cám ơn chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa từ Hoa Kỳ về cuộc trao đổi này.

Vực Thẳm Ngân Sách



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 121201

Liều Thuốc Đắng Cho Kinh Tế Hoa Kỳ: Giảm Chi Và Tăng Thuế

 * Nối vòng tay lớn - Đảng Cộng Hoà được yêu cầu hòa giải với Tổng thống Obama bên bờ vực *


Hoa Kỳ mất hai năm và sáu tỷ Mỹ kim cho cuộc tổng tuyển cử 2012 để bầu lại một hệ thống lãnh đạo đã từng gây ra ách tắc chính trị từ năm 2010. Đảng Dân Chủ kiểm soát Hành pháp và Thượng viện, đảng Cộng Hoà giữ đa số tại Hạ viện và 30 chức vụ Thống đốc tiểu bang. Tình trạng chính trị lưỡng cực ấy không giải quyết được bài toán ngân sách trong hai năm qua và nay lại hai đảng lại tái đấu về chi thu trước sự phân vân của dân chúng và hoài nghi của thị trường.


***

Nói về bối cảnh, Hoa Kỳ đã qua ba chục năm chi tiêu hào phóng và vay mượn quá sức nên đến hồi trả nợ kể từ năm 2007. Đấy là bối cảnh chung và có nguyên nhân "lưỡng đảng" lẫn công tư.

Cả chính quyền lẫn tư nhân (các hộ gia đình và doanh nghiệp) đều đi vay trong mấy thập niên và nay phải cắt giảm chi tiêu để trả nợ. Sự chuyển động chậm rãi ấy mới giải thích những hoạn nạn của năm năm qua khi kinh tế bị suy trầm từ cuối năm 2007 rồi bị nhồi trong cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008. Các chính khách mị dân thường quy tội cho Chính quyền George W. Bush là gây ra khủng hoảng vì tăng chi bừa phứa và mở ra hai cuộc chiến – Afghanistan và Iraq – mà không tăng thuế và còn đồng loạt cắt giảm tô suất thuế qua hai đợt 2001 và 2003.

Sự thật lại không đơn giản như vậy. Sự thật là nước Mỹ đến hồi trả nợ, không khác gì hoàn cảnh của hai khối kinh tế công nghiệp hóa kia là Âu Châu và Nhật Bản. Cho nên các biện pháp kích thích kinh tế cổ điển như qua ngân sách (tăng chi và giảm thuế) và tiền tệ (hạ lãi suất và bơm tiền) đều chậm có hiệu quả.

Trong khung cảnh đó, sau khi thắng cử năm 2008, Chính quyền Obama còn tăng chi và muốn cải tạo xã hội nên nâng bội chi ngân sách lên mức kỷ lục, mỗi năm ngàn tỷ đô la trong bốn năm liền.

Khi ngân sách bị bội chi thì chính quyền phải đi vay nên khoản công trái - nợ của khu vực công quyền – đã cao bằng Tổng sản lượng quốc gia GDP, hãy tính cho tròn là 15 ngàn tỷ. Trong khi ấy, kinh tế chưa phục hồi và thất nghiệp vẫn mấp mé 8% và con số khiếm dụng thực sự (thất nghiệp toàn thời và bán thời) còn cao gấp đôi.

Bối cảnh ấy giải thích bài toán lưỡng nan hiện nay là phải kích thích sản xuất để giảm trừ thất nghiệp và đồng thời tiết giảm công chi để dần dần quân bình lại ngân sách.


***

Quốc hội khóa 112 được bầu lên từ năm 2010 đã có một thay đổi là đảng Cộng Hoà chiếm lại đa số tại Hạ viện nên đòi giới hạn công chi để giảm dần bội chi ngân sách trong 10 năm tới. Nếu không, Quốc hội không cho phép chính quyền đi vay thêm. Đảng Dân Chủ đồng ý trên nguyên tắc là phải giảm chi, nhưng vẫn muốn bảo vệ thành quả cải tạo xã hội đã thu được từ năm 2006 và chú trọng nhiều hơn đến việc tăng thuế. Họ nhấn mạnh tới yếu tố mang tính chất đấu tranh giai cấp, và ăn khách, là phải tăng thuế nhà giàu.

Suốt năm 2011, trận đánh về ngân sách giữa hai hướng giảm chi và tăng thuế đã không ngã ngũ và đôi bên đành đồng ý với một giải pháp tạm, do một siêu ủy ban của hai đảng đề nghị và được Tổng thống Obama ban hành ngày mùng hai Tháng Tám: cho phép nâng cao định mức đi vay, nhưng hai đảng phải thỏa thuận về một kế hoạch chấn chỉnh chi thu trong 10 năm tới. Nếu không, một số quyết định sẽ được tự động ban hành từ đầu năm 2013: mặc nhiên cắt giảm công chi và thu hồi các biện pháp giảm thuế của Chính quyền Bush (năm 2001 và 2003) và Chính quyền Obama (năm 2009). Chấm dứt việc giảm thuế có nghĩa là trở lại thuế suất cao hơn, vào trước năm 2001, tức là tăng thuế.

Trong suốt năm 2012, đôi bên không đạt thỏa thuận về việc chấn chỉnh này nên kể từ mùng hai Tháng Giêng năm 2013, biện pháp tự động sẽ được áp dụng, làm kinh tế gánh thêm nợ vì thuế và hụt mất một số mục chi tổng cộng khoảng 500 tỷ trong số bội chi ngàn tỷ. Khi sản xuất còn èo uột, ở mức 2% một năm là mừng, nếu biện pháp tăng thuế và giảm chi đó được áp dụng, Tổng sản lượng 15 ngàn tỷ sẽ hao hụt và kinh tế có thể bị suy trầm mất chừng 12-15 tháng, bốn năm quý.

Vì vậy, người ta mới nói đến "vực thẳm ngân sách" hay "tận thế thuế vụ" Taxmageddon.


***


Các kinh tế gia tranh luận về hiệu ứng của việc cắt giảm 500 tỷ - hay ít hơn nếu đôi bên tiến tới một số thỏa thuận là giảm bao nhiêu và tăng thuế ngần nào, cho những ai - đối với sinh hoạt kinh tế. Hiệu ứng đó có thể là một cấp số nhân, từ 1 đến 1,7 tùy cách tính, nếu ngân sách giảm một vì tăng thuế hay giảm chi, tổng sản lượng có thể giảm từ một đến 1,7 lần.... Tức là bị suy trầm.

Sự thật là kinh tế có thể lại trôi vào suy trầm nữa, sau vụ suy trầm lần trước từ Tháng 12 năm 2007 đến Tháng Bảy năm 2009, nhưng sau đó tình hình sẽ khả quan dần vì việc chấn chỉnh chi thu này là một nhu cầu thực tế. Đây là một nhận định của cơ quan độc lập có nhiệm vụ nghiên cứu ngân sách cho Quốc hội là CBO qua phúc trình mới nhất, được công bố hôm mùng tám Tháng 11.

Nhưng các chính khách đều ngại một vụ suy trầm nữa vào năm 2013 sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm 2014. Họ bèn đổ lỗi cho nhau, cũng với lập luận mị dân của một cuộc tranh cử ngay sau khi vừa hoàn tất tổng tuyển cử. Truyền thông đại chúng của Mỹ thì chỉ nhắc lại các lập luận đó theo thiên kiến chính trị riêng và đa số dân chúng không rõ vì sao lại có "vực thẳm ngân sách".

Cũng theo truyền thống, đảng Dân Chủ rất khéo tuyên truyền còn đảng Cộng Hoà thì chẳng biết giải thích cho rõ tình hình thực tế của một siêu cường mắc nợ. Kết quả bầu cử vừa qua có cho thấy sự khác biệt đó giữa hai đảng. Và lần này, đảng Cộng Hoà có thể lại mắc bẫy nữa khi mà tuần qua Hành pháp và Thượng viện Dân Chủ không hề nhượng bộ và còn đề nghị tăng thuế gần 1.600 tỷ, tăng chi thêm 50 tỷ và không đặt ra định mức đi vay cho Quốc hội và yêu cầu đảng Cộng Hoà phải hòa giải.

Nhưng căn bệnh chi thu vẫn còn nguyên vẹn và cần một liều thuốc đắng. Chúng ta cần hiểu ra điều đó.


***


Từ ba chục năm nay, dân Mỹ đã chi tiêu và vay mượn quá sức, ngày một nhiều hơn cho đến năm 2007 mới thấy bàng hoàng. Tổng số nợ đủ loại của các hộ gia đình đã tăng vọt trong suốt 30 năm. Từ một ngàn 500 tỷ đô la vào năm 1980, khoản nợ này nhân gấp đôi trong 10 năm (ba ngàn tỷ, tức là mỗi năm tăng 7%), rồi gấp sáu trong 10 năm kế tiếp (chín ngàn tỷ vào năm 2001) trước khi lên tới đỉnh là hơn 13 ngàn tỷ vào năm 2007. 

Đây là một nỗ lực vay mượn chẳng phải là lưỡng đảng mà của toàn dân! Nhờ lãi suất hạ, tiền rẻ và đi vay dễ dàng, kể cả vay mượn ngoại quốc, nước Mỹ hồn nhiên tiêu xài quá mức, thổi lên bong bóng đầu tư về cổ phiếu (2000) rồi địa ốc (2005) và bắt đầu phải trả nợ.

Khi cần tiết giảm chi tiêu để trả nợ thì tài hóa bớt lưu thông và kinh tế bị suy trầm, đó là hoàn cảnh của vụ Tổng suy trầm 2008-2009. Mặc dù như vậy, tính đến quý hai năm nay, khoản nợ của các hộ gia đình vẫn ở mức 12 ngàn 900 tỷ đô la, so với 15 ngàn tỷ của Tổng sản lượng.

Yếu tố quan trọng nhất, gần như thuộc về văn hoá, là kinh tế Hoa Kỳ lệ thuộc vào tiêu thụ. Nửa thế kỷ trước, tiêu thụ ở khoảng 62% của Tổng sản lượng GDP, ngày nay mức lệ thuộc đó là 71%. Trong bước ngoặt của việc tư nhân giảm chi để trả nợ sau 30 năm hồ hởi, nhà nước bèn bù vào số hao hụt bằng biện pháp tăng chi kỷ lục và mắc nợ ngập đầu, số nợ tích lũy trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Obama cao bằng tổng số nợ của tất cả các Tổng thống tiền nhiệm kể từ George Washington. 

Mà vẫn không kích thích được sinh hoạt sản xuất.

Khi nâng mức công chi đến ngàn tỷ một năm thì khu vực công quyền đã chẳng giải quyết được bài toán sản xuất và thất nghiệp mà chỉ nâng mức công trái và sẽ phải trả tiền lời, nghĩa là chỉ đi vay để đắp nợ. Bế tắc của biện pháp kích cầu bằng tăng chi ngân sách khiến Ngân hàng Trung ương đã hạ lãi suất tới số không và ba lần in bạc bơm tiền vào kinh tế - mà chưa thấy hiệu quả.

Chỉ vì cùng với nỗ lực tăng chi để kích cầu, Chính quyền Obama còn tiến hành cải tạo xã hội và mở rộng việc điều tiết và kiểm soát thị trường với rất nhiều luật lệ mới.

Tình trạng đó gây khó khăn và bất trắc cho doanh nghiệp khiến các cơ sở kinh doanh lớn nhỏ đều có sẵn hiện kim, tiền mặt, và hơn ngàn tỷ chứ không ít, mà vẫn ngần ngại đầu tư. Nạn ách tắc chính trị trong Quốc hội hai đầu chẳng giúp gì thêm cho tâm lý e ngại đó. Tinh thần đấu tranh giai cấp và kết tội tham lam cho những ai có tiền đầu tư – bọn nhà giàu đáng ghét – càng khiến doanh gia ngồi trên núi bạc chờ thời. Ách tắc chính trị dẫn đến bế tắc kinh tế.


***

Giải pháp được gọi là vực thẳm ngân sách - một từ do Thống đốc Ngân hàng Trung ương Ben Bernanke nghĩ ra và nói tới - gồm có hai phần chua ngọt. Chua là biện pháp mặc nhiên cắt giảm công chi và ngọt là việc tăng thuế nhà giàu. Hãy nói đến thực đơn chua ngọt đó.

Khi bội chi ngân sách được giảm dần, chính quyền sẽ bớt đi vay và tài nguyên dành cho việc vay mượn đó qua công khố phiếu có thể được giành lại cho sản xuất. Trước mắt là giảm dần khoản tiền lời mà công khố phải trang trải một cách đều đặn khi đi vay. Đấy là quyết định hợp lý của siêu ủy ban năm 2011 khi đề ra biện pháp tự động giảm chi, gọi là "sequestration". Nó hợp lý vì thị trường trái phiếu không tiếp tục cho nhà nước vay với lãi suất rất rẻ như vậy trong khi nước Mỹ cứ mấp mé vỡ nợ. Có ngày họ sẽ đòi phân lời trái phiếu cao hơn thì công quỹ sẽ phá sản. Đây là ta chưa nói đến một vực thẳm còn sâu hơn nữa là quỹ an sinh và y tế - xin để kỳ khác.

Nhưng giảm chi là quyết định hợp lý mà không hợp tình vì nhiều người sợ rằng khoản phúc lợi xã hội của họ sẽ bị cắt. Họ dồn phiếu cho đảng Dân Chủ, một đảng có tiếng là thương dân nghèo và bảo vệ thành quả cải tạo xã hội, và họ gây áp lực để tăng thuế nhà giàu. Áp lực này là một lý luận hợp tình.

Thiếu số 1% những người có lợi tức cao nhất (lợi tức chứ không phải tài sản), đã thấy lợi tức trung bình của họ tăng hơn 90% trong các năm sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009. So với trung bình ở khoảng 50% trước đó (từ 1993 đến 2009) thì đấy là bước nhảy vọt gấp đôi trong khi lợi tức của người dân nói chung đều giảm. Cho nên, nếu các triệu phú có chịu thêm một gánh nặng thuế khóa thì cũng hợp tình!

Nhưng chuyện ấy lại không hợp lý vì có thể gây phản tác dụng cho kinh tế.

Sản lượng kinh tế quốc gia chỉ có thể tăng nhờ dân số lao động cộng với mức gia tăng năng suất. Nôm na là nhiều người làm việc hơn, với hiệu năng cao hơn thì sẽ sản xuất ra nhiều của cải hơn. Khi các chính khách nói đến chuyện tạo thêm việc làm để giải quyết nạn thất nghiệp, là nâng cao dân số lao động, thì đấy là dân số lao động trên thị trường tư doanh. Chứ lực lượng công chức là thành phần đóng góp rất ít cho sản xuất và lợi tức của họ chỉ là tiền thuế của dân.

Mà khu vực tư doanh đang chờ thời và ngần ngại đầu tư nên sản lượng kinh tế không tăng và thất nghiệp cũng chẳng giảm. Số việc làm trong khu vực tư chỉ tăng khi mà có ai đó muốn cung cấp loại hàng hóa và dịch vụ mà thị trường chịu mua. Muốn như vậy thì phải có đầu tư và đầu tư vào những ngành có năng suất cao hơn trước thì mới có lời.

Bọn nhà giàu triệu phú tiêu biểu là thành phần có khả năng đầu tư như vậy.

Hãy cho rằng họ có lợi tức bạc triệu trong một năm và dự trù mất 40% vì trả đủ loại thuế. Họ còn lại 600 ngàn cho hai nhu cầu: 1) chi tiêu để duy trì mức sống sa hoa đáng ghét và 2) đầu tư hay tiết kiệm cho tương lai. Nếu thuế suất mà tăng, giả dụ thêm 5%, họ sẽ bớt ít ra cũng khoảng 5% các mục chi dụng phù phiếm, là tiêu xài ít hơn và đánh sụt số cầu trên thị trường. Giải pháp kia là giảm mức đầu tư hoặc tiết kiệm, thí dụ như cũng với mức 5%.

Ai sẽ được cái khoản "mất" giả dụ là 5% này? Nhà nước. Và được như vậy để làm gì? Tăng lương công chức hay mức trợ cấp cho dân nghèo? Ngược lại, phần tiết giảm 5% vì gánh nặng thuế khóa sẽ ảnh hưởng thế nào đến sinh hoạt kinh tế? Những câu hỏi thường thức ấy cho thấy quyết định tăng thuế CŨNG có hậu quả kinh tế chứ không hẳn là vô hại.

Hậu quả đầu tiên là gây thêm tâm lý bất an trong một xã hội xưa nay vẫn quý trọng những người dám lấy rủi ro để kinh doanh và làm giầu. Ngày nay, làm giầu có thể là cái tội rất đáng gọt đầu.

Trong khi ấy, nếu nhìn vào thống kê về ngân sách từ mấy năm qua, nguồn thu về thuế lợi tức đã tăng trong thực tế dù với tô suất thấp: nghĩa không phải quyết định hạ thấp thuế suất đã làm giảm số thu ngân sách và tăng mức bội chi. Ngân sách bị thiếu hụt vì tăng chi quá nhiều và vì kinh tế sa sút đã thu hẹp căn bản tính thuế.

Do đó, nhìn xa hơn vực thẳm ngân sách năm tới, người ta thấy ra một hố sâu văn hóa của nước Mỹ về chuyện làm giầu. Đó là công hay tội? Còn gánh nợ lưu cữu từ ba chục năm nay, ai sẽ trả? Thế hệ con cháu sau này? Chúng có biết không?

Tương lai đó nó vượt xa tầm nhìn của các chính khách vì hai năm tới đây họ sẽ lại phải xin phiếu của dân. Lấy tiền của bọn nhà giàu để mua phiếu của dân nghèo là một giải pháp chính trị hấp dẫn. Nhưng không là giải pháp kinh tế đã làm nên sức mạnh của Hoa Kỳ.

Các nước trên thế giới hẳn là rất vui về quyết định đó của cử tri Mỹ: Hoa Kỳ sẽ sớm chấm dứt kỷ nguyên siêu cường độc bá.