Thứ Tư, tháng 3 04, 2015

Những Điềm Mất Nước



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Tuần báo Sống, ngày150303
"Vùng Oanh Kích Tự Do"

Nước mất thì ai được? Ta hay địch?

 * Tranh vui và ý nghĩa của Sống - Những con chuột xã tắc? *



Thời Bắc Ngụy bên Tầu (từ 386 đến 534), Thái Võ đế Thác Bạt Đảo (sinh năm 408, trị vì từ 424 đến 452) thuộc họ Thác Bạt của sắc tộc du mục Tiên Ti, là người ban đầu có đởm lược hùng tài.

Ông chinh phục và bình định được miền Bắc sau hơn trăm năm nhiễu nhương thời Ngũ Hồ Thập lục quốc - có 16 nước! Từ lãnh thổ rộng lớn miền Bắc, Thác Bạt Đảo tranh hùng với Lưu Tống tại miền Nam và mở ra giai đoạn "Nam-Bắc triều", kéo dài từ 420 đến năm 589. Có dông dài với chồng lịch thì mới hiểu "khi nước Tầu có loạn" là chuyện dằng dặc!


*** 


Triều Thái Võ đế có đại thần Cổ Bật nổi tiếng cương trực, không xu nịnh, dám can hoàng đế.

Thời ấy, Thác Bạt Đảo muốn xây vườn ngự uyển Thượng Cốc trên một vùng bát ngát trùm lên đất canh tác của bá tánh. Cổ Bật nhiều lần xin Võ đế cho thu hẹp phân nửa ngự uyển để dân còn đất cấy cầy. Võ đế không nghe, dù trước đó ông là người đạm bạc chẳng ưa nếp sống xa xỉ và trọng Lão giáo. Không nản lòng, một hôm Cổ Bật lại vào cung để cố xin cắt vườn thượng uyển.

Đến nơi, thấy Hoàng đế đang ngự trên long sàng đánh cờ với viên cấp sự trung là Lưu Thụ. Ván cờ đến hồi gay cấn, người người nín thở theo dõi từng nước cờ của hai kỳ thủ. Cổ Bật ngồi đợi rất lâu như kẻ chầu rìa ngoan ngoãn - mà chẳng thấy Hoàng đế ngước nhìn xuống.

Ông bèn nảy kế lạ.

Bỗng cả cung đình bàng hoàng thấy quan đại thần Cổ Bật nhổm dậy, chồm tới nắm đầu Lưu Thụ kéo khỏi giường mà vật xuống sàn. Rồi cứ thế, một tay giữ chặt vành tai Lưu Thụ, tay kia đánh tới tấp vào lưng như kẻ bật bông. Miệng mắng liên hồi: "Này Lưu Thụ, triều đình mà bê trễ công việc là lỗi ở ông!"

Trên long sàng, Hoàng đế thất kinh vội đặt quân cờ xuống: "Này! Không nghe lời tâu là lỗi ở trẫm, Lưu Thụ chẳng có tội gì cả. Buông ông ấy ra!"

Bấy giờ, Cổ Bật mới thả Lưu Thụ và quỳ gối trình bày lại chuyện thu hẹp vườn thượng uyển cho dân nhờ. Tim còn như hồi trống trận trước biến cố bất ngờ, Thái Võ đế bèn chuẩn theo lời tâu.

Cổ Bật xin xong, mặt không đổi sắc mà tự lột mũ tháo giày, đòi chân đất đi qua dinh hữu tư để nhận tội chết....

Thác Bạt Đảo bèn gọi giật: "Trẫm có nghe chuyện lấn đất của dân để xây ngự uyển là điều hại nước. Khanh làm việc cẩn trọng như vậy là ta được thần giáng phúc, chứ khanh có tội gì đâu? Phàm việc gì ích nước lợi dân thì phải cố làm, chứ đừng băn khoăn tính toán!"

Nghe xong, Cổ Bật quay lại đội mũ, đi giày và xin cáo lui. Ngần ấy tấu thư đã dâng thiên tử quả là chẳng công hiệu bằng một đòn không thủ của đô vật ngay bên long sàng!

"Nhưng bố này vừa tung thủ cấp mình vào cuộc cờ!" Khách có kẻ đứng bên thừa cơ bàn về ván cờ sinh tử của Cổ Bật. "Vậy mà ông ta ra về, cổ không rời áo. Tại sao?" Luận rồi, khách còn gặng hỏi! Đúng là quý khách đầu Xuân.

Biết giải làm sao đây? 

***

Thời xưa - mà thời nay cũng thế ở một số nơi – dù có làm quan lớn thì cũng chẳng thể mó vào cái vẩy ngược của con rồng. Thác Bạt Đảo hiển nhiên là đã rõ ý của vị đại thần tận tụy. Nhưng biết đâu chừng, ông có ưu tiên khác, hoặc chưa muốn giải quyết?

Thế rồi, trong một cuộc cờ với kẻ thân cận trên cái phản chân quỳ có khảm đầu rồng, ông đang dốc trí vào bàn cờ thì bỗng có kẻ chẳng sợ oai trời mà đùng đùng nhảy vào nắm gáy Lưu Thụ quăng xuống đất. Rồi tới tấp thụi vào lưng kẻ đang hầu cờ. Ngay trước mặt Hoàng đế!

Trong cơn thảng thốt, Thác Bạt Đảo phải lui một nước mà lên tiếng can ngăn, và cho Cổ Bật cơ hội giãi bày. Đấy là cái mưu giỡn mặt tử thần của vị đại phu.

Nhưng sau khi vuốt râu rồng, Cổ Bật lập tức biến thành con giun.

Ông tự hài tội và xin đi vào chỗ chết. Trao thân cho cơ quan hữu tư thì cũng tựa như đi vào Sở Bảo Vệ Chính Trị hay KGB của đại lãnh tụ vậy! Từ đòn cực hung ông lùi về chốn cực nhũn.

Là ông vua anh minh, Thái Võ đế không thể không hiểu ý nghĩa của cử chỉ thô bạo.

Thật ra, Cổ Bật muốn trừng phạt chính nhà vua về tội chểnh mảng công vụ, mà vì không thể bợp tai Hoàng đế, ông tẩn thuộc hạ! Lý do của hành vi kinh động này là ngôi vườn thượng uyển làm khổ dân hại nước. Thác Bạt Đảo biết vậy nên mới từ chỗ cực yếu lại dời qua thế cực mạnh: chuẩn nhận lời yêu cầu của Cổ Bật, rồi còn buông lời khen của bậc trưởng thượng - và nói lên trời. Nhờ Thần linh giáng phúc nên ta mới có trung trần như khanh!

Một vở kịch nhức tim mà có hậu!

Bề tôi đã mưu như thế thì Hoàng đế chẳng thể kém tài. Trong giây phút mà cả hai đều diễn đúng vở. Cổ Bật khỏi mất đầu, Hoàng đế chẳng mất người trung lương, dân đen lại được đất trồng trọt.


***

Khách đa sự ngồi bên bèn tấm tắc: "Nhà bác lại muốn nhắc đến dinh cơ hoành tráng và sáng loáng của gã Nông Đức Mạnh trong kia chứ gì? Mẹ kiếp! Lãnh tụ cách mạng gì mà sống như Hoàng đế thời xưa vậy... Bẩn thật!"

- Rõ nỡm! Ta rỗi hơi hay thừa đạn mà oanh kích vào đó?

Thời nay chẳng có Cổ Bật mà rặt lũ cổ rụt. Đứa nào cũng dinh thự nguy nga bất kể đến dân sống trong nguy ngập. Bầy thú thờ Tầu này chẳng nhớ lời Hàn Phi. Trong 47 điềm mất nước tại thiên Vong Trưng của bộ Hàn Phi tử thì họ đã gồm thâu quá nửa! Nói cũng bằng thừa....

***

Trở lại chuyện Thác Bạt Đảo (ta cũng gọi là Đào, với bộ hoả dưới chữ thọ), ông đã chọn Thôi Khiết làm quan Tư đồ, với vai trò như Tể tướng. 

Là người Hán, Thôi Khiết có công Hán hóa tộc Tiên Ti mà cũng gây hiềm khích với quý tộc Thác Bạt. Năm 431, Thái Võ đế còn cử Thôi Khiết cùng các văn nhân tú sĩ biên soạn bộ chính sử của nước Ngụy, với lời giặn là phải dựa vào thực tế - là viết theo lối thực lục. Chi tiết nhỏ: chúng ta cũng quen viết Thôi Khiết là Thôi Hạo.

Cuốn quốc sử của Bắc Ngụy thành hình đúng yêu cầu.

Nhưng thay vì giữ bộ sử cho hoàng thất tham khảo riêng, có người nêu ý kiến là nên... đưa lên Internet

Thời đó là khắc vào bia đá cho bá quan cùng xem. Công trình biên khảo và điêu khắc này được dựng hai bên đường gần đàn tế trời ở ngoài kinh đô. Bộ quốc sự rất thật, vì kể rõ nhiều điều nhạy cảm khi... Cách mạng chưa thành công, kể cả nhiều hành vi dâm bôn hay đa sát thời trước, khiến người dân khoái trá loan truyền khắp nơi.

Cứ như truyện họ Hồ và hậu duệ tại Ba Đình vậy!

Các gia đình công thần cách mạng của tộc Tiên Ti bỗng ốt dột! Họ bèn cáo với Võ đế. Rằng Thôi Khiết và các sử thần cố tình bêu riếu chế độ từ ba đời trước, khởi đầu với Đạo Võ đế Thác Bạt Khuê đến đương kim Hoàng thượng. Thái Võ đế nghe tâu thì nổi lôi đình, hạ lệnh bắt hết mọi kẻ tham gia ghi chép quốc sử để hài tội. 


*** 

Trong số sử thần dưới trướng Thôi Khiết có Cao Doãn, một văn quan đang làm phụ đạo, thầy dạy học của Đông cung Thái tử Thác Bạt Hoảng. Thái tử nghe thấy hoảng, bèn mời thầy vào cung nói nhỏ: "Có gì, tiên sinh cứ theo ý tôi mà trả lời và tránh nói khác thì mới khỏi tội."

Cao Doãn không là người như thế.

Trước bệ rồng, ông khẳng khái tâu bầy: "Vì quan Tư đồ Thôi Khiết bận quá nhiều việc nên hạ thần cùng mấy người khác mới là những người viết quốc sử." Thái tử Hoảng nhảy vào can mà Cao Doãn vẫn không đổi ý. "Tội không ở Thôi Khiết, mà hạ thần thì thấy sao viết vậy."

Trọng tư cách Cao Doãn, Thái Võ đế tha chết, nhưng bắt thảo chiếu thư hài tội Thôi Khiết và đòi chém cả nhà.

Vậy mà cây bút của Cao Doãn lại tắc mực! Nhiều lần Hoàng thượng phái người sang giục mà viết không ra một chữ, lại còn xin vào triều tâu lại: "Thần không rõ quan Tư đồ còn phạm tội gì khác với Bệ hạ, chứ nếu chỉ vì viết quốc sử thì đừng nên xử tội chết!"

Thái tử van mãi, Hoàng đế mới nguôi giận mà đuổi ra. 

Về tới nhà, Cao Doãn mới giải thích với Thái tử Hoảng: "Điện hạ hết lòng cứu thì tôi vô cùng cảm kích. Nhưng tôi có chấp bút vào bộ quốc sử, sao trút hết tội cho Thôi Khiết để cầu sống? Vả lại, những việc làm đúng sai của triều chính thì phải viết cho thực. Phụ hoàng có ghét Thôi Khiết về tội ưa tự đề cao thì cứ xử tội đó, chứ chẳng nên quàng vào cái án viết sử!"

Cuối cùng thì năm 450 Thái Võ đế vẫn sai chém cả nhà Thôi Khiết và mấy người thân thích. Như họ Liễu ở Hà Đông, họ Lư tại Phạm Dương, họ Thôi ở Thanh Hà và họ Quách ở Thái Nguyên. Sau này, chính Thái Võ đế công nhận là nếu Cao Doãn không thẳng thắn can gián thì có lẽ mấy ngàn người đã chết cùng Thôi Khiết!
 
Thế rồi năm 452, Ngụy Thái Võ đế cũng bị hoạn quan là Tông Ái ám sát. Còn Thái tử Hoảng thì đã chuyển sang từ trần trước đó một năm vì quá hãi sợ những cảnh chém giết ở chung quanh.

Hình như đời sau ưa gán tội đa sát cho bọn thiểu số Tiên Ti. Cứ làm như vì họ chưa được Hán hóa nên chưa thấm nhuần nét ảo diệu nhân đức của văn hóa Trung Hoa vậy! So với công trình hiếu sát của Mao Trạch Đông thì đòn phép họ Thác Bạt mới chỉ là trò tập sự.


***

Khách vẫn không tha! Cứ ngồi bên vặn hỏi như trạng sư thầy cãi: Thế còn chuyện cạo sửa lịch sử của họ Hồ và bè lũ tại Việt Nam? Tội giết người hàng loạt, hay cái tội xây dựng đài tạ nguy nga của đám hậu duệ ngày nay? Bác nghĩ sao mà không viết ra?

Viết ra cái gì? Cái điềm mất nước ư? Hiển nhiên là vậy. Nhưng chúng mất nước thì ai được? Dân Ta hay dân Tầu? Then chốt là ở đó.

Cách ngôn của ngụ ngôn: "chúng mất ngai thì dân khỏi mất nước!"
 

1 nhận xét:

  1. Bài viết rất nên đọc...cảm ơn tác giả nhiều.

    Trả lờiXóa