Thứ Tư, tháng 8 03, 2016

Chống Tự Do Thương Mại và Toàn Cầu Hóa

Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA Ngày 160803
Diễn đàn Kinh tế 

Thịnh vượng và bất công trong trào lưu toàn cầu hóa.... 
 
 
000_7N1VO.jpg
* Thủ tướng New Zealand John Key (thứ 6 từ phải) và đại diện các Bộ trưởng từ 12 quốc gia sau khi ký thỏa thuận TPP ở Auckland vào ngày 04 tháng 2 năm 2016. AFP photo *
 
 
Cuộc tranh cử Tổng thống tại Hoa Kỳ chính thức mở đầu sau khi Đại hội của hai đảng lớn là Cộng Hòa và Dân Chủ hoàn tất vào tuần qua. Chi tiết kinh tế đáng chú ý nhất cho nhiều nước là cả hai ứng viên dẫn đầu của tranh cử đều chống Hiệp định Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương. Chẳng những thế, người Mỹ không chỉ chống tự do thương mại mà dường như còn chống cả hiện tượng toàn cầu hóa xưa nay vẫn được ngợi ca.


Nguyên Lam: Hai chính đảng lớn của Hoa Kỳ đã kết thúc Đại hội và cuộc tranh cử Tổng thống của nước Mỹ bước vào giai đoạn toàn quốc cùng với việc bầu lên nhiều chức vụ dân cử khác trong cuộc tổng tuyển cử vào ngày Thứ Ba mùng tám Tháng 11 tới đây. Về kinh tế thì người ta ngạc nhiên khi chương trình hành động của hai đảng có sự đồng thuận duy nhất là cùng chống lại Hiệp định Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là TPP. 

Thưa ông, Tổng thống Barack Obama thuộc đảng Dân Chủ đã ký văn kiện này và thiết tha kêu gọi Quốc hội khóa 114 sớm thông qua trước khi ông mãn nhiệm vào năm tới. Không ngờ là đa số Dân biểu Nghị sĩ Dân Chủ lại không đồng ý và bất ngờ hơn nữa là đảng Cộng Hòa xưa nay thường ủng hộ tự do mậu dịch cũng hoài nghi Hiệp định TPP và người sẽ đại diện đảng ra tranh cử tổng thống là doanh gia Donald Trump lại còn kịch liệt phản bác văn kiện này và mọi thỏa thuận quốc tế của Hoa Kỳ. Coi bộ như một chuyện gì đó rất lạ đang xảy ra trong xã hội Hoa Kỳ. Ông giải thích thế nào về hiện tượng kỳ lạ này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Cô nêu vấn đề rất đúng vì đây không là phản ứng của một thiểu số tức là các chính trị gia mà chúng ta còn có thể thấy một trào lưu phổ biến và đáng ngại là nhiều người thất vọng với tự do mậu dịch và còn xoay ra chống lại trào lưu toàn cầu hóa. Chúng ta sẽ phải từng bước phân tích hiện tượng này để hiểu ra nhiều vấn đề sẽ gặp trong mấy năm tới.

Từ một nguyên tắc lý tưởng là buôn bán không hạn chế mà tiến lên cái thế hợp tác gần như toàn diện với 11 nước khác, ta có thể thấy mức độ phức tạp và hậu quả lợi và hại tùy theo lĩnh vực. Nguyễn-Xuân Nghĩa


- Thứ nhất, như chúng ta đã trình bày trong một chương trình vào đầu Tháng Sáu, chỉ có một thiểu số là quan tâm và có lập trường rõ rệt về tự do mậu dịch. Cuộc khảo sát ý kiến đầu năm nay cho thấy có 58% ủng hộ tự do mậu dịch và 34% thì chống.

- Cuộc khảo sát ngày 29 vừa qua cho thấy chỉ có 33% dân Mỹ là đặc biệt quan tâm đến ngoại thương nhưng trong số này thì tới ba phần tư, là khoảng 25% những người trả lời, thì quyết liệt chống và chỉ có 8% ủng hộ thôi. Tức là dân Mỹ vừa có một sự chuyển dịch tâm lý rất mạnh trong có năm tháng trời do tác động của một thiểu số quan tâm và tích cực tranh đấu cho lập trường chống tự do mậu dịch.

- Ta biết là vào mùa tranh cử thì các chính khách đều chú ý đến ước vọng của cử tri nên cần bày tỏ lập trường theo hướng đó. Nhưng thật ra vấn đề không chỉ là tâm lý hời hợt hay nhất thời của người dân mà là một chuyện gì sâu xa và nghiêm trọng hơn vậy.


Nguyên Lam: Nguyên Lam cố học cách phân tích tâm lý xã hội của ông để hiểu ra các vấn đề kinh tế và chính trị trong tương lai. Thưa ông, thế thì có chuyện gì mà ông cho là sâu xa và nghiêm trọng hơn tâm lý hời hợt của người dân?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đề nghị là ta đi qua ba cấp độ khác nhau thì mới thấy vấn đề.

Cấp thứ nhất là tự do thương mại hay tự do mậu dịch, là việc tự do trao đổi mua bán giữa các nước với nhau mà không bị cản trở như hàng rào quan thuế hay hạn ngạch nhập khẩu. Khi được trao đổi tự do như vậy thay vì theo chính sách bảo hộ mậu dịch và ngăn sông cấm chợ thì việc buôn bán phát đạt sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho người mua lẫn kẻ bán, ít ra về lý thuyết. Như vậy, bước đầu của tự do thương mại là thuế thấp và không hạn chế. Đa số người dân ở mọi nơi đều có thể ủng hộ việc đó.

- Cấp thứ hai thì rắc rối hơn một chút, đó là hiệp định tự do thương mại và đầu tư giữa các nước với nhau, điển hình là Hiệp định TPP. Văn kiện này không chỉ quy định là các nước đồng ý hạ thấp quan thuế biểu và hạn ngạch để gia tăng việc buôn bán mà lại có tham vọng lớn lao hơn.

- Đó là lập ra một hệ thống thỏa thuận chi tiết về các lĩnh vực đầu tư, thuế vụ, lao động, môi sinh, công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, về chuỗi tiếp liệu mà các nước có thể mua bán với nhau trong tiến trình sản xuất như trong một nền kinh tế thống nhất. Sau bảy năm bàn cãi, đại biểu 12 nước trên vành cung Thái Bình Dương đã thỏa thuận về cả trăm lĩnh vực chi ly để bảo vệ quyền lợi của mọi thành phần kinh tế xã hội của mình ở nhà.

- Kết quả là văn kiện này cao hơn một chục cuốn từ điển vì dầy tới 5.500 trang đầy thuật ngữ chuyên môn khó hiểu. Nếu gật đầu thông qua văn kiện này thì từng nước sẽ phải sửa đổi luật lệ bên trong để từ nay tuân thủ mọi cam kết với các nước kia. Hậu quả là nhiều người có thể ủng hộ tự do mậu dịch mà nghi ngại và chống đối Hiệp định TPP vì nó đòi hỏi nhiều thay đổi quá phức tạp.


Vì sao e ngại TPP?

Nguyên Lam: Sau khi ông phân biệt hai tầng tiếp cận từ thấp đến cao, có lẽ chúng ta mới hiểu vì sao người ta có thể đồng ý với nguyên tắc tự do thương mại mà lại e ngại Hiệp định TPP. Nguyên Lam nghĩ tới là đã thấy sợ vì nếu đi vào kinh doanh thì làm sao mình biết được và hiểu ra từng chi tiết đã cam kết với các xứ khác? Nếu trong những cam kết đó mà ngành này có lợi, ngành kia phải thay đổi thì tất nhiên là có người ủng hộ và có người chống! Bây giờ, thưa ông, cái cấp độ thứ ba ông muốn nói là gì?



000_DN1DU.jpg-400.jpg
Biểu tình phản đối TPP tại Hội nghị đảng Dân chủ tại Trung tâm Wells Fargo, Philadelphia, Pennsylvania hôm 27 tháng 7 năm 2016. AFP photo


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ một nguyên tắc lý tưởng là buôn bán không hạn chế mà tiến lên cái thế hợp tác gần như toàn diện với 11 nước khác, ta có thể thấy mức độ phức tạp và hậu quả lợi và hại tùy theo lĩnh vực. Trên cùng là sự kiện muốn ăn thì phải chia và phải chấp hành điều lệ mới để thỏa mãn yêu cầu của các đối tác kia. Người không hiểu thì thấy cuộc sống và việc kinh doanh của họ bị ai đó chi phối. Bây giờ mình tiến lên cấp độ hợp tác toàn cầu khi xứ khác lại có sức cạnh tranh cao hơn nhờ lợi thế tương đối của họ thì nhiều người thấy sợ. Thực tế thì họ đã bị vượt qua và có khi bị đào thải vì cạnh tranh không nổi trên cấp độ toàn cầu!

Nguyên Lam: Như vậy, thưa ông, cấp độ thứ ba có phải là toàn cầu hóa hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta nhìn trong viễn ảnh dài thì có thể thấy ra cái giá của tiến bộ. Trong từng nước, khu vực canh nông bị công nghiệp vượt qua rồi ngành chế biến tạo ra bao công ăn việc làm trong nửa thế kỷ lại mất dần vai trò thống trị vào tay khu vực dịch vụ, hay vào tay xứ khác, v.v….

- Những tiến bộ ấy có cải thiện cuộc sống của đa số mà cũng dẫn tới hiện tượng đào thải những ai tiến quá chậm. Thí dụ kia là như đầu thế kỷ 20, Hoa Kỳ vượt Đế quốc Anh để thành đại gia thế giới về thép, sau đó vài chục năm kỹ nghệ thép Mỹ bị Nhật đánh bại vì tốt mà rẻ hơn, rồi chính Nhật lại bị điêu đứng về thép Nam Hàn trong từng đợt cải tiến ngày càng nhanh hơn. Khi bị thua sút thì ngành thép cầu cứu chính phủ trợ giúp hoặc ngăn cản sự cạnh tranh của thép ngoại, v.v…

- Vì thế nước nào cũng có thể đề cao tự do mậu dịch mà vẫn ngấm ngầm bảo vệ một số khu vực mình cho là chiến lược. Khi ấy, các nước phải cố thỏa thuận việc hợp tác theo cái hướng nếu chưa công bằng thì cũng bình đẳng hơn, gọi là “khó người khó ta, dễ người dễ ta”.

- Nhìn cách khác thì sau Thế chiến II và nhất là từ khi Liên bang Xô viết tan rã năm 1991, thế giới bước vào giai đoạn toàn cầu hóa, hay “kinh tế nhất thể hóa” trên phạm vi toàn cầu, và đấy là cuộc cách mạng về sản xuất theo quy luật thị trường đã đem lại một sự thịnh vượng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Thế rồi sự tiến hóa hàm nghĩa đào thải còn xảy ra với tốc độ cao hơn nhờ cách mạng về công nghệ tin học từ vài chục năm qua và gây quá nhiều thiệt hại.


Kinh tế đi đôi với chính trị


Nguyên Lam: Các kinh tế gia chỉ ra từ đầu thế kỷ 19 là khi mở rộng việc mua bán tự do thì xứ nào cũng tự nhiên tìm ra ưu thế sản xuất của mình để có món hàng rẻ và tốt nhất bán cho xứ khác hầu mua về mặt hàng rẻ và tốt nhất của họ và cuối cùng thì mọi người đều có lợi. Thưa ông, sự thể có phải là như vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là đúng như vậy về lý thuyết. Về thực tế thì mỗi quốc gia lại có nhiều khác biệt bên trong nên khi chạy đua để tìm lợi thế sản xuất tương đối của mình, không phải là ai cũng thành công. Vì thế kinh tế phải đi với chính trị để nhà nước can thiệp qua chính sách hầu tìm ra và khai thác lợi thế, hoặc nâng đỡ các thành phần yếu kém.

- Khi hiện tượng toàn cầu hóa bùng nổ, ta thấy là có thành phần được lời và thành phần bị lỗ. Thành phần hưởng lợi thì có khả năng phối hợp toàn cầu, là đại doanh gia của các tập đoàn quốc tế có quan hệ gắn bó với chính quyền các nước. Thành phần bị lỗ, hoặc bị đào thải vì tiến hóa không kịp thì cho rằng toàn cầu hóa hứa hẹn thịnh vượng mà đợi mãi không thấy.

Họ bất mãn và quy trách cho 1) các tập đoàn lớn luôn luôn có lợi trong các hiệp định tự do mậu dịch, 2) cho giới lãnh đạo và 3) cho quốc tế ở những cam kết mờ ám mà họ không hiểu được. Vì thế, từ việc phản đối Hiệp định TPP, nhiều người phản đối luôn cả trào lưu toàn cầu hóa.

Kinh tế phải đi với chính trị để nhà nước can thiệp qua chính sách hầu tìm ra và khai thác lợi thế, hoặc nâng đỡ các thành phần yếu kém. Nguyễn-Xuân Nghĩa


Nguyên Lam: Câu hỏi cuối và trở lại cuộc tranh cử năm nay tại Hoa Kỳ, theo như ông nhận định thì sự phản đối đó chỉ mang tính cách chính trị nhất thời hay sẽ gây hậu quả lâu dài hơn?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi e là vụ này nghiêm trọng và có hậu quả lâu dài vì không chỉ Mỹ mới gặp mà là hiện tượng lan rộng như ta đang thấy tại Âu Châu. Thứ nhất, người dân nói chung hết tin vào chính quyền và các đảng phái truyền thống vì quá nhiều khó khăn kéo dài từ năm 2008. Đó là chuyện khủng hoảng niềm tin chúng ta đã nói từ nhiều năm trước.

- Thứ hai, một hậu quả bất ngờ của toàn cầu hóa là những cam kết siêu quốc gia trên đền thờ của sự thịnh vượng mà người bị thua thiệt không được hưởng nhưng phải cúi đầu vái.

- Thứ ba, đáng kể không kém là tự ái dân tộc trước những cam kết quốc tế quá xa lạ. Ta có thể gọi đó là chủ nghĩa quốc gia chống lại trào lưu hội nhập quốc tế. Hậu quả về kinh tế có thể là tinh thần bảo hộ mậu dịch, hoặc may lắm tìm sự hợp tác song phương thu hẹp sau khi đả phá sự hợp tác quốc tế hay siêu quốc gia. Giới chính trị gia Mỹ cảm được sự bất mãn của dân chúng nên cũng phất cờ chống toàn cầu hóa và sẽ gây vấn đề với các xứ khác. Ngay năm nay, các dân biểu nghị sĩ phải ra tranh cử sẽ ưu tiên lo cho việc tái đắc cử hơn là nghe theo lời kêu gọi của Tổng thống mà thông qua Hiệp định TPP. Và Quốc hội khóa 115 lại còn bảo hộ nặng hơn nữa. Tôi không mấy lạc quan là vì vậy.


Nguyên Lam: Nguyên Lam và ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ ông về bài phân tích này.


4 nhận xét:

  1. Tổng thống Obama nói TPP là công cụ để chống lại Trung Quốc.
    Có vẻ như vậy, nhưng có thể ổng biết nhưng làm ngơ không muốn nghĩ tới Việt Nam chính là cái lỗ thông vách để Trung Quốc xuyên qua TPP mà chẳng cần phải chịu sự ràng buộc gì, không sướng sao?

    Trả lờiXóa
  2. Đọc các blog thấy các bạn đọc đang nưả đuà nưả thật rằng Việt Nam sắp sát nhập vào... "Nước Mẹ Ghẻ" tự nhiên nghe nhứt tim, nhứt óc quá Thầy Nghiã ơi.
    Tinh hoa Việt Nam đi đâu hết cả rồi??
    Poorshope thì vẫn luôn nghe theo chương trình chiêu hồi tuy cũ xưa nhưng luôn mâù nhiệm cuả cô Quỳnh Giao, mặc dù Bên Thắng Trận thường cho rằng họ mới là kẻ có quyền lực và tài lực để chiêu hồi người khác. Nhưng khi còn sống ông Alan Phan có nói, họ mới là những kẻ thua trận. Không biết thế nào, câu hỏi lớn dành cho lịch sử va những thế hệ mới cuả dân tộc.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Alan Phan chỉ nhận ra nhà cầm quyền Việt Nam hiện hành chỉ thuần túy là kẻ thắng cuộc sau khi quay lại Việt Nam tính kiếm chác, nhưng không thành công và còn bị mất mát. Chuyện Alan Phan rút tĩa được sau khi bị "bọp tai đá đít" tại Việt Nam thì người Việt Nam và các cây cột đèn đã biết từ ngay sau khi 1975.

      Xóa
    2. Ông Alan Phan có khả năng kiếm tiền ở Trung Quốc, HongKong ông không cần thiết phải "tính kiếm chác" ở Việt Nam. Trong tự bạch cuả mình, ông ta cho chúng ta thấy là một người có lòng với quê hương muốn đồng hành cùng giới doanh nhân trẻ, dĩ nhiên phải chấp nhận sự bại xuội cuả thể chế mà Bên Thắng Cuộc đang cầm quyền. Cũng giống như chúng ta, ông ta chỉ còn biết mong và khuyến khích nó tự cải tiến, thay đổi. Ông ta không phải là một người chỉ biết ngồi ôn quá khứ nguyền ruả hiện tại vô vọng với tương lai. Ông ta là một người tích cực.
      Tôi không biết ông ta đã "bị bợp tai đá đít" như thế nào tại Việt Nam. Ông ta đã về quê, chịu chung cảnh đó với đồng bào mình, là một sự đồng cam cộng khổ vậy. Chỉ sợ ông ta được hưởng đặc quyền đặc lợi thì mới là nhục. Tôi chỉ nghi ngờ rằng mấy cái phần mềm gì đó cuả chững khoán mà ông ta bỏ tiền ra muốn thực hiện làm ở VN có thể đã bị ai đó "hưởng miễn phí" mà bản thân ông ta cũng không biết, không ngờ. Trên thế giới các blog cuả Mỹ có những comment rất vui "whatever they lack, they hack".

      Xóa