Thứ Tư, tháng 4 24, 2013

"Yểm Trợ Thị Trường" hơn "Yểm Trợ Doanh Nghiệp"

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 130424
Diễn Đàn Kinh Tế - RFA

Có khi "yểm trợ doanh nghiệp" chỉ là phát triển chế độ tư bản thân tộc - bất công và vô ích 


VINASHIN_305.jpg
* Văn phòng Tập đoàn Công nghiệp tàu Thủy Việt Nam tại Hà Nội RFA photo * 
 
 
"Nhà nước nên phát huy thị trường tự do hơn là hỗ trợ các doanh nghiệp thì mới phát triển được kinh tế một cách hữu hiệu và công bằng". Nguyên tắc trên được chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa nêu ra khi được hỏi về tình trạng teo tóp và suy sụp của các doanh nghiệp tại Việt Nam. 
 

Từ chính sách hỗ trợ doanh nghiệp 

 

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, báo cáo thường niên do Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam vừa công bố cho thấy hai chi tiết đầy quan ngại về nền kinh tế Việt Nam. Một là số lượng doanh nghiệp hoạt động đã giảm sút mạnh. Hai là quy mô của doanh nghiệp lại càng ngày càng nhỏ hơn và tuyển dụng ít nhân công hơn. Hiện tượng teo tóp về cả lượng lẫn phẩm như vậy xảy ra mặc dù nhà nước Việt Nam đã có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp từ hơn một năm nay. Ông nghĩ sao về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước tiên là tôi rất mừng khi Việt Nam có một hiệp hội tư nhân với chức năng yểm trợ việc phát triển tư doanh và được sự góp ý của các chuyên gia kinh tế ngoài chính quyền. Nhờ vậy mà đã có nhiều cuộc khảo sát và cả những phê phán về những gì bất cập. Đây là một bước tiến bộ về trình độ tổ chức và giúp Việt Nam thoát khỏi cái nhìn và nhất là chính sách duy ý chí và hẹp hòi của nhà nước.

- Chi tiết đáng chú ý khác và cũng từ Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam thì so sánh tình hình từ giữa Tháng Chín đến cuối Tháng 12, số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam đã từ 471 nghìn sụt xuống còn 312 nghìn, là mất toi gần 160 nghìn cơ sở trong có hơn ba tháng. So với 694 nghìn doanh nghiệp được thành lập thì con số hoạt động hiện tại là 312 nghìn chỉ còn gần 45%, nghĩa là mất hơn phân nửa. Tình trạng này quả thật là đáng lo ngại. Đó là về số lượng.

- Chứ về phẩm thì sự tình lại còn bi đát hơn như ông vừa nêu ra. Đó là kích thước hay quy mô của các doanh nghiệp còn tồn tại đã chẳng tăng mà lại co cụm hơn. Loại vừa thì biến thành nhỏ, loại nhỏ thì trở thành tí hon. Tức là trong hệ thống sản xuất kinh tế, sức sản xuất của tư doanh đã giảm sút mạnh về cả số lượng lẫn tầm cỡ. Vài con số khái quát và trừu tượng ấy không thể làm chúng ta quên là nhiều triệu người đang điêu đứng vì cơ sở phá sản và bị nguy cơ thất nghiệp.

Vũ Hoàng: Thưa ông, sự tụt hậu xảy ra sau khi nhà nước Việt Nam đề ra chính sách yểm trợ doanh nghiệp từ hơn một năm nay. Nếu như vậy, thưa ông, có cái gì bất cập trong chính sách ấy hay chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi lại làm thính giả của chúng ta giật mình khi nói rằng lý luận gọi là "yểm trợ doanh nghiệp" là một sai lầm về tư tưởng, nhận thức lẫn thực tế. Sự sai lầm ấy thật ra khá phổ biến và có lẽ chương trình kỳ này của chúng ta nên cố giải thích cho rõ để may ra còn cải sửa được. Vắn tắt là nhà nước phải yểm trợ thị trường hơn là yểm trợ doanh nghiệp thì mới phát triển được doanh nghiệp và kinh tế.

Vũ Hoàng: Ông thường có cách nêu vấn đề bằng nghịch lý rồi mới lần lượt lý giải. Thắc mắc của nhiều người ở đây là sau khi bị khủng hoảng vì chế độ tập trung quản lý, Việt Nam và nhiều xứ khác đã áp dụng quy luật thị trường và cho phép tư doanh hoạt động. Như vậy, việc yểm trợ tư doanh là cần thiết và có lợi để mở rộng không gian sinh hoạt của các doanh nghiệp tư nhân. Chuyện ấy có gì sai?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ đi từng bước để thấy ra sự khác biệt và thậm chí đối lập giữa hai quan niệm là "phát huy thị trường" và "hỗ trợ doanh nghiệp".

- Thực tế rất phũ phàng của loài người là mọi chế độ chính trị đều mặc nhiên nâng đỡ thành phần xã hội có khả năng bảo vệ và củng cố quyền lực của chế độ, như tăng lữ, quý tộc hay trí thức, quân đội, v.v... Do thực tế đó mà chế độ dân chủ là tương đối ít tệ nhất vì dân chủ chính là sự bình đẳng của mọi người trước hệ thống luật pháp do chính người dân góp phần lập ra.

- Nó ít tệ hơn cả vì định chế hóa sự bình đẳng của quyền dân bằng pháp luật và phải khởi đi bằng luật pháp. Cuộc tranh luận hiện nay tại Việt Nam về việc cải tổ Hiến pháp là cơ hội làm sáng tỏ thực tế này. Cơ bản nhất là người dân chưa có quyền tham gia vào việc làm ra luật vì vẫn bị một đảng chính trị cột tay và đòi một thứ quyền lãnh đạo tiên thiên từ trên đầu chụp xuống.

- Nhìn ra bên ngoài, khi một đảng cầm quyền không thể độc quyền quản lý kinh tế theo kiểu kế hoạch hóa vì gây ra khủng hoảng làm xứ sở lụn bại, người ta mới nói đến quy luật của thị trường. Sự chuyển biến ấy có nghĩa là người ta thấy ra ưu thế của quyền tự do quyết định và chọn lựa về kinh tế. Các quốc gia tiên tiến đều đã áp dụng quy luật thị trường tự do từ cuối thế kỷ 18 nên mới trở thành tiên tiến, và nền dân chủ có góp phần đáng kể cho sự thay đổi lớn lao này.

- Nhưng ngay trong một xã hội dân chủ, chính quyền vẫn mặc nhiên nâng đỡ thành phần có thể bảo vệ quyền lực của mình vì vậy đấu tranh chính trị trước quốc hội hay trong công luận là điều cần thiết để gìn giữ nguyên tắc bình đẳng trước luật pháp. Trong các quốc gia đã chuyển hướng theo kinh tế thị trường mà chưa có dân chủ đích thực thì tình hình còn tồi tệ hơn khi nhà nước nói đến chuyện "yểm trợ doanh nghiệp" vì thật ra lại không yểm trợ thị trường. Đó là hoàn cảnh của Việt Nam và ta nên nhìn ra sự khác biệt giữa hai khái niệm doanh nghiệp và thị trường.

 

Khái niệm doanh nghiệp và thị trường   


TAP-DOAN-XANG-DAU-200.jpg
Tập đoàn xăng dầu Việt Nam Petrolimex. RFA photo
 
Vũ Hoàng: Xin cám ơn ông là đã chậm rãi phân tích sự chuyển hóa về nhận thức và tổ chức của các nước trên thế giới để đi dân tới hoàn cảnh của Việt Nam ngày nay. Sự khác biệt giữa hai khái niệm doanh nghiệp và thị trường là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong một chương trình trước đây, chúng ta có nói đến quyền tự do mặc cả và trao đổi giữa hai tác nhân kinh tế mà mình tạm gọi là ông A và bà B trong thị trường. Nhà nước do ông X nào đó lãnh đạo phải bảo đảm quyền kinh doanh bình đẳng của hai thành phần A và B này vì nó mở rộng quyền chọn lựa của mọi người khi tiêu thụ và đầu tư. Bây giờ, vì bất cứ một lý do hay động lực nào đó, được ngụy trang thành chính sách yểm trợ doanh nghiệp, ông X có thể nâng đỡ một trong hai thành phần này thì cái nhà nước đó đã đi ngược quy luật thị trường.

- Nó can thiệp vào hệ thống sinh hoạt kinh tế một cách bất công và thực chất vẫn là nâng đỡ thành phần làm lợi cho mình. Kinh tế học gọi đó là nạn "tư bản thân tộc", tức là dù có tư bản chủ nghĩa về hình thức nhưng dành ưu thế cho tay chân và thân tộc của những kẻ có chức có quyền.

- Nói cụ thể vào hoàn cảnh Việt Nam thì tôi xin nhắc lại khoản hai của điều 55 trong dự thảo Hiến pháp đang được tranh cãi là "Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo." Chi tiết ấy cho thấy giữa các thành phần kinh tế thì kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, tức là chưa có sự bình đẳng trên sân chơi và thị trường chưa thể vận hành tự do. Vì thế, loại tập đoàn kinh tế nhà nước có đặc tính sản nhập chứ không sản xuất vì là một trung tâm hao tốn như Vinashin hay Vinalines vẫn được tài trợ rồi dào trong khi tư doanh khát vốn bị phá sản hàng vạn.

Vũ Hoàng: Như vậy, phải chăng khi nhà nước nói đến chính sách gọi là "yểm trợ doanh nghiệp" thì điều ấy có nghĩa là thành phần doanh nghiệp nào mà có quan hệ với khu vực chủ đạo này vẫn được nâng đỡ hơn các thành phần khác hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như thế và ta có quá nhiều thí dụ đau lòng mà nát việc.

- Chúng ta nên mường tượng ra một hình tháp tròn như cái nón. Trên đỉnh ở giữa là các tập đoàn kinh tế nhà nước được thu vét tối đa nguồn lực mà sản xuất tối thiểu. Chung quanh là các doanh nghiệp nhà nước cũng được yểm trợ theo diện chính sách mà đóng góp rất ít cho kinh tế vì hiệu năng thấp nhưng vẫn tồn tại nhờ không bị cạnh tranh và củng cố thế lực của nhà nước và tay chân. Ở dưới là một dàn cơ sở vệ tinh, tiếng là doanh nghiệp tư nhân và thực chất là tay chân thân tộc đang trở thành các đại gia cực giầu. Dưới cùng là các tiểu doanh thương loại vừa và nhỏ lẫn các cơ sở mới được thành lập thì chết ngộp vì chính sách kiểm soát có thiên vị ở trên và chết đói vì thiếu vốn kinh doanh ở dưới. Mà các cơ sở này mới thật sự tạo ra công ăn việc làm và tiếp cận với đời sống thật của thị trường.

- Qua mấy năm sai lầm tai hại vì quản lý vĩ mô quá tồi, sự khốn đốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở vòng ngoài, dưới đáy tháp, đã tạo cơ hội cho nhà nước bày tỏ nỗi quan tâm. Nhưng khi nhà nước nói đến "yểm trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa" thì đấy là lúc ba tầng doanh nghiệp trên cùng được tiếp vận nào vốn nào tín dụng nào đất đai nào cơ hội thu mua hay kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong khi đó đa số cơ cở ở dưới bị thiểu số ở trên chèn ép và đang tiêu vong lần mòn với số tử vong kỷ lục trong vòng có mấy năm.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối của chúng tôi, thưa ông Nghĩa, là trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, người ta đang tranh luận là nên hay không nên tung tiền cấp cứu các doanh nghiệp có thể vỡ nợ trong khu vực địa ốc ở tại Việt Nam. Ông có ý kiến gì về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chẳng riêng gì ở Việt Nam mà tại nhiều quốc gia khác, kể cả các nước tiên tiến, đều có vụ tranh luận là nên cứu hay không và nên cứu ai hay bỏ ai khi kinh tế suy trầm, nhà nước mắc nợ và doanh nghiệp gặp nguy cơ sụp đổ. Chính là vào lúc đó mình mới càng thấy rằng nên phát huy thị trường và quyền kinh doanh bình đẳng hơn là yểm trợ doanh nghiệp hoặc tung tiền cấp cứu doanh nghiệp.

- Lý do là gặp cảnh nguy nàn, và vì những lý cớ cao đẹp, nhà nước dễ yểm trợ hoặc lấy công quỹ cấp cứu loại cơ sở gọi là thân hữu, thật ra là các nhóm lợi ích có thể tác động vào chính sách của nhà nước để trục lợi. Tại các nước Tây phương thì đấy là đại gia ngân hàng, đại tổ hợp và nghiệp đoàn. Tại các nước chưa có dân chủ và đang chuyển sang kinh tế thị trường thì đấy là hệ thống kinh tế nhà nước và doanh nghiệp thân tộc. Càng cấp cứu loại cơ sở này là càng khuyến khích nạn "ỷ thế làm liều" mà giới kinh tế gọi là "moral hazard" vì họ ỷ vào sự cấp cứu và yểm trợ của nhà nước mà có hành động bất cẩn hay bất lương khi đầu cơ. Việc cấp cứu đó chỉ là sự biến hóa của nạn "tư bản thân tộc" crony capitalism, vốn dĩ cũng là một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi hôm nay. 
 
 
 
 
 
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
04242013-ddkt-vh-nxn.mp3 Phần âm thanh
 

Thứ Ba, tháng 4 23, 2013

Thiện và Ác – Nhân Quyền và Khủng Bố


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 130422
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Khoẻ dùng sức, yếu dùng mưu. Văn minh thì dùng luật....

 * Sau thảm kịch: Boston Dũng Mãnh *


Vụ đánh bom Boston hôm 15 là một hành vi khủng bố.  Chưa cần biết "phải trái" gì, ta đã có thể kết luận như vậy vì mục tiêu là sát hại thường dân để gây ra sự sợ hãi, định nghĩa căn bản nhất của hành vi khủng bố.

Chuyện "phải trái" ở đây là xuất xứ hay động lực của nghi can. Khi tai họa vừa xảy ra và chưa rõ chi tiết, truyền thông cánh tả tại Mỹ vội kết luận rằng đấy là hành động của các nhóm cực hữu, loại dân quân tự phát của xã hội Hoa Kỳ. Truyền thông cánh hữu thì đưa ra giả thuyết tàn sát của các nhóm khủng bố Hồi giáo cực đoan xưng danh Thánh Chiến Jihad với lối đánh bom dồn dập để gây tối đa thiệt hại.

Sau khi một nghi can bị thiệt mạng (Tamerlan Tsarnayev) và người em là Dzhokhar Tsarnayev bị bắt rồi đang được lấy khẩu cung trong nhà thương, người ta chú ý và bàn tán về chuyện khác: thí dụ như xuất xứ sắc tộc Chechen và động lực của hai nghi can; mối quan hệ hay không của kẻ gian với phong trào khủng bố Hồi giáo tại Nga hoặc với lực lượng khủng bố al-Qaeda; sự xuất sắc hay sơ sẩy của nhân viên công lực, v.v....

Trong những ngày tới, đề tài sẽ gây tranh luận là cơ sở pháp lý của việc truy tố nghi can – theo thủ tục đặc biệt cho quân thù hay là quy chế thông thường cho một công dân phạm pháp? Nhìn từ bên ngoài, Hoa Kỳ là nơi hiếm hoi mà người ta thảo luận về cách đối xử với kẻ tàn sát. Ở nhiều xứ khác, nhà nước không gặp sự phiền phức đó! Bụp, beng, phập, đoàng, là các động từ đơn giản....

Khi lùi lại một chút để nhìn trên toàn cảnh – khảo hướng chung của cột báo này – chúng ta có thể thấy ra nhiều chuyện cũng đáng suy ngẫm.

Cách đây mới chỉ một thế kỷ thôi, các gia đình di dân đến từ Âu Châu phải mất khá nhiều thời gian hội nhập. Thế hệ đầu tiên có thể làm tá điền hay nông gia vùng Mid-West. Thế hệ sau mới mở ra cơ sở tiểu thương, rồi con cháu có thể vào đại học, trở thành doanh gia, kỹ sư, bác sĩ. Ba đời chắt bóp mới có vị trí của nhiều người tỵ nạn Việt Nam, hoặc của hai anh em Tsarnayev, xin lỗi. Là bước vào đại học và có một tương lai sáng sủa hơn quá khứ của cha mẹ ông bà ở quê nhà.

Hoàn cảnh chung của đa số có cho thấy sự tiến bộ vượt bậc của xã hội Hoa Kỳ, mà cũng là bối cảnh của cuộc tranh luận hiện nay về chánh sách di dân. Ngoại lệ là trường hợp của hai anh em Tsarnayev. Họ tách khỏi đại gia đình, từ chối hội nhập mà quay về quê cũ đầy hỗn mang và chọn giải pháp tai hại nhất: trở thành đặc công khủng bố. Và tấn công xã hội đã cưu mang họ.

Trình độ "tác nghiệp", trong ý nghiệp vụ lẫn nghiệp chướng, của hai anh em có tính chất thô sơ với lối chế tạo võ khí tàn sát được al-Qaeda tại Bán đảo Á Rập phổ biến trên mạng và tạp chí "Inspire". Sau khi giết người, họ chẳng tìm cách đào thoát để có thể tái diễn hành động khủng bố và xiển dương một chính nghĩa ma quỷ nào đó. Khi bị truy lùng lại cán xe lên nhau để bỏ chạy....

Động lực của nghi can có thể là cuộc Thánh Chiến cho đạo Hồi hay công lý cho dân Chechen vì họ là nạn nhân của chính quyền Nga - từ thời Xô viết của Stalin năm 1944 đến hai trận chiến và mười mấy năm tao loạn ở Chechnya.... Nhưng dù là bất cứ gì, ta nên nghi ngờ loại lý tưởng cao đẹp có thể biện minh cho hành động sát nhân, và trở lại chuyện nước Mỹ.

Hoa Kỳ tiếp nhận nhiều người từ tứ phương, với hành trang chất chứa nhiều vấn đề đặc thù của quá khứ mà đa số dân Mỹ không hiểu.

Trong số này, kẻ thoái hóa hoặc khó hội nhập có thể kết án sự thịnh vượng, hồn nhiên và cả tiến bộ khoa học kỹ thuật của nước Mỹ. Một số người còn học hỏi sự tiến bộ đó để trau dồi kỹ thuật giết người. Nhiều tay khủng bố đã từng tốt nghiệp kỹ sư và liên lạc để phổ biến sự hiểu biết đó trong mạng lưới của cái ác.

Tính chất cởi mở và cầu tiến của xã hội Hoa Kỳ cho phép thiện ác cùng sống chung. Và đua tranh. Then chốt ở đây là động lực tốt hay xấu, nói cho dễ hiểu mà khó giải, chính là cái "tâm".

Chúng ta đều hiểu ra quy luật "khoẻ dùng sức - yếu dùng mưu".

Sức có thể là bạo lực, là chiến tranh. Mưu có thể là dùng sức của người khác để đạt mục tiêu của mình. Và hèn nhất trong các loại mưu là khủng bố. Nhưng xã hội văn minh là nơi mà người ta dùng luật pháp để chi phối cả cái sức lẫn cái mưu của mọi người hầu không ai, kể cả chính quyền, có thể chèn ép người khác. Trong ý nghĩa đó, Hoa Kỳ là một xứ văn minh vì coi trọng luật pháp.

Chính là tinh thần "trọng pháp" mới dẫn đến cuộc tranh luận hiện nay về cách truy tố và biện hộ cho một kẻ đã giết người tại Boston. Chỉ nội một việc Dzhokhar Tsarnayev vẫn được gọi là "nghi can" – chưa có tội – cũng cho thấy sự thận trọng và nhân bản của xã hội. Nhiều người có thể bực bội vì chính quyền sẽ lại tốn ngân sách để bảo vệ mạng sống cho nghi can rồi đưa ra tòa xét xử theo hệ thống luật lệ minh bạch và khá nhiêu khê phức tạp. Nhưng đấy là cái giá phải trả để bảo vệ nền dân chủ.

Những suy đoán của một số người về mưu mô quỷ quái của nhà chức trách để theo dõi tin tức và có khi xâm phạm nhân quyền còn phản ảnh một sự thật khác. Chính quyền có nhiệm vụ bảo vệ quyền dân, trong đó có cả quyền tự do và quyền đàn hặc chính quyền.

Theo dõi việc cơ quan FBI bị trách cứ vì từ năm 2011 đã thẩm vấn nghi can Tamerlan Tsarnayev theo lời yêu cầu của Mật vụ FSB của Nga – hậu thân của KGB thời Xô viết – mà lại để thoát, chúng ta mới thấy ra cái khó của nhân viên công lực: chặt quá như Nga hoặc lỏng quá như Mỹ đều có thể là tai hại. Mà chặt hay lỏng thì đấy là phần suy diễn luật lệ, đôi khi bị chính trị hóa tại Hoa Kỳ.

Trong hoàn cảnh ấy, ta chú ý đến người dân.

Với sự phát triển của hình thái khủng bố tự phát, nội hóa, của những đặc công đơn lẻ trong xã hội tự do, chính là sự mẫn cán tham gia và hợp tác của người dân mới đem lại hy vọng ngăn ngừa và giải trừ. Bài học của vụ Boston Marathon là mọi gia đình đều phải quan tâm hơn nữa đến cách suy tư và hành động của con cái trong nhà - trước khi xảy ra thảm kịch. Nếu cộng đồng dân Chechen chú ý hơn nữa đến lề lối sinh hoạt của hai anh em Tsarnayev, có khi họ đã bảo vệ được cộng đồng, và nước Mỹ.

Sau cùng mới là tinh thần vô úy. Không hãi sợ lùi bước trước quân khủng bố là thái độ cần thiết.

_______________________________

"Chỉ Có Tại Nước Mỹ":


Trong vụ khủng bố Boston Marathon, Jeff Bauman là nạn nhân bị nát bấy hai chân. Ông vẫn tỉnh táo giúp cơ quan FBI khi mô tả nhân dạng của một nghi can. Nhờ vậy mà nhà chức trách sớm phổ biến hình ảnh và dẫn tới việc hai nghi can thấy động mà tìm cách đào thoát rồi bị truy lùng. Hành vi của Bauman được mọi người ngợi ca. Theo kiểu Mỹ, gần vạn người liền chung góp được 360 ngàn đô la qua mạng GoFundMe để trang trải chi phí y tế cho nhân vật anh hùng này. Ta nên để ý đến hiện tượng "crowd funding", quyên góp tập thể từ nhưng người bình thường cho một mục tiêu công ích và bất vụ lợi của xã hội.

Thứ Tư, tháng 4 17, 2013

Vàng Lên Hay Xuống?

Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa Ngày 130417
Diễn Đàn Kinh Tế RFA 

Những thăng giáng thất thường trong ngắn hạn  

 
sjc-305 
* Vàng miếng thương hiệu quốc gia SJC. File photo *
 
 
Sau hai thập niên dập dình ở khoảng 300 đô la một troy ounce, qua Thế kỷ 21, giá vàng trên thế giới bỗng tăng vọt và lên tới đỉnh cao là 1.904 đô la vào cuối năm ngoái. Thế rồi giá lại sụt và Thứ Sáu tuần qua còn sụt với cường độ mạnh nhất kể từ ba chục năm nay, kể từ năm 1983. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về sự chuyển động này qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

 

Yếu tố ảnh hưởng giá vàng  


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Hôm nay, chúng ta sẽ nói về chuyện vàng sau vụ sụt giá rất nặng vào Thứ Sáu tuần qua. Thưa ông, những yếu tố gì khiến vàng mất giá như vậy sau cả chục năm lên giá gấp sáu, từ quãng 300 tới hơn một ngàn 900 đô la một troy ounce? Và theo ông dự đoán thì giá vàng sẽ ra sao trong thời gian tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin thú thật rằng nếu mình biết vàng sẽ lên hay xuống giá ra sao thì chắc là đã đổi nghề để trở thành triệu phú từ lâu rồi! Cho nên câu trả lời ở đây là ta chưa thể rõ.

- Bây giờ, trước khi tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng hay bất cứ loại thương phẩm nào thì tôi nghĩ là ta hãy ghi nhận vài quy ước trong cách nói về thời gian để khỏi lầm. Trong lĩnh vực kinh tế, nói về chuyện gì sẽ xảy ra trong "ngắn hạn" thì thông thường người ta lấy quy ước là từ hai năm trở lại, "trung hạn" là khoảng thời gian từ hai đến năm năm, và "dài hạn" là những gì có thể xảy ra sau năm năm, đến viễn ảnh xa là cả chục năm.

- Trong lĩnh vực giao dịch thương phẩm, là "commodities", mà trong nước gọi là hàng hóa, người ta lại theo quy ước hơi khác. Lý do là vì sự tác động có tính chất tương hằng của các yếu tố trên thị trường thường nhanh và ngắn hơn một dự án hay chương trình hay kế hoạch kinh tế. Theo hướng đó, khi nói đến khoảng thời gian gọi là "cực kỳ ngắn hạn" thì đấy có thể là vài ngày và dưới hai tuần; "rất ngắn hạn" là từ hai tuần đến hai tháng; "ngắn hạn" là từ hai đến sáu tháng; "trung hạn" là từ sáu tháng đến một năm; "dài hạn" là từ một năm đến ba năm; sau đó, từ ba năm đến 10 năm thì coi là "rất dài hạn". Sở dĩ ta phải cẩn thận khi tường thuật là vì cách đo thời gian của hai lĩnh vực khác nhau và vì ai cũng có thể đoán đúng là vàng sẽ lên hay xuống giá, mà vẫn có thể sai về thời điểm, là khi nào? Còn lên hay xuống đến mức nào thì đổi chiều lại là chuyện khác rắc rối hơn!

Vũ Hoàng: Xin cám ơn ông về sự thận trọng ấy vì quả là có sự khác biệt về thời hạn giữa hai lĩnh vực kinh tế và giao dịch chứng khoán hay thương phẩm mà khi tường thuật thì mình có thể làm thính giả nhầm lẫn. Thí dụ như sau vụ sụt giá vàng hôm Thứ Sáu thì qua ngày Thứ Hai giá đã tăng chút đỉnh mà có khi không bền, cho nên nói rằng vàng sẽ lên giá thì có thể là đúng trong thời hạn cực ngắn mà lại sai trong kỳ hạn dài hơn và sau cùng trong trường kỳ thì vẫn là đúng. Sau việc phân định thời hạn ấy rồi, thưa ông, đâu là những yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng?

Ai cũng có thể đoán đúng là vàng sẽ lên hay xuống giá, mà vẫn có thể sai về thời điểm, còn lên hay xuống đến mức nào thì đổi chiều lại là chuyện khác rắc rối hơn!  Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Giá vàng, hay giá cả nói chung của nhiều mặt hàng, là biểu hiện sau cùng của các yếu tố sâu xa ở dưới. Biểu hiện đó còn kết hợp phản ứng của tâm lý thị trường về các yếu tố cơ bản có thể chi phối giá cả bên dưới. Thí dụ như vì yếu tố cung cầu, cung thấp hơn cầu chẳng hạn, giá vàng có thể tăng. Đấy là lý do cơ bản. Nhưng khi tâm lý nói chung cho là giá vàng sẽ tăng thì chính tâm lý thị trường càng nâng số cầu và càng làm vàng lên giá. Trong đầu đã có hai khái niệm ấy, là cung cầu và tâm lý, ta mới suy ngẫm lại về các lý do.

Vũ Hoàng: Ông vừa giải thích diễn tiến trừu tượng về mặt lý luận, bây giờ ta có thể nêu ra thí dụ cụ thể của diễn biến đó hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thí dụ như nhất, khi vàng lên giá thì giới đầu tư chiếu cố nên càng mua thêm và càng làm vàng lên giá. Dựa trên cơ sở của thực tế, giới đầu tư bèn tìm lý do giải thích vì sao giá tăng và họ càng thấy lý luận ấy có sức thuyết phục cao thì càng mua thêm khiến vàng tiếp tục lên giá. Mãi rồi người ta coi như lý luận ban đầu là chân lý bất di bất dịch, khiến đa số đều tin là vàng sẽ còn lên giá. Nhiều khi người ta còn nhìn xa hơn về quá khứ để chứng minh rằng chu kỳ tăng giá lần này khác hẳn với các lần trước trong lịch sử.

- Thế rồi khi thấy vàng lên giá làm mọi người càng mua vào, ta có trường hợp dễ hiểu là số cầu của người muốn mua vì lý do đầu tư hay đầu cơ không thể mãi mãi vượt số cung và giá bắt đầu sụt, đó là thí dụ thứ hai. Khi thấy giá sụt, người ta có hai phản ứng.   


000_Hkg4619858-250.jpg
Vàng miếng SJC tại một tiệm kinh doanh vàng ở Hà Nội hôm 25/2/2011. AFP photo


- Một là thị trường tin là giá chỉ điều chỉnh trong ngắn hạn chứ rồi sẽ tăng và việc giảm giá lại là cơ hội mua vào. Sau đó, nếu giá vẫn sụt, người ta mới tìm cách lý giải nguyên nhân, đôi khi còn chỉ ra trách nhiệm của những kẻ làm vàng mất giá. Tức là tìm ra một lý luận khác để giải thích và chính lý luận ấy càng làm thiên hạ không mua vào mà còn bán ra, khiến vàng sụt giá nặng hơn. Khi ấy, quy luật cung cầu lại tác động, nếu số cầu giảm thì giá sụt và càng bán ra lại càng làm sụt giá theo lối tương hằng hay vòng luẩn quẩn. Bây giờ ta mới từ lý luận đi vào thực tế.

Vũ Hoàng: Đúng như vậy, thưa ông thực tế thì vì sao sau 20 năm xê xích không đáng kể, vàng lại lên giá trong cả chục năm trước khi rớt giá như người ta đang thấy tuần qua?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta nhớ lại rằng Thế kỷ 21 khởi đầu với các biến động như bể bóng cổ hhiếu, suy trầm kinh tế, rồi khủng bố, chiến tranh, bể bóng địa ốc, khủng hoảng tài chính, v.v...

- Khi thấy vàng lên giá từ quãng 2000, nhiều người đã quen với hoàn cảnh tương đối ổn định của giá vàng từ 20 năm trước nên không tin là chiều hướng tăng giá sẽ kéo dài. Nhưng vài năm sau thì tâm lý thị trường đã đổi. Lý luận khi ấy là vàng mới thật sự là tài sản có giá và an toàn hơn các loại đầu tư khác như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản hay dầu thô, bạc mặt, v.v... Cơ bản nhất, người ta tin rằng số cung của vàng có giới hạn vì đào không kịp, mà vàng lại ở ngoài tầm can thiệp của các chính quyền cứ in tiền ra xài. Khi nhiều xứ lại mắc nợ, ngân hàng vỡ nợ, hệ thống tài chính bị khủng hoảng từ Âu qua Mỹ, vàng mới là khí cụ đầu tư có giá trị nhất. Vì vậy, vàng tăng giá gấp sáu trong có chục năm. 

Vàng sẽ còn lên giá?  


Vũ Hoàng: Quả thật là vậy nếu ta nhớ lại một chuỗi biến động khởi sự từ Thế kỷ 21. Thưa ông thế rồi sự thể diễn biến thế nào từ năm năm qua người ta đoán là sẽ còn lên giá nữa khi các nước ráo riết bơm tiền giải trừ khủng hoảng và kích thích kinh tế.

Trong rất dài hạn là trên ba năm thì vàng vận còn lên giá nữa, chúng ta đang bước vào một giai đoạn đầy những thăng giáng khá thất thường, nôm na là bất ổn và bất lường. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Những bế tắc về chính sách kinh tế của các nước công nghiệp hóa lẫn cả Trung Quốc, tức là các nền kinh tế đang dẫn đầu thế giới càng làm người ta tin vào vàng.

- Xin nhắc lại ở đây là các nước đã tăng chi ngân sách, bơm tín dụng, đi vay tiền qua phát hành trái phiếu và in bạc qua biện pháp gọi là nâng mức lưu hoạt có định lượng tức là "quantitative easing" và còn tìm cách hạ thấp hối suất đồng bạc để kích thích xuất khẩu. Ngần ấy biện pháp đều làm giảm giá trị của đồng tiền giấy và khiến vàng trở thành tài sản đầu tư hấp dẫn hơn.

- Thứ nữa, những biện pháo kích thích ấy đều có thể làm tăng mức lạm phát, thậm chí còn hứa hẹn sẽ nâng mức lạm phát như chính sách do Ngân hàng Trung ương Nhật Bản vừa ban hành hôm mùng bốn Tháng Tư. Vì thế, kết luận rất có cơ sở của nhiều người là thế giới có thể bị lạm phát và vàng sẽ còn lên giá.

Vũ Hoàng: Thế thì sự gì đã xảy ra mà vàng không lên giá, lại còn sụt từ mấy tháng nay và bây giờ có thể sụt mạnh?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang ở giữa một giai đoạn bản lề, tức là khó dự đoán vì có thể thiên về phía này hay phía kia với rất nhiều biến động thăng giáng thất thường trong ngắn hạn.

- Trước tiên là dù cả thế giới e sợ nguy cơ lạm phát bùng nổ vì các nước cứ bơm thêm tiền vào khối tiền tệ lưu hành, thực tế thì chuyện lạm phát ấy chưa xảy ra. Tôi xin nhấn mạnh là chưa, chứ không phải là không xảy ra và còn phải nói thêm là nếu xảy ra thì sẽ khá đột ngột và dữ dội. Đấy là viễn ảnh của chuyện dài hạn, trong dăm ba năm tới.

- Kế đó, mình nhớ đến chuyện cung cầu vừa nhắc đến hồi nãy, khi mà ai ai cũng muốn mua vàng làm số cầu lên tới đỉnh cao nhất. Ở trên đỉnh thì ta có thể thấy hiện tượng điều chỉnh, nghĩa là sụt giá nhẹ và làm những người lạc quan tin rằng đấy là cơ hội mua vào. Nhưng mức điều chỉnh ấy lãi không nhẹ mà vượt quá 10% so với đỉnh cao và làm nhiều người phân vân. Nếu lại sụt quá 30% thì có khi thị trường đảo chiều, qua bước lật từ thăng qua giáng.


Một cửa hàng bán vàng ở Hà Nội. AFP
Một cửa hàng bán vàng ở Hà Nội. AFP   


- Chuyện thứ ba là đang phân vân do dự, giới đầu tư có thể so sánh ưu nhược điểm của vàng với các khí cụ đầu tư khác, thí dụ như cổ phiếu. Ta nhớ rằng cổ phiếu có hai lợi thế là có thể tăng giá và còn được chia lời là cổ tức, nên cũng là giải pháp phòng ngừa lạm phát. Khi thấy các chỉ số chứng khoán tại Hoa Kỳ đã lên tới nhiều đỉnh cao mới thì nhà đầu tư có thể đổi ý. Họ đang đổi ý.

- Kết cuộc thì ta có tâm lý hốt hoảng cũng dữ dội như tâm lý lạc quan của mấy năm trước vì ai cũng sợ bán trễ thì bị lỗ nên càng bán mạnh và làm vàng mất giá. Dấy là lúc có hiện tượng tìm hiểu lý do và đổ lỗi, thí dụ như có kinh tế gia Hoa Kỳ đổ lỗi cho Ngân hàng Trung ương Mỹ đã bán tháo 500 tấn vàng hôm Thứ Sáu vừa qua nên mới khiến vàng mất giá nặng!

Vũ Hoàng: Vì thời lượng của chúng ta có hạn, xin hỏi ông là ông tổng kết diễn biến rất phức tạp này như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nhà nghiên cứu về giao dịch và giá cả thường có hai phương pháp phân tích, gọi là cơ bản và kỹ thuật. Cơ bản là chú ý đến yếu tố cung cầu để xem là một món hàng nào đó sẽ lên hay xuống giá. Kỹ thuật là tìm hiểu về phản ứng của thị trường, chủ yếu là tâm lý, như đã từng thấy trong quá khứ, để dự đoán biến động trong ngắn hạn, nôm na là biết được thời điểm sẽ lên hay xuống và qua mức nào thì đảo chiều hoặc có thể lên xuống mạnh hơn.

- Sau những biến động khá đột ngột vừa qua, nhiều nơi dự báo theo phương pháp kỹ thuật là vàng sẽ còn sụt giá trong ngắn hạn, có thể tới mức một ngàn mốt, ngàn hai, thậm chí rơi đến thực giá của nó là khoảng 800 đô la một troy ounce. Nhưng trong rất dài hạn là trên ba năm thì vàng vận còn lên giá nữa. Kết luận ở đây là chúng ta đang bước vào một giai đoạn đầy những thăng giáng khá thất thường, nôm na là bất ổn và bất lường.

- Khi ấy, ta cần nhớ đến hai thành phần quan tâm là giới đầu tư trên thị trường vàng và các ngân hàng trung ương trong cách tính toán về khối dự trữ quý kim và ngoại tệ. Chính là cách tính toán ấy, thí dụ như tại Việt Nam, mới càng khiến cho thị trường vàng bị dao động nặng và càng mua ra bán vào để kiếm lời thì nhà đầu tư lại càng lỗ nếu đi ngược chiều.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.


Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
Phần âm thanh Tải xuống âm thanhIn trang này
nguyenxuannghia04172013.mp3

Thứ Ba, tháng 4 16, 2013

Từ QE đến QEternity


Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 130415
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Kinh Tế Chính Trị Học ABê Của Nhật Bản  

* Thủ tướng Shinzo Abe: "Có lên thì lên lúc này - Không lên thì chết cả mày lẫn tao!" -


Đang canh chừng Bắc Hàn chơi bạo trên đầu, Nam Hàn bị một phát trúng mông ở dưới: biện pháp tiền tệ của Nhật Bản. Hài kịch bất ngờ của kinh tế chính trị học.

Kinh tế Nhật không chỉ bị suy trầm với đà tăng trưởng la đà ngọn cỏ. Về mệnh giá thì Tổng sản lượng kinh tế ngày nay chỉ bằng năm 1991: 20 năm dậm chân tại chỗ. Nhật còn gặp nạn giảm phát, deflation, hiện tượng trái ngược với lạm phát: hàng họ bán với giá rẻ mà vẫn ế. Trong khi Tổng sản lượng dập dình ở mức 0,6% một năm trong 15 năm liền, chỉ số giá tiêu dùng lại bẽn lẽn chui dưới thảm: giảm 0,2% một năm.

Kinh tế chính trị học nhập môn dạy rằng khi kinh tế suy trầm, ta có thể kích thích bằng cách hạ lãi suất hay bơm tiền. Từ 13 năm trước, Nhật Bản đã ghìm lãi suất ở số không mà chẳng công hiệu. Đây là lúc Shinzo Abe tái xuất hiện.

Ông Abe tái xuất hiện vì đã làm Thủ tướng tròn một năm rồi đột ngột từ chức vào Tháng Chín năm 2007. Lần này, đảng Tự do Dân chủ LDP của ông đắc cử vẻ vang và ông cầm ấn Thủ tướng từ cuối năm ngoái với hứa hẹn cách mạng để kéo kinh tế ra khỏi nạn èo uột kinh niên.

Hôm mùng bốn vừa qua, tân Thống đốc Ngân hàng Trung ương Haruhiko Kuroda lập tức bắn pháo lệnh: làm như cũ mà theo kiểu mới với cường độ vũ bão. Như cũ là tăng mức lưu hoạt tiền tệ có định lượng, gọi là Quantitative Easing hay QE.

Nhật đã phát minh liều thuốc bất thường ấy từ năm 2001, dưới tên gọi "ryoteki kin'yu kawa". Sau đó, các ngân hàng trung ương của Anh hay Hoa Kỳ và Liên Âu, v.v... mới áp dụng. Người ta có thể gọi biện pháp QE là in bạc bơm tiền. Thực tế và chuyên môn hơn một tí thì hơi nhức đầu.

Ngân hàng trung ương của các nước văn minh không có quyền in bạc mua trái phiếu của nhà nước, tức là cho nhà nước vay tiền để tài trợ bội chi ngân sách. Khi nhà nước đã tăng chi quá trán nên mắc nợ ngập đầu và lãi suất đã hạ tới đáy mà kinh tế chưa nhúc nhích thì ngân hàng trung ương phải len vào ngả bất thường.

Đó là bơm tiền qua cửa gián tiếp là mua trái phiếu từ các ngân hàng và tá ghi vào bảng kết toán tài sản của hệ thống ngân hàng một lượng tiền nhất định để ngân hàng có thêm thanh khoản nên cho vay dễ hơn. Nhờ đó tài hóa có thể lưu thông và kinh tế phục hoạt. Nếu muốn thu hồi biện pháp này thì ngân hàng trung ương bán lại trái phiếu, thu vào tiền mặt để hút bớt khối tiền tệ lưu hành, thí dụ như khi kinh tế đã hoạt động mạnh nên bị nguy cơ lạm phát.

Chuyện ly kỳ là kiểu mới vừa được Thống đốc Kuroda công bố:

Nhật cố đạt lạm phát 2% trong hai năm tới; muốn vậy, mỗi tháng mua vào 70% lượng trái phiếu phát hành, bằng 1% của Tổng sản lượng; để nhân khối tiền tệ hơn gấp đôi, từ 29% lên 56% Tổng sản lượng; với hướng thiên về trái phiếu dài hạn và cả loại "biến phiếu" derivatives trên thị trường địa ốc; sẽ đánh thuế tiền tiết kiêm dư dôi của doanh nghiệp; và duy trì chính sách này cho đến khi hiệu quả.

Khi đọc loại tin với mấy điểm ghi ở trên, đa số chúng ta đều gạt tờ báo qua một bên. Rắc rối thật, đọc làm chi!

Sự thật bên dưới là Chính quyền Nhật vừa dọa là sẽ để lạm phát tăng 2% và sẽ làm hạ phân lời trái phiếu. Khi giá không tăng mà hàng năm còn giảm đều 0,2% từ 13 năm nay, biện pháp này là cú điện giựt: cứ ghim tiền trong túi mà không xài thì đồng tiền sẽ mất giá. Với giới đầu tư tài chánh, chính sách ấy khiến họ phải tìm phân lời cao hơn ở xứ khác, hoặc đầu tư vào bất động sản.

Chuyện ấy đã là bất thường.

Bất thường hơn nữa là cường độ vũ bão: lượng tiền vĩ đại được trù tính bơm ra là 200 tỷ đô la một tháng, so với 85 tỷ mà Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã thông báo. Nhắc lại cho rõ, năm năm qua, ba đợt QE của Mỹ đã tăng khối tiền tệ khoảng 15% Tổng sản lượng Hoa Kỳ. Nhật tính chạy nước rút, làm gấp đôi, tăng 30%, nội trong hai năm tới. Và cho biết là sẽ còn làm hơn thế, nếu thấy cần thiết.

Vì vậy, thiên hạ mới chơi chữ mà gọi biện pháp QE là QEternity. Tăng mức lưu hoạt có định lượng mà vô hạn kỳ. Mà còn mạnh hơn Ngân hàng Trung ương Mỹ. Tại sao đến nỗi vậy?

Vì Chính quyền Nhật đã mắc nợ đến 240% Tổng sản lượng, gấp đôi Hoa Kỳ, mà kinh tế vẩn trì trệ thì ngân hàng trung ương đành liều mạng bắn nỏ liên châu.

Từ khi Shinzo Abe công báo chiều hướng được thiên hạ gọi là "kinh tế chính trị học kiểu Abe" (Abenomics), các kinh tế gia thiên tả đã trích dẫn lý luận của Keynes để ngợi ca là sáng suốt và quyết liệt, chứ không nửa vời và ngập ngừng như các chính quyền trước đây. Họ quên mất lời cảnh báo của Keynes mà ta sẽ có dịp nhắc lại.

Kết quả như cũng đã thấy tại Mỹ, là thị trường chứng khoán Nhật hả dạ tăng vọt, nhất là cổ phiếu của các quỹ đầu tư về địa ốc được ngân hàng trung ương chiếu cố. Đồng thời, đồng Yen sụt mạnh so với các ngoại tệ khác đến nỗi Bộ Ngân khố Mỹ cảnh báo hôm Thứ Sáu 12 vừa qua: Nhật cần cứu nguy kinh tế nhưng không nên cạnh tranh bất chính bằng phá giá để nhờ hối suất thấp mà bán hàng rẻ.

Tại hai ngày 18-19 sắp tới ở thủ đô Hoa Kỳ của nhóm G20, các Tổng trưởng Tài chánh và Thống đốc Ngân hàng Trung ương có thể nhắc lại: nếu ai cũng thi đua đánh sụt đồng bạc thì làm sao làm ăn? Đấy là lúc nên chú ý đến Nam Hàn.

Khi Nhật dậm chân tại chỗ và bị giảm phát, hàng năm kinh tế Nam Hàn vẫn tăng trưởng hơn 4% với chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,3%. Cường quốc tân hưng này còn trực tiếp đua tài với kẻ xâm lược, ông thầy cũ và đồng minh hiện tại trên hai trận tuyến sở trường của Nhật là hàng điện tử và xe hơi – xin nghĩ đến Samsung và Hyundai.

Bây giờ, đồng Yen lại sụt giá so với đồng Won của Nam Hàn, và chỉ số cổ phiếu TOPIX của Nhật tăng vọt từ bốn tháng nay trong khi chỉ số KOSPI của Nam Hàn cứ lẹt đẹt, nên ngón võ của Abe mới là mũi tên bắn ngược vào một đồng minh đang bị Bắc Hàn hăm dọa trên đầu!

Sau cùng là "hậu quả bất lường" hay liều thuốc đổ bệnh.

Khi Nhật liều lĩnh như vậy thì đâu là rủi ro? Kinh tế Nhật suy sụp từ năm 1990 vì nạn bể bóng cổ phiếu và địa ốc hơn 20 năm trước. Bây giờ, chuyện ấy có thể tái diễn, dù Thống đốc Kuroda bảo là ông không sợ và còn thổi lên trái bóng trái phiếu! Mà vì giao dịch với cả thế giới, kinh tế Nhật không nằm riêng trong phòng hồi sinh, biện pháp tháo tiền cứu nguy sẽ ảnh hưởng thế nào đến xứ khác? Thứ hai, nếu thấy sắp đạt chỉ tiêu lạm phát, Nhật sẽ đảo ngược chánh sách và hút tiền ra. Có kịp không?

Ngoài đòn tiền tệ, cuộc cách mạng Abenomics còn nhắm vào nhiều hướng khác. Đáng kể nhất là cải cách chế độ ruộng đất và phá vỡ thế lực bảo hộ của nông gia để đưa Nhật Bản vào vòng đàm phán tự do mậu dịch xuyên Thái bình dương TPP. Đây là việc cần thiết, nhưng gây rủi ro chính trị lớn vì xưa nay thành phần này là nhóm lợi ích đã nuôi và nắm đảng LDP trong tay.

Cột báo này đã quá nhức đầu nên xin hẹn kỳ khác, khi Nhật bầu lại Thượng viện vào Tháng Sáu tới!

Chủ Nhật, tháng 4 14, 2013

"Thế Kỷ Này Là Thế Kỷ Của Chúng Ta"



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 130412

Người Mỹ đang muốn hát như lời ca của Võ Hoàng!

 * Thế kỷ 21 này có còn là "Thế kỷ của Hoa Kỳ" hay không?



Từ trăm năm nay, người ta đã nghe nói đến sự lụn bại của Hoa Kỳ và sự tiêu vong của tư bản chủ nghĩa. Năm năm qua, nghe chừng là lời tiên báo ấy đang thành hiện thực... Có chắc không?

Với người Mỹ, Thế kỷ 21 bắt đầu với tám tháng suy trầm kinh tế, khởi sự từ Tháng Ba năm 2001 sau một cuộc bầu cử tổng thống đầy kịch tính lạ thường vào năm 2000.

Trong cuộc bầu cử đó, Thống đốc Texas là George W. Bush thắng cử nhờ án lệnh của Tối cao Pháp viện và 257 phiếu tại Florida. Bị đối thủ cay cú chê là cướp ngai hay đỗ vớt, ông trù tính ưu tiên giải quyết các vấn đề bên trong và có chủ trương đối ngoại ôn nhu khiêm nhượng. Nhưng nạn suy trầm mà ai cũng đoán trước được từ vụ bể bóng cổ phiếu năm 2000, đã xảy ra, lại nhồi trong vụ khủng bố 9-11 vào Tháng Chín và hàng loạt tai tiếng của các doanh nghiệp bất lương (vụ Enron) vào cuối năm. Sau đấy là chiến dịch A Phú Hãn lồng trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Tiếp theo là chiến dịch Iraq và những hoạn nạn dồn dập của chính quyền Bush.

Năm năm sau, khi Thế kỷ 21 mới lên tám, Hoa Kỳ trôi vào một trận bão khác: lại suy trầm kinh tế cuối năm 2007, bồi thêm vụ khủng hoảng tài chánh và những trầm luân không dứt. Ngày nay, nếu bình tâm nghĩ lại thì người dân Mỹ có thể đồng ý rằng 13 năm qua quả là 13 năm "trâu trắng mất mùa". Kinh tế chưa hồi phục, khu vực gia cư bị tanh bành vẫn chưa gượng dậy. Ngân sách bội chi liên tục và gánh nặng quốc trái thăng thiên lên trời, tính đến hôm nay thì nợ 16 ngàn tám trăm tỷ đô la. Trong khi ấy, các chính trị gia của cả hai đảng và Tổng thống Barack Obama vẫn là những người đi trên mây. Đầy thủ thuật mị dân mà thiếu đởm lược đưa ra giải pháp thật.

Mà không chỉ có vậy, lời tiên đoán từ trăm năm trước về sự tiêu vong của chủ nghĩa tư bản lại lởn vởn trong đầu nhiều người. Nhất là từ cánh tả có khả năng viễn mơ nhiều hơn cái nhìn thực tế. Những người lạc quan nhất trong số này thì mong là nhà nước sẽ cải tiến chủ nghĩa tư bản. Nhiều người khác thì coi như Giấc Mơ Hoa Kỳ đã tàn phai, đang thành cơn ác mộng.

Trong hoàn cảnh đó, không mấy ai dám nghĩ rằng Thế kỷ 21 này là Thế kỷ của Hoa Kỳ.

Tội nghiệp! Hãy nhìn về quá khứ và nhìn ra chung quanh đã, rồi hãy hát khúc bi ca.


Trong một thời gian khá lâu, những kẻ tối dạ vẫn hồ hởi nghĩ rằng cộng sản chủ nghĩa – hay ả vợ bé của nó là xã hội chủ nghĩa khi lý luận cộng sản mắc bệnh liệt dương và chuyển sang từ trần – mới là tương lai của nhân loại. Không thiếu gì những người xưng danh học giả và trí thức trong thế giới tư bản và các nước dân chủ, kể cả Hoa Kỳ, cũng nghĩ vậy. Họ cầm tinh con vẹt để ngợi ca thành tựu của Liên bang Xô viết. Kết cuộc thì giấc mơ đỏ lè ấy tồn tại được một hoa giáp! Liên Xô tan tành và chủ nghĩa cộng sản phá sản.

Ba chục năm trước, cũng thành phần ưu tú của Mỹ đã hoài nghi thành tựu của Hoa Kỳ.

Với họ, sống, kinh doanh hay cạnh tranh thì phải như người Nhật. Chủ nghĩa tư bản với màu sắc Nhật Bản và cây kiềng ba chân của chính quyền, bộ máy hành chánh và các doanh nghiệp mới là tương lai. Nhật đã làm chủ nhiều cơ sở tại Hoa Kỳ và mô thức quản trị kiểu Nhật được giảng dạy trong các đại học uy tín nhất của Mỹ. Quần chúng ở dưới hốt hoảng thì phát huy tinh thần bài Nhật, lấy búa tạ phang xe hơi của Nhật và hồ hởi xem phim chống Nhật!

Giờ đây, không còn mấy ai nhớ mấy chuyện đó vì cùng với sự sụp đổ của Đế quốc Xô viết là sự lụn bại của nước Nhật từ năm 1991, nay vẫn chưa dứt.

Những người không lý tài như dân Nhật mà chuộng mã trí thức văn minh thì không nhìn về đó mà mơ ước mô hình Âu Châu.

Ưu điểm của "Cựu Thế Giới" mà "Tân Thế Giới" là Hoa Kỳ có thể học được chính là "phẩm chất của cuộc sống". Không cạnh tranh và đổi thay đến chóng mặt như Mỹ, Âu Châu mới là một tương lai hài hòa. Nhất là ngay sau khi Liên Xô tan rã, các nước đã có Thoả ước Maastricht năm 1992 để lập ra Liên hiệp Âu châu và có kế hoạch thống nhất tiền tệ để lập ra khối Euro.

Nhưng sau đúng 500 năm làm mưa làm gió trên thế giới, từ 1492 đến 1991, Âu Châu tụt xuống ghế đẩu. Và ngày nay đang cầm đèn đỏ, kinh tế suy sụp, thất nghiệp triền miên, đồng Euro thành đồng sứt. Hàng loạt quốc gia như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ái Nhĩ Lan,Ý Đại Lợi, Cyprus và Slovenia đang ở mé bờ khủng hoảng.

Những người Mỹ bi quan cứ nhìn vào danh hài Barack Obama mà thở hắt. Họ nên ngó qua bên kia Đại dương: nơi đó, các chính khách như Silvio Berlusconi hay Beppe Grillo của Ý hay Tổng thống François Hollande và cựu Bộ trưởng Ngân sách Jérôme Cahuzac của Pháp mới là những tay hề chính hiệu. Thế kỷ này không là thế kỷ của Âu Châu! Hết rồi.

May là còn có Trung Quốc và phép lạ kinh tế của bốn thế hệ lãnh tụ Đặng-Giang-Hồ-Tập!

Với một lực lượng dân công đông như kiến là một tỷ 354 triệu người hết còn phải đấu nhau như trong trăm năm trước, Trung Quốc có thể có sản lượng kinh tế đáng nể và giấc mơ bành trướng đáng sợ. Nhưng vỏ cứng ruột mềm, nền kinh tế và xã hội đó đã có triệu chứng suy trầm, rạn nứt và động loạn. Ít ai để ý đến trái bóng địa ốc hay núi nợ của Trung Quốc mà chỉ ca tụng bước nhảy vọt của Bắc Kinh và dự báo kinh tế Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ ngay trong thập niên này. Nhưng thủ thuật ăn cắp và dòm lén thì quả là cao, đấy có là mẫu mực không? Và Thế kỷ 21 này có chấp nhận cho một anh hung đồ to xác cứ đòi tự tung tự tác hay chăng?

Thế giới còn lại những ai, xứ nào, để người Mỹ cho là tấm gương đáng soi? Ấn Độ? Brazil, Nam Phi, Nam Dương, Đại Hàn, Mễ? Hay Iran, Bắc Hàn? – Thưa rằng chẳng còn ai cả!

Hoa Kỳ phải tìm con đường sáng cho mình. Và sẽ lại tìm ra như sau mỗi lần hốt hoảng vì bị điện giựt như đã thấy trong lịch sử. Người dân Mỹ đang lặng lẽ thử nghiệm và tìm lấy sau khi đuổi một mớ chính khách về viết hồi ký.

"Thế kỷ này là Thế kỷ của Chúng ta!" - khi họ biết ca như vậy thì sẽ tìm ra.