Thứ Năm, tháng 4 19, 2012

Bầu Cử Tổng Thống Pháp

Trọng Nghĩa và Nguyễn-Xuân Nghĩa RFI Ngày 120419 

Vì sao dư luận Đức và Mỹ lại quan ngại?...


* Áp phích tranh cử của hai ứng cử viên François Hollande và Nicolas Sarkozy, 
ảnh chụp tại Paris, 16/04/2012 REUTERS/Philippe Wojazer *





Là một trong hai đầu tầu của châu Âu cùng với Pháp, nước Đức dĩ nhiên rất quan tâm đến cuộc bầu cử tại Pháp. Ở bên kia Đại Tây Dương, đồng minh lâu đời của Pháp là Hoa Kỳ cũng ít nhiều chú ý đến những gì đang diễn ra tại cường quốc kinh tế thứ hai của Châu Âu. Nhìn chung, dư luận tại hai nơi này đã không tránh khỏi quan ngại trước một số diễn biến theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa, kể cả về phương diện kinh tế, đã được các ứng viên tổng thống Pháp thể hiện.
Nếu có một nước quan tâm rất nhiều đến cuộc bầu cử tổng thống tại Pháp thì đó là Đức. Berlin cùng với Paris là hai đầu tầu từ trước đến nay luôn luôn là động lực thúc đẩy Liên Hiệp Châu Âu, quan hệ Pháp Đức mà thuận thảo thì hướng đi của châu Âu luôn luôn được trơn tru.

Chính vì thế mà ngay từ đầu, dư luận Đức đã hết sức quan tâm đến cuộc vận động tranh cử tổng thống tại Pháp, báo chí "bên kia bờ sông Rhin" như người ta thường gọi tại Pháp, luôn luôn có bài viết về sự kiện này, đề tìm hiểu xem chân dung lãnh đạo tương lai của đối tác chủ chốt của nước Đức là như thế nào?

Một ví dụ cụ thể là ngày 30 tháng Ba vừa qua, tờ Berliner Zeitung đã dành nguyên một bài cho hai võ sĩ "Der Judoka und der Boxer", trong đó ứng viên Đảng Xã hội Pháp François Hollande được mệnh danh là võ sĩ nhu đạo (judoka) còn đối thủ của ông – Tổng Thống đương nhiệm Nicolas Sarkozy – là võ sĩ quyền Anh (boxer). Tương tự như mọi nhà quan sát khác, Berliner Zeitung cho là chức vụ tổng thống Pháp sẽ là kết quả cuộc đấu giữa hai nhân vật này, với hai phong cách nhu – cương hoàn toàn khác biệt nhau.

Nhìn chung, sau năm năm cầm quyền, thường xuyên xuất hiện bên cạnh thủ tướng Đức Angela Merkel, đặc biệt là trong một năm gần đây khi cuộc khủng hoảng tài chánh bắt nguồn từ Hy Lạp làm khu vực đồng euro điên đảo, ông Nicolas Sarkozy đã trở thành gương mặt quốc tế quen thuộc với người Đức.

Có lẽ vì thế mà phía Đức không che giấu thiên hướng ủng hộ ông Sarkozy, nhất là khi họ lo ngại về tác động có thể có của chính sách kinh tế xã hội mà ông Hollande chủ trương. Cách đây không lâu, chính Thủ tướng Đức, nhân một chuyến ghé thăm Pháp vào tháng Hai, đã không ngần ngại công khai bày tỏ thái độ ủng hộ ông Sarkozy cho một nhiệm kỳ tổng thống thứ hai. Trong lúc đó thì theo tờ Bild, cùng với một số lãnh đạo cánh hữu khác ở châu Âu, bà đã tẩy chay không muốn tiếp xúc với ông Hollande.


Dư luận Đức : từ phấn khởi đến thất vọng đối với cả hai ứng viên Pháp

 
Có điều là với cuộc tranh cử tổng thống tại Pháp ngày càng trở nên gay gắt, cái nhìn của Đức đã có phần thay đổi, và gần đây tâm lý quan ngại đang gia tăng, đặc biệt sau một số tuyên bố lập trường của ông Sarkozy về châu Âu, khởi đầu bằng hay lời đe dọa rút nước Pháp ra khỏi nhóm Schengen, và kết thúc bằng mong muốn «thay đổi chế độ can thiệp của Ngân hàng Trung ương châu Âu» trong trường hợp phải giúp các quốc gia gặp khó khăn tài chánh.

Theo nhận xét của một số quan sát viên, chính giới Đức chẳng hạn, tả cũng như hữu đều thất vọng trước các quan điểm được hai ứng cử viên chủ chốt tại Pháp đưa ra.

Đảng CDU của bà Merkel lẽ dĩ nhiên ủng hộ ông Sarkozy. Trước thanh thế hùng hậu của ông Hollande ngay sau khi được Đảng Xã hội Pháp đề cử làm ứng viên tổng thống, lo ngại trước nguy cơ hiệp ước ngân sách châu Âu mà chính bà mong muốn bị phía Pháp đòi đàm phán lại nếu cánh tả chiến thắng, bà Merkel vào tháng Hai đã công khai xuất hiện bên cạnh Nicolas Sarkozy, với thông điệp ủng hộ rõ ràng. Thậm chí đảng CDU của bà có lúc đã nghĩ đến việc cử đại biểu qua Pháp tham gia mít tinh của đảng UMP.

Thế nhưng ít lâu sau, các tuyên bố của Tổng thống Sarkozy về khả năng hoãn áp dụng hiệp định Schengen và nhất là đề nghị liên quan đến vai trò của Ngân hàng Trung ương Châu Âu hôm chủ nhật 14/04 vừa qua, như đã dội gáo nước lạnh xuống đầu thành phần ủng hộ ông tại Đức.

Không đầy 24 tiếng đồng hồ sau «ý kiến» của tổng thống Pháp trên quảng trường Concorde Paris, phủ Thủ tướng Đức ra ngay một bản thông cáo Berlin nội dung bác bỏ chủ trương xét lại nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương Châu Âu: «Chính phủ Đức có niềm tin sắt đá vào việc Ngân hàng Trung ương thực hiện nhiệm vụ của mình trong tư thế hoàn toàn độc lập với chính trị». Bản thông cáo nhấn mạnh: «Và niềm tin này đã được biết đến tại Paris».

Ngay trong Đảng Dân chủ Xã hội Đức SPD thuộc cánh tả, vốn đã chào đón nồng nhiệt ứng cử viên François Hollande nhân đại hội của họ vào tháng Mười hai năm ngoái, đảng này cũng có phần bị vỡ mộng. Lãnh đạo SPD là Sigmar Gabriel – từng chủ trương ghi một điều khoản về tăng trưởng vào Hiệp ước ổn định tài chánh châu Âu – đã hy vọng là nếu ứng cử viên Đảng Xã hội Pháp chiến thắng, phe đòi xét lại hiệp ước này sẽ có thêm một ủng hộ viên nặng ký. Và nhất là, nếu cánh tả thắng lợi ở Pháp, tác động dây chuyền có thể có lợi cho đảng của chính ông trong cuộc bầu cử quốc hội Đức vào năm tới 2013.

Thế nhưng, sau đó ít lâu, ông François Hollande đã tung ra một đề nghị gây chấn động «sắc thuế 75% đánh trên người cực giàu» tức là có thu nhập thường niên trên 1 triệu euro. Với xu hướng trung tả trong đảng SPD, một chủ trương triệt để như vậy là điều khó có thể chấp nhận được.

 
Báo chí Mỹ phê phán xu hướng chạy theo phe cực hữu


Nếu bên kia bờ sông Rhin, diễn biến cuộc vận động tranh cử tại Pháp rất được chú ý, thì bên kia Đại Tây Dương - tức là Hoa Kỳ như người Pháp hay gọi – mức độ quan tâm có phần ít hơn. Lý do cũng đơn giản : năm nay cũng là năm nước Mỹ bầu lại tổng thống, với các chuẩn ứng viên của đảng Cộng hòa đang tranh đua giành quyền ra thi đấu với Tổng thống đương nhiệm thuộc đảng Dân chủ. Trong bối cảnh đó, dư luận Mỹ thường tập trung chú ý đến các vấn đề quốc nội hơn là quốc tế.

Thế nhưng do quan hệ gắn bó giữa hai dân tộc Pháp Mỹ từ xưa đến nay, trong thời gian qua đôi lúc cũng có những tờ báo lớn để mắt nhìn qua cuộc bầu cử Pháp, đặc biệt là với cái nhìn phê phán những hiện tượng bị họ cho là lệch lạc, quá trớn trong chiến dịch vận động tranh cử. Hai nhân vật được quan tâm nhiều nhất vẫn là François Hollande và Nicolas Sarkozy, và xa ở phía sau là hai cực Jean-Luc Mélenchon bên tả và Marine Le Pen bên hữu.

Ghi đậm dấu ấn nhất có lẽ là bài xã luận ngày 13/03 vừa qua trên tờ báo bảo thủ nổi tiếng Wall Street Journal với tựa đề ngắn gọn «Nicolas Le Pen». Dù nổi tiếng là thiên hữu, tờ báo này đã chỉ trích đường lối chạy theo xu hướng cực hữu của ông Sarkozy, thể hiện rõ ràng qua hàng tựa ghép tên của Tổng thống Pháp với họ của ứng cử viên cực hữu. Theo bài báo, «hiếm khi thấy được một bước ngoặt nhẫn tâm như vậy». Đối với tác giả bài xã luận trên tờ Wall Street Journal, «những cú tấn công của ông Sarkozy vào vấn đề nhập cư là những cố gắng nhằm tranh thủ cử trí của bà Marine Le Pen thuộc Mặt trận Quốc gia Front National».

Một hôm sau đó (ngày 14/03), đến lượt báo uy tín The New York Times lên tiếng, cũng trong một bài xã luận mang tựa đề «Sarkozy trên con đường xấu» (Sarkozy on the Low Road), phê phán việc vị tổng thống ứng cử viên của Pháp, vì bị bỏ lại phía sau trong các thăm dò, cho nên đã sẵn sàng làm bất cứ điều gì, kể cả mạo hiểm về hướng cực hữu.

Tờ báo đã lấy làm tiếc trước hướng đi bị cho là lệch lạc đó của ứng cử viên cánh hữu tại Pháp: «Chắc hẳn Nicolas Sarkozy cho rằng kích động tâm lý kỳ thị chủng tộc và bài ​​ngoại là một ý tưởng tốt. Ông đã hành động như vậy, và rủi thay, lời lẽ cứng rắn đó đã nâng điểm của ông trong các cuộc thăm dò dư luận. Vấn đề là toàn bộ xã hội Pháp có nguy cơ phải gánh chịu hậu quả, và hành động đó của ông Sarkozy có thể là con dao hai lưỡi nhân vòng hai, bởi vì người Pháp đã thường cáo buộc ông là thiếu phẩm cách của một tổng thống».

Đối với tờ New York Times, «thời điểm tại Pháp đang khó khăn, nhưng lẽ ra Tổng thống Sarkozy nên thực hiện một chiến dịch có tầm cao hơn. Ông đã có một số thành tích cả về đối nội (cải cách hệ thống hưu bổng) lẫn đối ngoại (Libya), trong khi đối thủ chính của ông là ông Hollande chỉ có những ý tưởng mơ hồ và những đề ​​nghị kinh tế không tưởng. Thế nhưng Sarkozy đã chọn sự dễ dãi».

Trong ấn bản châu Âu của tuần báo Mỹ Time, số ra cuối tháng Ba, trang bìa tờ báo đăng chân dung đen trắng của ông Sarkozy, bên dưới câu hỏi bằng một từ tiếng Pháp rất ác; từ biệt - Adieu? Đối với tờ báo, chính kinh tế khó khăn là nguyên do cốt lõi làm cho ông Sarkozy gặp khó khăn, thúc đẩy ông rẽ ngoặt sang hướng cực hữu.

Đối với tờ báo, Tổng thống Pháp không thể nào thối lui được nữa, sắp tới đây, hoặc là ông sẽ được tái đắc cử một cách hoành tráng bất ngờ, hoặc là chịu tỳ vết về mặt chính trị

Một tờ báo Mỹ khác là Chicago Tribune cũng phân tích những điều hay, cái dở trong chiến dịch vận động tranh cử của ông Sarkozy trong tương quan với đối thủ Hollande. Thế nhưng tác giả bài viết trên tờ báo rất bảo thủ này đã hết sức bênh vực cho người được xem là đã phải ra sức chiến đấu trong nhiệm kỳ của mình để thay đổi nước Pháp, và hiện nay bị buộc phải chiến đấu một lần nữa để bảo vệ dân Pháp chống lại nguy cơ của "chủ nghĩa xã hội".

Nhà báo này công nhận là ông Sarkozy đã thay đổi lập trường một cách dễ dàng, thế nhưng – «Một Sarko xoay như chong chóng vẫn tốt hơn là năm năm bị phe xã hội vắt kiệt».


Ưu tư về đường hướng kinh tế tới đây của Pháp


Về ứng viên François Hollande, không thấy báo Mỹ nói nhiều, có lẽ vì ứng cử viên cánh tả của Pháp không được biết đến nhiều tại Mỹ. Tuy nhiên, trong phần trả lời phỏng vấn của RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa ghi nhận là trong giới báo chí và nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế và chiến lược, rất nhiều người lo ngại trước khả năng ông Hollande thắng cử.

Sau đây là phần phỏng vấn chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa tại California - Hoa Kỳ.






Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói chung thì vì quốc gia quá rộng lớn và xã hội phức tạp của họ, dân Mỹ biết rất nhiều mà lại hiểu rất ít về những gì xảy ra ngoài nước Mỹ. Một thí dụ là người bạn kỹ sư Mỹ của tôi đã ngó vào số báo L'Express hồi đầu năm với chủ đề tổng kết về thành quả của Tổng thống Nicolas Sarkozy và chỉ tấm vào hình của ông ta ở ngoài bìa mà hỏi: "Cha nào vậy?" Có thể là một số người rất nhỏ thì biết rằng Pháp sẽ có bầu cử Tổng thống. Thế rồi thôi.

- Chính giới Hoa Kỳ thì còn tệ hơn vì đề mục đáng chú ý hiện nay của họ là tổng tuyển cử vào Tháng 11 này. Báo chí Mỹ thì có theo dõi và tường thuật, nhưng ở trang trong. Ngoài ra, nếu chẳng may hôm đó lại có một vụ thảm sát trong trường học hoặc một nữ diễn viên nào đó lại ly dị thì chuyện bầu cử tại Pháp trở thành xa vời như trên cung trăng. Thí dụ là quý vị thử gõ trên Google hay Yahoo! chữ "French Elections" thì rõ.

- Tuy nhiên, một số trung tâm nghiên cứu và nhất là truyền thông chuyên đề về kinh tế thì có chú ý tìm hiểu về hiệu ứng của bầu cử Pháp với kinh tế Hoa Kỳ, và một cách gián tiếp hơn, đối với cuộc tranh cử hiện nay tại Mỹ.

RFI : Khi theo dõi những phân tích này tại Hoa Kỳ thì anh nhận xét ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, họ biết là bầu cử Tổng thống Pháp có hai vòng đầu phiếu, sơ bộ vào tuần tới và chung kết vào ngày sáu Tháng Năm. Nhưng trong 10 ứng cử viên, họ chú ý nhất đến hai ứng cử viên chính là ông Sarkozy và thụ ủy đảng Xã hội là ông François Hollande, cùng lắm thì nhắc đến hai ứng viên cực hữu và cực tả là Marine Le Pen và Jean-Luc Mélenchon. Ngoài ra, họ chưa để ý đến hai vòng bầu cử Quốc hội Pháp vào Tháng Sáu này.

- Khi theo dõi và phân tích, thành phần mà tôi xin gọi là "có quan tâm của Hoa Kỳ" chú ý nhất đến chương trình tranh cử, hy vọng thắng cử và hiệu ứng của bầu cử đối với kinh tế Âu Châu và qua đó đối với kinh tế Mỹ. Đó là điểm nhấn của truyền thông kinh doanh.

- Một cách gián tiếp hơn thì cũng có các trung tâm nghiên cứu so sánh các đề nghị xuất phát từ chính trường Pháp với những gì đang được tranh luận tại Hoa Kỳ, thí dụ như tăng chi hay giảm thuế hoặc tăng thuế hay giảm chi... Họ so sánh những chọn lựa của Pháp để góp phần lý luận vào cuộc tranh luận tại Mỹ.

RFI: Anh nhận xét thế nào về cách nhận định của thiểu số quan tâm đó ở tại Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta không quên là hai bờ Đại Tây dương đều đang tranh luận về kinh tế thị trường hay tư bản chủ nghĩa với vai trò cấp cứu hay gánh nặng can thiệp của nhà nước. Trong bối cảnh đó, nhiều người bên Mỹ nín thở theo dõi sự thắng thế của cánh tả và ông Jean-Luc Mélenchon vì sự kiện ấy sẽ kéo đảng Xã hội về phía tả hơn nữa với các biện pháp bên này gọi là "bao cấp" như tăng chi, tuyển thêm công chức, kéo tuổi hưu liễm về mức 60 và tăng thuế tới 75%, v.v ...

- Vấn đề còn nguy ngập hơn, nếu cánh tả đại thắng trong cuộc bầu cử Quốc hội và Chính quyền Pháp rút khỏi thoả thuận với 25 nước Âu Châu hôm mùng hai Tháng Ba về kỷ luật chi thu như ông Hollande đề nghị. Trong giả thuyết ấy, họ dự đoán cơ chế Âu Châu sẽ khủng hoảng, kinh tế bị suy thoái mà cường quốc kinh tế còn lại là nước Đức cũng đỡ không nổi. Và hậu quả dội về Mỹ là kinh tế Mỹ sẽ bị suy trầm, tức là đụng đáy lần thứ hai. Các tờ báo về đầu tư có nhắc tới kịch bản ghê người này và khuyên thân chủ chuẩn bị bán khống!

- Các trung tâm nghiên cứu về chiến lược lại còn bi quan hơn. Sự ổn định Âu Châu từ sau Thế chiến II nằm trên sự hợp tác Pháp-Đức và Tháng Hai vừa qua, Thủ tướng Đức còn qua tận Paris để ủng hộ ông Sarkozy. Đó là chuyện hy hữu sau khi đảng cầm quyền Đức cũng hậu thuẫn đảng UMP của ông Sarkozy. Khi ông Sarkozy phải thoái lui và đề nghị tăng cường vai trò của Ngân hàng Trung ương Âu châu, tức là đi ngược với quan điểm của Đức, người ta e rằng cả kiến trúc hợp tác này sẽ đi vào chu kỳ thay đổi với hậu quả cực kỳ bất lợi cho Âu Châu và cả thế giới.

- Xưa nay, nhiều người Mỹ cho là nước Pháp có biệt tài xoay trở về ngoại giao để có cái thế quốc tế mạnh hơn cái lực kinh tế của Pháp ở bên cạnh Đức. Tình hình có khi đang đổi khác khi ông Sarkozy lãnh họa vì nạn tổng suy trầm và khủng hoảng Âu Châu mà không cải cách như ông đã hứa hẹn khi tranh cử năm 2007. Kết cuộc thì đối lập có thể thắng và điều ấy sẽ làm Âu Châu chấn động và nước Mỹ lúng túng. 

- Một chi tiết lý thú khác là do biệt tài thầm thì khi máy vi âm còn mở, Tổng thống Obama cho thấy ông và Tổng thống Sarkozy là bạn đồng hành. Hoặc như ông Sarkozy đã thầm thì, rằng "chúng ta sẽ cùng thắng cử". Nếu ông Hollande đắc cử vào Tháng Năm này, hiệu ứng suy trầm từ Âu Châu có thể khiến sáu tháng sau ông Obama cũng thất cử!

Thứ Tư, tháng 4 18, 2012

Thiếu Nước Thừa Lửa - Chuyện Tây Tạng

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 120418

Trận chiến Á Châu sắp tới sẽ là vì nước ngọt - mà Trung Quốc là thủ phạm




* AFP photo - Một người đàn ông Tây Tạng tự thiêu trong cuộc biểu tình tại New Delhi, Ấn Độ 
hôm 26/3/2012, trước chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. *


Trong khi thế giới bàng hoàng vì hàng loạt những vụ người Tây Tạng tự thiêu tại Trung Quốc, một cái nhìn kinh tế lại soi rọi nhiều vấn đề còn nghiêm trọng hơn từ quốc gia này. Đó là việc phát triển khu vực nội địa mà Bắc Kinh gọi là "Trung Bộ" của Trung Quốc, là nan đề không có giải pháp. Nguy kịch hơn thế còn có nạn lạm thác nguồn nước ngọt từ rặng Hy Mã Lạp Sơn khiến cả tỷ người dân, ngay tại Trung Quốc và trong các nước lân bang khác của Châu Á sẽ lâm vào cảnh thiếu nước. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về những bài toán phức tạp này trong phần trao đổi sau đây cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa của đài Á Châu Tự Do.


Hàng loạt vụ tự thiêu


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, khi theo dõi chương trình phân tích kinh tế của ông, dường như thính giả có thấy ra một lối nhìn là tập trung chú ý vào nền tảng địa dư hình thể để giải thích một số chuyển động ngầm hầu có thể dự báo những xoay vần kinh tế trong dài hạn. Cách nhìn đó cũng khiến ông đã nhiều lần nhấn mạnh tới tình trạng bất ổn gần như bẩm sinh vì gắn liền với địa dư của Trung Quốc. Bây giờ, qua vụ người dân Tây Tạng đã tự thiêu hàng loạt trong hơn một năm vừa qua, ông nhìn thấy những gì để có thể chia sẻ với thính giả?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng khi mới lên cầm quyền, lãnh đạo xứ nào cũng có thể nghĩ là mình mở ra một vận hội mới có thể thay đổi bộ mặt thế giới hay tương lai của quốc gia. Sự thật thì họ vẫn bị gò bó bởi yếu tố khách quan nhất là địa dư hình thể của địa bàn sinh hoạt.

- Từ khi sáng lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc vào năm 1949, lãnh đạo Bắc Kinh chủ quan lầm tưởng rằng họ sẽ làm được chuyện động trời, trong khi thể chế chính trị độc tài của họ lại không giải quyết được những bài toán sinh tử do thiên nhiên đặt ra, loại bài toán mà quốc gia nào cũng có thể gặp. Bây giờ, xuyên qua chuyện dân Tây Tạng tự thiêu, ta có thể thấy ra một số bài toán kinh tế rộng lớn hơn, cho cả Trung Quốc lẫn các nước lân bang.

Vũ Hoàng: Và như thông lệ, ông sẽ lại bắt đầu bằng tấm bản đồ như ông thường ví von, để nói về địa dư.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa tấm bản đồ và cả cuốn lịch, để xác định không gian và thời gian!
- Trước hết, Tây Tạng là quốc gia độc lập, xưa kia từng là đế quốc hùng mạnh ngang ngửa Trung Quốc vào thời nhà Đường. Ngay sau khi làm chủ Hoa lục, Mao Trạch Đông tấn công các tỉnh miền Đông của Tây Tạng vào năm 1950 rồi thôn tính luôn xứ này kể từ Tháng Ba năm 1959. Tây Tạng có diện tích rộng lớn bằng cả cõi Tây Âu và nằm trên đỉnh của Cao nguyên Tây Tạng bên rặng Hy Mã Lạp Sơn là nơi phát nguyên ra các con sông lớn nhất của Châu Á.

- Sau khi chiếm đóng, lãnh đạo Trung Quốc vẽ lại bản đồ Tây Tạng. Họ gọi phân nửa lãnh thổ xứ này là "Khu Tự trị Tây Tạng" - gồm tỉnh Ngari ở miền Tây và hai tỉnh U và Tsang ở trung bộ. Phần còn lại là hai tỉnh Amdo và Kham ở miền Đông thì bị sát nhập vào ba tỉnh lân cận là Thanh Hải, Cam Túc và Tứ Xuyên. Rồi họ nhập nhằng gọi chung tất cả là Cao nguyên Thanh Tạng.

- Không chỉ vẽ lại bản đồ, Bắc Kinh còn tiến hành chính sách cưỡng bách di dân theo hai hướng. Đó là đưa người Hán vào làm chủ khu vực Tây Tạng và thứ hai đưa dân Tây Tạng ra khỏi lãnh thổ truyền thống của họ để sống trà trộn như người thiểu số tại các tỉnh lân cận.

Bây giờ, xuyên qua chuyện dân Tây Tạng tự thiêu, ta có thể thấy ra một số bài toán kinh tế rộng lớn hơn, cho cả Trung Quốc lẫn các nước lân bang.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

- Khi theo dõi tin tức về các vụ tự thiêu của tăng ni và dân Tây Tạng nói chung, có lẽ là 34 người kể từ Tháng Ba năm ngoái, chưa nói đến nhiều người treo cổ tự ải trong tù, thì ta thấy ra sự lạ: đến 26 vụ tự thiêu để phản đối ách cai trị của Trung Quốc lại xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, sáu vụ ở Thanh Hải và một ở Cam Túc, duy nhất có một vụ ở trong Khu Tự trị. Có lẽ đấy là quy luật "gieo gió gặt bão" vì sự biến xảy ra trong khu vực sinh hoạt đa diện của nhiều sắc dân và dễ loan truyền mà lại khó khoanh vùng ém tin trong hang hốc hay tu viện hẻo lánh trên núi Tây Tạng.

- Một kết luận khác là chính sách di dân để pha loãng và triệt tiêu bản sắc Tây Tạng đã thất bại. Trong khi ấy, người Hán vào sinh sống trên đất Tây Tạng có khi lại thấy họ không được nâng đỡ và bất mãn ra mặt. Đó là bài toán phản ảnh những khó khăn của lãnh đạo Trung Quốc khi cần hội nhập các sắc dân thiểu số hoặc loại dị tộc thường xuyên bị khinh thị, đàn áp và lấn át.

 

Quốc gia với ba nền kinh tế 

 


000_Hkg6993422-250.jpg
Khách du lịch Trung Quốc chụp ảnh bên trong khu nghỉ dưỡng và sòng bài Venetian ở Macau vào ngày 29 tháng 2 năm 2012. AFP

Vũ Hoàng: Xin cảm ơn ông về cách trình bày sự thể địa dư này. Nó cho thấy sự chuyển dịch trong phong trào phản kháng của dân Tây Tạng ngày một quyết liệt hơn ở bên ngoài Khu Tự trị và sự lúng túng của lãnh đạo Bắc Kinh khi bất ổn lại xảy ra nhiều nhất ở tỉnh Tứ Xuyên, vốn dĩ cũng là nơi có thành phố Trùng Khánh khá nổi tiếng vừa qua với vụ Bí thư Bạc Hy Lai bị cách chức và hạ bệ. Bây giờ, cũng với tấm bản đồ trong tay, người ta còn thấy ra những vấn đề gì khác của Trung Quốc?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta cứ nói đến phạm trù gọi là "nhất quốc tam kinh", một quốc gia có ba nền kinh tế vì những phân bố địa dư của Trung Quốc. Tôi xin điểm lại từ trong ra ngoài:

- Khu vực ngoại biên như Tây Tạng, Tân Cương hay Nội Mông, Mãn Châu là nơi mà yêu cầu an ninh gây rất nhiều tốn kém vì là vùng trái độn quân sự để bảo vệ cõi Trung Nguyên của Hán tộc. Đây là nơi ta đang thấy mầm loạn, từ Tân Cương qua Tây Tạng. Ở giữa có khu vực nội địa gồm các tỉnh bị khoá trong lục địa và có chung đặc tính là chẳng tiếp giáp với đại dương mà lại tiếp cận với các sa mạc thảo nguyên hiểm trở và nhất là rặng Hy Mã Lạp Sơn. Đây là nơi có 500 triệu dân sống rất nghèo khổ và cũng là nơi xuất phát mầm loạn hay "cách mạng" trong lịch sử. Sau cùng mới là đất Trung Nguyên của Hán tộc là các tỉnh duyên hải tương đối trù phú hơn ở miền Đông vì mở ra buôn bán với bên ngoài và cứ được thế giới trầm trồ ngợi khen.

- Thời Chủ tịch Giang Trạch Dân và Thủ tướng Chu Dung Cơ, lãnh đạo đã phát động "Kế hoạch Tây Tiến" để mở mang các tỉnh lạc hậu bị khóa ở miền Tây mà không thành. Tháng Ba năm 2005, thế hệ lãnh đạo nối tiếp là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng lại lập ra kế hoạch gọi là "Quật khởi Trung Bộ" để phát triển sáu tỉnh bên trong là Sơn Tây, Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây. Kế hoạch ấy cũng gặp trở ngại và sẽ là bài toán cho thế hệ nối tiếp.

Vũ Hoàng: Trong khi Tây Tạng có biến thì Trung Bộ vẫn chưa theo kịp các tỉnh duyên hải miền Đông, có phải là ông muốn nói như vậy không? Mà thưa ông, đâu là lý do của thất bại?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nếu kể thêm đất Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh thì ta hãy tưởng tượng ra một khu vực rộng lớn gần hai triệu cây số vuông của nửa tỷ người bị kẹt trong đất liền và khó thông thương với bên ngoài. Nhưng sự thể còn gian nan hơn vậy vì các tỉnh bên trong lại cũng khó thông thương với nhau!
- Trước hết và tương đối giàu nhất khu vực Trung Bộ này là mạn Bắc của sông Dương Tử, nơi có thành phố Trùng Khánh và tỉnh Hồ Bắc. Lãnh đạo Bắc Kinh muốn phát triển vùng này và trông cậy vào sông Dương Tử. Thứ nữa là hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây nằm ở phía Nam sông Dương Tử giữa Lòng chảo Tứ Xuyên và rặng núi Vũ Di, chung quanh ba mặt đều là núi, chỉ có một ngả thông thương là sông Dương Tử. 

- Thứ ba là vùng Bình nguyên miền Bắc bao trùm lên từng phần của các tỉnh Hà Nam, An Huy, và Sơn Đông, Giang Tô lẫn cả Chiết Giang. Đây là trung tâm nông nghiệp mà cũng là một vựa lúa thiếu nước. Sau cùng, thứ tư là vùng đất từ hai tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây có ưu thế cung cấp than đá và khoáng sản cho hai thành phố duyên hải là Bắc Kinh và Thiên Tân. Mà than đá hay nguyên liệu là sản phẩm cũng cần tới năng lượng và nhất là cần nước.

- Bốn khu vực gọi là Trung Bộ không tiếp giáp với đại dương và là nơi mà chuyển vận khó khăn đòi hỏi kinh phí đầu tư rất cao. Khi Bắc Kinh theo đuổi chiến lược xuất khẩu bằng mọi giá thì các khu vực này bị tụt hậu. Bây giờ họ muốn cải thiện để phần nào san bằng dị biệt và bất công thì lại gặp vấn đề cơ bản là thiếu nước ngọt. Với sự chủ quan duy ý chí là quăng tiền vào đầu tư mà bất cần tới phí tổn, Trung Quốc vẫn gặp giới hạn của thiên nhiên và lại tiếp tục làm bậy!

 

Hiện tượng thiếu nươc ngọt  



000_Del6109110-250.jpg

Một người đàn ông Trung Quốc ngồi hút thuốc bên một dòng sông miền Nam Trung Quốc hôm 12/4/2012, ảnh minh họa. AFP



Vũ Hoàng: Nhiều lần ông nhắc tới hiện tượng thiếu nước ngọt. Thưa ông, cái chuyện ấy là gì và nguy ngập đến cỡ nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trung Quốc hiện đang kiểm soát Cao nguyên Tây Tạng và một phần lớn của rặng Hy Mã Lạp Sơn là đỉnh cao nhất của địa cầu, nơi mà băng tuyết cũng mở ra sinh lộ cho các con sông lớn nhất Châu Á, trước tiên là Hoàng Hà và Dương Tử. Người ta gọi đó là "tháp nước" của địa cầu, nguồn sống cho một tỷ người Á Châu trong đó có 300 triệu dân Trung Quốc.

- Từ nhiều thập niên vừa qua, Trung Quốc đã lạm thác lâm sản dưới chân Hy Mã Lạp Sơn và gây lũ lụt cho hạ nguồn ở dưới. Thế rồi tiến trình gọi là công nghiệp hoá rất thiếu suy tính đã xâm phạm đỉnh trời và có thể là đẩy lui các tảng băng sơn trên đỉnh, bình quân một năm thì mất 7%. Nghĩa là làm giảm lượng nước cho ngần ấy con sông ở dưới Cao nguyên Tây Tạng. Nối tiếp là cả vạn dự án xây đập thủy điện để tìm năng lượng, làm biến đổi trật tự thiên nhiên và môi sinh của các con sông, kể cả sông Mekong của năm nước Đông Nam Á ở dưới.

- Nhưng chủ quan và ích kỷ đến độ tự sát, Trung Quốc còn muốn khơi dòng Dương Tử bằng nhiều con kinh nhân tạo để tiếp nước vào sông Hoàng Hà hầu tiêu tưới cho các tỉnh miền Bắc. Từ ngàn xưa, lãnh đạo xứ này đã cố dẫn nước từ miền Nam lên miền Bắc, Mao Trạch Đông đã mở ra kế hoạch gọi là "Nam Thủy Bắc Điều" và các thế hệ nổi tiếp tiếp tục thực hiện. Kết quả là những trái bom nổ chậm về môi sinh hay động đất nằm ngay tại Trung Bộ và tai họa chết người cho hầu hết các lân bang. Trung Quốc đang cướp nước trong nghĩa đen vì tước đoạt nguồn nước của thiên hạ. Chuyện Cửu Long cạn dòng ở nước ta mới chỉ là một phần thôi. Cho nên, từ vụ dân Tây Tạng phải tự thiêu, ta còn phải thấy ra cả nguy cơ thiếu nước của Châu Á.

Vũ Hoàng: Từ chuyện dân Tây Tạng tự thiêu đến chuyện Á Châu thiếu nước, hình như ông vừa trình bày nhiều chuyện sinh tử qua tấm bản đồ và các kế hoạch chủ quan của Trung Quốc. Nhưng thưa ông, nguy cơ thiếu nước đó nó nghiêm trọng đến chừng nào mà vì sao người ta phải quan tâm?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, Á Châu là nơi có các nền kinh tế đang phát triển, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á. Tiến trình phát triển thì có công nghiệp hoá và đô thị hóa với yêu cầu về nước ngọt sẽ chỉ tăng chứ không giảm. Như Ấn Độ và Trung Quốc thì quy tụ 37% dân số địa cầu mà chỉ có 11% lượng nước ngọt của thế giới. Nếu tính cho cả Á Châu thì họ chỉ có tôi xin gọi là "khẩu phần nước ngọt" theo đầu người bằng phân nửa bình quân của thế giới. Tức là đang thiếu và sẽ còn thiếu nặng. Á Châu cũng là nơi có hiệu năng tiêu thụ và sản xuất kém nhất về nước ngọt, tức là gây lãng phí đến độ xài nước của các thế hệ sau này.

- Trong hoàn cảnh chung đã đen tối, Trung Quốc lại chỉ nghĩ đến mình nên vừa phá hủy nguồn nước trên đỉnh trời Tây Tạng khi lạm thác rặng Hy Mã Lạp Sơn mà còn cưỡng đoạt nguồn nước của các lân bang, từ Pakistan qua Kyrgyzstan, Ấn Độ, Bangladesh, Miến Điện, Thái Lan đến ba nước Đông Dương. Ở bên trong, việc công nghiệp hoá bất kể đến môi sinh và an toàn sẽ gây họa cho chính người dân của họ với mấy vạn dự án xây đập nước và cả triệu trường hợp không xử lý phế vật thải ra từ nhà máy và cứ chảy thẳng ra sông và thấm xuống các mạch nước ngọt ở dưới.

Ấn Độ và Trung Quốc thì quy tụ 37% dân số địa cầu mà chỉ có 11% lượng nước ngọt của thế giới. Nếu tính cho cả Á Châu thì "khẩu phần nước ngọt" theo đầu người bằng phân nửa bình quân của thế giới.
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa
Vũ Hoàng: Kết luận đó của ông quả là điều rất đáng quan tâm cho các nước Á Châu, nhất là cho một quốc gia sống nhờ sông Mekong và chuyên về lúa nước như Việt Nam.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Khi nói về địa dư hình thể và tài nguyên do thiên nhiên đem lại, ta có thể kết luận là Châu Á đã mở ra viễn ảnh ghê người là các quốc gia sẽ tranh chấp không chỉ để giành lấy đất đai hay dầu khí như các nước khác trong tiến trình công nghiệp hoá của thế kỷ 19 và 20. Qua thế kỷ 21, Á Châu dễ có xung đột để giành nguồn sống là nước ngọt. Động thái của Trung Quốc báo hiệu điều ấy, không chỉ ở ngoài Đông hải mà trên từ trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Người ta không nên thờ ơ với những gì xảy ra cho Tây Tạng vì đấy chỉ là mặt nổi của những tai họa còn ghê gớm hơn cho tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc từ Ấn Độ tới Việt Nam.

Vũ Hoàng: Đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.  

Thứ Ba, tháng 4 17, 2012

Nhiễu Âm và Trống Trận

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 120417
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Viễn ảnh Kinh tế Hoa Kỳ trong Tranh cử  





Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ bước qua giai đoạn hai khi ông Mitt Romney coi như sẽ đại diện bên Cộng Hoà ra tranh cử với Tổng thống Barack Obama bên Dân Chủ. Vì hai đề mục đang được dân Mỹ quan tâm nhất hiện vẫn là kinh tế và việc làm, nên đề nghị của hai ứng viên nhằm giải quyết hai ưu tiên này sẽ quyết định về kết quả bầu cử vào mùng sáu Tháng 11 tới đây.

Nhưng vì vấn đề kinh tế xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa về cơ cấu, lại bị giáng một đòn là nạn bể bóng thị trường gia cư và khủng hoảng tín dụng loại thứ cấp - là cái "duyên" chứ không là cái "nhân" của sự suy sụp từ bốn năm qua - việc tìm ra giải pháp khả dĩ huy động được hậu thuẫn của dân chúng không là điều dễ.

Lý do thứ hai là dù quá dài, cuộc tranh cử mới chỉ qua khỏi vòng sơ bộ bên đối lập, với nhiều tranh cãi vớ vẩn về ưu tiên – như kinh tế hay xã hội, đạo đức – nên mọi sự còn chờ Đại hội hai đảng, cuối Tháng Tám bên Cộng Hoà, đầu Tháng Chín bên Dân Chủ, và bốn cuộc tranh luận của hai liên danh. Trong khi chờ đợi, ta thấy xuất hiện nhiều nhiễu âm hơn là thực chất của hai chương trình hành động.

Nhiễu âm là loại âm thanh ồn ào với mục tiêu tạo ra ấn tượng về chính trị trong khi lại gây rủi ro là làm cử tri không thấy đâu là giải pháp. Hai thí dụ nóng về loại nhiễu âm này là vai trò của phụ nữ và giải pháp đánh thuế nhà giàu.

Hoa Kỳ là xứ dân chủ và cởi mở nên giữa vụ tổng suy trầm nghiêm trọng nhất từ 70 năm nay, người ta vẫn có thể tranh luận việc mà người khác cho là phù du, như có nên tài trợ nhu cầu mua thuốc ngừa thai cho phụ nữ không. Một nữ sinh viên kỳ cựu, đã 31 tuổi, vẫn có 15 giây nổi tiếng trong đời khi đòi chính quyền liên bang phải yêu cầu các hội thiện yểm trợ việc đó, nếu không là can tội kỳ thị phụ nữ. Lập tức phe bảo thủ về đạo đức bên Cộng Hoà nhập cuộc và vụ cãi vã lây lan qua việc phu nhân của ông Mitt Romney không đi làm khiến Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama phải nhảy vào bênh vực bà Ann Romney.

Loại nhiễu âm thứ hai là biện pháp đánh thuế nhà giàu. Đó là đề nghị gọi là "Buffett Rule" của ông Obama nhằm tăng thuế trên lợi tức đầu tư của 1% những người giàu nhất như tỷ phú Warren Buffett, một người tham gia vào ban tranh cử của ông. Vì mục đích tái lập công bằng xã hội, đề nghị ấy ảnh hưởng đến chừng 22 ngàn người giàu nhất và nếu lạc quan thì thu về cho công quỹ chừng 47 tỷ Mỹ kim trong 10 năm tới, khi bội chi ngân sách một năm đã vượt 1.500 tỷ. Nếu có chia cho khoảng 46 triệu dân Mỹ nghèo thì khoản bội thu, giả dụ 4,67 tỷ một năm, chỉ cho mỗi người trăm bạc. Mặt trái là biện pháp này sẽ làm sụt mức đầu tư của "bọn nhà giàu" đến cỡ nào và giảm thất nghiệp bao nhiêu thì chưa ai rõ.

Đề nghị ấy có mục đích gây ấn tượng chính trị hơn là giải quyết vấn đề kinh tế, nhưng cũng làm cử tri sôi nổi tranh luận, xem đảng nào lo cho dân nghèo và đảng nào lo cho kinh tế, v.v....

Chúng ta cố len qua đám nhiễu âm nhiễu xạ ấy để nhìn vào thực tế kinh tế, ngõ hầu có cơ sở thẩm xét đề nghị giải quyết của hai đảng và nhất là ước đoán ra là kinh tế Mỹ sẽ đi về đâu.


***


Sau đây là vài sự thật về kinh tế mà người viết xin lỗi trước là phải tóm lược cho gọn.

Từ mấy chục năm nay, Hoa Kỳ vay mượn quá nhiều và tiêu xài phóng túng với hệ thống tài chánh ngân hàng quá sáng tạo so với luật lệ kiểm soát nên đến hồi trả nợ bằng nâng tiết kiệm và giảm tiêu thụ. Khi kinh tế suy trầm từ cuối năm 2007, các biện pháp kích thích kinh tế đều nhắm vào tăng chi để bù vào khoản giảm chi của công chúng và doanh nghiệp nên mới gây bội chi ngân sách quốc gia và nâng mức công trái của nhà nước – mà không hiệu quả như dự trù.

Việc ngân hàng trung ương hạ lãi suất tới số không và bơm tiền cho doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lại dẫn tới hậu quả bất lường: doanh nghiệp lấy tiền chỗ rẻ đầu tư vào chỗ có lời: thị trường chứng phiếu. Họ an toàn kiếm lời, chịu thuế ít, mà vẫn không tạo thêm việc làm và chẳng phải băn khoan gì với yêu sách của  nghiệp đoàn hay phải góp phần trả thuế an sinh xã hội, trợ cấp y tế hoặc chung tiền bảo hiểm sức khoẻ cho nhân viên mà họ không tuyển!

Kinh tế Mỹ ra khỏi suy trầm từ Tháng Bảy năm 2009 mà chưa phục hồi và thất nghiệp còn cao. Thất nghiệp cao là lợi tức giảm, nguồn thuế khoá giảm theo và bội chi vẫn còn cao nếu phải kể thêm gánh nặng trợ cấp thất nghiệp. Đấy là cái vòng luẩn quẩn khó gỡ.

Huống hồ thất nghiệp không chỉ là một vấn đề chu kỳ nhất thời mà còn có cả nguyên nhân sâu xa trong sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất qua hình thái hậu công nghiệp. Hiện tượng ấy xuất hiện từ cả chục năm mà vẫn chưa thấy giải pháp thoả đáng. Chúng ta sẽ còn cơ hội tìm hiểu về vụ này.

Trong khi ấy, ngay trước mắt, kinh tế Hoa Kỳ lại có nguy cơ trôi vào một nạn suy trầm nữa!

Khi các chính khách còn tranh luận về trách nhiệm và giải pháp, sự thật éo le ở đây là nền kinh tế chỉ khởi sắc nếu tiêu thụ gia tăng. Mỗi đợt thống kê về tiêu thụ hay bán lẻ lại là một lần nhức tim và vòng xoáy lại thắt chặt khi thất nghiệp chưa giảm mạnh: chưa có việc làm mà nhà cửa vẫn mất giá hoặc mất luôn thì ai dám phóng tay tiêu xài?

Việc tiêu xài tùy thuộc vào tâm lý lạc quan hay không về tương lai. Với giới thiêu thụ, tâm lý đó chưa thay đổi. Chuyện xăng dầu nhất thời lên giá thì dù chẳng nhiều và có thể sẽ hạ vẫn chưa giúp nhà tiêu thụ an tâm. Những tranh luận triền miên và chuyện đổ lỗi liên hồi trên chính trường càng làm dân Mỹ e ngại, nghe ngóng và chờ đợi những ách tắc chính trị như đã thấy năm ngoái.

Mà không chỉ có giới tiêu thụ mới hoang mang! Nơi tạo ra việc làm là doanh nhiệp loại nhỏ, mới được thành lập trong vòng dăm ba năm, chứ không phải là các đại tổ hợp. Trong mấy năm qua, các doanh nghiệp này đã "tăng năng suất" – sa thải nhân viên và tiết giảm phí tổn – để cầm hơi. Nếu họ không đuổi bớt người thì đã mừng, đó là việc số người lần đầu khai báo thất nghiệp có giảm. Nhưng con số lạc quan này chưa hẳn là doanh nghiệp đã tuyển thêm người mới.

Các doanh nghiệp chưa yên tâm với chiều hướng chính trị hiện nay, khi họ vẫn bị xem là bọn nhà giàu có tội và đáng bị đánh thuế thêm một đợt nữa để góp phần tái lập công bằng...

Nhìn ra bên ngoài, vì Hoa Kỳ giao thương với cả thế giới, tình hình cũng chưa có gì khả quan.

Kinh tế Trung Quốc có thể giảm đà tăng trưởng và nếu Bắc Kinh có mở biên độ giao dịch đồng Nguyên thì việc xuất cảng vào thị trường này chưa thể là giải pháp cứu nguy kinh tế Mỹ. Đã thế, Âu Châu có khi lại lãnh họa và gây hậu quả bất lợi cho Hoa Kỳ.

Sau Hy Lạp rồi Ý đến Tây Ban Nha cũng đã thay đổi lãnh đạo và áp dụng chánh sách khắc khổ, mà Liên hiệp Âu châu và khối Euro chưa đẩy lui khủng hoảng. Từ nay đến Tháng Sáu, Pháp lại có bầu cử – vòng sơ bộ vào tuần tới và vòng loại vào Tháng Năm – rồi bầu Quốc hội vào Tháng Sáu.

Nếu đảng Xã hội và cánh tả thắng cử, như người ta dự đoán ngay trước ngày bầu cử, Chính quyền mới của Pháp sẽ tăng thuế, nâng mức trợ cấp xã hội, tăng chi để tuyển thêm công chức và phủ nhận thoả thuận về chánh sách kiệm ước của 25 nước Liên Âu hôm mùng hai Tháng Ba, trong đó có nước Pháp. Khi ấy, tương lai cả Âu Châu và khối Euro sẽ treo trên cổ nước Đức, và chấn động từ đó sẽ dội về Hoa Kỳ.

Kinh tế Mỹ có thể lại bị suy trầm vào mùa Thu, trước khi dân Mỹ đi bầu.

Từ trong ra ngoài, mấy hối trống trận ấy mới thực sự nguy nàn, hơn hẳn những nhiễu âm hiện nay của cuộc tranh cử.


Thứ Hai, tháng 4 16, 2012

Vấn Đề Trung Quốc Của Thế Giới và Của Việt Nam

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Ngày 120415

Vì sao Trung Quốc là vấn đề và Việt Nam nên giải quyết ra sao?  



 

Bài tham luận đọc tại cuộc hội thảo "Định hướng Đấu tranh cho Việt Nam Tự Do" tổ chức tại Westminster, California, ngày 15 Tháng Tư 2012.


Đáp lời mời của Ban Tổ Chức, chúng tôi xin trước hết có vài cảm nghĩ chủ quan của mình.

Biến cố Tháng Tư 1975 làm thay đổi vận mệnh quốc gia, trong đó, bản thân chúng ta chỉ là những mảnh vụn rất nhỏ. Nhưng cũng từ đó, chúng ta đều phải suy nghĩ về đất nước và không chỉ tưởng niệm hoặc luyến tiếc mỗi năm vào dịp Tháng Tư. Chúng ta suy nghĩ về quá khứ với câu hỏi "Tại Sao?" - và về tương lai với câu hỏi "Đất Nước Sẽ Ra Sao?"

Không tham gia một tổ chức đấu tranh chính trị nào, bản thân chúng tôi kính trọng những người đấu tranh dù có khi không hoàn toàn đồng ý về mọi chuyện. Và càng kính trọng những người đấu tranh vì lý tưởng hơn là vì mơ tưởng sẽ có một vai trò chính trị nào đó trong tương lai.

Cũng vì vậy mà chúng tôi có mặt trên diễn đàn này, như một người nghiên cứu về kinh tế và quan tâm đến Trung Quốc từ nhiều giác độ khác nhau.

Bài tham luận của chúng tôi sẽ có bốn phần và rất ít con số khô khan, chỉ với ước mong khiêm nhượng là gợi ý suy tư về chuyện quốc gia và quốc tế cho những người quan tâm.

Trước hết là về bối cảnh chung: "Vì Sao Trung Quốc là Vấn Đề?" Kế tiếp mới là "Vấn Đề Trung Quốc của Thế Giới, và "Vấn Đề Trung Quốc của Việt Nam". Sau cùng là phần kết luận, "Vấn Đề Trung Quốc của Chúng Ta" -  với vài câu hỏi... nhức đầu.

Chúng tôi xin đầu tiên nói về bối cảnh


1.      Vì Sao Trung Quốc là Vấn Đề?


Vì là trình bày bối cảnh nên phần này sẽ hơi dài, mất 10 phút.

Quốc gia nào cũng có những giai đoạn thăng trầm trong lịch sử của từng dân tộc. Trong thế giới gọi là "toàn cầu hóa" ngày nay, hầu hết các quốc gia đều cũng có quan hệ với nhau, về ngoại giao, kinh tế hay an ninh. Trung Quốc là trường hợp cá biệt vì di sản của quá khứ.

Xin hãy nói về quá khứ đó. Sau nhiều thế kỷ là đại cường Á châu và thế giới, Trung Quốc đã trải gần hai thế kỷ lụn bại vì nội loạn bên trong và ngoại xâm bên ngoài. Những biến cố kéo dài đó có ảnh hưởng đến tâm lý của dân tộc, chính yếu là Hán tộc. Vừa "tự tôn" vừa "tự ti" có thể là phản ứng tiêu biểu. Khinh thường mà cũng nghi ngờ và e sợ thiên hạ là cách nói dễ hiểu hơn.

Sau nửa thế kỷ nội loạn triền miên, Trung Quốc chỉ giải quyết xong vấn đề ngoại xâm từ hậu bán thế kỷ 20, vào năm 1949, rồi mất 30 năm điên khùng với bài toán dựng nước. Điên khùng vì sự hoang tưởng của Mao. Cho đến năm 1979, xứ này mới tìm được lối ra nhờ Đặng Tiểu Bình. Từ đấy, trong 30 năm liền, xứ này đã tạm yên với chiến lược tăng trưởng khi mở cửa giao lưu kinh tế với thế giới. Tăng trưởng bằng mọi giá là một cách nói dễ hiểu.

Bây giờ đến chuyện hiện tại. Nhờ dân số đông nhất địa cầu và lại là nước đi sau có thể học được kiến thức và kinh nghiệm các nước đi trước, Trung Quốc sớm thành cường quốc kinh tế. Một quốc gia có trọng lượng kinh tế thứ nhì thế giới. Nhưng người dân thì vẫn thuộc loại "Ba Bê", BBB, nghèo như các nước Belarus, Belize hay Bolivia, nếu tính bằng lợi tức đầu người.

Đấy là một mâu thuẫn tâm lý đáng chú ý.

Cho nên, vì yếu tố lịch sử - và đôi khi văn hoá - Trung Quốc cho rằng thế giới có tội về những tai họa của họ từ thời suy sụp của nhà Mãn Thanh. Và rằng từ nay sự thể sẽ khác. Vì vậy, trong quan hệ với các quốc gia, lãnh đạo xứ này không hề có một chút mặc cảm khi làm những điều mà thế giới không còn chấp nhận nữa. Lãnh đạo Trung Quốc có đầy đủ kiến thức của thế kỷ 21, nhưng hành xử với thủ đoạn trung cổ, theo những nấc thang giá trị đã lỗi thời, mà họ vẫn coi là chính đáng.

Vì vậy, chúng ta mới có vấn đề Trung Quốc, xin trình bày qua sáu điểm:

1. Về ngoại giao, Trung Quốc là thành viên thường trực và có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, và cũng tham gia hầu hết mọi tổ chức chuyên môn quốc tế. Có quan hệ với gần 200 quốc gia lớn nhỏ trên thế giới, Trung Quốc không hành xử như cường quốc có trách nhiệm về sự yên bình của địa cầu. Khi cần trục lợi thì ngoại giao chỉ là một phương tiện, và đạo lý quốc tế là một chướng ngại mà họ tự cho là có quyền phủ nhận.

2. Về kinh tế, Trung Quốc cũng có chủ trương lý tài và thực dụng trong mục tiêu tối thượng là trục lợi. Tức là sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để giành phần hơn, kể cả ăn cắp, ăn cướp, bằng luật lệ hoặc qua tình báo, tham nhũng, mua chuộc. Chủ trương phát triển nền tư bản nhà nước cho phép lãnh đạo xứ này sử dụng các doanh nghiệp nhà nước trong tinh thần chiến đấu để ăn cướp. Chúng ta có cả trăm trường hợp minh diễn chuyện này.

3. Về môi trường, Trung Quốc là một trung tâm gây ô nhiễm toàn cầu mà... bất chấp. Họ không tham gia vào nỗ lực chung của cả thế giới để bảo vệ môi trường sinh sống của nhân loại và bên trong cũng chẳng kiểm soát việc bảo vệ môi sinh vì coi đó là một trở ngại cho tăng trưởng. Tăng trưởng bằng mọi giá là một chủ trương, cái giá ấy, ai sẽ trả, bao giờ trả thì không đáng kể.

4. Cũng về môi trường, chuyện đáng nói hơn cả là sau khi tấn công Tây Tạng năm 1950 rồi hoàn toàn kiểm soát xứ này từ năm 1959, Trung Quốc đang làm chủ Cao nguyên Tây Tạng và phần lớn của rặng Hy Mã Lạp Sơn đầy băng tuyết. Đây là đỉnh cao nhất thế giới, và một đệ tam cực sau Nam-Bắc cực, trung tâm phát nguyên những con sông lớn nhất Á Châu. Đây cũng là một "tháp nước" của toàn cầu, nơi cung cấp nước ngọt qua mạng lưới sông ngòi nuôi sống hơn một tỷ người dân Á Châu.

Khi kiểm soát Hy Mã Lạp Sơn và Cao nguyên Tây Tạng, Trung Quốc làm chủ nguồn nước của hầu hết các nước Á Châu vây quanh. Và họ điều tiết nguồn nước đó cho mình mà bất kể đến quyền lợi hay sinh mệnh người dân xứ khác, dù là Pakistan, Kyrgyzstan, Ấn Độ, Bangladesh, hay Miến Điện, Thái Lan và ba nước Đông Dương Việt, Miên, Lào. Năm nước sau cùng này đều có thể sống hay chết vì sông Mekong vì lưu vực của dòng sông là nơi sinh hoạt của 60 triệu dân.

Trong khi ấy, Cao nguyên Tây Tạng cũng là nơi hủy thải phế vật uranium của kỹ nghệ hạch tâm, theo tiêu chuẩn mất an toàn đặc biệt của Trung Quốc.

5. Kết hợp ngần ấy chuyện ngoại giao, kinh tế và môi sinh, Trung Quốc còn là vấn đề khi hợp tác, mua chuộc và khuynh đảo các chế độc độc tài và hung đồ của thế giới, miễn là đảm bảo được quyền lợi của mình. Mọi chế độ độc tài còn rơi rớt lại trên thế giới đều là thân chủ của Trung Quốc và được Bắc Kinh bao che, bảo vệ, từ Bắc Hàn đến Việt Nam, từ Sudan tới Iran, Syria...

6. Sau cùng, về an ninh và quân sự, Trung Quốc tự cho mình quyền bảo vệ luồng giao lưu buôn bán, lần đầu tiên trong lịch sử được mở ra thế giới bên ngoài. Nhưng bảo vệ theo màu sắc Trung Hoa thời cổ. Không chỉ chiếm đóng các lân bang để xây dựng vùng trái độn quân sự như đã từng làm từ thời xưa, Trung Quốc muốn mở rộng vùng trái độn ấy ra bên ngoài, và ra biển.

Từ 20 năm trước, lãnh đạo xứ này đã chuẩn bị việc kiểm soát vùng biển cận duyên hay xanh lục làm vùng trái độn quân sự. Ngày nay, với phương tiện kinh tế dồi dào hơn, Trung Quốc có tham vọng sớm thành cường quốc hải dương với khả năng kiểm soát vùng biển viễn duyên là biển xanh dương. Trong phạm vi đó, cái lưỡi bò chúng ta nghe nói đến chỉ là phần trái độn cận duyên, ở ngoài Đông hải. Trong một tương lai không xa, Trung Quốc sẽ đòi kiểm soát luồng giao lưu từ Bán đảo Á Rập qua Ấn Độ dương nối liền với miền Tây Thái bình dương.

Khi thế giới có một đại cường mới xuất hiện thì quan hệ giữa các nước có thể đảo lộn. Khi đại cường lại là một Trung Quốc có đầy mặc cảm và lối hành xử ngang ngược mà lãnh đạo và người dân lại coi là chính đáng, thế giới sẽ khó yên lành.

Sau phần bối cảnh, chúng ta bước qua phần vấn đề.


2.      Vấn Đề Trung Quốc của Thế Giới....

Phần này có bốn khía cạnh chúng tôi nghĩ là đáng chú ý:

1. Quốc gia nào cũng có thể có tranh chấp về lãnh thổ với các lân bang. Trung Quốc là quốc gia tranh chấp với hầu hết mọi lân bang, cả chục nước, từ Nga qua Ấn Độ đến các nước Đông Nam Á tên tới Nhật Bản....

Khi có tranh chấp, quốc gia nào cũng phải tương nhượng và có thể yêu cầu quốc tế tham gia giải quyết hoặc tôn trọng phán quyết của quốc tế. Lãnh đạo Trung Quốc lại không chấp nhận việc thương thảo đa phương trên một diễn đàn quốc tế mà tìm giải pháp song phương với từng nước, theo kiểu cố hữu là vừa dọa vừa dụ, vừa mua chuộc hoặc khuynh đảo. Đấy là một vấn đề của thế giới.

Chuyện cái lưỡi bò hoặc khu đặc quyền kinh tế hay Luật biển của Liên hiệp quốc chỉ là mặt nổi của các vấn đề ngoại giao hay pháp lý với Bắc Kinh. Nếu tiến lên khu vực tiếp cận Hy Mã Lạp Sơn và những vùng tranh chấp giữa Pakistan và Ấn Độ tại Kashmir, hoặc giữa Ấn Độ với Trung Quốc chung quanh xứ Nepal, Bhutan, v.v.. cho tới biên giới Miến Điện, người ta còn thấy ra nhiều mối nguy tiềm ẩn từ Trung Quốc, kể cả xung đột giữa hai nước có võ khí hạch tâm là Pakistan và Ấn Độ.

Với phương tiện quân sự lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử xứ này, Trung Quốc có thể đổi trị sang loạn ở nhiều nước trên thế giới.

Dĩ nhiên, lãnh đạo Bắc Kinh không muốn trực diện gây chiến với các lân bang, nhưng tiến hành chiến tranh theo kiểu khác. Đó là khuynh đảo để gây bất ổn và dùng chính mối nguy bất ổn đó để bắt bí hoặc mua chuộc các nước mà khỏi phải dụng binh. Khi cứ nói đến tương quan lực lượng quân sự giữa Trung Quốc với các nước, thí dụ như so sánh ngân sách quốc phòng, dường như người ta chỉ thấy một mặt nổi của vấn đề. Mặt chìm rất khó nhìn ra và ngăn ngừa là khả năng gây loạn cho xứ khác, để chi phối quan hệ giữa các nước khác với nhau, theo lối có lợi cho Bắc Kinh.

2. Từ an ninh bước qua chính trị và kinh tế, Trung Quốc là vấn đề cho thế giới khi đưa ra một mô thức xử trí khác, xin gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh".

Sau khi chi phối cả thế giới trong nhiều thế kỷ, các nước Tây phương, chủ yếu là Hoa Kỳ và Âu châu, đã rút tỉa kinh nghiệm chinh chiến và sai lầm của mình. Họ thay đổi và tiến tới một giải pháp hoà bình và ổn định hơn. Đó là phát triển kinh tế tự do với sự lãnh đạo chính trị dân chủ trong một xã hội cởi mở mà không ai có độc quyền chân lý. Các định chế quốc tế đều được xây dựng theo ba giá trị tinh thần đó, là tự do, dân chủ và cởi mở, nghĩa là chấp nhận dị biệt để hướng dẫn quy tắc hành xử hòa bình giữa các nước với nhau.

Trung Quốc phát minh ra giải pháp khác: kinh tế thị trường với vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước, dưới sự cai trị của một chế độ độc đảng, và chân ly duy nhất được hiện hữu là của đảng độc quyền. Đó là tóm lược về khái niệm "Đồng thuận Bắc Kinh", mà đa số dư luận chỉ nhìn vào mặt nổi là sức can thiệp chủ động của nhà nước trong kinh tế để đạt tốc độ tăng trưởng cao.

Khi áp dụng khái niệm này trong quan hệ quốc tế, với bộ máy tuyên truyền, địch vận, kiều vận cùng dự án đầu tư lẫn thủ thuật hối lộ và khuynh đảo, Trung Quốc đảo lộn luật chơi của thế giới. Phong trào phát huy dân chủ gặp chướng ngại, bị đẩy lui, các chế độ độc tài được bảo vệ, và nhiều quốc gia muốn đi theo con đường tắt của Trung Quốc là bành trướng khu vực nhà nước vào kinh tế, thu hẹp quy luật thị trường, thoái lui về chế độ bao cấp và bảo hộ mậu dịch....

Trong hoàn cảnh suy trầm kinh tế toàn cầu từ bốn năm nay, giải pháp ngược ngạo của Bắc Kinh bỗng thành hấp dẫn cho nhiều người, nhất là các lãnh tụ độc tài, trong khi Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng, mâu thuẫn giữa các nước với nhau càng dễ xảy ra. Nghĩa là Bắc Kinh càng có cơ hội trục lợi.

Vì vậy, các quốc gia dân chủ đều gặp vấn đề với Trung Quốc, không về kinh tế hay ngoại thương thì về ngoại giao và an ninh. Mà càng ở gần xứ này thì càng vất vả. Trong khi vòng đai độc tài không thu hẹp lại mà còn mở rộng thêm nhờ sự hà hơi tiếp sức của Trung Quốc.

3. Trong cuộc đua giữa thiện và ác, trị và loạn, hoà bình và xung đột, dân chủ và độc tài, minh bạch và mờ án, Trung Quốc trở thành một trung tâm phát huy cái ác. Nhưng với khẩu hiệu là "không xen lấn vào nội bộ xứ khác". Và với thực tế là đối tác kinh tế của rất nhiều quốc gia.

Các nước Âu, Á, Phi, Mỹ gì đều có thể là bạn hàng của doanh nghiệp Trung Quốc, mà bên trong mỗi doanh nghiệp lại có các chi bộ đảng với nhiệm vụ tình báo, báo cáo, kiều vận và gian lận theo đúng chủ trương của đảng. Ngược lại, doanh nghiệp nào, công hay tư, của Trung Quốc cũng đều có quan hệ với hệ thống quốc doanh và vì vậy kế toán sổ sách gì cũng đều là "bí mật quốc gia" nên không được phép phổ biến.

4. Kết cuộc là từ an ninh, môi sinh đến ngoại giao, kinh tế hay đầu tư, Trung Quốc trở thành vấn đề của thiên hạ mà vì quyền lợi nhất thời, lẫn sự vận động tiền bạc của Bắc Kinh vào hệ thống truyền thông của thế giới, nhiều người không muốn nói ra. Hoặc còn cố tình gây ra ấn tượng sai lạc về Trung Quốc.

Thực tế thì cuộc đua giữa thiện và ác, giữa minh và ám, đang thể hiện ở một tầng rất cao là nhận thức. Trung Quốc tác động vào nhận thức của thiên hạ về chính mình – "một quốc gia mới phát triển sau nhiều thế kỷ là nạn nhân" – và về các nước dân chủ được coi là đối thủ, hay thủ phạm của nhiều tội ác trong lịch sử!

Đó là "thuật quỷ biển" trong kho tàng mưu lược của văn hoá chính trị Trung Hoa.

Chúng ta bước qua một đề mục gần hơn, ở phần ba.


3.      Vấn Đề Trung Quốc của Việt Nam

Phần ba này có bốn khía cạnh mà chúng ta nên quan tâm.

1. Nói về lịch sử mà ai cũng nhớ, sau khi chiếm đóng Tân Cương năm 1949, khống chế Tây Tạng năm 1950, và bị chặn tại bán đảo Triều Tiên năm 1953, Trung Quốc đã nghĩ tới Việt Nam như một vùng trái độn quân sự cần thiết. Trong thế thủ thì vùng trái độn ấy bảo vệ cõi Trung Nguyên và trong thế công thì đấy là bàn đạp bành trướng ảnh hưởng xuống vùng Đông Nam Á và ra tới biển nóng ở miền Nam.

May thay, lúc đó họ lại có đảng Cộng sản Việt Nam và giấc mơ tiến hành cách mạng vô sản trên cả nước của Hồ Chí Minh.

Đấy là một trong nhiều nguyên nhân của cuộc tương tàn, với sự tiếp sức của Liên Xô khi tiến hành Chiến tranh lạnh năm 1948 và chủ yếu của Trung Quốc ngay từ những ngày đầu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Mao sáng lập năm 1949.

Nối tiếp nhiệm vụ của Hồ Chí Minh từ khi là cán bộ của Đệ tam Quốc tế được gửi về hoạt động tại Đông Nam Á từ năm 1924 xa xưa, đảng Cộng sản Việt Nam tự nhận là mũi xung kích của khối Cộng sản xuống Đông Nam Á, mà việc gọi là giải phóng miền Nam chỉ là một tất yếu.

2. Nhưng ngoài lý do ý thức hệ dại dột, có một chuyện mà đôi khi chúng ta ít chú ý là về địa dư hình thể, Trung Quốc là một "hải đảo" bị cô lập. Xin hãy nhìn vào hoàn cảnh "khách quan" của họ.

Xứ này bị vây hãm từ bốn hướng. Giữa các sa mạc, thảo nguyên hoang vu cùng núi rừng hiểm trở tại ba hướng Nam, Tây và Bắc với biển Thái bình tại hướng Đông, Trung Quốc chỉ có một đường bành trướng trên đất liền. Đó là miền Bắc nước Việt Nam.

Lần cuối mà họ thử nghiệm giải pháp đó là vào năm 1979 khi Hà Nội chủ quan tưởng rằng mình đã đánh cho Mỹ cút lại còn vừa ký Thỏa ước Hợp tác và An ninh với Liên Xô vào năm 1978!

Sau đó, Cộng sản Việt Nam có giai đoạn được gọi là "độc lập" là 10 năm chiếm đóng Kampuchia và cứng đầu với Bắc Kinh. Nhưng Việt Nam bị xuất huyết cũng vì sự chiếm đóng ấy, song song cùng nạn phá sản vì xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

3. Khi bức tường Bá Linh sụp đổ và vụ khủng hoảng tại Liên Xô và vụ tàn sát Thiên an môn năm 1989 tại Trung Quốc, mọi sự đều đảo lộn.

Liên Xô bắt đầu tan rã, Trung Quốc e sợ nội loạn nên tập trung kiểm soát hệ thống chính trị bên trên cơ chế kinh tế thị trường. Và lãnh đạo Hà Nội như kẻ mồ côi bị mất quan thầy. Vì vậy, việc cứu đảng là một ưu tiên sinh tử từ năm 1991. Ý thức hệ và sự tồn tại của đảng được đánh giá là quan trọng hơn quyền lợi tổ quốc

Hà Nội trở lại thần phục Trung Quốc, chấm dứt 10 năm độc lập dưới bóng rợp Liên Xô và thực tế tiến hành "đổi mới", nhưng theo mẫu mực Bắc Kinh.

Trung Quốc trở lại xu hướng bành trướng cố hữu mà khỏi tốn quân tốn tiền và vẫn đạt kết quả như ý: miền Bắc Việt Nam trở thành vùng trái độn quân sự. Khi Bắc Kinh mở rộng vùng trái độn ấy ra biển, Đông hải của Việt Nam trở thành ao nhà của Trung Quốc. Biển Việt Nam chỉ là biển Hoa Nam.

Lãnh đạo Hà Nội ý thức được việc đó nhưng chấp nhận để bảo vệ quyền lực đảng, nhân đó bảo vệ được quyền lợi của các đảng viên cao cấp. Nếu có nói rằng họ bán nước để cứu đảng thì cũng không sai.

4. Hậu quả là mọi vấn đề Trung Quốc của thế giới như đã trình bày ở trên đều đã xuất hiện tại Việt Nam, từ an ninh, ngoại giao qua môi sinh, kinh tế, hay ngoại thương.

Ở mặt nổi mà ai cũng thấy dù không được nói ra là nạn lạm thác lâm sản, buôn lậu qua biên giới và hủy hoại môi trường, là tình trạng cạn kiệt của đồng bằng Cửu Long và hiện tượng nước biển ngập mặn cả đồng bằng, v.v.... Trong khi ấy khu vực chiến lược như cột xương sống của quốc gia là Cao nguyên Trung phần đã rơi vào quỹ đạo Trung Quốc với các dự án quái quỷ loại bauxite....

Nhưng biểu hiện nghiêm trọng hơn vậy là lập trường của Hà Nội lại rất thân Trung Quốc trong các hồ sơ nóng của thế giới. Hoặc việc Hà Nội tránh nêu vấn đề về Hoàng Sa hay Trường Sa trên diễn đàn quốc tế theo kiểu đa phương mà tìm giải pháp song phương theo quan hệ chủ tớ. Vì vậy mới giấu biến không cho dân chúng được biết về những gì đã thỏa thuận với Bắc Kinh.

Và cũng vì vậy, Hà Nội kiểm soát dư luận, cấm đoán việc người dân công khai phản đối sự xâm lược ngang ngược của Trung Quốc và nói nước đôi về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ mấy năm qua, người Việt chúng ta đã phân tách rất nhiều vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, bài tiểu luận này sẽ không nói thêm. Chúng tôi xin giành thời giờ cho phần cuối, một cách tóm lược với vài câu hỏi không vui.


4.      Vấn Đề Trung Quốc của Chúng Ta


Qua phần cuối, chúng tôi xin nói về sáu khía cạnh đáng quan tâm và một kết luận cô đọng: "Thế giới phải giải quyết vấn đề Trung Quốc của thế giới và Việt Nam phải giải quyết vấn đề Trung Quốc của Việt Nam. Trong việc giải quyết ấy, nên có sự hợp tác song hành."

1. Đất nước và dân tộc Việt Nam đang gặp vấn đề với Trung Quốc, có thể là nguy ngập hơn vì vị trí lân bang, nhưng cũng không khác nhiều quốc gia Á châu ở chung quanh. Do đó, vấn đề Trung Quốc của Việt Nam cũng nằm trong khuôn khổ các vấn đề chung của thế giới với Trung Quốc.

Khi nhìn như vậy, Việt Nam thật sự không đơn độc và phải một mình đương cự với Trung Quốc.

Một thí dụ: Đài Loan cũng gặp vấn đề Trung Quốc, còn nguy ngập hơn Việt Nam mà không có cái thế ngoại giao của Việt Nam, vậy mà người dân vẫn không sợ và lãnh đạo vẫn xoay trở để xứ này khỏi bị sát nhập. Dân khí giúp họ không sợ, dân trí giúp họ tìm ra nhiều giải pháp, thỏa ước bảo vệ của Mỹ không là giải pháp duy nhất.

Khác với trường hợp các quốc gia kia, vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm trong tầng lớp lãnh đạo đảng Cộng sản. Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm tại Hà Nội, là Hà Nội. Đấy là cái khó của dân tộc, một dân tộc dày dạn kinh nghiệm đối phó với Trung Quốc và có thừa ý chí đấu tranh giành độc lập.

2. Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm tại Hà Nội vì đảng Cộng sản giải giới người dân, tước đoạt võ khí truyền thống và mãnh liệt nhất của dân tộc là ý chí chống lại tình trạng Hán hóa.

Hà Nội tiến hành chính sách ngu dân qua kiểm soát báo chí và tư tưởng, đưa mọi người vào phản ứng lý tài, phát huy bản năng kinh tế của loại sinh vật hạ đẳng là vặt mũi bỏ mồm và triệt hạ mọi tiềm lực quật khởi. Lãnh đạo Hà Nội hành xử như những quan Tiết độ sứ của Thiên triều Bắc Kinh trong thời Bắc thuộc, thậm chí như những quan Thái thú trời trực trị. Họ đang làm xã hội băng hoại và đẩy người dân vào kiếp nô lệ cho một thiểu số đại gia phe phẩy ở trên.

3. Muốn giải quyết vấn đề Trung Quốc, người Việt Nam phải giải quyết cái nhân khiến cho sức dân không được huy động vào nhu cầu bảo vệ nền độc lập, đó là đảng Cộng sản. Ưu tiên của Việt Nam vì vậy là phải tháo gỡ cách ách độ hộ của Trung Quốc do Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam đã tròng lên cổ người dân. Tức là giải quyết đảng Cộng sản Việt Nam. Chính là các đảng viên Cộng sản cũng cần thức tỉnh và nhìn ra sự thật đó.

Với các quốc gia khác, Việt Nam phải là thành viên của một nỗ lực đa phương nhằm giải quyết vấn đề Trung Quốc của thế giới.

Khi cùng chung một mục tiêu, người ta có thể nói đến chuyện hợp tác, một cách bình đẳng vì lợi ích chung. Vì vậy, vấn đề Trung Quốc của thế giới phải do thế giới giải quyết và Việt Nam sẵn sàng tham gia như một thành viên. Nhưng không thể là mũi xung kích hay tiền đồn chống Trung Quốc của thế giới. Không quốc gia nào, kể cả Đài Loan hay Tây Tạng lại tự đảm nhiệm vai trò này.

4. Chuyện ấy dẫn chúng ta về Hoa Kỳ, dù sao cũng là quốc gia đang buôn bán nhiều nhất với Trung Quốc.

Nhiều người đã quên các bài học bi đát của quá khứ với Hoa Kỳ mà đặt sai vấn đề là nên đứng bên Hoa Kỳ hay Trung Quốc. Hoặc là trong quan hệ song phương Mỹ-Hoa, Việt Nam nên ngả về đâu? Hay là nên khôn ngoan giữ vị trí trung lập? Thực tế nó phức tạp hơn những gì xảy ra trong chiến tranh lạnh giữa hai khối cộng sản và tự do.

Thực tế là Trung Quốc có vấn đề với Hoa Kỳ, có vấn đề với Nhật Bản, có vấn đề với Ấn Độ, với các nước Đông Nam Á, thậm chí với cả Úc Đại Lợi. Trong mạng lưới quan hệ song phương chằng chịt đó, như Hoa-Mỹ, Hoa-Nhật, Hoa-Ấn, v.v... của một thế giới đa phương có nhiều chiều kích hơn là chuyện đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, Việt Nam đứng ở đâu?

Tất nhiên là phải đứng với người dân, ở vị trí độc lập, chứ không đơn giản là trung lập. Làm sao trung lập trong một quan hệ đa phương?

4. Việt Nam sẵn sàng hợp tác với thế giới để giải quyết vấn đề Trung Quốc trong các nỗ lực đa phương của quốc tế. Nhưng trước hết phải giải quyết vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, hiện nằm tại Hà Nội. Khi nào người dân Việt ở trong và ngoài nước làm cho thế giới hiểu ra sự thể đó - rằng mối nguy của Trung Quốc chính là Hà Nội và Hà Nội mới là vấn đề chứ không là giải pháp - chúng ta tiến được một bước khá xa trên chặng đường bảo vệ nền độc lập quốc gia.

Vì vậy, đấu tranh cho dân chủ và cho độc lập là hai mặt không thể tách rời của một sự thể sinh tử cho quốc gia.

5. Cho đến nay, hình như các tổ chức đấu tranh cho dân chủ mới chỉ chú ý đến một mặt, là trình trạng thiếu dân chủ hoặc nạn chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Sự thật phũ phàng là các quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, đều có thể đang làm ăn với nhiều chế độ độc tài. Với chính quyền các nước này, nhiều khi lời kêu gọi dân chủ lại là sự phiền nhiễu, là chướng ngại cho hợp tác kinh tế và phát triển kinh doanh của họ.

Nhưng nếu người ta nêu ra hàng loạt vấn đề về môi sinh, về nạn hủy hoại nguồn nước, về tình trạng cạnh tranh bất chính hoặc nguy cơ lũng đoạn xã hội xuất phát từ Trung Quốc, ngoài sự bành trướng ngang ngược đã trở thành hiển nhiên, thì vì quyền lợi của họ hơn là vì dân chủ cho Việt Nam, các nước có thể quan tâm nhiều hơn đến lập trường của người Việt. Muốn như vậy, thì ngay từ ý thức, chúng ta nên là giải pháp hơn là vấn đề cho các nước. Câu hỏi nêu lên ở đây là mình đã tự chuẩn bị như vậy hay chưa?

6. Sau cùng, Trung Quốc thật ra không mạnh như nhiều người thường nghĩ và còn gặp nguy cơ khủng hoảng, thậm chí tan rã, vì chiến lược phát triển của họ không bền vững, thiếu cân đối và có đầy bất công. Khi nước Tầu có loạn như đã từng thấy nhiều lần trong lịch sử của xứ này, Hà Nội tất sẽ không thể yên. Khi đó, Việt Nam sẽ ra sao?

Khi đó, chúng ta đứng ở đâu? Mà chúng ta là những ai?

Thứ Sáu, tháng 4 13, 2012

Trùng Khánh Trùng Trùng

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 120412

Khi Bạc Ông Bạc Bà Cùng Ngã Ngựa....  


 * Mưu thuật Trung Hoa: Lột Bà để hại Ông *



Trong giây phút lãng mạn, người viết này có mơ đến ngày về hưu thì sẽ... viết kịch! Nhưng coi như chuyện ấy khó thành vì những gì được thấy từ Trùng Khánh, dù chỉ một phần, cũng có thể khiến thiên tài Shakespeare, tác giả Bi kịch Macbeth, phải giải nghệ. Vì tưởng tưởng chưa tới....  Người viết tầm thường này đành trở lại nghiệp bình luận, nói chuyện về Trùng Khánh và vụ Bạc Hy Lai ngã ngựa.



Trước hết là về bối cảnh, tiền trường và hậu trường...

Mùa Thu năm nay, có thể vào Tháng 10, Đảng Cộng sản Trung Hoa có Đại hội khóa 18. Qua "Thập Bát Đại", 2.270 đại biểu của hơn 80 triệu đảng viên sẽ bầu ra Ban chấp hành Trung ương gồm hơn 350 Trung ương Ủy viên và Dự khuyết. Rồi Ban Chấp hành bầu ra Tổng bí thư đảng, và Bộ Chính trị gồm 25 Ủy viên - bên trong có chín người của Thường vụ Bộ Chính trị - và hơn chục ban bệ khác của đảng. Từ đấy mới có những người sẽ lãnh đạo nhà nước, quốc hội, chính phủ, quân đội, v.v... Đấy là mặt tiền. Là dân chủ tập trung, từ dưới lên!

Thực tế nơi hậu trường thì mọi việc phải do Bộ Chính trị của Đại hội 17 chuẩn bị từ trước.

Đại hội năm nay có tầm quan trọng 10 năm mới thấy một lần, là đề cử thế hệ lãnh đạo thứ năm, sau các thế hệ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào. Trong cơ chế quyền lực tối cao là Thường vụ Bộ Chính trị sẽ chỉ có hai người ở lại: Phó Chủ tịch Tập Cận Bình và Phó Thủ tướng Lý Khắc Cương, với hy vọng lên thay Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo kể từ đầu năm tới. Hai nhân vật này đã được cân nhắc, chọn lựa và cất nhắc từ Đại hội 16, 10 năm về trước. Cũng theo tinh thần này, Đại hội 18 sẽ cân nhắc và chọn lựa trước những đảng viên trẻ sẽ là thế hệ lãnh đạo thứ sáu, cho 10 năm sau.

Còn lại Đại hội 18 sẽ chọn bảy Ủy viên mới của Thường vụ Bộ Chính trị trong số 25 Ủy viên Bộ Chính trị hiện nay. Việc đề tử "thất hiền" đó là trận thế của nền dân chủ "với màu sắc Trung Hoa", và theo "định hướng xã hội chủ nghĩa"....

Trong số các Ủy viên Bộ Chính trị có triển vọng được vào Thường vụ có Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh từ gần năm năm trước, sau khi đã là Bộ trưởng Thương mại và Bí thư Liêu Ninh. Bạc Hy Lai là con trai của công thần Bạc Nhất Ba, một trong "bát đại nguyên lão" từ thời Cách mạng dựng nước. Vì xuất xứ đó, Bạc Hy Lai được coi là thuộc "Thái tử đảng". Dù Bạc Nhất Ba từng là nạn nhân của Mao trong cuộc Đại Văn Cách, Bạc Hy Lai vẫn trung thành với đảng và còn đặc biệt tôn sùng Mao Trạch Đông.

Thành tích của Bạc Hy Lai là phát triển thành phố Trùng Khánh có hơn 30 triệu dân lên hạng siêu quần.

Là một trong năm đơn vị hành chánh do Trung ương quản lý, Trùng Khánh khác hẳn bốn thành phố Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân hay Quảng Châu, vì bị khóa trong đất liền. Chứ không mở ra buôn bán với thế giới bên ngoài như các tỉnh, thành duyên hải.

Vậy mà nhờ Bạc Hy Lai, Trùng Khánh vẫn đạt mức tăng trưởng cao nhất khi các tỉnh thành kia đều sa sút vì nạn suy trầm toàn cầu - mà lại khá công bằng đáng kể về lợi tức. Nơi đây, người người đều an vui với tốc độ đô thị hóa rất nhanh mà chả thấy có khiếu kiện về nạn cướp đất và thôn dân còn có vẻ khá giả hơn thị dân. Và Trùng Khánh cũng thu hút được đầu tư ngoại quốc để trở thành một trung tâm sầm uất.

Bí quyết của họ Bạc là trung ương tại Trùng Khánh quyết định mọi việc chi thu hay đầu tư và ban phát phúc lợi chứ không dại gì cho các đơn vị hay doanh nghiệp ở dưới được tự do như trong các tỉnh thành duyên hải miền Đông. Nhờ vậy, người ta nói đến "Mô hình Trùng Khánh", với triển vọng trở thành mẫu mực và thí điểm mà các nơi khác có thể áp dụng.

Ưu thế của Trùng Khánh còn nổi bật ở nỗ lực trị an của họ Bạc.

Là một trung tâm của các tổ chức tội ác, loại "mafia" với màu sắc Trung Hoa, hay các hội kín bí hiểm được gọi là "Tam Hợp", Trùng Khánh được Bạc Hy Lai khai quang: mọi sự cấu kết giữa đảng viên cán bộ cường hào ác bá với tổ chức tội ác của xã hội đen đều bị quét sạch. Đấy là chuyện mà Bạc Hy Lai gọi là "đả hắc" - diệt xã hội đen – dù là khi càn quét như vậy, họ Bạc cũng hơi nặng tay vì nhân đó dẹp hết mọi sự chống đối quyền lực và quyền lợi của mình!

Thủ túc đắc lực và thân tín của họ Bạc trong nỗ lực nhổ cỏ dại là Giám đốc Công an Vương Lập Quân, võ sĩ gốc Mông Cổ được đưa từ Liêu Ninh về. Là bí thư đảng trong bộ máy công an Trùng Khánh, Vương Lập Quân được cất nhắc lên kiêm nhiệm chức vụ Phó Thị trưởng thành phố.

Với thành tích "phát triển bình đẳng", Bạc Hy Lai còn đề cao tư tưởng công bằng từ gốc, từ họ Mao. Cho nên cùng với thành tích "đả hắc", họ Bạc mở chiến dịch "thanh hồng": đoàn ngũ hóa quần chúng dưới lá cờ đỏ, tiếng ca ái quốc và khẩu hiệu sùng Mao. Không chỉ là một thí điểm phát triển, Trùng Khánh còn có khả năng bảo vệ sự trong sáng của chế độ theo đúng tư tưởng Mao Trạch Đông.

Nhờ vậy, họ Bạc trở thành khuôn mặt sáng của phái "Tân Tả", thành phần thủ cựu nhất. Lại sẵn tư thế là con trai Bạc Nhất Ba, Bạc Hy Lai xây dựng quan hệ tốt với nhiều tướng lãnh, nhất là những người trong Lộ quân thứ 14 do thân phụ thành lập năm xưa. Đó là mặt tiền.

Mặt hậu của họ Bạc cũng là mặt dầy không kém. 

Bạc Phu nhân là luật gia khét tiếng vì đã từng thắng kiện tại Hoa Kỳ. Nhũ danh Cốc Khai Lai, phu nhân ta cũng là con cháu công thần, Tướng Cốc Cảnh Sinh - sĩ quan của trận đánh Việt Nam năm 1979 - họ bên ngoại còn là hậu duệ của danh sĩ Phạm Trọng Yêm nổi tiếng từ đời Tống. Trong khi hoạn lộ của chồng thênh thang mở rộng, Cốc Khai Lai cũng ra sức làm ăn và trở thành khá giả với doanh nghiệp tên là "Horus L. Kai": Horus là tên một nữ thần của Ai Cập thời cổ chứ chẳng tầm thường gì đâu! Có phiên âm thì sẽ ra cái tên rất kỳ, là Hà Lỗ Tư. Hà Lỗ Tư Khai?!

Con trai của hai người là Bạc Qua Qua được gửi qua Anh học trong trường ốc trung học rồi đại học của quý tộc đại gia và nay đang là sinh viên Harvard bên Mỹ. Là con dòng cháu giống, cậu Bạc Qua Qua này học như chơi và chơi hơn quý tộc Âu Châu hay tư bản Mỹ. Với chiếc Ferrari cáu cạnh vừa cắt chỉ - dĩ nhiên phải là màu đỏ - cậu đã từng vào tư thất của Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh mời con gái Đại sứ Jon Huntsman du ngoạn và trước đó, mắng cả cảnh sát!

Báo chí xấu miệng thì nói vậy, chứ sự thật thì Bạc Hy Lai mới xứng là ngôi sao với vẻ mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao. 

Mọi người đều công nhận họ Bạc có tư thế và bộ điệu của một nghệ sĩ Tây phương, hoặc chính khách Âu Mỹ. Vốn dòng ngớ ngẩn, truyền thông Mỹ sánh Bạc Hy Lai với Tổng thống John Kennedy. Tài hoa, đẹp trai, ăn ảnh và áo khăn dịu dàng giữa các đồng chí xám xịt trong bộ điệu cứng ngắc với nét mặt nghiêm và buồn! Bạc Hy Lai chuẩn bị sự nghiệp trở thành "thất hiền" như người đang tranh cử tại Mỹ vậy! Với rất nhiều màu sắc tôn sùng cá nhân.

Đó là về bối cảnh. 

Thế rồi một buổi chiều.


***


Hôm mùng sáu Tháng Hai, trùm công an là Vương Lập Quân bỗng dưng giả dạng thường dân, đi xe mang số ẩn tế, từ Trùng Khánh qua thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên vào thẳng tòa Tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Đô. Một ngày sau ông mới trở ra và được công an dàn chào ở ngoài rồi đưa đi mất biến. Chính thức là được "an dưỡng" tại Bắc Kinh vì lao lực. Thực tế là bị điều tra.

Nội vụ đổ bể vì có tin là Vương Lập Quân vào sứ quán Mỹ xin tỵ nạn, đem theo nhiều hồ sơ mật liên quan đến chuyện tham ô và tội ác của thượng cấp cùng gia đình.

Hiển nhiên là ở cấp bậc đó, họ Vương cũng biết rằng Chính quyền Barack Obama và Bộ Ngoại giao Mỹ không thể đáp ứng đòi hỏi đào tỵ này. Huống hồ là sau đó có mấy ngày Phó Chủ tịch Tập Cận Bình lại chính thức thăm viếng Hoa Kỳ. Nhưng, chắc là viên Giám đốc Công an này lâm vào đường cùng và lo cho tính mạng vì cũng biết là đã đụng vào cái vẩy ngược của con rồng bạc.

Sau đó là một trận lụt về tin tức, tin đồn và những quyết định quái lạ.

Hôm 15 Tháng Ba, ngay sau 10 ngày của Hội nghị kỳ Năm của Quốc hội khóa 11 vào Tháng Ba, Bạc Hy Lai mất chức Bí thư Trùng Khánh. Rồi Thứ Hai mùng chín vừa qua, ông bị đuổi ra khỏi - lần lượt - Bộ Chính trị và Trung ương đảng. Lý do là "vi phạm kỷ luật nghiêm trọng" - diễn giải theo lối khán giả ngồi xem vở hát bội này là "tham nhũng".

Thông báo chính thức của Bắc Kinh còn cho biết Bạc Phu nhân là Cốc Khai Lai cũng bị câu lưu – ngôn từ chính thức là "giao cho công lý" – vì liên hệ đến một vụ án mạng.

Sự nghiệp chính trị của Bạc Hy Lai coi như kết thúc.

Chuyện tù tội của Bạc Ông và Bạc Bà có thể đã bắt đầu, theo thứ tự điều tra lần lượt của ban Kỷ luật Trung ương, rồi công an, sau đó mới đến toà án. Những chuyện này có lẽ ngày nay ai ai cũng đã biết. (Từ mấy tháng nay, người viết đã nhiều lần có dịp trình bày về "Mẫu mực Trùng Khánh" và Bạc Hy Lai nhưng vẫn phải nhắc lại ở trên vì chuyện này quá sức rắc rối)


Sau đây mới là lời bàn....

***


Bạc Hy Lai có một hai người thân tín, trong đó một doanh gia người Anh, có thể là quản gia và ông cò về kinh doanh cho Cốc Khai Lai. Quản gia khi lo cho cậu ấm Bạc Qua Qua qua Anh vào học loại trường mà thường dân có khi phải ghi danh từ khi... vừa ra đời mà chưa hy vọng. Và ông cò là khi thu xếp việc giới đầu tư gặp gỡ Bạc Bà. Thế rồi vì chuyện "quân phân bất tề", nôm na là chia chác không đều, mà ông Neil Heywood này bỗng đột tử vì uống rượu dù chẳng là tay nghiện rượu. Và thi hài được công an Trùng Khánh lập tức hỏa táng mà khỏi cần giảo nghiệm.

Vương Lập Quân có thể đã có chứng cớ về quan hệ bất chính của họ Bạc với các tổ chức tội ác mà còn cho thượng cấp biết rằng mình nghi là có bàn tay của bà nhà trong cái chết của Neil Heywood.

Sau những biến động Tháng Hai của vụ Vương Lập Quân muốn đào thoát, và những tin đồn về cái chết mờ ám của Neil Heywood, Chính quyền Anh bèn yêu cầu Bắc Kinh mở cuộc điều tra. Nhờ vậy, người ta còn biết là trước khi vào toà Tổng lãnh sự Mỹ, Vương Lập Quân đã tính vào tòa Tổng lãnh sự Anh và sau đó mới gõ cửa Hoa Kỳ. Và trước khi Neil Heywood chuyển sang từ trần thì đã tỏ vẻ âu lo cho an ninh và tính mạng của mình vì nằm trong tầm nhắm của Bạc Bà.

Bi kịch Bạc Hy Lai vì vậy có đầy đủ kích thước quốc tế của truyện gián điệp chính trị giả tưởng. Nhưng đó là chuyện nhàm, ở ngoài da.

***

Chuyện sâu xa hơn nằm ở khía cạnh quốc nội.

Ngay sau khi Bạc Hy Lai mất chức Bí thư Trùng Khánh đã có tin đồn là họ Bạc đã tính cùng với Chu Vĩnh Khang, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, nhân vật thứ chín trong đảng và là Trưởng ban Chính pháp Trung ương, tiến hành đảo chánh. Ban Chính pháp Trung ương thực tế chỉ huy hai bộ phận là nội vụ (Bộ Công an) và an ninh tình báo (Bộ Quốc an hay An toàn Quốc gia). Chu Vĩnh Khang là người đến lúc cuối vào Tháng Ba, duy nhất trong đám "thất hiền", vẫn tìm cách cứu lấy sự nghiệp Bí thư Trùng Khánh của Bạc Hy Lai. Họ Chu sẽ ra đi sau Đại hội 18 và có lẽ chuẩn bị cho họ Bạc sẽ kế nhiệm trong vai trò trùm cớm và trưởng lưới tình báo trung ương.

Nếu hai họ Chu và Bạc lại cùng một số tướng lãnh tính chuyện "quốc sự" ngay trước Đại hội 18 thì quả là nghiêm trọng.

Người ta khó biết được sự thật trong nền dân chủ tập trung đặc quánh như vậy.

Nhưng lãnh đạo không thể yên tâm. Sau khi họ Bạc mất chức Bí thư Trùng Khánh, dân chúng đồn đãi linh tinh trên mạng, nhiều phe nhóm cực tả hay Maoít - trong cánh Tân Tả của họ Bạc - còn bênh vực đường lối Mao Trạch Đông và thành tích của Bạc Hy Lai tại Trùng Khánh. Mà chuyện ấy vẫn xảy ra sau khi Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát biểu trước Quốc hội hôm 14 Tháng Ba, rằng thành quả của Trùng Khánh là của nhiều cơ sở hành chánh – không của riêng Bạc Hy Lai – và rằng Trung Quốc đang gặp nguy cơ khủng hoảng như trong cuộc Cách mạng Văn hoá Vô sản Vĩ đại thời 1966-1976. Một lời cảnh báo cực kỳ nghiêm trọng khi được công khai hóa.

Truyện trinh thám của xã hội đen dưới lá cờ đỏ bỗng thành chuyện quốc sự. Quốc sự ở chỗ nào? 


***


Cho tương lai trước mặt, lãnh đạo Bắc Kinh hay Bộ Chính trị có ba ngả đường.

Cải cách hơn nữa, kể cả kinh tế lẫn chính trị. Đó là chủ trương của một số người, nhất là thị dân và trí thức, trong đó có Bí thư tỉnh Quảng Đông là Uông Dương, người cũng hy vọng bước vào cõi "thất hiền". Ngả thứ hai là trở lại đường lối cào bằng và tập trung quyền lực theo kiểu Mao Trạch Đông. Họ Bạc đang nắm lá cờ đó, với hậu thuẫn của nông dân, một số sĩ quan hay những đứa trẻ đang tập sự làm Vệ binh đỏ. Ngả thứ ba là hãy cứ từ từ mà tính, dù có gì thì phải giữ nguyên trạng, chứ đứng tiến quá ra thành phố mà cũng chẳng lùi vào nông thôn. Hãy trung dung và "kiến cơ nhi tác".

Thật ra, ngoài áp lực dù sao vẫn vô hiệu của quốc tế, phe cải cách này vẫn chưa đủ mạnh và nhóm chủ trương bảo vệ nguyên trạng vẫn có thể dung hoà hoặc xử lý được. Chứ phe thủ cựu theo kiểu "Tân Tả" có khi lại là vấn đề. Và nếu chặt lá cờ đầu trong tay họ Bạc, triều đình ở trên có thể bị loạn. Vì vậy, Bạc Hy Lai phải ra đi.

Nhưng không như là nạn nhân của một vụ đấu tranh chính trị mà vì dính líu đến cái tội rất phàm, chẳng ai dung tha được: tội sát nhân!

Không chỉ đốn ngã Bạc Ông, Bộ Chính trị và đa số theo chủ trương bảo vệ nguyên trạng, phải dìm Bạc Bà xuống rãnh. Dù Mao có sống lại thì chẳng ai còn bênh vực nổi những kẻ đã tham ô, có quan hệ với tổ chức tội ác, lại còn can dự vào một vụ giết người. Mà là người ngoại quốc, của xứ Hồng mao!

Cho nên chiến dịch thanh quang Trùng Khánh có thể là kết quả của một quyết định chiến lược về tương lai.

Nhưng tại sao người viết lại suy đoán như vậy?

***


Vì cùng lúc có tin họ Bạc ngã ngựa và mất cả yên cương lẫn cái phao rất mềm ở nhà, Trùng Khánh bỗng dưng có biến!

Cả vạn người trong quận Vạn Thịnh ở ngoại thành Trùng Khánh tại phía Đông Nam đã biểu tình trong hai ngày 10 và 11 và đụng độ với cả ngàn công an. Họ xuống đường phản đối dự án sát nhập Vạn Thịnh vào quận Kỳ Giang, cũng thuộc Trùng Khánh ở phía Nam. Họ phản đối vì dự án sẽ gây thiệt hại cho kinh tế và phúc lợi của Vạn Thịnh vốn có dân số gần ba mươi vạn, chỉ bằng một phần ba của Kỳ Giang. Ngẫu nhiên sao, người khởi xướng dự án sát nhập này lại là Bạc Hy Lai!

Khi chính người dân Trùng Khánh lại biểu tình chống lại một chủ trương của họ Bạc thì ta phải hiểu rằng "quần chúng đã lên tiếng".

Nghĩa là từ truyền thông ở trên đến quần chúng ở dưới đã được huy động để hoàn toàn đưa Bạc Hy Lai, gia đình cùng phe cánh vào cửa sau của lịch sử, là chữ văn hoa để nói về đồng rác.

Bạc Ông và Bạc Bà đều có bản lãnh ghê người, mà không thể lọt qua kẽ tay của đảng chỉ vì tham vọng đã dẫn tới sự chủ quan nguy hiểm cho cả bản thân lẫn trung ương. Sau những vụ thanh trừng và tàn sát năm 1989, lần này, đảng Cộng sản lại biểu diễn một chiêu ngoạn mục khác. Rợn người.

Bi kịch về tham vọng trong vở Macbeth mới chỉ là trò vui của Tây phương mà thôi.